Thứ Năm, 30 tháng 7, 2009

Phóng sự: Trung Quốc tung hoành Phi Châu


Phóng sự: Trung Quốc tung hoành Phi Châu
Tác giả: Richard Behar
Đăng trên tạp chí FastCompany ngày 1/6/2008
Lược dịch: Trần Anh Thiện
NL Mạng Bauxite Việt Nam biên tập
Giới thiệu:
Sau khi loạt bài phóng sự “Trung Quốc tung hoành Phi Châu” (China Storms Africa) được đăng tải vào tháng 6/2008, bài báo đã được tán thưởng nhiệt liệt. Đài CNN gọi nó là “một trong những bài báo quan trọng nhất trong năm”. Tác giả Richard Behar Ed được trao nhiều giải thưởng báo chí uy tín. Nổi bật hơn cả là nó lọt vào kết quả Top 50 bài báo hay nhất trong năm 2008 của Emerald Management Reviews Citation of Excellence, một cơ sở dữ liệu quản lý hàng đầu thế giới.

Lọat phóng sự gồm 6 phần, tường thuật tình trạng xâm nhập của các công ty khai khóang Trung Quốc, với sự tiếp sức của chính phủ Trung Quốc ở các nước trong lục địa đen. Bài phóng sự khá dài nên ở đây chỉ lược dịch những phần quan trọng nhằm cung cấp thông tin cho số đông bạn đọc. Bản nguyên gốc tiếng Anh có thể tìm thấy ở địa chỉ http://www.fastcompany.com/chinastormsafrica
Phần 1: Trung Quốc ở Phi châu
Với cuộc tổng tấn công thèm khát tài nguyên vào vùng hạ Sahara, Bắc Kinh đã thách thức cả hành tinh này.
4968

Là một vùng bình nguyên rộng lớn bao gồm 49 quốc gia, vùng hạ-Sahara chiếm đến một phần năm diện tích đất của trái đất. Thế nhưng tổng giá trị nền kinh tế của nó lại nhỏ hơn cả nền kinh tế của tiểu bang Florida của Mỹ. Nơi đây, 300 triệu người sống với dưới 1 đôla 1 ngày. Một vùng đất ngày càng trở nên lạc hậu và bị tàn phá bởi bệnh tật, nghèo đói và chiến tranh. Một vùng đất đang tuyệt vọng tìm kiếm mọi thứ – tiền, mậu dịch, đầu tư, hạ tầng – và có vị thế quá yếu, không thể đàm phán chiến lược với các đối tác ngoại quốc, yếu đến mức sẵn sàng bán mọi thứ cho ai trả giá cao nhất.
Trong cuộc hành trình qua khu vực này, cơ thể tôi đã phải chịu bao nhiêu ký sinh trùng gây bệnh, và trong thời gian bình phục, tôi suy nghĩ nhiều về cách ký sinh trùng tấn công và tàn hại cơ thể chủ, cũng như cách các lực lượng thực dân liên tiếp gây ra ở những nơi như châu Phi này. Nếu ai nghĩ rằng kiểu vơ vét tài nguyên một cách thèm khát ấy đã thuộc về quá khứ, thì hãy nhìn kỹ lại Trung Quốc ngày nay đang hút máu vùng hạ Sahara này như thế nào. Khu vực này giờ đây đang trở thành hiện trường của một trong những cuộc càn quét tài nguyên toàn diện nhất, khốc liệt nhất và xảo quyệt nhất mà thế giới từng chứng kiến.
Vùng hạ Sahara đang trở thành hiện trường của một trong những cuộc chiến tranh giành tài nguyên khốc liệt nhất mà thế giới từng chứng kiến.
Trong khi Hoa Kỳ đang bị vướng vào cuộc chiến ở Iraq, trong khi các nhà kinh tế học lo viết các bài báo tranh cãi về việc liệu các nguồn tài nguyên thiết yếu trên thế giới có đang cạn kiệt đi hay không, thì Trung Quốc không hề do dự. Chỉ trong 1 vài năm ngắn ngủi Trung Quốc (TQ) đã trở thành quốc gia – nhà đầu tư hung hăng nhất ở Phi Châu. Sự xâm lấn thương mại này của Trung Quốc là một cột mốc quan trọng đối với sự phát triển của vùng hạ Sahara kể từ sau thời kỳ Chiến Tranh Lạnh – một lực đẩy cực mạnh đang vẽ lại bản đồ kinh tế toàn cầu. Nó được so sánh như một “cơn sóng thần”, và vùng đất này bây giờ còn được gọi là vùng “ChinAfrica” (Phi-Hoa).
Hiện số lượng người Hoa sinh sống ở Nigeria còn nhiều hơn số lượng người Anh sống ở đó trong thời thực dân. Đâu đâu trên lục địa đen cũng thấy người Trung Quốc, từ các tập đoàn quốc doanh, tập đoàn có vốn của nhà nước, cho đến các doanh nghiệp nhỏ. Cứ mỗi siêu dự án do chính phủ TQ công bố lại tạo ra những tác động về kinh tế và dân cư ở đây. TQ tuyên bố năm 2006 là “Năm của Phi Châu”, và chính phủ TQ thực hiện liên tiếp các chuyến lưu diễn kiểu như ngôi sao nhạc rock đến đây. Chưa từng có một quốc gia nào thể hiện sự quan tâm hay sức mạnh đến thế, hay có khả năng làm vui lòng các nhà lãnh đạo Phi châu đến như thế. Và không như Hoa Kỳ đem quân đến Iraq vì lý do chống khủng bố hay nhân đạo, người TQ hiện diện ở Phi châu để lấy những gì họ cần cho cỗ máy của mình. Hịên tượng này còn được đặt tên là “Cuộc Lấy Đi Vĩ Đại của người TQ” (The Great Chinese Takeout)
Để thực hiện lọat phóng sự này, tôi đã đến bốn nước Phi châu thiết yếu đối với chiến lược tổng thể của TQ: Mozambique (một nguồn gỗ chính cho TQ), Zambia (đồng), Congo (nhiều loại khoáng sản), và Guinea Xích đạo (dầu hỏa). Điều tôi (tác giả) nhận ra là các công ty TQ với số vốn dồi dào – nhiều công ty trong số đó có tài trợ trực tiếp của chính phủ – đang xúc tiến các thương vụ với tốc độ chóng mặt nhằm tìm kiếm các nguồn cung cấp dầu hỏa, than, gỗ, khí thiên nhiên, kẽm, côban, sắt, và mọi thứ khác.
Phần 2: TQ hủy hoại Mozambique vì nguồn cung cấp gỗ.
4970

