Thứ Năm, 24 tháng 9, 2009

Tại Trung Quốc, không thể kinh doanh mà không hối lộ

Tại Trung Quốc, không thể kinh doanh mà không hối lộ

Andreas Landwehr, IANS ngày 21/09/2009
Tin từ Bắc Kinh: “Tôi không thể làm ăn ở Trung Quốc nếu không hối lộ,” đại diện một công ty Đức tại Bắc Kinh phàn nàn.
“Ở các cơ quan trung ương, họ luôn căn dặn chúng tôi phải trong sạch và không được hối lộ dưới mọi hình thức, nhưng rồi bạn sẽ chẳng đi được bất cứ nơi đâu ở đây,” ông giải thích tình thế tiến thoái lưỡng nan của mình trong lúc cố gắng chinh phục thị trường khổng lồ Trung Quốc mà không phải đưa hối lộ.

“Những người mà tôi tiếp xúc tại đây đều hỏi thẳng tôi qua điện thoại, ‘Tiền của tôi đâu?’”, ông kể.
Giá hạ, sản phẩm chất lượng cao và quan hệ, hay “guanxi” theo tiếng quan thoại, là điều kiện cần nếu muốn kinh doanh ở Trung Quốc,
Song công nghệ phương Tây, trong trường hợp này là công nghệ Đức, thì đắt đỏ. Hai yếu tố còn lại cũng chống lại vị thương gia người Đức. Nếu không có guanxi, tức phải duy trì qua thông đồng hay tham nhũng rõ ràng, yếu tố sót lại chỉ là chất lượng, mà riêng chất lượng thì không thể đảm bảo có được bất kỳ thỏa thuận nào tại Trung Quốc, doanh nhân này cho biết.
Các tập đoàn lớn đang làm ăn tại quốc gia đông dân nhất thế giới này cùng vấp phải vấn đề tương tự để giữ cho đôi tay họ được sạch sẽ.
“Hối lộ hay lại quả là một bộ phận trong truyền thống kinh doanh ở Trung Quốc,” quan chức làm cho một công ty lớn của Đức đang tuyển dụng hàng ngàn nhân công tại Trung Quốc phát biểu.
“Thật khó ngăn cản nhân viên hay đại diện bán hàng người Trung Quốc của chúng tôi (không được hối lộ), nhưng chúng tôi sẽ cố gắng,” ông nói.
Ngày càng nhiều công ty nước ngoài chợt nhận ra rằng bản thân họ đang rơi vào hoàn cảnh ngặt nghèo vốn có trong mạng lưới tham nhũng, kinh doanh và chính trị, thể hiện qua những điều ra gần đây chống lại các công ty lừng danh như Coca-Cola hay Tập đoàn khai khoáng Rio Tinto Anh-Úc.
Ba nhân viên người Trung Quốc và trưởng văn phòng đại diện Rio Tinto ở Thượng Hải, Stern Hu, công dân Úc gốc Hoa, đã bị bắt giam vì các cáo buộc tham nhũng từ hồi tháng Tám.
Vụ này đã khiến quốc tế quan ngại vì nhà chức trách Trung Quốc quyết định trả đũa Rio Tinto chỉ sau khi hành động mua lại một phần hùn lớn từ Rio Tinto của công ty nhôm nhà nước Chinalco đã gặp phải phản đối từ phía Úc.
Các hành động bắt giam còn kích hoạt lại cuộc thảo luận trong truyền thông Trung Quốc về công cuộc chống tham nhũng mà hiện nay đã lan rộng đến mọi tầng lớp xã hội.
Không chỉ người nước ngoài, người Trung Quốc cũng cần guanxi để công việc được thuận lợi. Một bí mật mà ai cũng biết là hiệu trưởng và giáo viên cùng nhận hối lộ. Bác sĩ chăm sóc đặc biệt những bệnh nhân nào biết “bồi dưỡng” thỏa đáng. Công ty dược phẩm cũng phải hối lộ để thâm nhập vào các bệnh viện.
