Tọa đàm về Biển Đông: (Tất cả đều là bản gốc) [1] Từ Trường Sơn Đông đến Song Tử Tây -- Bài của LM Thiện Cẩm. Bài thật là cảm động! [2] Nỗi niềm Biển Đông -- Bài của Nguyên Ngọc [3] Chủ quyền quốc gia Việt Nam trên vùng Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa - Trường Sa -- Bài Đinh Kim Phúc [4] Biển, đảo Việt Nam và quy chế pháp lý của nó -- Bài của LS. TS. Phan Đăng Thanh [5] Thủy quân nhà Nguyễn bắt đầu năm 1816 đi cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa theo phương cách Phương Tây -- Bài của TS Nguyễn Nhã [6] Vai trò của Chúa Nguyễn và Triều Nguyễn đồi với Hoàng Sa và Trường Sa -- Bài Nguyễn Q. Thắng [7] Giới thiệu một số bản đồ cổ thêm lục địa và hải đảo Việt Nam -- Bài Nguyễn Đình Đầu ◄◄ Khai Mạc Tọa Đàm Khoa học về BIỂN ĐÔNG & HẢI ĐẢO VIỆT NAM -- Diễn từ của Lm. TS. Nguyễn Thái Hợp
Biển Đông: Một đầu mối quản lý biển? (VNN 28-7-09) -- P/v TS Nguyễn Nhã
THỦY QUÂN NHÀ NGUYỄN BẮT ĐẦU NĂM 1816 ĐI CẮM CỘT MỐC, DỰNG BIA CHỦ QUYỀN TẠI HOÀNG SA & TRƯỜNG SA THEO PHƯƠNG CÁCH PHƯƠNG TÂY
x-cafevn
(Việt Nam luôn có bằng chứng lịch sử cụ thể, không mơ hồ mang tình suy diễn như các nước khác)
Hãn Nguyên Nguyễn Nhã, Tiến sĩ sử học
Từ thời các chúa Nguyễn, đầu thế kỷ XVII, khai thác Biển Đông, kinh tế biển, bảo vệ Biển Đông đã được các chính quyền thời ấy rất quan tâm.
Các đội khai thác Biển Đông như đội Hoàng Sa, đội Quế Hương, đội Đại Mạo Hải Ba, đội Quế Hương Hàm với nhiệm vụ kinh tế và sẵn sàng ứng chiến với kẻ xâm phạm Biển đảo.
Các người phục vụ các đội đều gọi là quân nhân – Đội dân binh.
Riêng đội Hoàng Sa đứng đầu là cai đội hay đội trưởng lại thường là kiêm cai thủ cửa biển Sa Kì cũng như kiêm quản cai cơ thủ ngự.
Chức quan cai cơ thủ ngự phụ trách thu thuế, an ninh trên biển, chống hải tặc, cướp biển.
Như thế việc khai thác kinh tế biển luôn kết hợp với nghĩa vụ quân sự, chống cướp biển, bảo vệ Biển Đông. Sự kết hợp này do các chúa Nguyễn chủ trương từ lâu khi ở đất liền xây dựng loại lính đồn điền, khẩn hoang, tay cầm gươm, tay cầm cuốc đi mở cõi và cũng từ lâu các chính quyền Đại Việt có chính sách “ngụ binh ư nông”.
I. VUA GIA LONG TIẾP TỤC CHO DÂN BINH KHAI THÁC BIỂN ĐÔNG
Tháng 7 năm Quý hợi ( 1803), vua Gia Long đã cho lập lại đội Hoàng Sa.
Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, q. 12 viết: “ Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”.
Các quan thủ ngự các cửa biển như cửa biển Sa Kỳ kết hợp với đội Hoàng Sa vẫn giữ nhiệm vụ chống hải tặc như truớc.
II. NĂM 1816, GIA LONG LẦN ĐẦU TIÊN CHO THỦY QUÂN CÙNG VỚI ĐỘI HOÀNG SA CÙNG ĐI XEM XÉT VÀ ĐO ĐẠC THỦY TRÌNH Ở HOÀNG SA – (ĐNTLCB, ĐỆ NHẤT KỶ, Q.52)
Trước khi lên ngôi hoàng đế 1802, Nguyễn Ánh cũng đã được anh em Dayot giúp đo đạc hải trình ở Biển Đông trong đó có vùng quần đảo Trường Sa hay Hòang Sa nói chung.
Tháng giêng, năm Ất Hợi (1815), Phạm Quang Anh, thuộc đội Hoàng Sa được lệnh ra đảo Hoàng Sa xem xét đo đạc thủy trình. Phạm Quang Ảnh hiện được thờ tại từ đường tộc họ Phạm (Quang) tại thôn Đông, xã Lý Vĩnh, xưa là phường hay hộ An Vĩnh tại huyện đảo Lý Sơn (Cù Lao Ré).
Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhất kỷ, quyển 52, từ năm 1816 vua Gia Long đã bắt đầu cho thủy binh đi công tác Hoàng Sa cùng với đội dân binh Hoàng Sa ở Quảng Ngãi đi ra Hoàng Sa xem xét và đo đạc thủy trình.
Dân phu cùng đi chính là những dân phu giỏi hải trình đi Hoàng Sa. Sở dĩ vua Gia Long bắt đầu cho thuỷ binh đi Hoàng Sa vì có các sĩ quan người Phương Tây trong thời chiến tranh với Tây Sơn rất quan tâm đến vấn đề quản lý Biển Đông.
Những người Pháp cộng tác với vua Gia Long, Minh Mạng như Chaigneau, giám mục Taberd đã viết rất rõ về những hành động của vua Gia Long như Chaigneau đã viết trong hồi ký “Le mémoire sur la Cochichine" “Chỉ đến năm 1816, đương kim hoàng đế đã chiếm hữu quần đảo ấy” hay giám mục Taberd viết: “Chính là vào năm 1816 mà Ngài (vua Gia long) đã long trọng treo tại đó lá cờ của xứ Đàng Trong. Gutzlaff năm 1849 đã cho biết chính quyền Việt Nam thời Gia Long đã thiết lập một trại quân nhỏ để thu thuế và bảo trợ người đánh cá Việt Nam”.
Chính hoạt động lần đầu tiên của thủy quân này đã đánh dấu mốc thời gian rất quan trọng về việc tái xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa, nên đã khiến cho những người Phương Tây như Chaigneau hay sau này là Taberd khẳng định vua Gia Long đã chính thức xác lập chủ quyền của mình như đã nói trên. Thực ra sự kiện năm 1816 chỉ đánh mốc là Hoàng Đế Gia Long sử dụng thủy quân thay vì chỉ có đội Hoàng Sa xem xét, đo đạc thủy trình , khai thác hải vật như trước.
Sang thời Nhà Nguyễn, nhất là từ thời Minh Mạng, thủy quân hàng năm liên tục đã thành lệ đều đặn ra Hoàng Sa, Trường Sa đi vãng thám, đo đạc thủy trình, cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền, và các hoạt động khác trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa…
III. CÁC HỌAT ĐỘNG CỦA THỦY QUÂN TRIỀU ĐÌNH VIỆT NAM THỰC THI LIÊN TỤC VÀ HÒA BÌNH Ở QUẦN ĐẢO HOÀNG SA & TRƯỜNG SA
3.1 - Các hoạt động đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ về Trường Sa
Sang đến đời Minh Mạng, việc đo đạc thủy trình chủ yếu giao cho thủy quân có trách nhiệm và thuê thuyền của dân và người lái thuyền ở Quảng Ngăi hướng dẫn hải trình.
Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165 : “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp một chiếc thuyền ô nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”.
Thời gian đi vãng thám đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thì bắt đầu triều Nguyễn theo lệ khởi đi vào mùa Xuân, (kể từ kinh thành Huế đến Quảng Ngãi), song cũng tùy năm sớm trễ khác nhau. Từ kinh thành Huế, thuỷ quân tới Quảng Ngãi nghỉ ngơi và chuẩn bị cũng mất một thời gian đáng kể. Như năm Minh Mạng 19 (1838) lúc đầu ấn định khởi hành hạ tuần tháng 3, nhưng vì gió Đông nổi lên liên tục kèm theo mưa lớn, tới hạ tuần tháng 4 vẫn chưa khởi hành được . Lúc đầu kế hoạch tính đo đạc giáp vòng Hoàng Sa từ hạ tuần tháng 3 đến hạ tuần tháng 6 là hoàn tất công việc. Sau dù có đi trễ, thời gian hoàn tất tháng 6 vẫn không thay đổi.
Nhiệm vụ đo đạc ở Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng được qui định cũng rất rõ ràng có ghi trong Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ quyển 165 cũng như Khâm Định Đại Nam Hội Điển Sự Lệ , quyển 221 như sau:
“Không cứ đảo nào, cửa bể nào thuyền chạy đến, sẽ đo nơi ấy chiều dài, chiều ngang, bề cao, bề rộng, chu vi bao nhiêu, rà bên bờ nước bể nông hay sâu. Có cát ngầm, đá mỏm hay không, ở tình thế hiểm trở hay bình thường, xem đo tỏ tường vẽ thành đồ bản, chiếu khi khởi hành, do cửa bể nào ra bể, trông phương hướng nào mà lái đến nơi ấy, cứ theo đường thủy đã đi khấu tính ước được bao nhiêu dặm đường? lại ở chốn ấy trông vào bờ bể đối thẳng là tỉnh hạt nào? và phương hướng nào? Ước lượng cách bờ bao nhiêu dặm đường? Ghi nói minh bạch trong hoạ đồ để về trình lên. Lại từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chiếu theo lệ ấy mà làm”.