Tôi đến Maganja da Costa ở tỉnh Zambezia, trước đây rất giàu gỗ, địa phương nghèo nhất ở Mozambique. Nơi đây cũng là bản doanh của Madeiras Alman, chi nhánh của một tập đoàn Đài Loan và là nhà xuất khẩu gỗ lớn nhất từ Môdămbích về TQ. Văn phòng công ty hóa ra chỉ là một chiếc xe kéo, không có ai bên trong. Tuy nhiên trong chốc lát tôi đã bị vây quanh bởi khỏang chục người dân địa phương đến đòi lương. “Họ tưởng anh là ông chủ TQ”, người phụ tá giải thích. Sau khi được giải thích và bình tĩnh trở lại, những người này nói là đã bị chèn ép lương công. Họ được hứa sẽ được trả 120 đôla cho ba tháng làm việc gãy lưng – nâng các súc gỗ bằng cỡ cái xà nhà bằng tay lên xe tải – thế nhưng rồi chỉ nhận được có 25 đô”. Họ đã kéo đến văn phòng này trong suốt mấy tháng trời để tìm những người quản lý không còn bao giờ xuất hiện. Một người tự xưng là tộc trưởng của bộ lạc Alukadi đã sinh sống ở khu vực này hàng thế kỷ. Ông ta cho biết họ chưa từng ký kết bất kỳ thứ giấy tờ nào với các ông chủ châu Á. Họ la hét và rất giận dữ, thề là sẽ “đi đến chiến tranh” trừ khi họ được thanh toán lương. Thật tội nghiệp, thực ra họ chẳng có một chút quyền lực nào cả.
“Hãy để cho Trung Hoa ngủ yên”, câu nói nổi tiếng của Hoàng đế Napoleon, “bởi khi thức dậy, nó sẽ làm rung chuyển cả thế giới”. Ngày nay, TQ không những đã thức dậy, mà nó còn ngấu nghiến cả thế giới để làm bữa ăn sáng. Chỉ trong vòng 1 vài năm, đất nước này đã trở thành nguồn tiêu thụ số 1 trên thế giới về nguyên liệu gỗ – cũng như kẽm (chiếm 30% nhu cầu toàn thế giới), sắt và thép (27%), chì (25%), nhôm (23%), và đồng (22%), cùng với niken, thiếc, than đá, bông vải, và cao su. Toàn bộ vùng hạ Sahara hiện chỉ sử dụng một phần hai mươi số lượng thép TQ đang sử dụng. Và mặc dù TQ còn đang ở vị trí thứ 2 thế giới về tiêu thụ dầu hỏa sau Mỹ, nó đang chuẩn bị vượt qua.
Một phần năm dân số thế giới đang sống ở TQ, và một bộ phận ngày càng gia tăng ở quốc gia này đang theo đuổi một lối sống tiêu thụ, hay gọi là “hưởng thụ”. Nếu GDP đầu người của họ (hiện tại khỏang $6500) tiến gần đến mức của Hàn Quốc trong 20 năm tới thì lượng tiêu thụ của TQ về nhôm và quặng sắt sẽ gia tăng 5 lần; dầu hỏa 8 lần; và đồng 9 lần. Nhà tương lai học Sunter đã nói “ TQ đang đem 1 tỉ 3 dân số đi qua một cuộc cách mạng công nghiệp mà không sở hữu một thuộc địa hay nguồn tài nguyên đáng kể nào ngọai trừ than đá. Cách duy nhất để nó có thể làm được điều này là thiết lập các hợp đồng cung cấp dài hạn với các quốc gia giàu tài nguyên khác”.
Ở vùng hạ Sahara Phi châu, người Hoa dường như xuất hiện ở mọi nơi: chặt cây ở Mozambique, khoan dầu ở Sudan, đào mỏ đồng ở Zambia, mở nhà máy dệt ở Kenya, thăm dò uranium ở Zimbabwe, mua côban ở Congo, làm đường cao tốc ở Angola. Họ vừa phóng một vệ tinh từ Nigeria và thiết lập hệ thống điện thoại ở vùng quê Ghana và một loạt các quốc gia khác. Bệnh viện, ống nước, đập nước, đường sắt, sân bay, khách sạn, sân vận động, nhà quốc hội – hầu như tất cả đều có liên hệ tới sự tiếp cận của TQ đến các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở những quốc gia đó. Một ngân quỹ chính phủ 5 tỉ đôla trong vòng 50 năm được lập ra để khuyến khích các công ty TQ đến đầu tư ở Phi châu. Một gói cho vay trị giá 9 tỉ đôla cho Côngô. Một phần góp vốn 5,6 tỉ đôla ở Ngân hàng Standard Bank, ngân hàng lớn nhất ở châu lục này. Và vào tháng Tư, 40 tỉ đôla cùng những cam kết hỗ trợ tín dụng xuất khẩu để giúp tài trợ đầu tư ở Nigeria, nhà sản xuất dầu hỏa lớn nhất ở Phi châu.
Vào bất kỳ thời điểm nào cũng đều có khoảng 800 tập đòan TQ của nhà nước hay được nhà nước kiểm soát đang họat động ở châu Phi, trong đó Ngân hàng Xuất nhập khẩu Trung Quốc cung cấp vốn cho hơn 300 dự án ở ít nhất 36 nước. Hàng chục ngàn công ty tư nhân và doanh nhân cũng góp mặt. Ở quốc gia bé xíu Lesotho, gần phân nửa số siêu thị là do người Hoa làm chủ và điều hành. Mauritius, bản doanh của nhiều nhà máy TQ, vừa đưa tiếng Hoa vào chương trình giáo dục quốc gia. Tổng trị giá viện trợ của TQ ở Phi Châu – một bí mật được giữ kỹ – được cho là đã vượt qua viện trợ của Ngân hàng Thế giới.
Ảnh hưởng ở tầm mức như thế đang đe dọa sẽ làm triệt tiêu kết quả những nỗ lực của các tổ chức thế giới nhằm thúc đẩy các chính phủ Phi châu cải thiện nhân quyền và sự minh bạch của chính phủ.
Như Sahr Johny, đại sứ của nước Sierra Leone ở TQ nói về những dự án của TQ ở châu Phi: “Họ chỉ đến và làm. Chúng tôi không tổ chức các cuộc họp về đánh giá tác động môi trường, về nhân quyền, về quản trị tốt hay quản trị xấu gì cả. Tôi không nói như vậy là đúng. Tôi chỉ nói đầu tư của TQ thành công là vì họ không hề đặt ra một chuẩn mực cao nào cả”.
Năm 2006, Clem Sunter, nhà quản trị của Công ty khai thác mỏ Anglo – American, được mời đến Bắc Kinh tham dự hội thảo lập kế hoạch với các thành viên của Đảng Cộng sản TQ. Để hiểu được vì sao Châu phi được TQ coi là “lục địa được lựa chọn”, ông ta nói, trước tiên ta phải hiểu rằng các nhà lãnh đạo TQ đang thèm khát những thứ mà vùng hạ Sahara có đến mức nào. TQ đang trên đường vượt qua Hoa Kỳ để trở thành nền kinh tế lớn nhất trên thế giới trong vòng vài thập kỷ tới, và nó cần phải duy trì tốc độ tăng trưởng thần kỳ đó để giữ cho 25 triệu người khỏi tham gia vào đội quân thất nghiệp hàng năm. Thất nghiệp cao có thể là một mối đe dọa tiềm ẩn bất ổn cho chính quyền và xã hội. Chính vì vậy con rồng châu Á phải được cho ăn. Như cách các quan chức ở Bắc kinh hay nói: “TQ giống như một con voi đang cưỡi trên chiếc xe đạp. Nếu đi chậm lại nó sẽ bị ngã, và quả đất sẽ bị rúng động”
Phi châu là nơi duy nhất trên thế giới mà rất nhiều nguồn tài nguyên như vậy vẫn còn để tranh giành. Nó giữ 90% trữ lượng coban của thế giới, 90% lượng platinium, 50% vàng, 98% lượng chromium, 64% lượng manganese, và một phần ba lượng uranium. Những cánh rừng của nó vẫn còn trong trạng thái nguyên sinh. Châu lục này cũng giàu có kim cương, có trữ lượng dầu hỏa nhiều hơn cả Bắc Mỹ, và theo ước tính còn giữ 40% tiềm năng thủy điện của thế giới. Nó cũng đã cung cấp một phần ba nguồn dầu hỏa cho quá trình bùng nổ kinh tế của TQ.
Mậu dịch Phi – Trung đạt mức 73 tỉ đôla vào năm 2007, một sự gia tăng kinh ngạc gấp 3 lần trong chưa đầy 1 thập kỷ. TQ mới vừa vượt qua Pháp để trở thành đối tác lớn thứ 2 với vùng hạ Sahara, và nhiều khả năng sẽ vượt qua Hoa Kỳ vào năm 2010. Về đầu tư trực tiếp, Hoa Kỳ vẫn thống trị với khỏang 10 tỉ đôla, hầu như tập trung vào dầu hỏa và chỉ ở 1 vài quốc gia. Nhưng với 2 tỉ, và con số này đang gia tăng nhanh chóng, TQ đang củng cố tư thế và dàn trải các khoản đầu tư của nó trong nhiều nguồn tài nguyên và các dự án hạ tầng khác nhau, từ Angola cho đến Zimbabwe. Ngày nay TQ có số lượng lớn nhất các tòa đại sứ, lãnh sự quán, và các nhà ngoại giao ở Phi châu. Hiếm có một tuần lễ nào trôi qua mà không có công bố về một thương vụ hay dự án mới.