Thậm chí thẩm phán có thể bị mua nếu dò đúng kênh, lĩnh vực xây dựng và bất động sản thì tham nhũng khét tiếng.
Nạn thông đồng cũng lan tràn. Quan chức thuộc cơ quan giám sát nằm cùng giường với chủ nhà máy mà họ chịu trách nhiệm quản lý. Thậm chí một số quan chức còn có phần hùn trong các công ty đó.
Công chức thuộc ban ngành Chính phủ và Đảng Cộng sản Trung Quốc thường có liên hệ trong những mạng lưới kiểu mafia với các doanh gia, lực lượng an ninh hay thậm chí với các băng nhóm tội phạm.
Công an cũng chẳng hưởng được tiếng thơm. Tại thủ phủ Trùng Khánh ở mạn Tây Nam, một số quan chức cấp cao đang phải đối mặt với án tù sau khi lãnh đạo Đảng mới lên là Bạc Hi Lai quyết định ra tay thanh trừng.
Vị nguyên Bộ trưởng Thương mại này, từng là ứng viên tiềm năng cho ghế Thủ tướng, đang tự đánh bóng tên tuổi của mình như một chiến sĩ chống tham nhũng trong tỉnh. Kết quả là Phó Giám đốc lực lượng công an Trùng Khánh giờ đây đang phải ngồi tù cùng với Giám đốc công an giao thông và Giám đốc Qui hoạch Đô thị, kẻ vừa được tạm hoãn hai năm án tử hình.
Quyền lực và tiền bạc liên hệ mật thiết với nhau ngay bên trong Đảng Cộng sản, đồng thời bản chất dễ bị mua chuộc và đạo đức suy đồi của Đảng đã đặt ra nghi vấn về tính chính danh chính trị của Đảng.
Người dân Trung Quốc đang chán ghét và mệt mỏi với tham nhũng. Một số cho rằng báo cáo của truyền thông nhà nước về việc có hơn 50.000 quan chức bị phát hiện có hành vi tham nhũng trong sáu năm qua là một thành công. Những kẻ khác thì lại cho rằng đây là tuyên ngôn về sự thất bại.
Nhưng hầu hết mọi người đều đồng ý rằng, theo một nghĩa nào đó, công cuộc chống tham nhũng tại Trung Quốc là một hành động hào hiệp viển vông.
A. L.
BVN dịch
Nguồn: http://www.expressbuzz.com/edition/story.aspx?Title=No+business+without+greased+palms+in+China&artid=DOUCvvYFjPg=&SectionID=XT7e3Zkr/lw=&MainSectionID=XT7e3Zkr/lw=&SEO=guangxi,+china,+bribe&SectionName=HFdYSiSIflu29kcfsoAfeg==


Trung Quốc-Lào: Đầu tư, viện trợ, di dân
(Toquoc)–Quan hệ kinh tế,thương mại, viện trợ phát triển Trung-Lào tăng vọt, đi kèm với làn sóng di dân.


Trong hai ngày 21-22/9, đại diện Chính phủ Lào và các nhà đầu tư Trung Quốc đã tổ chức lễ bàn giao hai công trình do Trung Quốc tài trợ và cấp vốn xây dựng tại thủ đô Viêng Chăn: Sân vận động Quốc gia mới - công trình trọng điểm SEA Games-25 với tổng vốn đầu tư 100 triệu USD và Đài truyền hình kênh 3 thuộc Đài truyền hình Quốc gia Lào, vốn đầu tư 10 triệu USD. Đó là một phần trong bức tranh rộng lớn quan hệ kinh tế thương mai đầu tư giữa Trung Quốc và Lào.
Đầu tư tăng vọt
Bộ trưởng Kế hoạch-Đầu tư Lào Sinlavong Khoutphaythoun mới đây cho biết vốn đầu tư của Trung Quốc tại Lào hiện đã đạt 3,577 tỷ USD, đứng thứ hai trong tổng số 37 nước có vốn đầu tư trực tiếp tại Lào. Thái Lan là nước dẫn đầu.