Việc đo đạc để vẽ bản đồ về Hoàng Sa nói chung, Truờng Sa nói riêng dưới triều Nguyễn đã được bắt đầu từ thời Gia Long 14 (1815), song đến đời Minh Mạng mới được thúc đẩy mạnh. Năm Minh Mạng thứ 16 (1835) các viên giám thành Trần Văn Vân, Nguyễn Văn Tiến, Nguyễn Văn Hoàng vẽ hoạ đồ Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng, chưa chu tất đã bị phạt mỗi người 80 trượng như đã nêu trên. Tấu của Bộ Công vào năm Minh Mạng thứ 17 (1836) cũng chỉ vẽ được một nơi và cũng chưa biết rõ nên làm thế nào.
Theo dụ vua Minh Mạng ngày 13 tháng 7 năm thứ 18 (1837), thủy quân đi Hoàng Sa vẽ thành đồ bản 11 nơi, tuy nhiên chưa được chu đáo lắm. Theo Tấu Bộ Công ngày 21 tháng 6 Minh Mạng thứ 19 (1838), thủy quân đệ trình sau khi đo đạc 3 nơi với 12 hòn đảo đã vẽ được 4 bức đồ bản, 3 bức vẽ riêng và 1 bức vẽ chung , song cũng chưa vẽ rõ ràng lắm , Bộ Công phải yêu cầu vẽ lại tinh vi hơn.
3.2 - Các hoạt động cắm cột mốc, bia chủ quyền để xác lập chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa từ đầu thế kỷ XIX.
Cũng chính vua Minh Mạng ra chỉ dụ nói rõ việc làm cụ thể của từng chuyến đi. Tỷ như năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ Công tâu trình lên vua về chuyến vãng thám Hoàng Sa của thủy quân, chính đội trưởng Phạm Hữu Nhật, vua Minh Mạng phê sửa (châu cải) : “Báo gấp cho Quảng Ngãi thực thụ ngay, giao cho tên ấy (Phạm Hữu Nhật) nhận biên" và rồi vua Minh Mạng lại phê (châu phê): “Thuyền nào đi đến đâu, cắm mốc tới đó để lưu dấu”.
Thời gian chuẩn bị, từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836) Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 154 có ghi rõ: “Xem từ năm nay về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái thủy quân biền binh và giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, giao cho 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân hướng dẫn ra xứ Hoàng Sa”. Như thời gian hàng năm chuẩn bị từ hạ tuần tháng giêng (tháng 2 dương lịch) đến thượng tuần tháng hai (tháng 3 dương lịch) thì có mặt ở Quảng Ngãi, để sang tháng 3 âm lịch (tháng 4 dương lịch) là lúc biển yên nhất thì khởi hành đi Hoàng Sa.
Đến đời vua Minh Mạng, thuỷ quân mới được tổ chức thật qui củ có nhiệm vụ ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ còn có cắm cột mốc, dựng bia chủ quyền quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Đại Nam Nhất Thống Chí, quyển 6 đã ghi chép rằng trước năm Minh Mạng thứ 16, nhà vua sai quân lính ra dựng bia đá làm dấu đã thấy có nơi phía Tây Nam đảo có ngôi cổ miếu, không biết kiến thiết vào thời đại nào và có bia khắc bốn chữ “Vạn Lý Ba Bình”. Như thế trước thời Minh Mạng đã có việc khắc bia, dựng miếu chùa rồi.
Đến năm Minh Mạng thứ 14 (1833), vua Minh Mạng đã chỉ thị cho Bộ Công sang năm Minh Mạng thứ 15 (1834) phái người ra dựng bia chủ quyền . Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 165 cũng đã chép rất rõ từ năm Minh Mạng thứ 17 (1836), Bộ công tâu vua cứ hằng năm cử người ra Hoàng Sa ngoài việc đo đạc thủy trình, vẽ bản đồ và còn cắm cột mốc, dựng bia.
Tập tấu của Bộ Công ngày 12 tháng 2 năm Minh Mạng 17 (1836) với lời châu phê của vua Minh Mạng cũng đã nêu rất rõ: “Mỗi thuyền vãng thám Hoàng Sa phải đem theo 10 tấm bài gỗ (cột mốc) dài 4, 5 thước, rộng 5 tấc". Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, đệ nhị kỷ, quyển 6 còn ghi rõ : “Vua Minh Mạng đã y theo lời tâu của Bộ Công sai suất đội thủy quân Phạm Hữu Nhật đưa binh thuyền đi, đem theo 10 cái bài gỗ dựng làm dấu mốc. Mội bài gỗ dài 5 thước rộng 6 tấc và dày 1 tấc, mặt bài khắc những chữ:
“Minh Mạng Thập Thất Niên Bính Thân thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phâm Hữu Nhật phụng mệnh vãng Hoàng Sa tương đồ chí thử, hữu chí đẳng tư (tờ 25b)”.
(Năm Minh Mạng thứ 17, năm Bính Thân, thủy quân chánh đội trưởng suất đội Phạm Hữu Nhật, vâng mệnh ra Hoàng Sa xem xét đo đạc, đến đây lưu dấu để ghi nhớ).
3.3 - Xây dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Các vị vua chúa Việt Nam, nhất là thời vua Minh Mạng rất quan tâm đến việc dựng chùa miếu và trồng cây tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua đã chuẩn y lời tâu của Bộ Công cho tỉnh Quảng Ngãi cất miếu Hoàng Sa một gian theo thể chế nhà đá. Việc dựng miếu này theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên đệ nhị kỷ, quyển 154, đã cho biết rõ năm Minh Mạng thứ 15 (1834) đã không thực hiện việc xây dựng miếu như dự kiến mà đến mãi đầu tháng 6 mùa hạ, năm Minh Mạng thứ 16 (1835), vua Minh Mạng đã cử cai đội thủy quân là Phạm Văn Nguyên đem lính và giám thành cùng phu thuyền hai tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định chuyên chở vật liệu đến dựng miếu cách toà miếu cổ 7 trượng. Bên trái miếu, phía trước miếu xây bình phong. Mười ngày làm xong việc chớ không như các đoàn khác có nhiệm vụ lâu dài hơn.
Thường ba mặt miếu Hoàng Sa bên trái, bên phải và đằng sau đều trồng các loại cây. Theo Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông, thì các quân nhân đến đảo thường đem những hạt quả thủy nam mà rải ở trong và ngoài miếu, mong cho mọc cây để tìm dấu mà nhận. Như thế cây trồng ở Hoàng Sa chủ yếu trồng bằng cách gieo hạt, quả chứ không trồng theo kiểu trồng loại cây con. Đó cũng hợp lý vì mang cây con ra biển đi trên thuyền nhỏ như thế cũng khó khăn, khó bảo dưỡng được cây sống để mà trồng. Thời gian hoạt động hàng năm của thủy quân vào cuối mùa khô, kéo dài sang mùa mưa nhiều tháng trời, rất thuận lợi cho việc gieo hạt trồng cây. Ý của vua Minh Mạng sai trồng cây cũng cho rằng gần đây thuyền buôn thường bị hại, nên trồng cây cũng cốt làm dấu dễ nhận ra đảo mà tránh thuyền bị tai nạn đâm vào đảo.
Song theo Dụ ngày 18 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 16(1835), Vua Minh Mạng giao Bộ Công phạt cai đội Hoàng Sa Phạm Văn Nguyên và thưởng dân binh V văn Hùng, Phạm văn Sanh. Như thế có nghĩa có thể năm 1835 hay chính năm 1834 thủy binh đi Hoàng Sa có dân binh và cai đội Hoàng Sa đi cùng. Và như thế từ năm 1816 đến năm 1835 vẫn cịn sự kết hợp giữa thủy binh v dn binh đội Hoàng Sa phối hợp hoạt động.
IV. SỰ KHẲNG ĐỊNH CHỦ QUYỀN HOÀNG SA – TRƯỜNG SA CỦA VUA CHÚA, TRÌNH ĐÌNH VIỆT NAM VÀ QUẢN LÝ HÀNH CHÁNH CỦA VIỆT NAM
4.1 - Sự khẳng định chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của vua chúa, triều đình Việt Nam
Trong khi tại Trung Quốc chưa có tài liệu nào nói rõ vua, triều đình Trung Quốc khẳng định chủ quyền của mình ở Hoàng Sa và Trường Sa, thì tài liệu chính sử của Việt Nam cho thấy vua và triều đình Việt Nam đã nhiều lần khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa là thuộc lãnh hải Việt Nam.
Các tài liệu chính thức của nhà nước Việt Nam, của triều đình Việt Nam như Đại Nam Thực Lục Chinh Biên, Đại Nam Hội Điển Sự Lệ, Châu Bản Triều Nguyễn, Đại Nam Nhất Thống Chí đã ghi nhận rất rõ ràng rằng hoàng đế Việt Nam, triều đình Việt Nam luôn khẳng định Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc về cương vực mặt biển Việt Nam.
Tỷ như năm Bính Thân, niên hiệu Minh Mạng thứ 17 (1836) (năm Đạo Quang thứ 16 đời Nhà Thanh) Bộ Công tâu lên vua: “Xứ Hoàng Sa thuộc cương vực mặt biển nước ta rất là hiểm yếu (Đại Nam Thực Lục Chính Biên, đệ nhị kỷ, quyển 165). Ngày 20 tháng 12 năm Thiệu Trị thứ 7 (1847) phúc tấu của Bộ Công cũng đã khẳng định: “Hàng năm, vào mùa xuân, theo lệ phái binh thuyền vãng thám Hoàng Sa thuộc hải cương nước nhà...” (tập Châu Bản Thiệu Trị tập 51, trang 235).
Sách Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán triều Nguyễn cũng đã chép _oat cách rõ ràng: “Phía Đông (tỉnh Quảng Ngãi) chạy ngang đến đảo cát :đảo Hoàng Sa, liền với biển xanh …”
4.2 - Việc quản lý hành chánh của các chính quyền Việt Nam tại quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong suốt thời chúa Nguyễn, quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là một, luôn được quản lý hành chánh bởi Thừa Tuyên Quảng Nam dưới danh nghĩa Nhà Lê hay Quảng Nghĩa hay Ngãi lúc là phủ, khi là trấn trong thực tế tự trị của Xứ Đàng Trong, tùy theo thời kỳ lịch sử. Bởi từ khi Nguyễn Hoàng trở lại trấn thủ Thuận Quảng (năm 1600) cho tới khi chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) xưng vương năm 1744, trên danh nghĩa chúa Nguyễn vẫn là quan trấn thủ Thừa tuyên Quảng Nam của Đại Việt, do vua Lê trị vì.