Trên đường quay trở về Queliname, chúng tôi đến một thị trấn nơi duy nhất có trạm kiểm soát trước khi gỗ rừng được chất lên tàu container. Cách đó một vài dặm, một xe tải chở gỗ mà chúng tôi theo dõi bỗng dừng lại bên vệ đường. Một người đàn ông leo xuống và biến mất vào trong một ngôi nhà ẩn mình sau rặng cây. 30 phút sau anh ta quay trở ra và chiếc xe tải tiếp tục chạy đến trạm kiểm. João Mário Mafundisse, một nhà nông học kiêm kiểm lâm bán thời gian, tiến đến xe chúng tôi. Và thay vì đuổi chúng tôi đi thì anh lại bực tức thốt lên: “Bọn người TQ đã lót tay cho viên chỉ huy ở trạm kiểm soát. Thật là tệ hại. Bọn TQ đưa tiền cho người Mozambique để đốn cây quá mức và đem gỗ về châu Á, và rồi người Mozambique sẽ chẳng bao giờ có thể phát triển được. Vì tham nhũng nên các biện pháp kiểm sóat của chính phủ chả có hiệu quả gì cả”.
Hãy thử nhân cảnh tượng trong 1 ngày ấy lên một trăm ngàn lần, và bạn sẽ bắt đầu hiểu được cái cuộc chơi đang được tiến hành ở đây – bởi tất cả mọi bên, từ phương Đông đến phương Tây. Một nhà điều tra rửa tiền đã nói với tôi: “Mỗi một dự án ở Phi Châu đều phải có một chính khách dính vào. Ở những dự án lớn, thì nó phải là tổng thống hay ngoại trưởng. Tôi chưa thấy một quốc gia nào ở Phi châu mà không có nạn đó, có lẽ chỉ trừ Nam Phi.”
Trong phương thức ngoại giao sổ sách của TQ, các chính phủ Phi Châu sẽ nhận được các thỏa thuận hàng tỉ đôla để đổi lại quyền khai thác khóang sản, gỗ nguyên liệu, hay dầu hỏa. Khoản tiền được đưa ra thành một tập hợp bao gồm tiền mặt, đầu tư, tín dụng rẻ, và viện trợ; một số khoản được dành riêng cho các dự án hạ tầng như đập thủy lợi, sân bay, cầu đường, nhà máy điện, đường ống dẫn. Những dự án hạ tầng như vậy một mặt là rất cần thiết để đảm bảo cho họat động hiệu quả của TQ ở đất nước sở tại, mặt khác cũng giúp kích thích nền kinh tế địa phương. Và dĩ nhiên, những sổ sách đóng kín của TQ khiến cho chúng ta không thể nào biết được những khoản tiền đó thực sự đi đâu, và điều này tạo điều kiện cho mọi cung cách dụ dỗ các quan chức cấp nhà nước và địa phương. Những phi vụ nặng đô “không điều kiện” như vậy khiến cho các dự án của TQ trở nên rất khó cạnh tranh bởi các công ty của phương Tây – và tất nhiên là rất khó cưỡng lại đối với giới chóp bu của các quốc gia vùng hạ Sahara.
Chính phủ TQ luôn gợi lại hình ảnh của thời “xâm lăng thuộc địa” và lịch sử bị ngọai bang đô hộ mà họ và người Phi châu đều chia sẻ. Và chính phủ TQ lúc nào cũng nói rằng TQ sẽ không bao giờ “áp đặt ý muốn” của họ lên bất kỳ một quốc gia nào. Quả là một sự hả dạ hả lòng cho các nước Phi châu sau nhiều năm phải chịu đựng các khoản cho vay của phương Tây luôn kèm theo các điều kiện về quản trị quốc gia, tôn trọng nhân quyền, và việc chi tiêu phải hướng trực tiếp đến xóa đói giảm nghèo. Nhưng thực tế không phải hoàn toàn như vậy. Chẳng hạn vào tháng 12, Malawi đột ngột cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan sau 41 năm, để đổi lấy một gói đầu tư trị giá hàng tỉ đồng từ TQ. Và cũng như các dự án từ các cơ quan chính phủ Mỹ, những dự án lớn của TQ đều bị “bó” – nghĩa là chủ yếu chỉ sử dụng các công ty, vật liệu, và lao động TQ.
Khi quá cảnh ở Johannesburg, tôi gặp George Nicholls, giám đốc cơ quan tình báo doanh nghiệp lớn nhất ở Châu Phi. Nicholls nói ông ta đã nghiên cứu 30 thương vụ của người TQ ở Phi Châu trong suốt 2 năm qua, ở quốc gia này sang quốc gia khác. “Câu hỏi là: mục tiêu cuối cùng của người TQ ở Phi Châu là gì?”, ông ta nói. “Tôi cho rằng họ đang cố gắng tách ra khỏi hệ thống giao dịch hàng hóa của quốc tế. Họ nói: thay vì đi theo hệ thống của phương Tây, chúng tôi sẽ đi thẳng đến nguồn cung cấp và lấy được chúng với giá rẻ hơn và dễ hơn”. Các công ty Tây phương thường cạnh tranh nhau để sở hữu các giấy phép khai thác 20 năm, nhưng điều đó là không có nghĩa gì đối với người TQ – khi họ đã muốn mặt hàng nào thì họ sẽ làm bất kỳ cái gì để có được nó.
Nicholls nói thêm: “ Các tập đoàn và các băng nhóm tội phạm TQ đã và đang bị tố cáo đưa hối lộ, buôn lậu, làm hàng giả, tham nhũng, và bán phá giá. Khi các công ty Mỹ đến tham dự bữa tiệc thì người TQ sẽ đã dọn đi tất cả rồi. Người Mỹ muốn chơi lại người TQ, nhưng người TQ rất bí hiểm, họ đi đến mọi nơi, hoạt động bên ngoài hệ thống thông lệ của quốc tế. Còn về vai trò của TQ ở châu Phi sẽ đi đến đâu, tôi cho rằng những chính sách của TQ chẳng thể nào giúp châu Phi phát triển xa hơn là mối lợi trước mắt đâu”.
Cộng hòa Mozambique là một quốc gia nghèo khó. Hơn 70% dân số của nó sống dưới mức 2 đôla một ngày. Bệnh AIDS và tham nhũng tràn lan, quản trị quốc gia kém. Các công ty phương Tây hầu như không ngó ngàng gì đến quốc gia này. Thế nhưng người TQ lại có mặt khắp nơi ở đây. Mậu dịch giữa 2 nước đã tăng 6 lần kể từ năm 2001. Các nhà máy thép, may mặc, giày dép, ôtô, khách sạn, ngân hàng. Một khoản cho vay ưu đãi 2.3 tỉ đô cho 1 dự án xây đập mà Ngân hàng Thế giới đã nhận định là quá mạo hiểm để tài trợ. Chính phủ TQ gọi mối quan hệ giữa 2 nước là 2 bên cùng có lợi (win-win) cho cả 2 quốc gia đang phát triển, cùng có quá khứ bị phương Tây xâm lược. Mozambique cũng có thời kỳ phát triển xã hội chủ nghĩa, nên gần gũi với TQ về mặt chính trị hơn những quốc gia khác. Những tuyên bố này cũng được chính phủ Mozambique lặp lại trước dân chúng trong nước.
Tuy nhiên nhiều nhà quan sát nhận xét các thỏa thuận của TQ ở đây ẩn chứa một sự mất cân bằng về quyền lực giữa 2 nước, trong đó Mozambique thiếu “khả năng thương lượng”. Người TQ đang xây dựng mọi thứ ở đây để đổi lấy quyền khai thác khoáng sản, gỗ, đánh bắt cá, và đó là những thỏa thuận hoàn toàn bất lợi cho quốc gia châu Phi này. Corkin, giáo sư đại học Stellenbosch phát biểu: “TQ biết rất rõ những gì mà họ muốn từ châu Phi, trong khi châu Phi lại hoàn toàn không có 1 ý tưởng gì về cái mà nó muốn từ TQ”.
Trong một số trường hợp, các họat động khai thác của TQ rõ ràng là được chỉ huy và chi trả bởi chính quyền trung ương hay các cơ quan nhà nước, trong những trường hợp khác thì được thúc đẩy bởi các công ty tư nhân TQ – nhưng với sự khuyến khích và hỗ trợ của chính phủ. Một vài hoạt động là hợp pháp, một số khác thì không. Các sản phẩm hàng dỏm TQ tràn ngập, giết chết các ngành công nghiệp nội địa còn trong trứng nước. Họat động đánh cá lậu dọc bờ biển được thực hiện chủ yếu bởi người TQ, trong khi hệ thống tuần duyên của Mozambique chỉ gồm 10 chiếc thuyền.
Thế rồi xuất hiện vấn đề về nguyên liệu gỗ. TQ ban lệnh cấm khai thác gỗ trên toàn quốc vào năm 1999, sau khi rừng nội địa bị tàn phá nặng nề gây xói mòn và ngập lụt nghiêm trọng. Giờ thì TQ đang lùng sục nguồn gỗ trên khắp thế giới. Quốc gia này là nhà nhập khẩu lớn nhất thế giới về gỗ súc và gỗ nhiệt đới; cứ 10 cây nhiệt đới được mua bán trên thế giới thì 5 cây được đưa đến TQ. Tốc độ xuất khẩu đồ gỗ như hàng nội thất và gỗ ván sàn của TQ đang tăng nhanh hơn tốc độ tiêu thụ nội địa. “Rất có thể cái ghế mà bạn đang ngồi cũng là từ gỗ lậu ở TQ”. Mozambique hiện là nguồn cung cấp gỗ chính cho TQ từ Đông Phi. Quốc gia này thậm chí không có một ngành công nghiệp chế biến gỗ cho ra hồn, trong khi ngành này ở TQ đang phát triển như vũ bão, đáp ứng nhu cầu cho cả thế giới. “Các quan chức chính phủ tự do thay đổi luật lệ qui định, các con số thống kê, nhận tiền đút lót, trực tiếp tham gia vào họat động khai thác gỗ và hưởng lợi từ chính sự tiếm đọat của người TQ”.
Phần 3: Zambia – Nguồn cung cấp đồng
4972