Lào, một nẻo đường mới mở
Hoạt động đầu tư của Trung Quốc tại Lào bắt đầu từ năm 1998-1999. Lĩnh vực mà các doanh nghiệp Trung Quốc tập trung vốn đầu tư là khai thác khoáng sản (112 dự án), công nghiệp và thủ công nghiệp (82 dự án), nông lâm nghiệp (64 dự án), năng lượng điện (4 dự án), và các dự án đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ, xây dựng kết cấu hạ tầng dịch vụ (nhà hàng, khách sạn...).
Đầu tư của Trung Quốc tại Lào sẽ tăng đáng kể trong năm tới khi một số dự án có vốn đầu tư nhiều tỉ USD được chính phủ Lào cấp phép chính thức và triển khai thi công, như dự án phát triển Đặc khu kinh tế "Tam giác vàng" ở Bắc Lào, dự án nhà máy sản xuất giấy ở tỉnh Savannakhet (Trung Lào).
Theo mạng tin Asia Times (19/9), vai trò của Trung Quốc trong công cuộc phát triển miền Bắc Lào không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Qua các khoản viện trợ chính thức, đầu tư nhà nước và số doanh nghiệp tư nhân tăng, Trung Quốc hiện chiếm lĩnh phần lớn nền kinh tế Lào, từ khai khoáng, nhiệt điện tới cao su, bán lẻ. Người Trung Quốc mua nhiều cổ phần để đứng trong hội đồng quản trị các công ty trong hầu hết mọi ngành kinh tế. Kim ngạch thương mại giữa Lào và Trung Quốc năm 2007 đạt tới khoảng 250 triệu USD và ước tính lên tới 1 tỷ USD trong vài năm tới.
Năm ngoái, chính quyền tỉnh Vân Nam đã hoàn tất "Kế hoạch miền Bắc". Theo đó, từ nay đến năm 2020, tỉnh này phát triển các ngành công nghiệp "trụ cột" ở miền Bắc Lào như điện lực, nông, lâm nghiệp, du lịch và khai khoáng. Kế hoạch này dự định phát triển một lộ trình tập trung cao và khả thi để công nghiệp hóa Lào. Kế hoạch này đã được trao cho chính phủ Lào hồi tháng 1/2009 và sẽ được phê chuẩn vào năm 2010.
Với mức tiêu thụ cao su dự kiến khoảng 30% sản lượng của thế giới vào năm 2020, Trung Quốc hiện đang dựa vào các đồn điền ở nước ngoài để bù đắp cho phần thiếu hụt từ sản xuất trong nước, ước tính khoảng 7 triệu tấn. Tại miền Bắc Lào, các công ty Trung Quốc lập các đồn điền cao su quy mô lớn bằng các khoản đầu tư ồ ạt. Các công ty này đầu tiên ký hợp đồng trực tiếp với chính quyền trung ương, tiếp đó thỏa thuận với dân làng địa phương, rồi thuê họ làm việc với mức lương đủ sống.
Lào chủ yếu xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp, khoáng sản, gỗ và các sản phẩm từ gỗ sang Trung Quốc. Sản phẩm nhập khẩu chính của Lào từ Trung Quốc là nguyên liệu cung cấp cho ngành công nghiệp, may mặc và đầu vào cho nông nghiệp. Trung Quốc đầu tư tại Lào trên nhiều lĩnh vực, nhưng đầu tư vào thuỷ điện được coi là trọng tâm chiến lược. Chính phủ Lào coi việc bán điện từ thủy điện sang Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc là đóng góp chính cho ngân sách quốc gia.
Bằng cách xây dựng cơ sở hạ tầng tại Lào như đường xá, cầu và trường học, các khoản tiền của Trung Quốc đã giúp phát triển nền kinh tế của nước này trong khi vẫn tạo ra một cơ sở hạ tầng xuất nhập khẩu, phục vụ cho xuất khẩu các nguồn tài nguyên thiên nhiên sang Trung Quốc và nhập khẩu trở lại các hàng hóa từ Vân Nam, Quảng Tây và Tứ Xuyên.