Như thế mọi hành động xác lập chủ quyền của các chúa Nguyễn vẫn dưới danh nghĩa nước Đại Việt. Như thế, trên thực tế tự trị trên, Phủ Quảng Nghĩa có huyện Bình Sơn (trước đó là huyện Bình Dương) quản lý xã An Vĩnh. Toản Tập Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư hay Toản Tập An Nam Lộ đã ghi "Bãi Cát Vàng (Hoàng Sa) trong phủ Quảng Nghĩa". Phủ Biên Tạp Lục của Lê Qúi Đôn chép "Hoàng Sa ở phủ Quảng Nghĩa (thuộc dinh Quảng Nam) huyện Bình Sơn, xã An Vĩnh “Địa Dư Chí của Phan Huy Chú chép "Hoàng Sa ở trấn Quảng Nghĩa". Sang thời Tây Sơn từ 1773, phủ Quảng Nghĩa được đặt tên thành phủ Hoà Nghĩa.
Sang thời Nhà Nguyễn, năm 1801, Hoà Nghĩa đã được gọi lại với tên Quảng Nghĩa, (cùng nghĩa với Ngãi đọc chệch). Tại phủ Quảng Nghĩa ngoài viên tuần phủ, khánh lý còn có một viên chính hộ lý, một viên đề lãnh, một viên ký lục, một viên cai phủ và một viên thư ký.
Sau Quảng Nghĩa trở thành trấn, rồi tỉnh. Năm 1829, tiếp tục quản lý xã An Vĩnh. Dần dần xã An Hải phía Bắc cửa biển Sa Kỳ cũng cung cấp lính Hoàng Sa. Dân hai làng hay xã An Vĩnh, An Hải di dân ra Cù Lao Ré lập 2 phường An Vĩnh và An Hải mà Nguyễn Thông gọi là hai hộ An Vĩnh, An Hải. Đến đầu triều Nguyễn, khi dân hai phường Cù Lao Ré phát triển, xin tách khỏi hai làng cũ ở đất liền trở thành nơi cung cấp chính dân binh cho đội Hoàng Sa. Chính Phạm Quang Anh được cử làm đội trưởng đội Hoàng Sa năm 1815 là người thôn An Vĩnh ở đảo Cù Lao Ré, nay thuộc thôn Đông, xã Lý Vĩnh thuộc huyện đảo Lý Sơn. Nhiều tài liệu như Việt Sử Cương Giám Khảo Lược của Nguyễn Thông và Đại Nam Nhất Thống Chí của Quốc Sử Quán Triều Nguyễn đã xác nhận đảo Hoàng Sa nói chung, Trường Sa nói riêng thuộc tỉnh Quảng Ngãi. Hoàng Sa là nơi hiểm yếu và rộng lớn, nên phủ rồi trấn rồi tỉnh Quảng Nghĩa là đơn vị hành chánh luôn trực tiếp can thiệp vào những hoạt động có định kỳ hàng năm của đội dân binh Hoàng Sa để có phương tiện tốt và đảm bảo những yêu cầu của chính quyền trung ương ở Phú Xuân gọi là chính dinh, thủ phủ của xứ Đàng Trong hay kinh đô của Triều Nguyễn sau này.
Hiện nay chưa có bằng chứng nào quyền quản hạt hành chánh của Trường Sa được giao về cho Bình Thuận hoặc Gia Định - Đồng Nai, mặc dù Bình Thuận có nhiệm vụ cung cấp nhân sự cho Đội Bắc Hải, cũng giống như các nơi khác như Bình Định vẫn cung ứng nhân sự cho Đội Hòang Sa. Vùng bờ biển Quảng Ngãi nhô ra Biển Đông xa nhất lại có dân Cù Lao Ré rất giỏi đi biển; cửa biển Sa kỳ ở Quảng Ngãi luôn được bố trí chức quan lớn như chức “Khâm sai cai thủ” kiêm kiêm chức thủ ngự và kiêm quản đội Hoàng Sa. Đó cũng cách quản lý Biển Đông hiệu quả cuả thời bấy giờ của Chúa Nguyễn cũng như của Nhà Nguyễn.
V. KẾT LUẬN
Như thế suốt hơn hai thế kỷ, từ đầu thế kỷ XVII thời các chúa Nguyễn đến nửa đầu thế kỷ XIX thời Nhà Nguyễn, đội dân binh Hoàng Sa kiêm quản đội Bắc Hải đã làm nhiệm vụ khai thác biển, quản lý biển đảo Biển Đông.
Từ năm 1816 thuỷ quân được giao nhiệm vụ xác lập và thực thi chủ quyền theo phương cách Phương Tây, đúng theo pháp lý quốc tế thời đó.
Thời nào cũng vậy, Việt Nam luôn tuân thủ pháp lý quốc tế về xác lập và thực thi chủ quyền về biển đảo và có đầy đủ chứng cứ lịch sử từ chính sử chép cụ thể đến các văn bản nhà nước như Châu bản của Triều đình nhà Nguyễn cũng như các văn bản chính quyền địa phương như tờ lệnh, tờ tư, tờ bằng cấp như mới phát hiện ở huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Điều này không hề có ở các nước khác trước năm 1909 khi chính quyền Quảng Đông (Trung Quốc) bắt đầu tranh chấp khi ấy Việt nam bi mất chủ quyền, bị Pháp cai trị và khi đó Chính quyền Quảng Đông cho Hoàng Sa là đất vô chủ. Mọi bằng chứng sau này đưa ra đều vô căn cứ, hoặc suy diễn hoặc bày đặt không có thực.
Quan điểm chủ yếu của những nhà nghiên cứu Việt Nam về vấn đề chủ quyền tại Hoàng Sa & Trường Sa là Việt Nam đã chiếm hữu thật sự, hoà bình và liên tục. Chủ quyền của Việt Nam tại hai quần đảo ấy là không có gì để tranh cãi.
Cảm ơn quý vị!
-----------------
Tham luận của nhà văn Nguyên Ngọc tại buổi Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam
Nỗi niềm biển Đônghttp://www.x-cafevn.org/node/2013
Mở đầu cuốn Việt Nam văn hóa sử cương, cụ Đào Duy Anh viết: “Khắp một vùng trung châu Bắc Việt, không mẩu đất nào là không có dấu vết thảm đảm kinh dinh của tổ tiên ta để giành quyền sống với vạn vật; suốt một dải Trung Việt vào đến trung châu Nam Việt, không một khúc đường nào là không nhắc lại sự nghiệp gian nan tiến thủ của tổ tiên ta để mở rộng hy vọng cho tương lai”. Thật ngắn gọn, thật súc tích, vị học giả cao kiến đã đúc kết chặt chẽ và cực kỳ chính xác hai chặng đường lớn mấy thiên niên kỷ của dân tộc; và chỉ bằng mấy chữ cô đọng, chỉ ra không thể rõ hơn nữa đặc điểm cơ bản của mỗi chặng, có ý nghĩa không chỉ để nhìn nhận quá khứ, mà còn để suy nghĩ về hôm nay và ngày mai – những suy nghĩ, lạ thay, dường như đang càng ngày càng trở nên nóng bỏng, cấp thiết hơn.
Chặng thứ nhất, tổ tiên ta, từ những rừng núi chật hẹp phía Bắc và Tây Bắc, quyết chí lao xuống chiếm lĩnh hai vùng châu thổ lớn sông Hồng và sông Mã, mênh mông và vô cùng hoang vu, toàn bùn lầy chưa kịp sánh đặc, “thảm đảm kinh dinh để giành quyền sống với vạn vật” – mấy chữ mới thống thiết làm sao – hơn một nghìn năm vật lộn dai dẳng giành giật với sóng nước, với bùn lầy, với bão tố, với thuồng luồng, cá sấu … để từng ngày, từng đêm, từng giờ, vắt khô từng tấc đất, cắm xuống đấy một cây vẹt, một cây mắm, rồi một cây đước, ngày này qua ngày khác, tháng này qua tháng khác, năm này qua năm khác, trăm năm này qua trăm năm khác, khi đất đã được vắt khô, được rửa mặn và ứng đặc, cắm xuống đấy một cây tạo bóng mát, rồi một cây ăn quả, một cây lúa, một mảnh lúa, rồi một đồng lúa …, tạo nên chỗ đứng chân cho từng con người, từng đôi lứa, từng gia đình, rồi từng cộng đồng, từng xóm mạc, từng làng, từng tổng, từng huyện,… cho đến toàn dân tộc, toàn xã hội, lập nên nửa phần là gốc cội của giang sơn ta ngày nay. Và hẳn còn phải nói thêm điều này nữa, cuộc thảm đạm kinh dinh vật lộn với thiên nhiên ấy lại còn phải cộng thêm cuộc vật lộn cũng dai dẳng, quyết liệt, không hề kém can trường và thông minh, để sáng tạo, định hình và gìn giữ một bản sắc Việt riêng giữa trăm Việt, là một Việt độc đáo và đặc sắc, không bị hòa tan bởi một thế lực hung hãn, khổng lồ, luôn muốn xóa bỏ và hòa tan tất cả…
Hơn một thiên niên kỷ thiết lập và trụ vững, tạo nên nền tảng vững bền, để bước sang chặng thứ hai.
Chặng thứ hai, như cụ Đào Duy Anh đã đúc kết cũng thật ngắn gọn và chính các, “gian nan tiến thủ để mở rộng hy vọng cho tương lai”.
Trên gốc cội ấy rồi, đi về đâu? Chỉ còn một con đường duy nhất: Về Nam.