Tôi hỏi Xiao, một chuyên viên thống kê về châu Phi ở Ngân hàng Thế giới, liệu có một biểu đồ nào miêu tả toàn cảnh sự tham gia kinh tế của TQ ở Châu Phi hay không. Anh trả lời: “Theo tôi biết thì TQ không còn công bố số liệu đầu tư theo từng nước ở Châu Phi nữa”. Còn Lucy, chuyên gia về các quan hệ Trung – Phi thì kết luận: “Chúng ta có Châu Phi, một lỗ đen số liệu lớn, và TQ, một lỗ đen số liệu lớn khác. Đặt chúng lại với nhau thì ta được 1 thảm họa”.
Sự mù mờ đó khiến rất khó để biết chính xác mức độ ảnh hưởng của Chính phủ TQ lên các sự kiện ở vùng hạ Sahara. Clem Sunter ở Công ty Anglo-American so sánh “Bộ máy lãnh đạo của TQ giống như hội đồng quản trị của một công ty đa quốc gia lớn nhất thế giới”. Và để giữ cho cái công ty đó tiếp tục tăng trưởng, chính phủ TQ đã tuyên bố là sẽ biến thành phố Trùng Khánh chẳng hạn, thành một siêu đô thị – “Một Chicago của phương Đông” đến năm 2020, thành thị hóa khỏang 12 triệu nông dân. Vấn đề ở đây là, không có đủ việc làm cho 12 triệu nông dân ở Trùng Khánh. Vì thế giới lãnh đạo đang thúc giục họ đi ra nước ngoài. Li, giám đốc ngân hàng XNK Trung Quốc cho biết: “ Để thuyết phục nông dân trở thành các ông chủ đất ở nước ngoài, chúng tôi sẽ cung cấp vốn, phát triển dự án, và các kênh bán hàng cho họ.” Đã có hơn 13000 người TQ đi đến Phi châu chỉ từ riêng thành phố Trùng Khánh.
Tuy nhiên Trùng Khánh chỉ là một chấm nhỏ trên bản đồ, sức ép dân số và tăng trưởng ở TQ đã thúc đẩy một chính sách có hệ thống về di cư thương mại. Năm 2001, Bộ Chính Trị ra chỉ thị “Ra Đi” (zou chuqu) toàn cầu, chỉ đạo các công ty quốc doanh phải tìm kiếm các nguồn cung cấp tài nguyên lâu dài. Nhiều mức độ hỗ trợ khác nhau được đi kèm với cú hích này, trong đó các công ty xây dựng quốc doanh TQ ở Phi châu được nhận những đặc quyền từ tín dụng xuất khẩu cho đến các khoản cam kết cho vay của chính phủ. Cùng lúc, các ngân hàng do chính phủ kiểm soát cũng đưa ra các quỹ đầu tư lãi suất thấp cho các công ty tư nhân TQ đầu tư ở nước ngoài. Hệ thống ưu đãi này đi đến từng doanh nghiệp ở mức vi mô.
Tôi có gặp 2 doanh nhân người TQ như thế trong phòng chờ ở sân bay Lusaka, Frank He và Micheal Huang. Họ làm chủ 1 công ty sản xuất sản phẩm đồng tinh chế gần Thượng Hải với 500 công nhân. Họ đã lên một kế hoạch 10 triệu đôla để mua quyền khai thác đồng ở đây. Chính quyền TQ đã rất khuyến khích cuộc phiêu lưu của 2 anh em. Huang cho biết: “ Chính phủ nói họ có thể bảo vệ tôi nếu tôi bị rắc rối ở đây. Hơn nữa, nếu một doanh nhân TQ đầu tư lớn ở nước ngoài, anh có có quyền vay với lãi suất bằng zero”. Anh ta nói thêm: “Kinh doanh thì có rủi ro, anh có thể thua lỗ cả nếu giá cả đi xuống, nhưng ngược lại anh có thể lời gấp 100 lần”. Rất nhiều công ty lớn của Mỹ chuyển cơ sở sản xuất đến TQ. Vậy nên chúng tôi cần những gì? Plastic, thép, đồng, nhôm. Ai cũng điên lên vì cần nguyên liệu. Ở TQ thì tài nguyên cũng bị giới hạn, vậy nên chúng tôi đi đến Phi châu”.
Chiến lược của TQ ở châu Phi không đơn giản chỉ là một cú đánh nhanh. Hồi năm ngóai, chủ Tịch Hồ Cẩm Đào công bố rằng vùng Vành Đai Đồng giàu khóang sản ở Zambia sẽ trở thành bản doanh cho “đặc khu kinh tế” đầu tiên trị giá 800 triệu đôla, trong số năm đặc khu, mà TQ sẽ xây dựng ở Châu phi. TQ nói rằng họ muốn hình thành một “dây chuyền sản xuất” hướng đến xuất khẩu với một trung tâm luyện kim 200 triệu đô, có khả năng thu hút các nhà đầu tư TQ và tạo ra hàng ngàn công ăn việc làm.
Mặc dù TQ đang cố gắng tô vẽ cho chương trình này như là một thỏa thuận có lợi cho đôi bên, kể cả người dân Zambia, thế nhưng có thể đã hơi trễ để thuyết phục người dân địa phương. Kể từ đầu thập niên, các công ty TQ đã ngọam lấy những miếng dự trữ đồng khổng lồ của quốc gia Phi châu này để chế biến đủ mọi thứ từ dây cáp đồng, vật liệu xây dựng, máy tính điện tử, và xe hơi. Với giá cả đồng nguyên liệu trên thế giới đang ở mức kỷ lục, người Zambia ngày càng trở nên tức giận hơn, khiếu nại rằng các nhà thầu TQ – đã mua những mỏ dự trữ với giá thấp – đang nhét đầy túi trên sự thiệt thòi của người dân sở tại. Trong suốt chuyến đi của tôi ở Zambia, hầu như ai mà tôi tiếp xúc, ngoại trừ giới chức cao cấp, cũng đều đả kích người TQ. Khi chủ tịch Hồ Cẩm Đào đến hồi năm ngóai để dự lễ động thổ một “đặc khu” mới ở vùng Vành Đai Đồng, ông ta phải cắt băng khánh thành ở Lusaka, cách đó 200 dặm để tránh bạo động của dân địa phương.
Mối quan tâm của TQ đối với Zambia thật đơn giản. TQ là nhà tiêu thụ đồng lớn nhất thế giới, chiếm hơn 1 phần 5 tổng số tiêu thụ, và là nhà xuất khẩu lớn thứ 8 về các sản phẩm đồng tinh chế. Trong khi đó ở châu phi, Zambia là nguồn dự trữ lớn thứ 2 về đồng nguyên liệu sau Congo. Thật ra sự hợp tác này có thể là có lợi về mặt mậu dịch song phương giữa 2 nước, ngoại trừ một điểm mấu chốt là phần lớn giá trị của đồng của Zambia chỉ xuất hiện sau khi nó đến TQ. Các nhà chính trị Zambia từ lâu đã mơ về việc sử dụng đồng của họ để xây dựng một khu vực công nghiệp nhẹ trước khi nguồn tài nguyên này cạn kiệt – có thể là vào năm 2025 – thế nhưng họ không hề có một chiến lược cụ thể nào để biến điều đó thành hiện thực. Trong khi đó, các thương nhân TQ sử dụng các tài khoản ngân hàng kếch sù, nguồn tín dụng dồi dào, và trong một số trường hợp, các hỗ trợ cấp vốn từ chính phủ để mua hết các quyền thăm dò và khai thác, y như họ đã làm với ngành công nghiệp gỗ ở Mozambique. Trong khi giá nguyên liệu đồng đã tăng gấp 5 lần từ năm 2001, hơn 70% dân bản địa vẫn sống dưới mức nghèo khổ.
“Rất nhiều thương gia người TQ đang tìm kiếm những người Zambia có giấy phép khai thác nhỏ”, Enoch, con trai của vị phó tổng thống trước đây của Zambia cho tôi hay. “Họ có thể nộp đơn trực tiếp đến chính phủ để xin giấy phép, nhưng khó khăn hơn nhiều. Người TQ thấy dễ dàng hơn khi tìm kiếm những người Zambia nghèo khó và tuyệt vọng, không hề biết tí gì về khai khoáng nhưng lại có giấy phép. Chỉ cần bước vào với 1 vali chứa 100 ngàn đô, nó sẽ là của anh”. Enoch trầm ngâm nói: “Không biết Zămbia sẽ như thế nào trong 10 năm nữa? Liệu con em của chúng tôi sẽ làm việc trong một nhà máy TQ? Liệu con cháu chúng tôi có còn cơ hội để khai thác tài nguyên của đất nước mình không nữa?”
Đối với nhiều người dân ở đây, nghề nghiệp duy nhất là ở quặng đồng. Những người may mắn hơn thì kiếm được chỗ ở các công ty phương Tây. Những người kém may mắn thì phải làm những công việc không bảo đảm, không bảo hiểm y tế, và có các tiêu chuẩn an tòan tồi tệ tại “Công ty Kim loại màu Phi châu” – Chambishi – công ty do TQ làm chủ lớn nhất ngay tại trung tâm của Vành Đai Đồng. Xét về mọi phương diện, các công nhân tại Chambishi nhận được những mức lương thấp nhất và chịu đựng những điều kiện an tòan tồi tệ nhất trong khu vực Vành Đai Đồng. Những nhà quản lý ở khu mỏ này nhiều năm qua đã cố gắng ngăn chặn việc một tổ chức công đoàn địa phương tập hợp công nhân lại với nhau.
Vào năm 2005, một thảm họa lớn nhất trong lịch sự công nghiệp của Zambia xảy ra tại Chambishi. Một vụ nổ tại một nhà máy chất nổ của TQ, thành viên của Chambishi, đã thiêu rụi một số lượng lớn công nhân người Zambia. Chính phủ Zambia không hề công bố kết quả điều tra về nguyên nhân của vụ tai nạn, trong khi các chuyên gia địa phương nhận định là do việc sử dụng nhiều công nhân thời vụ không có tay nghề. Một năm sau vụ nổ, một cuộc nổi loạn khác của của công nhân Chambishi làm 5 người chết. Không ai bị khởi tố, và cũng chẳng ai biết liệu kẻ bắn chết công nhân là cảnh sát Zambia, các đốc công người TQ, hay là một công ty bảo vệ của TQ. Tôi cố gắng liên hệ với Wigan, quản lý nhân sự ở Chambishi để tìm hiểu vì sao tình hình ở đây lại tai tiếng hơn nhiều so với những khu mỏ khác do Úc, Anh, Canada, Thụy Sĩ, và Ấn Độ làm chủ. Thật thất vọng, Wigan cho tôi biết là chỉ có những quản lý người TQ mới có quyền nói chuyện với báo chí, và có lẽ là họ sẽ không tiếp tôi.
Francis, nhân viên điều hành an tòan tại khu mỏ phàn nàn : “Chúng tôi chỉ có 5 bình chữa cháy lọai nhỏ. Trong trường hợp sập hầm, những người TQ phải nhờ đến các khu mỏ lân cận để kéo người ra”. Anh ta nói thêm: “Mối quan tâm chính của họ chỉ là lợi nhuận. Họ không thèm để ý đến sự an toàn của công nhân”. Peter, một đốc công tại khu mỏ cho tôi xem biên nhận tiền lương tháng $250 của anh ta – một mức lương trả cho đốc công có lẽ là thấp nhất trong số tất cả các công ty khái thác mỏ trong vùng Vành Đai. Một giám đốc khu mỏ của Tây phương nói mức lương của đốc công lẽ ra là ít nhất phải 5 lần như thế.
Một phần trong thỏa thuận của Chambishi với chính phủ Zambia là các nhà quản lý TQ hứa là họ sẽ thực hiện báo cáo môi trường vào cuối năm đầu thành lập công ty. Thế nhưng điều đó đã không xảy ra cho đến tận 2006. Khi đó thì đã quá trễ. Một vài điểm nổi bật: đổ thải chất thải độc hại không giấy phép, sự thiếu hụt các dịch vụ y tế (mặc dù đã cam kết là sẽ duy trì chúng); không giám sát chất lượng không khí và ngăn ngừa nhiễm độc nguồn nước ngầm (mặc dù đã hứa sẽ làm), và không hề đào tạo hay phát triển cho nhân viên Zambia. Một nghiên cứu gần đây của ĐH Oxford và các ĐH ở Zambia kết luận: “Nhà nước dường như đã có những mối quan hệ với một số công ty khai thác mỏ cho phép họ làm ngơ các qui định về sức khỏe và an toàn, lao động, nhập cư, và môi trường mà không phải chịu những biện pháp trừng phạt”.