Ngày 18/8, ông Phonthavi Bútđala, Tổng Lãnh sự quán Lào tại Côn Minh: Hiện nay các nhà đầu tư Trung Quốc đầu tư tới 500 triệu USD vào dự án quan trọng giữa tỉnh Vân Nam với Lào như cao su và cây thay thế thuốc phiện cho nhân dân Bắc Lào. Một số loại hoa quả được nhập khẩu vào Lào.
Phát triển du lịch, dịch vụ giải trí
Ảnh hưởng ngày càng tăng của Trung Quốc mang lại lợi ích cho một số người với bằng chứng là hàng dãy xe SUU sang trọng đỗ dọc biên giới Trung-Lào. Một loạt thị trấn, khu định cư và công ty kinh doanh mọc lên như nấm dọc quốc lộ số 3 mới được hoàn tất xây dựng, chạy thẳng từ Côn Minh tới Bangkok, chạy suốt miền Bắc Lào. Trong đó có thị trấn Boten được mệnh danh là “Thành phố quốc tế hiện đại nhất” tại Lào, nơi có khách sạn và các sòng bạc, các đại lý điện thoại di động, các cửa hàng miễn thuế và các cửa hàng bán hàng Trung Quốc rẻ tiền.
Thị trấn Boten, Bắc Lào
Mặc dù sự phát triển của thị trấn Boten tạo việc làm cho người dân địa phương, song phần lớn chỉ là công việc dịch vụ chân tay. Thị trấn này hoạt động theo giờ Bắc Kinh, chỉ chấp nhận đồng Nhân dân tệ và nói tiếng Quan thoại. Đường dây điện và điện thoại chạy từ Trung Quốc, và ổ cắm điện theo tiêu chuẩn Trung Quốc. Người dân địa phương còn phải chứng kiến mảnh đất của họ được “quốc tế hóa”, nhất là cư dân từng sinh sống dọc trục giao thông. Họ phải tái định cư vào sâu hơn.
Các nhà đầu tư Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển đầu tư tại các khu phát triển kinh tế và du lịch tại Lào. Nhà đầu tư Trung Quốc là chủ dự án casino tại tỉnh Bò-kẹo sẽ tiếp tục đầu tư khu phát triển kinh tế với diện tích 5.000 Lay (1ha = 4 Lay), tổng giá trị đầu tư khoảng 2 tỷ USD và dự kiến sẽ hoàn thành trong năm 2017. Dự án Trung Quốc tại khu vực kinh tế và du lịch ASEAN tại tỉnh Bò-kẹo gồm 8 hạng mục như: casino, khách sạn 5 sao, sân golf 36 lỗ, bệnh viện, trường học, nhà hàng, chợ và trung tâm thương mại.
Theo tin của Thái Lan, Lào đã đồng ý cho phép Công ty Đọc-ngịu-đeng, Trung Quốc thuê thêm 5100 Lay tại huyện Tộn-phựng, tỉnh Bò kẹo trong thời gian 75 năm, phía công ty cũng đã giao khoán dự án trên cho công ty TNHH Mu-mưn của Trung Quốc đến xây dựng trong 10 năm, với vốn 3 tỷ USD.
Casino ở huyện Tộn-phựng, tỉnh Bò kẹo tại Lào xây dựng do liên doanh giữa Trung Quốc và Ma Cao và là casino thứ 3 tại khu vực tam giác vàng Thái-Myanmar-Lào. Tại tất cả các khu vực casino trên đều có hệ thống khách sạn, nhà hàng, sân golf, trung tâm thương mại và các khách sạn đều ít nhất 3 sao trở lên.