Có lẽ cũng phải nói rõ điều này: trước hết, khi đã đứng chân được trên châu thổ sông Hồng sông Mã rồi, kháng cự vô cùng dũng cảm và thông minh suốt một nghìn năm để vẫn là một Việt đặc sắc không gì đồng hóa được rồi, thì mối uy hiếp bị thôn tính đến từ phương bắc vẫn thường xuyên và mãi mãi thường trực. Không nối dài được giang sơn cho đến tận Cà Mau và Hà Tiên thì không thể nào Bắc cự. Ở bước đường chiến lược này của dân tộc có cả hai khía cạnh đều hết sức trọng yếu. Khía cạnh thứ nhất: phải tạo được một hậu phương thật sâu thì mới đủ sức và đủ thế linh hoạt để kháng cự với mưu đồ thôn tính thường trực kia. Lịch sử suốt từ Đinh, Lê, Lý, Trần và cả cuộc chiến tuyệt vời của Nguyễn Huệ đã chứng minh càng về sau càng rõ điều đó. Chỉ xin nhắc lại một sự kiện nghe có thể lạ: chỉ vừa chấm dứt được 1.000 năm Bắc thuộc bằng trận đại thắng của Ngô Quyền, thì Lê Hoàn đã có trận đánh sâu về phương Nam đến tận Indrapura tức Đồng Dương, Nam sông Thu Bồn của Quảng Nam. Đủ biết cha ông ta đã tính toán sớm và sâu về vai trò của phương Nam trong thế trận tất yếu phải đứng vững lâu dài của dân tộc trước phương Bắc như thế nào.
Khía cạnh thứ hai vừa gắn chặt với khía cạnh thứ nhất, vừa là một “bước tiến thủ” mới “mở rộng hy vọng cho tương lai”, như cách nói sâu sắc của cụ Đào Duy Anh. Bởi có một triết lý thấu suốt: chỉ có thể giữ bằng cách mở, giữ để mà mở, mở để mà giữ. Phải mở rộng hy vọng cho tương lai thì mới có thể tồn tại. Tồn tại bao giờ cũng có nghĩa là phát triển. Đi về Nam là phát triển. Là mở.
Không chỉ mở đất đai. Càng quan trọng hơn nhiều là mở tầm nhìn. Có thể nói, suốt một thiên niên kỷ trước, do cuộc thảm đảm kinh dinh để giành giật sự sống với vạn vật còn quá vật vã gian nan, mà người Việt chủ yếu mới cắm cúi nhìn xuống đất, giành thêm được một một mẩu đất là thêm được một mẩu sống còn. Bây giờ đã khác. Đã có 1000 năm lịch sử để chuẩn bị, đã có thời gian và vô số thử thách để tạo được một bản lĩnh, đã có trước mặt một không gian thoáng đãng để không chỉ nhìn xa mãi về Nam, mà là nhìn ra bốn hướng. Nhìn ra biển. Phát hiện ra biển, biển một bên và ta một bên, mà lâu nay ta chưa có thể toàn tâm chú ý đến. Hay thay và cũng tuyệt thay, đi về Nam, người Việt lại cũng đồng thời nhìn ra biển, nhận ra biển, nhận ra không gian sống mới, không gian sinh tồn và phát triển mới mênh mông của mình.
Hôm nay tôi được ban tổ chức tọa đàm giao cho đề tài có tên là “nỗi niềm Biển Đông”. Tôi xin nói rằng chính bằng việc đi về Nam, trên con đường đi ngày càng xa về Nam mà trong tâm tình Việt đã có được nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông. Cũng không phải ngẫu nhiên mà từ đó, nghĩa là từ đầu thiên niên kỷ thứ hai, với nỗi niềm biển ngày càng thấm sâu trong máu Việt, cha ông ta, người dân Việt, và các Nhà nước Việt liên tục, đã rất sớm khẳng định chủ quyền Việt Nam trên các hải đảo và thềm lục địa của chúng ta, như các vị phát biểu trước tôi từ nhiều góc độ khác nhau đã khẳng định một cách thật thuyết phục.
Đi về Nam, chúng ta có một may mắn lịch sử rất lớn: tiếp nhận không gian Champa, chúng ta đã tiếp nhận được rất nhiều của truyền thống và văn hóa Chàm, và cả trước đó nữa, truyền thống và văn hóa Sa Huỳnh. Thậm chí cũng có thể nói, tiếp nhận Champa – sau này cả vùng sông nước Cửu Long rộng giàu – người Việt, quốc gia Việt, đã tự nhân đôi được mình lên, không chỉ về lãnh thổ, mà cả về tính cách, về bản lĩnh, về sức sống và sức phát triển. Champa là một quốc gia biển. Thế giới của chúng ta đã được tạo hóa “thu xếp” một cách tuyệt vời: Biển ngăn cách, nhưng biển cũng là nối liền và chủ yếu là nối liền. Từ rất xa xưa, qua biển lớn, những đoàn thuyền buôn Champa đã từng giong buồm đến những vùng rất xa xôi, không chỉ ở Đông Nam Á, Nam Á, mà cả Trung Đông, Địa Trung Hải, tới cả thế giới A Rập; và cũng đã tiếp nhận thuyền bè đến từ khắp thế giới rộng mở ấy. Hẳn Champa đã tiếp nối và phát triển một truyền thống xa hơn của cư dân văn hóa Sa Huỳnh. Và người Việt đi vào Nam đã nối tiếp truyền thống này. Nếu ở miền Bắc, người đi ra biển trước đây chỉ biết biết dùng những chiếc mảng thô sơ ghép bằng nhiều cây tre, thì đi vào Nam người Việt đã rất nhanh chóng tiếp thu kỹ thuật đóng và sử dụng ghe bầu lớn của người Chàm để đi biển xa (thậm chí, như chúng ta biết, trong trận đánh Thăng Long năm 1789, Nguyễn Huệ đã sử dụng tượng binh gồm voi Bình Định và Gia Lai được chở ra bằng ghe bầu lớn). Nếu ở phía Bắc, ẩm thực nước chấm chủ yếu dùng tương, thì đi vào Nam người Việt đã học được văn hóa nước mắm của người Chàm, là cách chế biến cá hay nhất, hiệu quả nhất …
Chính trên cơ sở tư duy mới rộng mở ấy, đặc biệt trong thời các chúa Nguyễn, tầm nhìn ra biển đã đưa đến một chuyển biến vô cùng quan trọng, thậm chí có thể coi là một bước ngoặt có tính quyết định trong lịch sử Việt Nam: biết nhìn ra biển lớn, tức cũng là biết nhìn ra toàn thế giới – điều mà ngày nay ta gọi là một “tư duy về toàn cầu hóa” – Thời các chúa Nguyễn ở Đàng Trong, tức miền Nam đất nước, đã tạo ra được một thay đổi cơ bản về cơ cấu kinh tế, chuyển từ kinh tế thuần nông truyền thống sang cơ cầu kinh tế lấy thương nghiệp làm chính, trong đó ngoại thương giữ vai trò trọng yếu. Nhà nghiên cứu lịch sử Cao Tự Thanh đã có nhận định chính xác và sắc sảo: chính cơ cấu kinh tế mới này đã tạo nên điều mà ông gọi là một “động lực lịch sử” kỳ lạ và kỳ diệu, khiến nếu từ Đèo Ngang đến đèo Ải Vân cha ông ta đã phải đi mất 600 năm, thì từ đèo Ải Vân đến Hà Tiên ta chỉ phải mất có 200 năm, mà lại chỉ đi bằng lưỡi phạng chứ không phải lưỡi kiếm …
Vậy quả thật nỗi niềm biển là nỗi niềm lớn của dân tộc, của mỗi người Việt, nó liên quan mật thiết đến số phận dân tộc, sự tồn vong và phát triển của dân tộc.
Cũng không thể không nói rằng, khi thời các chúa Nguyễn suy tàn, đến thời các vua Nguyễn, thì chính sự phai nhạt tư duy mạnh mẽ về biển, chính sách đóng cửa, là một trong những nguyên nhân quan trọng nhất đưa đến mất nước.
Bài học: không có tư duy biển, không có tư duy rõ ràng, mạnh mẽ về Biển Đông trực tiếp của ta, phai nhạt nổi niềm ấy là nguy cơ dân tộc.
Như chúng ta biết, năm 1949 Ấn Độ thoát khỏi ách thuộc địa của đế quốc Anh. Có độc lập rồi, chọn con đường phát triển nào đây? Mâhâtma Gandhi, lãnh tụ vĩ đại của dân tộc Ấn, cũng là bậc hiền triết lớn của nhân loại, lúc bấy giờ có đặt ra một câu hỏi, hóa ra sẽ là câu hỏi lớn và lâu dài của thế giới và của từng dân tộc. Ông nói: Nước Anh chỉ là một đảo quốc nhỏ, dân số ít, vì sao đã trở thành một đế quốc giàu có, lớn mạnh đến vậy? Ấy là vì nước Anh đã tiêu xài hết một nửa tài nguyên của trái đất. Vậy bây giờ nếu Ấn Độ với quy mô và dân số khổng lồ như thế này, cũng chọn con đường phát triển như nước Anh, thì liệu phải có bao nhiêu trái đất mới đủ? …
Đúng 60 năm qua từ câu hỏi hiền minh mà cháy bỏng của thánh Gandhi, ngày nay các khoa học đã có thể tính toán và trả lời chính xác: Ấn Độ sẽ cần có 5 trái đất chỉ để riêng cho mình nếu đi theo con đường phát triển mà nước Anh đã đi.
Chúng ta chỉ có một trái đất. Tiêu xài tài nguyên của tạo hóa ban cho trên trái đất duy nhất này như thế nào đây là vấn đề sống còn của nhân loại.