Nhà lãnh đạo đối lập Michael Sata vận động cho chiến dịch tranh cử tổng thống của ông ta vào năm 2006 trên cơ sở bài TQ. Chiến dịch của ông ta khá thành công. Ông ấy gọi người TQ là những kẻ “tàn phá” (infesters) thay vì “nhà đầu tư” (investor). Diễn biến này khiến Bắc Kinh phải vi phạm chính sách thường công bố của họ là “không can thiệp vào nội bộ của nhau” bằng cách đe dọa sẽ cắt ngoại giao với Zambia nếu Sata thắng cử. Kết quả, Sata thất cử.
Không ai có được một con số thống kê chính xác về số lượng người TQ đang hiện diện ở đất nước này. Chính phủ ước tính khỏang 3000, Sata nói 80000. Cho dù con số chính xác là bao nhiêu, thì hiện đã có hàng trăm cửa hiệu do người TQ làm chủ ở thị trấn Lusaka, và căng thẳng đã bắt đầu dâng cao. Những biển hiệu chữ TQ thường xuyên bị bôi lên hay nhổ đi. Ngày nay ít thấy các ông chủ người TQ trong cửa hàng của họ, mà họ để cho nhân viên bản địa bán hàng thay. Một nhân viên Zambia nói thẳng thừng: “Làm việc cho người TQ không tốt. Lương thì thấp, mà nếu bạn có chuyện gì gấp ở nhà và cần tiền, họ chẳng bao giờ giúp”.
Vào tháng 3 (theo thời điểm của bài báo này – ND), đã xảy ra cuộc tấn công được xem là nghiêm trọng nhất vào đối tượng quản lý người TQ. 500 công nhân xuống đường hô to khẩu hiệu chống người TQ, chặn đường, đốt cháy một nhà khách có người TQ ở, bắt giữ các quản lý TQ, và làm cho 1 nhân viên TQ mất cả hàm răng do bị chọi đá.
Một năm trước đây, TQ đã dọa sẽ không vay tiền từ Ngân hàng Thế giới nữa nếu tổ chức này không dẹp bỏ những yêu cầu về chống tham nhũng. Nước cờ này tỏ ra có hiệu quả: một tuần sau, Ngân hàng Thế giới quy thuận và từ đó cố gắng giữ bí mật lời đe dọa này của TQ
“Hoặc là chúng ta sẽ giải quyết các vấn đề này một cách thỏa đáng theo lựa chọn của chúng ta, hoặc là những vấn đề đó sẽ tự giải quyết theo cách không dễ chịu của chính chúng”
Nhà địa lý Jared Diamond
Phần 4: Gia tài khoáng sản của Cônggô
Vào năm 1964, Chủ tịch Mao đã từng nói: “Nếu chúng ta có được Cônggô, chúng ta sẽ có cả Phi châu”. Khi đó chủ tịch Mao có ý nói về đấu tranh cách mạng, còn các lãnh đạo TQ bây giờ thì biết rõ rằng đất nước Cônggô có hầu như mọi khoáng sản mà con người từng biết: 10% lượng đồng trên trái đất, 30% lượng côban, 80% lượng coltan (sử dụng trong mọi thứ từ Playstations và iPods đến nam châm, dụng cụ cắt, và động cơ phản lực); và một lượng chưa công bố bauxite và kẽm, cadmium và uranium, vàng và kim cương.
Từ năm 1998 đến 2001, côban là loại khoáng sản có nhu cầu nhiều nhất ở đất nước đầy chiến tranh này và Mỹ là nhà nhập khẩu số 1 trên thế giới – cho đến khi TQ chiếm lấy vị trí này vào năm 2002. Kể từ đó, cassiterite, một chất dẫn xuất từ thiếc cũng được dùng trong ngành công nghiệp điện tử và máy tính, đã trở thành loại khoáng sản hàng đầu của Cônggô. Kasongo, nhân vật quyền lực nhất trong ngành khai khoáng ở Cônggô nói: “Đưa người TQ ra thảo nguyên và họ sẽ tồn tại mà chỉ cần một bát cơm. Còn với người phương Tây thì chúng tôi quá tốn kém. Họ đòi phải có truyền hình vệ tinh để xem thể thao, đi casino vào cuối tuần. Người TQ thì chỉ biết làm việc, cứ như là lính vậy”.
Khi tôi đến gặp thì Kasongo đang cân nhắc một quyết định rất quan trọng sẽ định hình tương lai của quốc gia này trong vài thập kỷ tới. TQ mới vừa đưa ra đề nghị một gói đầu tư hạ tầng – khai khoáng trị giá nhiều tỉ đôla; Chính phủ Cônggô đang cố gắng quyết định xem có nên chấp nhận đề nghị này hay không. Nếu chấp nhận, thì thỏa thuận này sẽ sẽ là thỏa thuận lớn nhất của TQ ở Phi châu cho đến thời điểm đó, về cơ bản sẽ vẽ lại bản đồ kinh tế của lục địa này. Nếu không thì Cônggô còn có một lựa chọn khác; đó là một kế hoạch nhằm phục hồi lại ngành khai khoáng bị tham nhũng làm cho suy sụp do Ngân hàng Thế giới đề xướng. Kế hoạch này đề ra một chương trình giải nợ và tiến tới việc tham gia Thị trường chứng khoán của phương Tây; đề ra các bước phát triển quan trọng dựa trên cơ sở minh bạch; cũng như một khung thời gian 2 năm để hoàn tất. Thế nhưng Côngô không thể kiên nhẫn chờ đợi.
Kasongo hiểu rõ khoáng sản của Cônggô đang được thế giới săn lùng đến mức nào. “Rio Tinto (đại công ty khai khoáng lớn thứ 2 trên thế giới) đang gõ cửa chúng tôi. Nhưng TQ nhìn những đại công ty đó – Tinto, Billiton, được thành lập từ thời thuộc địa – và nói tại sao phải làm cho Tinto lớn thêm?”. “Nếu TQ muốn làm bá chủ thế giới, thì việc ngăn chặn họ không phải là chuyện của chúng tôi”, Kasongo nói thêm. Trong khi các công ty ngoại quốc khác chỉ lo kiếm lời trên giá cả của khoáng sản trên thị trường chứng khoán, họ bỏ mặc chúng tôi với những vấn đề riêng như sự thiếu hụt nước sạch và nguồn điện. Khi đó người TQ đến với chúng tôi và nói: “Chúng tôi cần tài nguyên thiên nhiên để phát triển, còn các bạn cần cơ sở hạ tầng. Chúng ta có cùng mối quan tâm”.
Sau khi tôi quay trở về Hoa Kỳ, Côngô công bố họ đã chấp nhận đề nghị 6 tỉ đô của TQ (sau đó nâng lên đến 9 tỉ). Kasongo đã phải đi trên dây giữa một bên là các cựu trào trong chính phủ, những nhân vật có nhiều quyền lợi ngầm trong những thương vụ như thế, và một bên là Ngân hàng Thế giới. Tổ chức này bày tỏ mối quan ngại rằng thỏa thuận với TQ này có nhiều khả năng có yếu tố tham nhũng và có thể càng đè nặng đất nước này hơn nữa với món nợ 14 tỉ đô hiện có với phương Tây. “Chúng tôi yêu cầu Ngân hàng Thế giới giúp đỡ xây dựng đường xá”, Kasongo giải thích, “thế nhưng họ lại kèm theo quá nhiều điều kiện. Tất nhiên là chúng tôi muốn có nhân quyền, và chúng tôi đã thiết lập một cơ chế cho vấn đề đó, nhờ người châu Âu. Nhưng những người châu Á biết lắng nghe những mối quan tâm của chúng tôi mà không tỏ ra kẻ cả”.
Người TQ, nói cách khác, thì rất “trường” về tiền bạc và “đoản” về luật lệ. Người ta không khỏi thắc mắc làm sao các công ty Tây phương có thể có cơ hội cạnh tranh ở Cônggô. Họ có thể thu được lợi gì ở một quốc gia mà Ngân hàng Thế giới đánh giá là địa chỉ đầu tư tồi nhất thế giới ? Như đại sứ TQ tại Cônggô, Wu Zexian đã nói, TQ thắng hợp đồng này là vì đề nghị không điều kiện của nó là hoàn toàn có lợi cho chính phủ Cônggô: “ Không thể đánh bại được, ta có thể nói. Cho tới thời điểm này thì hoàn toàn không thể bị đánh bại. Sẽ không có đối thủ nào”.
Thủ thuật tiếp theo của TQ là sẽ tìm cách bóc khối châu báu này từ lòng đất và chuyển nó ra khỏi quốc gia này, một quốc gia có diện tích bằng cả Tây Âu nhưng chỉ có 1200 dặm đường sá tạm được, một cơ sở hạ tầng thiếu hụt hay đang xuống cấp, và một ngân sách chính phủ hàng năm chỉ có 3.6 tỉ đôla. Nhưng cũng như TQ có một chiến lược chặt chẽ đề khóa chặt nguồn tài nguyên thiên nhiên ở đây, quốc gia này cũng đang lên một kế hoạch tổng thể để giữ lại nguồn nguyên liệu này. Trong số 9 tỉ đô, một phần ba sẽ được bơm vào các mỏ khoáng sản hoang tàn của Cônggô. 6 tỉ còn lại sẽ ở dạng khoản cho vay mềm (được bảo đảm bởi một vài mỏ khoáng sản tốt nhất của quốc gia) để xây dựng cơ sở hạ tầng mới, sẽ được xây dựng bởi các công ty xây dựng TQ, chủ yếu với công nhân TQ. Thật ra, khi nghiên cứu kế hoạch Cônggô – Trung Quốc này bạn sẽ thấy nó sẽ xây 4500 dặm đường sắt và đường bộ. Quyết định phát triển một “đặc khu kinh tế”, bao gồm cả một trung tâm luyện kim khổng lồ, ở quốc gia Zambia lân cận là một kế hoạch toàn diện. Đặc khu này sẽ đóng vai trò là một trung tâm của một hệ thống công nghiệp – phân phối liên kết Cônggô bằng đường bộ và đường sắt đi đến các mạng lưới khác do TQ gầy dựng ở Zambia và Angola, để rồi cuối cùng đi đến các cảng ở cả 2 bờ biển.
Một vài nhà bình luận e ngại rằng thỏa thuận này sẽ khoét sâu thêm quá khứ bị thuộc địa hóa của Cônggô. Thế nhưng gói thỏa thuận này còn bao gồm cả 176 bệnh viện và trung tâm sức khỏe, hiện đại hóa một hệ thống thoát nước cho thành phố Kinshasa, hai trường đại học lớn, một cảng mới, và 5000 đơn vị nhà ở cộng đồng. Kiểu thuộc địa hóa như thế có thể cũng đáng để cân nhắc. Kasongo nói: “ Điều gì khiến tôi phải lo nghĩ?. Nếu chúng tôi không thể cung cấp nước sạch và điện sinh họat bởi vì chúng tôi không quản lý tốt những điểm mạnh của mình (ví dụ: khoáng sản) thì mỗi ngày đều đáng phải lo nghĩ. Chúng tôi không có phương tiện để làm được việc gì cả, nhưng chúng tôi có thể trao đổi cái chúng tôi có. Nếu người TQ là giải pháp, thì tại sao không?”
Trên thực tế, TQ lại là một phần của vấn đề. Kasongo ước tính có khoảng 1 triệu rưỡi “thợ đào mỏ” thủ công – những người khai thác mỏ chợ đen, nhiều người trong số đó giao kèo với các thương nhân trung gian và nhà cung cấp vốn người TQ. Những thợ đào mỏ này hiện tại sản xuất khoảng 75% lượng khoáng sản xuất khẩu từ Cônggô, chủ yếu là đào bới thủ công. Chúng được chất lên các xe tải 30 tấn và vận chuyển lậu đến TQ qua các cảng ở Nam Phi hay Tanzania. Gaby, một phụ tá của Kasongo nói: “Hầu hết người TQ ở đây là bất hợp pháp”. “Không có cách nào điều hành đất nước khi mà mọi người đều có mâu thuẫn về quyền lợi”, Kitenge – chủ một nhà xuất bản địa phương nói, “ Tham nhũng ở cấp chính phủ vượt trên mức 70%. Nền kinh tế đang được điều hành bởi mafia. Và người dân nghèo thì ngày càng nghèo thêm”.
Phần 5: Guinea Xích đạo – Nguồn cung cấp dầu mới cho TQ
4980

Guinea Xích Đạo (Equatorial Guinea – E.G.) là một quốc gia nhỏ bé ở châu Phi, nhỏ đến mức khi máy bay của tôi đáp xuống nếu phi công lỡ mất đường băng thì nó sẽ đáp xuống quốc gia Cameroon ngay bên cạnh. E.G. không có vẻ gì là một quốc gia, mà là một doanh nghiệp gia đình tham nhũng, tự xào xáo nên quốc ca cho mình. Cai trị quốc gia nhỏ bé này là Teodoro Obiang, 66 tuổi, kể từ năm 1979. Tài sản duy nhất của nó là nguồn dầu mỏ. Mặc dù nền kinh tế tăng trưởng hàng năm ở mức trung bình cao nhất thế giới (21%) kể từ 2001, nhưng quốc gia này thể hiện một sự cách biệt giàu nghèo lớn nhất giữa GDP đầu người (50 ngàn đôla, chỉ sau Luxembourg) và phúc lợi dân sinh (đa số người dân E.G sống dưới mức 1 đôla 1 ngày). Chính phủ E.G. nhận được 4 tỉ đôla một năm từ doanh thu dầu mỏ, và hầu như mọi tòa nhà lớn nhỏ đều thuộc sở hữu của gia đình tổng thống và các bộ trưởng, mà thực ra cũng chính là một gia đình. Cũng như mọi quốc gia chuyên chế khác, ở E.G. có ít cảnh sát, ít tội phạm đường phố, và không có người ăn xin. Thế nhưng cũng chẳng có ai cười. Người dân trong thảnh phố mỉa mai rằng vị tổng thống đã thắng kỳ bầu cử năm 2003 với tỉ lệ 110%.
Kể từ khi ExxonMobil khám phá ra một trữ lượng dầu mỏ đáng kể ở quốc gia này cách đây 1 thập kỷ, E.G đã trở thành quốc gia xuất khẩu dầu lớn thứ 3 trong vùng hạ Sahara, sau Nigeria và Angola. Nó cũng trở thành một trong những nơi quan trọng chiến lược nhất trên thế giới đối với Hoa Kỳ và TQ. Vì thế quốc gia này trở thành một trận địa chứng kiến cuộc chơi giữa 2 đại gia sẽ diễn ra như thế nào. Một chuyên gia dầu mỏ phương Tây cho biết : “Các công ty Mỹ dù không muốn ai biết, nhưng sự thật là họ đang sợ vãi về các đối thủ từ TQ”. TQ đang thách thức một cách có hệ thống các đại công ty dầu mỏ của Mỹ ở đây – khóa chặt các hợp đồng thăm dò hay cung cấp, giành được các quyền ở các mỏ dầu mới, thực hiện sự phát triển cơ sở hạ tầng to lớn, ngay đến cả cung cấp quân nhu cho quân đội. Mặc dù Hoa Kỳ vẫn là nhà đầu tư lớn nhất ở E.G với 7 tỉ đôla trong suốt thập kỷ qua thông qua các đại công ty dầu mỏ Hoa Kỳ, nhưng nếu những số liệu thống kê gần đây đáng tin cậy, thì TQ đã vượt qua HK để là đối tác mậu dịch lớn nhất của E.G, mua hơn 2.5 tỉ đôla dầu mỏ 1 năm. Một buổi sáng trong tiền sảnh của khách sạn tôi thấy có khoảng chục nhà thăm dò dầu mỏ người TQ từ công ty CNOOC (Tập đoàn dầu khí Trung Quốc – ND) đang rất hăng hái và sẵn sàng hành động. Một người tiết lộ với tôi : “Hiện đã có hàng ngàn người TQ ở E.G, chủ yếu trong ngành xây dựng. Chúng tôi chỉ mới bắt đầu thôi”. Ông ta nói thêm với một nụ cười rộng mở. Dân địa phương thì đùa rằng chẳng bao lâu nữa sẽ có nhiều người TQ ở đây hơn người bản địa.
TQ vừa trao cho E.G khoản vay tín dụng 2 tỉ đôla hồi năm ngoái. Và rồi một đội quân áo xanh người TQ xuất hiện ở E.G để xây dựng một thành phồ thủ đô mới, bao gồm rất nhiều tòa nhà cơ quan chính phủ tân kỳ. Thế nhưng lại không thấy bóng dáng của trường học, bệnh viện hay những cơ sở phục vụ công ích cho người dân. Frank, giám đốc một công ty dầu hỏa phương Tây thì thầm với tôi: những viên chức địa phương đã tiết lộ với ông ấy là TQ đã gửi những tù nhân đến E.G để làm việc như là những công nhân xây dựng – một cáo buộc mà tôi đã nghe ở nhiều nước châu Phi. (Ở Zambia, một nhà tư vấn nhập cư bảo với tôi rằng cô ấy đã giải quyết giấy tờ cho hàng trăm tù nhân TQ). Thực hư thế nào thì không biết, và chính phủ TQ thì chối bỏ cáo buộc đó. Thế nhưng các công nhân xây dựng TQ ở E.G gần đây đã nổi loạn y như một đám côn đồ thứ thiệt. Vào tháng 4, một cuộc đụng độ có dính dáng đến quân đội E.G. làm chết 2 nhân công đình công người TQ; 400 công nhân bị đưa trả về TQ.
Trong buổi nói chuyện của tôi với Gabriel, một trong số con trai của Obiang và hiện là bộ trưởng năng lượng, anh ta nói: “Nếu các ông ở trong hoàn cảnh của chúng tôi – một quốc gia đang phát triển, không có nhiều quỹ đầu tư lắm – và người TQ đến và sẽ làm công việc chỉ với 3 đồng trong khi phải tốn đến 10 đồng đối với những kẻ khác, thì ông sẽ làm gì?”.
“Người TQ biết lắng nghe hơn, và họ hiểu rằng đôi khi cần phải hy sinh trước mắt để đạt được mục đích trong tương lai. Họ sẽ thực hiện một nhà máy thủy điện với phân nửa giá, và đổi lại họ sẽ được những dự án khác. Với các công ty Mỹ, chúng tôi cảm thấy ngày càng bị chèn ép. Họ chỉ muốn có dầu và chẳng làm gì khác. Tất nhiên là họ sẽ bị thua cuộc trước người TQ. Ngân hàng Thế giới và IMF cũng đến, nhưng tổng thống chúng tôi luôn từ chối: Không, chúng tôi không cần quí vị”.
Mối quan hệ căng thẳng với phương Tây khiến tổng thống Obiang chuyển sang nhìn về phương Đông, nơi mà chẳng hề có các cuộc điều trần của Thượng viện. Vào năm 2005, ông đến thăm TQ, và khi trở về đã tuyên bố: “Kể từ bây giờ, TQ sẽ là đối tác chính của chúng ta để phát triển quốc gia”. Hồi năm ngoái, trong một chuyến thăm đến E.G, ngoại trưởng TQ mô tả họ như là “người bạn tốt nhất” của E.G.
Phần 6: TQ vượt qua Hoa Kỳ lãnh đạo khu vực Hạ-Sahara
4981