Chắc chắn mỗi chúng ta đều biết có một đất nước còn khổng lồ hơn cả Ấn Độ đang lao vào cuộc chạy đua ghê gớm để tiến lên đoạt vị trí hàng đầu thế giới. Và đang đi theo con đường của Anh, ráo riết làm chủ tài nguyên khắp thế giới cho tham vọng của mình, thậm chí, như chúng ta có thể thấy, đang và sẽ tiêu xài tặng vật của tạo hóa một cách dữ dội, hoang dã hơn nhiều so với các đế quốc trước. Tôi nghĩ cần nói rõ rằng quả thật có một hiểm họa toàn cầu đang hình thành.
Nói về nỗi niềm biển, nổi niềm Biển Đông, tất không thể không suy nghĩ về điều đó. Biển là tài nguyên, biển cũng là giao thông huyết mạch để vận chuyển tài nguyên. Biển Đông, trong đó có phần chủ quyền thiêng liêng của chúng ta, được truyền lại từ bao nghìn năm “thảm đạm kinh dinh” và “gian nan tiến thủ” của cha ông, đang đứng trước thách thức về cả mặt tài nguyên lẫn đường giao thương tài nguyên ấy. Nỗi niềm Biển Đông của chúng ta, mỗi chúng ta, trước hết là nhận thức cho rõ ràng, thống thiết, quyết liệt về thách thức đó. Và từ đó, hành động.
Kinh nghiệm lịch sử xa và gần cho thấy trong cuộc đấu tranh này cũng vẫn phải là huy động và phát huy cho được hai lực lượng đồng bộ: sức mạnh của nhân dân – như hàng ngàn ngư dân Quảng Ngãi vẫn đang kiên cường ra khơi bất chấp hành động cướp biển của ai kia, và hàng vạn ngư dân Nam Bắc cứ hiên ngang ra khơi. Không ai đánh bại được hàng vạn người ra khơi hòa bình trên biển ngàn đời của mình. Cả nước phải cùng đứng sau lưng những ngư dân anh hùng ấy. Họ đang ở tuyến đầu hôm nay.
Mặt khác nhất quyết đa phương về Biển Đông. Chúng ta đã thắng trong chiến tranh vừa qua vì biết đa phương, biết huy động sức mạnh của nhân dân toàn thế giới bằng chính nghĩa của chúng ta. Cuộc đấu tranh mới này cũng vậy. Không thể thắng một mình.
Nỗi niềm Biển Đông là tâm huyết, và cả sự thông minh nữa, đều vì sự sống còn và phát triển của dân tộc.
---------------
Tham luận của Linh mục Thiên Cẩm tại Tọa đàm khoa học Biển Đông và Hải Đảo Việt Nam
http://www.x-cafevn.org/node/2015
TỪ TRƯỜNG SƠN ĐÔNG TỚI SONG TỬ TÂY
Tôi mới chỉ đi được mấy Km trên đường Hồ Chí Minh, khi từ Đà Nẵng về Kon Tum, thậm chí cũng không biết nơi đó thuộc Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây, mà chỉ nghĩ đó là Trường Sơn Đông, vì năm bên phía Tây của dãy Trương Sơn. Tuy nhiên điều đó không quan trọng, vì dù sao tôi cũng đã từng đặt chân ở Trường Sơn Tây, cho nên khi đi từ Càng Cát Lai ra quần đảo Trường Sa, đặc biệt là lúc đặt chân lên đảo Song Tử Tây, tôi mới ý thức được rằng mình thật hãnh diện vì đã cảm nghiệm được một cách sống động hiện hữu của đất trời và biển cả Việt Nam : thật bao la xinh đẹp và đáng yêu!
Thật vậy, từ trước tới nay, tôi đã có dịp đặt chân lên nhiều bờ biển Việt Nam, từ Hạ Long qua Thuận An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, tới Đại Lãnh, Nha Trang, Khánh Hoà, rồi Phan Rang, Mũi Né, Vũng Tầu… cho tới tận Mũi Cà Mau, nhưng từ những bờ biển đó, tôi vẫn chưa có được một cái nhìn về chiều rộng mênh mông, bát ngát của biển trời Việt Nam. Phải đi ba ngày hai đêm, qua vùng biển, đôi khi không thấy một bóng chim bay hay cá lượn, hoặc một con tầu nào ở đàng xa, mà chỉ có mặt biển mênh mông bát ngát hầu như vô tận, ta mới có cảm tưởng rằng tổ quốc ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả vô biên. Và khi đặt hân lên hòn đảo nhỏ bé xanh tươi có tên gọi là Song Tử Tây, ta mới ý thức được rằng: Trường Sơn Đông và Song Tử Tây của quần đảo Trường Sa nay, cũng chỉ là một giang sơn, một tổ quốc Việt Nam.
Như tôi đã viết trong bài “Trường Sa trong trái tim ta”, đăng trên Tuần báo CG&DT : “Nhận thức đầu tiên của tôi từ lúc bước chân lên tàu HQ 957, rời bến cảng Cát Lái lúc 8 giờ ngày 8-4-2009, chạy theo hướng Vũng Tàu, và tiến thẳng ra biển khới, đó là : bầu trời và biển khơi mênh mông hầu như vô tận, mà từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ là của chung thiên hạ, nhất là xưa kia, người ta vẫn gọi là Mer de Chine : Biển Trung Quốc ! chứ không phải là Biển Việt Nam, hay ít ra là Biển Đông hay Thái Bình Dương ! Nhưng bây giờ thì đã rõ, đây là Trời Việt Nam, đây là Biển Việt Nam, bởi vì vùng biển trời mênh mông này sẽ nối dài tới tận Trường Sa, quần đảo mà chúng tôi đang đi tới.“
Tôi đã kể lại chi tiết cuộc viếng thăm Trường Sa, trong bài báo nói trên, ở đây chỉ xin ghi lại những cảm tưởng vẫn còn lắng sâu trong tâm trí.
Trước hết, nên nhớ rằng huyện đảo Trướng Sa là một quần đảo gồm nhiều đảo lớn nhỏ, mà hiện nay phần lớn năm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam, còn những đảo khác do Phi-Luật-Tân, Đài Loan, Trung Quốc…kiểm soát. Gọi là đảo, nhưng phần lớn chỉ là những bãi đá ngầm. Trong số những đảo có đất, chúng ta làm chủ được Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, và Trường Sa lớn, nơi đặt trụ sở của huyện đảo. Trên những đảo lớn như Song Tử Tây, Sơn Ca và Trường Sa lớn, nhà cửa được xây kiên cố, khang trang, toàn đảo được che phủ bởi những hàng cây xanh tươi, đặc biệt là những cây Phong Ba, chịu được khô cằn và sóng gió, ngoài ra còn có những cây bàng với những tán lá dầy và rộng, chỉ cần ba cây là có thể tạo ra được một không gian bóng mát rộng rãi. Đặc biệt là ở Sinh Tồn Đông, có loại bàng trái cây vuông, trông lạ mắt. Ông Chủ tịch UBND Thành phố đã lấy một cây về để trồng ở khu tưởng niệm các Vua Hùng tại Thành phố.
Những đảo nhỏ chỉ là những bãi đá ngầm, nổi lên khi thủy triều xuống, chìm xuống khi thủy triều lên. Bộ đội Hải quân ta xây những lô cốt kiên cố làm nơi đóng quân. Trước kia chỉ là những cái chòi được dựng lên, bây giờ là những “nhà lô cốt” vững chắc, đẹp đẽ. Điều thú vị nhất là đâu đâu cũng có những “vườn” rau, giàn bí, hay giàn mướp, tuy nhỏnhững vẫn có trái. Tại những đảo có đất, thì anh em bộ đội dựng những rào chắn bằng vật liệu như lá dừa, để chắn sóng biển, bảo vệ cho rau. Còn ở những nhà lô cốt thì “vườn” rau chỉ là những khay gỗ được đặt ở những vị trí đặc biệt tranh bão gió. Nhưng tôi tự hỏi, ở những “nhà lô cốt” này, mỗi khi hái rau, thì anh em chiến sĩ mỗi người chia nhau được mấy cọng rau muống!
Tôi cũng nghe mấy em bé, con cái những gia đình định cư trên đảo Song Tử Tây và Trường Sa lớn, phàn nàn về chuyện quanh năm suốt tháng chỉ được ăn đồ hộp.
Chính vì thế, trong chuyến đi này, chuẩn Đô đốc Lê Văn Dạo đã ra chỉ thị phải tăng cường những loại thực phẩm như trứng và sữa cho trẻ con.
Nhưng vấn đề thức ăn vật chất không quan trọng bằng thức ăn tinh thần. Các chiến sĩ và bà con ở đảo thiếu những phương tiện giải trí, thiếu cả một khung cảnh sống bình thường trên đất liền ! Không một bóng xe đạp, nói gì đến ô tô hay Honda, cũng không chợ búa, và ở đây người ta không biết cả đến đồng tiền ! Không bóng người người cảnh sá, cũng chằng có người bán hàng rong, hay em bé đánh giầy… Đêm ngày yên tĩnh, không tiếng còi ô tô xe máy. Nhiều nơi không có lấy một con chim sẻ đậu dưới mái hiên hay, nhặt nhạnh trước sân nhà…
Tại những “nhà lô cốt” không gian thật eo hẹp. Các chiến sĩ của ta chỉ có mấy mét vuông để ở, ngoài ra có thể leo lên những tầng trên, chạy xuống những tấng dưới, hay xuống tận những mô đá trên mặt nước biển. Không một bãi cát, hay bóng cây. Ở đây không nghe thấy tiếng cười hay tiếng khóc của trẻ thơ, cũng chẳng thấy bóng dáng một người phụ nữ ! Thảo nào các chiến sĩ trẻ hải quân ở đây chỉ dần được nghe tiếng phụ nữ là đã đủ vui sướng rồi. Có những em bộ đội tuổi mới chỉ mười tám đôi mươi, tuy xa nhà chưa bao lâu, mới tám tháng, một năm hơn kém, chưa thể nào quêu được hình dáng của mẹ, của chị, của em gái, chứ chưa nói tới bạn gái hay người yêu.