Việc phương Tây đang mất dần vùng hạ Sahara không còn là một tin tức gì mới ở ngay chính châu Phi. Nhiều vị nguyên thủ ở đây đã từng khẳng định điểm này, từ tổng thống Senegal (“Ngày nay, rất rõ ràng là Châu Âu gần như thua trong cuộc chiến cạnh tranh ở Phi châu”) cho đến tổng thống Boswana (“Tôi nhận thấy rằng người TQ đối xử với chúng tôi bằng vai phải lứa; phương Tây thì đối xử với chúng tôi như những thuộc địa trước đây”) đến tổng thống Nigeria tại một buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống TQ Hồ Cẩm Đào (“Đây là thế kỷ của TQ lãnh đạo thế giới. Và khi quí vị lãnh đạo thế giới, chúng tôi muốn sát cánh cùng quí vị”).
Việc phương Tây mất dần thế đứng ở khu vực này cũng có lý do của nó. Trong những năm gần đây, các công ty Tây phương đã phải chịu sức ép ngày càng gia tăng từ các cổ đông và các nhà lập pháp trong việc nâng cao thực hành đạo đức và môi trường. Các hồ sơ tại Bộ Tư pháp chiếu theo Điều luật Hành vi Tham nhũng ở nước ngoài (Foreign Corrupt Practices Act, điều luật của Mỹ nghiêm cấm các công ty Mỹ đưa hối lộ ở một quốc gia khác – ND) đã tăng gấp đôi từ năm 2006 đến năm 2007, và cơ quan FBI đã thiết lập một đội ngũ hoàn toàn mới để truy tìm những công ty vi phạm. Trên thế giới, tổ chức OECD (Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế) ước tính hiện có khoảng hơn 150 cuộc điều tra đưa hối lộ ở nước ngoài tại 30 quốc gia công nghiệp hóa, và sự hợp tác giữa các quốc gia trong lĩnh vực này ngày càng phổ biến hơn. Sự thay đổi đó, cùng với việc thông qua luật Sarbanes-Oxley nhằm kiểm soát tài chính chặt chẽ hơn ở các công ty, đã bắt đầu làm thay đổi cách mà các công ty phương Tây hoạt động ở các nước kém phát triển. Thật ra, chính các công ty khai khoáng lớn nhất trên thế giới (đại diện cho hơn 700 tỉ đô giá trị tài sản – bao gồm DeBeers, Rio Tinto, Newmont, và Anglo-American) đã đề nghị với Liên Hiệp Quốc giúp đỡ trong việc truyền tải một ý tưởng đến các quốc gia đang phát triển: cấp một “Huy hiệu Xuất sắc”, yêu cầu tất cả các công ty khai khoáng phải đáp ứng được những tiêu chuẩn cao về môi trường và an toàn.
Thế nhưng những điều này bị các nhà lãnh đạo ở châu Phi và Trung Quốc quy kết là “đạo đức giả”, và dùng cáo buộc đó để chống lại phương Tây. Một năm trước đây, TQ đã dọa sẽ không vay tiền từ Ngân hàng Thế giới nữa nếu tổ chức này không dẹp bỏ những yêu cầu về chống tham nhũng. Nước cờ này tỏ ra có hiệu quả: một tuần sau, Ngân hàng Thế giới quy thuận và từ đó cố gắng giữ bí mật lời đe dọa này của TQ. Hè vừa rồi, khi Ngân hàng Thế giới chuẩn bị công bố 1 bản báo cáo có một dữ kiện bàng hoàng rằng khoảng 750 ngàn người TQ chết sớm mỗi năm do ô nhiễm không khí; chính phủ TQ lập tức can thiệp và yêu cầu ngân hàng xóa bỏ số liệu này, cho rằng nó có thể gây các vụ bạo động xã hội. Một lần nữa, Ngân hàng Thế giới tuân phục – và lại cố gắng giữ kín yêu cầu này trước công luận.
Tuy nhiên sự đạo đức giả của phương Tây này còn có một phương diện khác. Các nghiên cứu cho thấy cứ mỗi đôla phương Tây cho châu Phi vay từ năm 1970 đến 1996 thì có 80 cent đã chảy ngược ra lại trong cùng một năm, thường là đi vào các tài khỏan ở các ngân hàng ở New York, Luân Đôn, và Zurich. Một báo cáo năm 2005 của Ủy ban Tony Blair về Phi châu ước tính rằng “các tài sản bị ăn cắp ở Phi châu tương đương với hơn phân nửa nợ nước ngoài của lục địa này và đang được cất giấu trong các tài khoản ngân hàng ở nước ngòai”. Người ta tin rằng ít nhất 500 tỉ đôla hiện đang được cất giấu, nhưng các ngân hàng phương Tây hầu như chẳng làm gì để hợp tác với chính phủ các nước Phi châu để ngăn chặn việc ăn cắp này. Có 2 lý do. Thứ nhất là chính phủ các nước phương Tây nói họ quá bận rộn để hợp tác điều tra, trừ phi nó dính dáng đến những vụ giá trị lớn hàng triệu đôla. Thứ hai, các ngân hàng phương Tây không muốn từ bỏ những nguồn quỹ này, vì nó sẽ tố cáo là họ đã không làm tròn trách nhiệm ngay từ lúc đầu, một nguồn tin cho biết. “Và nếu nguồn tiền này đựoc rút ra, nó sẽ làm sập đổ các hệ thống ngân hàng ở Mỹ và Châu Âu”. Những kẻ tham nhũng ở châu Phi biết điều này, và mỉa mai rằng tất cả chúng ta đều là một phần của vấn đề tham nhũng. Tòan cầu hóa đã kết nối chúng ta lại với nhau”.
Dòng chảy đầu tư của TQ vào lục địa đen phần lớn đã chảy vào túi của cái mà George Ayittey, giáo sư người Ghana tại trường American University ở Washington, gọi là “một nhóm ký sinh hút máu”. Tháng sáu vừa qua, người đứng đầu Ngân hàng Xuất nhập khẩu TQ phát biểu rằng sự minh bạch chỉ đến sau khi sức mạnh kinh tế của TQ đã thành hiện thực. “Sự minh bạch và quản trị tốt chỉ là những thuật ngữ hay”, Li Ruogu phát biểu trước một diễn đàn ở Cape Town, “nhưng việc thực hiện chúng không phải là một điều kiện tiên quyết của sự phát triển; mà là hệ quả của nó mà thôi”.
Vấn đề khó khăn của lý thuyết đó là các quốc gia vùng hạ Sahara đang bị tước đoạt một cách có hệ thống các nguồn tài sản tiềm tàng của họ và phải đứng nhìn chúng bị chuyển ra nước ngoài. Một thành phần chính của sự phát triển của TQ là sự trỗi dậy của các ngành công nghiệp nhẹ; còn Phi châu có thể sẽ không bao giờ có được cơ hội đó, khi mà làn sóng hàng tiêu dùng và lao động giá rẻ từ TQ đổ trở lại cho họ. May mặc thường là ngành truyền thống đầu tiên để bước vào công nghiệp hóa, thế nhưng cỗ máy xuất khẩu của TQ đã tước đi cơ hội của các ngành công nghiệp may mặc và da giầy ở các quốc gia như Boswana, Nam Phi, Kenya, và Swaziland. Tương tự, TQ cũng đã triệt hạ công nghiệp chất dẻo đầy hứa hẹn ở Nigeria. Liệu các quốc gia vùng hạ Sahara có thể leo lên nấc thang công nghiệp ở thế hệ kế tiếp hay không? Hay số phận của họ chỉ có thể là hầm mỏ của thế giới?
PHẦN KẾT
Thị trường hàng hóa thế giới đã trải qua nhiều giai đoạn biến động thăng trầm trong quá khứ, nhưng nhiều nhà kinh tế học cho rằng một sự thay đổi cơ bản trên thị trường đang diễn ra. “Trong ngành công nghiệp khai mỏ, chúng ta đang phải cố gắng để tìm kiếm các nguồn tài nguyên mới bởi vì Trung Quốc đã tạo ra một lực nhu cầu quá lớn”, Sunter ở công ty Anglo-America nói, “Trong phần lớn sự nghiệp của tôi trong ngành khai khoáng, việc quản lý đã luôn tập trung vào vấn đề cắt giảm chi phí để tồn tại trong môi trường giá cả đi xuống. Còn bây giờ vấn đề thúc đẩy lại khác, đó là tìm kiếm những nguồn tài nguyên mới ở đâu, và chúng tôi phải nhờ cậy đến các nhà địa chất để tìm ra chúng”. Hay như một vị giám đốc ngành mỏ nói, việc đáp ứng cho đựơc mức nhu cầu hiện tại của thế giới đòi hỏi phải tìm cho ra một siêu mỏ quặng sắt mới mỗi năm, từ nay cho đến mãi về sau. Trong ấn phẩm đoạt giải Pulitzer của mình, nhà địa lý Jared Diamond ở ĐH UCLA nói nếu 1.3 tỉ dân TQ sống với mức sống như người Mỹ, thì TQ sẽ làm tăng gấp đôi hiệu ứng môi trường và nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên toàn cầu so với mức hiện tại. Trong bối cảnh đó trái đất của chúng ta sẽ phải cần có thêm 1 trái đất khác để đủ cung ứng cho nhu cầu khổng lồ đó. “Hoặc là chúng ta sẽ giải quyết các vấn đề này một cách thỏa đáng theo lựa chọn của chúng ta, hoặc là những vấn đề đó sẽ tự giải quyết theo cách không dễ chịu của chính chúng”.


--------------------------------

Tư bản Trung Quốc vươn ra toàn cầu có khiến thế giới phải lo ngại?
Chỉ mới cách đây vài thập niên, dưới con mắt của phương Tây, kinh tế Trung Quốc chỉ có một thế mạnh là nhân công rẻ và đông, khó có thể cạnh tranh với các công nghệ cao và nguồn vốn dồi dào của phương Tây. Nhưng giờ đây phương Tây có lý do để e ngại. Thật khó cạnh tranh về giá trị, với sức lao động rẻ được trang bị những công nghệ tiên tiến và nhất là tiền vốn không hề thua kém phương Tây.

Luật sư Lưu Tường Quang tại Sydney

30/07/2009 Anh Vũ

VN thành điểm trung chuyển ngà voi? -- BBC
Việt Nam phát hiện nhiều vụ buôn lậu ngà voi có nguồn gốc Phi châu, mà giới chuyên gia cho rằng điểm đến cuối cùng là Trung Quốc.


Chính phủ đồng ý cho nghiên cứu thu phí xe cá nhân - VnExpress.net
Bộ Tài chính được giao nghiên cứu việc tăng phí trước bạ, thu phí lưu thông phương tiện cá nhân ở Hà Nội và TP HCM, báo cáo Chính phủ xem xét, quyết định.
> TP HCM lại đề nghị thu phí lưu hành xe

Tổng số lượt xem trang