Thế giới ở đây có lẽ thích hợp cho các thầy ẩn tu hơn là cho thanh niên, cho dù là bộ đội.
Cô đơn, buồn tẻ, nhưng người chiến sĩ hải quân ở đây không phải là những thanh niên yếu đuối mơ mộng. Họ vẫn là những chiến sĩ, ngày ngày, có thể nói là từng giờ từng phút, luôn luôn phải cảnh giác trước đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa đen, nghĩa là gió trời và sóng biển, mà là những đe doạ có thật, từ những con tầu, những máy bay lạ có thể xâm phạm bầu trời và lãnh hải Việt Nam. Họ phải đếm từng chiấc máy bay xuất hiện, những con tầu đi qua, cố gắng đọc những ký hiệu để biết nó thuộc quốc gia nào. Đã không thiếu những lần tầu lạ, hay có khi là tầu của một nước “đồng chí nhưng không phải đồng minh”, tìm cách đi vào hải phận của đảo ta, cùng với những tầu đánh cá cùng quốc tịch, khiến chiến sĩ và ngư dân của ta phải tiến ra ngăn cản. Có những chiến sĩ kể lại rằng anh đã phải nghiến răng kìm hãm mình để không bòp cò súng ! Lại có cả những người mò tới những mỏm đá dưới chân “nhà lô cốt” để gọi là bắt ốc, nhưng đuổi không đi, mà phải dọa bằng vũ lực…
Đất nước ta đã được hoà bình, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ những biên giới phía Bắc cho tới mũi Cà Mau, được yên ổn làm ăn sinh sống. Nhưng ở ngoài khơi xa xôi này, miền cực Đông của Tổ quốc, nơi mà mặt trời từ dưới biển mọc lên soi sáng cho bầu trời Việt Nam, lúc nào cũng có những chiến sĩ canh thức để canh giữ vùng biển trời của đất nước ta. Các chiến sĩ ấy vẫn không ngừng ngày đêm phải sẵn sàng chiến đấu, rất xa đất liền, xa đồng bào, không có hậu phương gần để tiếp cứu, hỗ trợ!
Chúng ta có thể không biết, hay đã quên đi trận chiến đẫm máu xảy ra ngày 4 tháng 3 năm 1988, khi hải quân Trung Quốc đã tấn công đảo Gạc Ma của ta, đánh chìm tàu HQ 604 của ta, khiến 64 chiến sĩ hải quân ta phải hy sinh, và mãi tới năm nay, sau 21 năm trời, nhờ sự cộng tác của các ngư dân, Hải quân ta mới trục vớt được con tàu xấu số và một số hài cốt của các anh hùng nằm sâu dưới đáy biển, nhưng mới chỉ nhận dạng được một số chiến sĩ mà thôi, nhờ kỹ thuật AND.
Kể từ ngày 14 tháng 3 năm 1988 ấy, ngày nay, mỗi khi có phái đoàn đi thăm Trường Sa, thường có tổ chức một lễ truy điệu ngoài khơi đảo Pôlin, để tưởng niệm 64 chiến sĩ trận vong. Phái đoàn của Thành phố Hồ chí Minh ra thăm đảo lần này cũng đã tổ chức long trọng buổi lễ cầu siêu như vậy. Và tôi được vinh dự cùng với các vị lãnh đạo phái đoàn, thả vòng hoa đầu tiên xuống biển để tưởng nhớ các liệt sĩ.
Trong buổi lễ truy điệu rất trang nghiêm cảm động, chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, Phó`Tư lênh Quân chủng Hải Quân, đã đọc một bài diễn văn thật hùng hồn cảm xúc, khiến nhiều người không cầm được mắt. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên được dự một lễ truy điệu như thế này, mà lại là một lễ được cử hành giữa biển khơi mênh mông dưới bầu trời vô biên của Việt Nam. Thật là một kỷ niệm tuyệt vời, khó quên!
Điểm đến cuối cùng của chúng tôi là đảo Trường Sa lớn, thủ phủ của quần đảo Trường sa, có diện tích lớn nhất, và cũng là nơi duy nhất có bến cảng và một đường bay nhỏ. Đây cũng là đảo đầu tiên được thắp sáng bằng điện năng lượng mặt trời và sức gió, do trường Đãi học Bach Khoa Thành phố Hồ chí Minh chế tạo và lắp đặt, tặng cho các chiến sĩ và đồng bào trên đảo. Các đảo khác cũng sẽ lần lần được lắp đặt hệ thống chiếu sáng như vậy.
Trong cuộc hành trình thăm quần đảo Trường Sa, mỗi lẫn tới đảo nào, chúng cũng cố gắng llên bờ thăm các chiến sĩ, nếu không phải tất cả đoàn, thi ít ra là đoàn văn công. Chúng tôi lên để gặp gỡ, tặng quà, giao lưu văn nghệ, thăm nơi an chốn ở, nghe báo cáo về sinh hoạt hàng ngày của các chiến sĩ. Riêng tại đảo Song Tử Tây, đảo đầu tiên mà chúng tôi đặt chân lên bờ, chúng tôi đã ở lại một đêm và một ngày, tiếp xúc với bộ đội và đồng bào. Còn ở đảo Trường Sa lớn, chúng tôi chỉ ở đến 21 giớ đếm thì về tầu, lý do là vì ở đây có bến tầu, không cần đến ca nô làm phương tiện trung chuyển vào bờ như ở những đảo khác.
Trên đây là một vài kỷ niệm và suy tư về cuộc hành trình, mà tôi được may mắn tham dự cùng với phái đoàn của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh, đi thăm và kiểm tra quần đảo Trường Sa, từ ngày 4 đến 15 thàng 4 năm 2009.
Đây là một chuyến đi lịch sử đối với phần đông chúng tôi, một chuyến đi mà như nhiều người đã nói : dù có tiền cũng không dễ đàng thực hiện được, nhất là đối với cá nhân tôi, một linh mục già 76 tuổi.
Chuyến đi này đã đã mở rộng tầm mắt và cả trái tim tôi, khiến tôi cảm nhận được mạnh mẽ và cụ thể vùng trời biển bao la hùng vĩ của đất nước. Không hiểu tại sao, tôi tự nhiên liên tưởng tới Trường Sơn, và nghĩ rằng : đất nước ta trải rộng từ Trường Sơn Đông tới Song Tử Tây, từ Trường Sơn Tây tới Sinh Tồn Đông, nói tóm lại, đất nườc ta không chỉ dừng lại ở bờ biển Thái Bình dương, tại những bờ biển đẹp như Nha Trang, Cam Ranh hay Vũng Tàu… mà còn trải rộng ra xa tới Trường Sa, tới điểm xa nhất cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 500 hải lý, đó là Song Tử Tây. Ở tận địa điểm xa xôi này, ngày đêm vẫn có những người Việt Nam làm ăn sinh sống và canh giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mình. Ở đây không chỉ có những người lính can trường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mà còn có những gia đình thường dân tới đây lập nghiệp. Chúng tôi đã gặp gỡ nhừng cặp vợ chồng trẻ với những đứa con thơ của họ. Và như đã nói nơi đây sắp có hai em bé sắp sửa chào đời, để trở thành những công dân Việt Nam sinh ra trên đảo, còn những em lớn thì đã biết ngày ngày cắp sách đến trường, nơi chỉ có một cô giáo dạy tất cả mọi môn. Nhưng sau này, các em sẽ được đưa vào đất liền để tiếp tục học lên những lớp cao hơn.
Ở đây, dân và quân đang biến những vùng đất khô cằn sỏi đá này thành những rừng cây xanh tươi, với những luống rau và đàn gà đàn vịt chạy tung tăng, và cả những con heo ủn ỉn đòi ăn trong chuồng. Nếu không nhìn thấy dòng nước xanh bao bọc chung quanh, người lữ hành vượt biển có cảm tưởng như mình vẫn ở đâu đây trên đất liền.
Tôi lên tàu chỉ với con tim nhỏ bé của mình, chẳng có gì tặng cho các chiến sĩ Truờng Sa, ngoài những món quà mà Đoàn công tác mang tới. Nhưng khi ra về, tôi cảm thấy trái tim mình lớn lên và nặng trĩu tình cảm thân thương, tình cảm của những người lính đảo, của người dân, và nhất là của những em bé thơ ngây. Tình cảm ấy cho dù không lớn lao và mênh mông như trời biển, nhưng vẫn đủ để tạo ra một nhịp cầu liên kết Trường Sa với đất liền.
Trường Sa là những hòn đảo nhỏ bé, không thể có những địa danh như Chi Lăng, Bạch Đằng, Điện Biên, Khe Sanh, hay Ngã Ba Đồng Lộc vv… nhưng nơi đây xương các chiến sĩ đã kết lại với san hô và đá chìm, làm thành nền tảng cho những cột mốc, đánh dấu chủ quyền của Việt Nam dưới bầu trời và vùng biển này của Biển Đông. Và máu của các chiến sĩ đã hoà vào nước biển để ướp cho tình quân dân được mặn mà thắm thiết, và vững bền mãi mãi.
Những địa danh lịch sử thì đã mãi mãi được ghi tên trong sách vở của cả thế giới. Tất cả đã trở thành quá khứ. Nhưng Trường Sa vẫn ngày ngày phải đối diện với đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa của những hiện tượng thiên nhiên, mà còn theo nghĩa là những đe doạ luôn luôn có thật, đến từ những lực lượng thù nghịch.
Con tàu HQ 957 đưa chúng tôi trở về Thành Phố, trên mặt nước trong xanh phẳng lặng, Những con cá heo lại xuất hiện bên hông tàu, nhảy múa tiễn biệt chúng tôi. Và thật tuyệt vời khi chúng tôi đi tới vùng mỏ Rạng Đông, nơi có những giàn khoan sáng rực như một thành phố trên biển, hiện ra trước mắt chúng tôi, với cả hàng mấy chục thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam vây quanh chúng tôi.
Tổ quốc chúng ta là đây, là trời này, đất này, là những giếng dầu, tàu đánh cá, và những hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Tuần Châu, Phú Qúy, vv… và nhất là Trường Sa vẫn ngày đêm phải thức trắng trong những đêm dài cô quạnh, để canh giữ vùng biển và bầu trời của Việt Nam.
Trong tâm trí của tôi, từ nay hình ảnh Trường Sa, và Hoàng Sa nữa, tuy tôi chưa được nhìn thấy, thật là những mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là nơi mọc trời mọc, Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi mặt trời lặn. Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi tổ tiên ta đi săn bắn, hái trái cây rừng và nhặt củi để về thổi nấu, Hoàng Sa và Trường Sa là nơi cha ông ta từ bao đời chèo thuyền ra bắt cá. Quê hương ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả nữa.
Tôi mới chỉ đi được mấy Km trên đường Hồ Chí Minh, khi từ Đà Nẵng về Kon Tum, thậm chí cũng không biết nơi đó thuộc Trường Sơn Đông hay Trường Sơn Tây, mà chỉ nghĩ đó là Trường Sơn Đông, vì năm bên phía Tây của dãy Trương Sơn. Tuy nhiên điều đó không quan trọng, vì dù sao tôi cũng đã từng đặt chân ở Trường Sơn Tây, cho nên khi đi từ Càng Cát Lai ra quần đảo Trường Sa, đặc biệt là lúc đặt chân lên đảo Song Tử Tây, tôi mới ý thức được rằng mình thật hãnh diện vì đã cảm nghiệm được một cách sống động hiện hữu của đất trời và biển cả Việt Nam : thật bao la xinh đẹp và đáng yêu!
Thật vậy, từ trước tới nay, tôi đã có dịp đặt chân lên nhiều bờ biển Việt Nam, từ Hạ Long qua Thuận An, Đà Nẵng, Quy Nhơn, tới Đại Lãnh, Nha Trang, Khánh Hoà, rồi Phan Rang, Mũi Né, Vũng Tầu… cho tới tận Mũi Cà Mau, nhưng từ những bờ biển đó, tôi vẫn chưa có được một cái nhìn về chiều rộng mênh mông, bát ngát của biển trời Việt Nam. Phải đi ba ngày hai đêm, qua vùng biển, đôi khi không thấy một bóng chim bay hay cá lượn, hoặc một con tầu nào ở đàng xa, mà chỉ có mặt biển mênh mông bát ngát hầu như vô tận, ta mới có cảm tưởng rằng tổ quốc ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả vô biên. Và khi đặt hân lên hòn đảo nhỏ bé xanh tươi có tên gọi là Song Tử Tây, ta mới ý thức được rằng: Trường Sơn Đông và Song Tử Tây của quần đảo Trường Sa nay, cũng chỉ là một giang sơn, một tổ quốc Việt Nam.
Như tôi đã viết trong bài “Trường Sa trong trái tim ta”, đăng trên Tuần báo CG&DT : “Nhận thức đầu tiên của tôi từ lúc bước chân lên tàu HQ 957, rời bến cảng Cát Lái lúc 8 giờ ngày 8-4-2009, chạy theo hướng Vũng Tàu, và tiến thẳng ra biển khới, đó là : bầu trời và biển khơi mênh mông hầu như vô tận, mà từ trước tới nay tôi vẫn nghĩ là của chung thiên hạ, nhất là xưa kia, người ta vẫn gọi là Mer de Chine : Biển Trung Quốc ! chứ không phải là Biển Việt Nam, hay ít ra là Biển Đông hay Thái Bình Dương ! Nhưng bây giờ thì đã rõ, đây là Trời Việt Nam, đây là Biển Việt Nam, bởi vì vùng biển trời mênh mông này sẽ nối dài tới tận Trường Sa, quần đảo mà chúng tôi đang đi tới.“
Tôi đã kể lại chi tiết cuộc viếng thăm Trường Sa, trong bài báo nói trên, ở đây chỉ xin ghi lại những cảm tưởng vẫn còn lắng sâu trong tâm trí.
Trước hết, nên nhớ rằng huyện đảo Trướng Sa là một quần đảo gồm nhiều đảo lớn nhỏ, mà hiện nay phần lớn năm dưới quyền kiểm soát của Việt Nam, còn những đảo khác do Phi-Luật-Tân, Đài Loan, Trung Quốc…kiểm soát. Gọi là đảo, nhưng phần lớn chỉ là những bãi đá ngầm. Trong số những đảo có đất, chúng ta làm chủ được Song Tử Tây, Sơn Ca, Sinh Tồn Đông, và Trường Sa lớn, nơi đặt trụ sở của huyện đảo. Trên những đảo lớn như Song Tử Tây, Sơn Ca và Trường Sa lớn, nhà cửa được xây kiên cố, khang trang, toàn đảo được che phủ bởi những hàng cây xanh tươi, đặc biệt là những cây Phong Ba, chịu được khô cằn và sóng gió, ngoài ra còn có những cây bàng với những tán lá dầy và rộng, chỉ cần ba cây là có thể tạo ra được một không gian bóng mát rộng rãi. Đặc biệt là ở Sinh Tồn Đông, có loại bàng trái cây vuông, trông lạ mắt. Ông Chủ tịch UBND Thành phố đã lấy một cây về để trồng ở khu tưởng niệm các Vua Hùng tại Thành phố.
Những đảo nhỏ chỉ là những bãi đá ngầm, nổi lên khi thủy triều xuống, chìm xuống khi thủy triều lên. Bộ đội Hải quân ta xây những lô cốt kiên cố làm nơi đóng quân. Trước kia chỉ là những cái chòi được dựng lên, bây giờ là những “nhà lô cốt” vững chắc, đẹp đẽ. Điều thú vị nhất là đâu đâu cũng có những “vườn” rau, giàn bí, hay giàn mướp, tuy nhỏnhững vẫn có trái. Tại những đảo có đất, thì anh em bộ đội dựng những rào chắn bằng vật liệu như lá dừa, để chắn sóng biển, bảo vệ cho rau. Còn ở những nhà lô cốt thì “vườn” rau chỉ là những khay gỗ được đặt ở những vị trí đặc biệt tranh bão gió. Nhưng tôi tự hỏi, ở những “nhà lô cốt” này, mỗi khi hái rau, thì anh em chiến sĩ mỗi người chia nhau được mấy cọng rau muống!
Tôi cũng nghe mấy em bé, con cái những gia đình định cư trên đảo Song Tử Tây và Trường Sa lớn, phàn nàn về chuyện quanh năm suốt tháng chỉ được ăn đồ hộp.
Chính vì thế, trong chuyến đi này, chuẩn Đô đốc Lê Văn Dạo đã ra chỉ thị phải tăng cường những loại thực phẩm như trứng và sữa cho trẻ con.
Nhưng vấn đề thức ăn vật chất không quan trọng bằng thức ăn tinh thần. Các chiến sĩ và bà con ở đảo thiếu những phương tiện giải trí, thiếu cả một khung cảnh sống bình thường trên đất liền ! Không một bóng xe đạp, nói gì đến ô tô hay Honda, cũng không chợ búa, và ở đây người ta không biết cả đến đồng tiền ! Không bóng người người cảnh sá, cũng chằng có người bán hàng rong, hay em bé đánh giầy… Đêm ngày yên tĩnh, không tiếng còi ô tô xe máy. Nhiều nơi không có lấy một con chim sẻ đậu dưới mái hiên hay, nhặt nhạnh trước sân nhà…
Tại những “nhà lô cốt” không gian thật eo hẹp. Các chiến sĩ của ta chỉ có mấy mét vuông để ở, ngoài ra có thể leo lên những tầng trên, chạy xuống những tấng dưới, hay xuống tận những mô đá trên mặt nước biển. Không một bãi cát, hay bóng cây. Ở đây không nghe thấy tiếng cười hay tiếng khóc của trẻ thơ, cũng chẳng thấy bóng dáng một người phụ nữ ! Thảo nào các chiến sĩ trẻ hải quân ở đây chỉ dần được nghe tiếng phụ nữ là đã đủ vui sướng rồi. Có những em bộ đội tuổi mới chỉ mười tám đôi mươi, tuy xa nhà chưa bao lâu, mới tám tháng, một năm hơn kém, chưa thể nào quêu được hình dáng của mẹ, của chị, của em gái, chứ chưa nói tới bạn gái hay người yêu.
Thế giới ở đây có lẽ thích hợp cho các thầy ẩn tu hơn là cho thanh niên, cho dù là bộ đội.
Cô đơn, buồn tẻ, nhưng người chiến sĩ hải quân ở đây không phải là những thanh niên yếu đuối mơ mộng. Họ vẫn là những chiến sĩ, ngày ngày, có thể nói là từng giờ từng phút, luôn luôn phải cảnh giác trước đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa đen, nghĩa là gió trời và sóng biển, mà là những đe doạ có thật, từ những con tầu, những máy bay lạ có thể xâm phạm bầu trời và lãnh hải Việt Nam. Họ phải đếm từng chiấc máy bay xuất hiện, những con tầu đi qua, cố gắng đọc những ký hiệu để biết nó thuộc quốc gia nào. Đã không thiếu những lần tầu lạ, hay có khi là tầu của một nước “đồng chí nhưng không phải đồng minh”, tìm cách đi vào hải phận của đảo ta, cùng với những tầu đánh cá cùng quốc tịch, khiến chiến sĩ và ngư dân của ta phải tiến ra ngăn cản. Có những chiến sĩ kể lại rằng anh đã phải nghiến răng kìm hãm mình để không bòp cò súng ! Lại có cả những người mò tới những mỏm đá dưới chân “nhà lô cốt” để gọi là bắt ốc, nhưng đuổi không đi, mà phải dọa bằng vũ lực…
Đất nước ta đã được hoà bình, nhân dân ta từ Bắc chí Nam, từ những biên giới phía Bắc cho tới mũi Cà Mau, được yên ổn làm ăn sinh sống. Nhưng ở ngoài khơi xa xôi này, miền cực Đông của Tổ quốc, nơi mà mặt trời từ dưới biển mọc lên soi sáng cho bầu trời Việt Nam, lúc nào cũng có những chiến sĩ canh thức để canh giữ vùng biển trời của đất nước ta. Các chiến sĩ ấy vẫn không ngừng ngày đêm phải sẵn sàng chiến đấu, rất xa đất liền, xa đồng bào, không có hậu phương gần để tiếp cứu, hỗ trợ!
Chúng ta có thể không biết, hay đã quên đi trận chiến đẫm máu xảy ra ngày 4 tháng 3 năm 1988, khi hải quân Trung Quốc đã tấn công đảo Gạc Ma của ta, đánh chìm tàu HQ 604 của ta, khiến 64 chiến sĩ hải quân ta phải hy sinh, và mãi tới năm nay, sau 21 năm trời, nhờ sự cộng tác của các ngư dân, Hải quân ta mới trục vớt được con tàu xấu số và một số hài cốt của các anh hùng nằm sâu dưới đáy biển, nhưng mới chỉ nhận dạng được một số chiến sĩ mà thôi, nhờ kỹ thuật AND.
Kể từ ngày 14 tháng 3 năm 1988 ấy, ngày nay, mỗi khi có phái đoàn đi thăm Trường Sa, thường có tổ chức một lễ truy điệu ngoài khơi đảo Pôlin, để tưởng niệm 64 chiến sĩ trận vong. Phái đoàn của Thành phố Hồ chí Minh ra thăm đảo lần này cũng đã tổ chức long trọng buổi lễ cầu siêu như vậy. Và tôi được vinh dự cùng với các vị lãnh đạo phái đoàn, thả vòng hoa đầu tiên xuống biển để tưởng nhớ các liệt sĩ.
Trong buổi lễ truy điệu rất trang nghiêm cảm động, chuẩn đô đốc Lê Văn Đạo, Phó`Tư lênh Quân chủng Hải Quân, đã đọc một bài diễn văn thật hùng hồn cảm xúc, khiến nhiều người không cầm được mắt. Cả đời tôi, đây là lần đầu tiên được dự một lễ truy điệu như thế này, mà lại là một lễ được cử hành giữa biển khơi mênh mông dưới bầu trời vô biên của Việt Nam. Thật là một kỷ niệm tuyệt vời, khó quên!
Điểm đến cuối cùng của chúng tôi là đảo Trường Sa lớn, thủ phủ của quần đảo Trường sa, có diện tích lớn nhất, và cũng là nơi duy nhất có bến cảng và một đường bay nhỏ. Đây cũng là đảo đầu tiên được thắp sáng bằng điện năng lượng mặt trời và sức gió, do trường Đãi học Bach Khoa Thành phố Hồ chí Minh chế tạo và lắp đặt, tặng cho các chiến sĩ và đồng bào trên đảo. Các đảo khác cũng sẽ lần lần được lắp đặt hệ thống chiếu sáng như vậy.
Trong cuộc hành trình thăm quần đảo Trường Sa, mỗi lẫn tới đảo nào, chúng cũng cố gắng llên bờ thăm các chiến sĩ, nếu không phải tất cả đoàn, thi ít ra là đoàn văn công. Chúng tôi lên để gặp gỡ, tặng quà, giao lưu văn nghệ, thăm nơi an chốn ở, nghe báo cáo về sinh hoạt hàng ngày của các chiến sĩ. Riêng tại đảo Song Tử Tây, đảo đầu tiên mà chúng tôi đặt chân lên bờ, chúng tôi đã ở lại một đêm và một ngày, tiếp xúc với bộ đội và đồng bào. Còn ở đảo Trường Sa lớn, chúng tôi chỉ ở đến 21 giớ đếm thì về tầu, lý do là vì ở đây có bến tầu, không cần đến ca nô làm phương tiện trung chuyển vào bờ như ở những đảo khác.
Trên đây là một vài kỷ niệm và suy tư về cuộc hành trình, mà tôi được may mắn tham dự cùng với phái đoàn của Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân Thành phố Hồ chí Minh, đi thăm và kiểm tra quần đảo Trường Sa, từ ngày 4 đến 15 thàng 4 năm 2009.
Đây là một chuyến đi lịch sử đối với phần đông chúng tôi, một chuyến đi mà như nhiều người đã nói : dù có tiền cũng không dễ đàng thực hiện được, nhất là đối với cá nhân tôi, một linh mục già 76 tuổi.
Chuyến đi này đã đã mở rộng tầm mắt và cả trái tim tôi, khiến tôi cảm nhận được mạnh mẽ và cụ thể vùng trời biển bao la hùng vĩ của đất nước. Không hiểu tại sao, tôi tự nhiên liên tưởng tới Trường Sơn, và nghĩ rằng : đất nước ta trải rộng từ Trường Sơn Đông tới Song Tử Tây, từ Trường Sơn Tây tới Sinh Tồn Đông, nói tóm lại, đất nườc ta không chỉ dừng lại ở bờ biển Thái Bình dương, tại những bờ biển đẹp như Nha Trang, Cam Ranh hay Vũng Tàu… mà còn trải rộng ra xa tới Trường Sa, tới điểm xa nhất cách Thành phố Hồ Chí Minh hơn 500 hải lý, đó là Song Tử Tây. Ở tận địa điểm xa xôi này, ngày đêm vẫn có những người Việt Nam làm ăn sinh sống và canh giữ từng tấc đất thiêng liêng của Tổ quốc mình. Ở đây không chỉ có những người lính can trường làm nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc, mà còn có những gia đình thường dân tới đây lập nghiệp. Chúng tôi đã gặp gỡ nhừng cặp vợ chồng trẻ với những đứa con thơ của họ. Và như đã nói nơi đây sắp có hai em bé sắp sửa chào đời, để trở thành những công dân Việt Nam sinh ra trên đảo, còn những em lớn thì đã biết ngày ngày cắp sách đến trường, nơi chỉ có một cô giáo dạy tất cả mọi môn. Nhưng sau này, các em sẽ được đưa vào đất liền để tiếp tục học lên những lớp cao hơn.
Ở đây, dân và quân đang biến những vùng đất khô cằn sỏi đá này thành những rừng cây xanh tươi, với những luống rau và đàn gà đàn vịt chạy tung tăng, và cả những con heo ủn ỉn đòi ăn trong chuồng. Nếu không nhìn thấy dòng nước xanh bao bọc chung quanh, người lữ hành vượt biển có cảm tưởng như mình vẫn ở đâu đây trên đất liền.
Tôi lên tàu chỉ với con tim nhỏ bé của mình, chẳng có gì tặng cho các chiến sĩ Truờng Sa, ngoài những món quà mà Đoàn công tác mang tới. Nhưng khi ra về, tôi cảm thấy trái tim mình lớn lên và nặng trĩu tình cảm thân thương, tình cảm của những người lính đảo, của người dân, và nhất là của những em bé thơ ngây. Tình cảm ấy cho dù không lớn lao và mênh mông như trời biển, nhưng vẫn đủ để tạo ra một nhịp cầu liên kết Trường Sa với đất liền.
Trường Sa là những hòn đảo nhỏ bé, không thể có những địa danh như Chi Lăng, Bạch Đằng, Điện Biên, Khe Sanh, hay Ngã Ba Đồng Lộc vv… nhưng nơi đây xương các chiến sĩ đã kết lại với san hô và đá chìm, làm thành nền tảng cho những cột mốc, đánh dấu chủ quyền của Việt Nam dưới bầu trời và vùng biển này của Biển Đông. Và máu của các chiến sĩ đã hoà vào nước biển để ướp cho tình quân dân được mặn mà thắm thiết, và vững bền mãi mãi.
Những địa danh lịch sử thì đã mãi mãi được ghi tên trong sách vở của cả thế giới. Tất cả đã trở thành quá khứ. Nhưng Trường Sa vẫn ngày ngày phải đối diện với đầu sóng ngọn gió, không chỉ theo nghĩa của những hiện tượng thiên nhiên, mà còn theo nghĩa là những đe doạ luôn luôn có thật, đến từ những lực lượng thù nghịch.
Con tàu HQ 957 đưa chúng tôi trở về Thành Phố, trên mặt nước trong xanh phẳng lặng, Những con cá heo lại xuất hiện bên hông tàu, nhảy múa tiễn biệt chúng tôi. Và thật tuyệt vời khi chúng tôi đi tới vùng mỏ Rạng Đông, nơi có những giàn khoan sáng rực như một thành phố trên biển, hiện ra trước mắt chúng tôi, với cả hàng mấy chục thuyền đánh cá của ngư dân Việt Nam vây quanh chúng tôi.
Tổ quốc chúng ta là đây, là trời này, đất này, là những giếng dầu, tàu đánh cá, và những hải đảo như Côn Đảo, Phú Quốc, Cô Tô, Cát Bà, Bạch Long Vĩ, Tuần Châu, Phú Qúy, vv… và nhất là Trường Sa vẫn ngày đêm phải thức trắng trong những đêm dài cô quạnh, để canh giữ vùng biển và bầu trời của Việt Nam.
Trong tâm trí của tôi, từ nay hình ảnh Trường Sa, và Hoàng Sa nữa, tuy tôi chưa được nhìn thấy, thật là những mảnh đất thiêng liêng của tổ quốc. Hoàng Sa và Trường Sa là nơi mọc trời mọc, Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi mặt trời lặn. Hoàng Liên Sơn hay Trường Sơn là nơi tổ tiên ta đi săn bắn, hái trái cây rừng và nhặt củi để về thổi nấu, Hoàng Sa và Trường Sa là nơi cha ông ta từ bao đời chèo thuyền ra bắt cá. Quê hương ta không chỉ là sông núi, mà còn là biển cả nữa.