Những đợt di cư mới tới Đông Nam Á và Lào
Những năm gần đây, Trung Quốc gia tăng các khoản viện trợ cho Lào cũng như các nước Đông Nam Á khác, kèm theo việc gia tăng di dân mới của Trung Quốc. Theo nghiên cứu của Henry Ye thuộc trường Đại học quốc phòng Washington (Mỹ), năm 2003, kim ngạch viện trợ của Trung Quốc cho Campuchia đã tương đương với viện trợ của Mỹ, viện trợ cho Philipinnes gấp hơn bốn lần viện trợ của Mỹ, viện trợ cho Indonesia gấp hơn hai lần Mỹ, viện trợ cho Lào gấp hơn ba lần.
Các dự án viện trợ xây dựng của Trung Quốc tập trung nhiều vào cơ sở hạ tầng như đường bộ, đường sắt, bến cảng và công trình công cộng lớn. Những dự án này cần nhiều nhân viên kỹ thuật và công nhân lành nghề. Trong thời gian từ khi Chủ tịch Giang Trạch Dân thăm Lào tháng 11/2000 đến khi phó thủ tướng Ngô Nghi thăm Lào tháng 3/2004, viện trợ kinh tế của Trung Quốc cho Lào đã lên tới hơn 1 tỷ NDT, tương đương tổng số tiền của Trung Quốc viện trợ cho Lào trong cả 12 năm trước đó. Những dự án viện trợ tiêu biểu như Cung văn hóa quốc gia Lào, nhà máy xi măng Wanrong II, dự án khơi dòng sông Mekong, bệnh viện hữu nghị Lào-Trung Luang Phrabang, công trình mở rộng mạng viễn thông giai đoạn hai, công trình 1/3 đoạn đường bộ Côn Minh-Bangkok, các chương trình vay tín dụng ngân hàng như dự án thuỷ điện Nanmeng, công trình truyền tải biến áp điện năng Pakse... Những dự án này chủ yếu do người Trung Quốc đảm nhận với nhân công đưa từ Trung Quốc sang.
Từ giữa thập niên 1980, di dân Trung Quốc mới đến Đông Nam Á có thể chia làm ba đợt, với quy mô tương đối lớn bắt đầu từ nửa cuối những năm 1980, liên tục cho đến nay.
Đợt đầu tiên chủ yếu là người Triều Châu, Sán Đầu, tỉnh Quảng Đông đến Thái Lan và người Nam Phúc Kiến đến Philippinnes. Trước khi Thái Lan mở cửa cho khách du lịch Trung Quốc vào năm 1988, với sự giúp đỡ của người thân ở Thái Lan, người Triều Châu, Sán Đầu đã đến Thái Lan trên danh nghĩa người thân bạn bè mời. Sau khi chính quyền Thái Lan mở rộng visa du lịch cho người Trung Quốc, việc giúp đỡ di dân sang Thái Lan nhanh chóng trở thành một nghề ở khu vực Triều Châu, Sán Đầu, do các hãng kinh doanh chủ yếu là các công ty du lịch địa phương. Vào mùa Hè năm 1995 ở Bangkok, mấy vị lãnh đạo tổ chức đồng hương quê Triều Châu, Sán Đầu ước tính di dân mới quê Triều Châu, Sán Đầu lúc đó có gần 20 vạn người. Năm 1994, quan chức Cục di dân Thái Lan thừa nhận, khoảng 10 vạn người Trung Quốc náu mình ở Thái Lan để được chuyển đi nước thứ ba, một bộ phận vẫn ở lại Thái Lan. Những năm gần đây, kinh tế khu vực ven biển Trung Quốc phát triển mạnh, thu nhập của dân Triều Châu, Sán Đầu tăng lên, làn sóng di cư sang Thái Lan có phần giảm bớt, thay vào đó là di dân ở các khu vực khác của Trung Quốc. Di dân Trung Quốc lợi dụng quan hệ truyền thống với khu người Hoa cũ để đến Đông Nam Á tương đối sớm còn có người Nam Phúc Kiến. Sau thập niên 1980, với sự giúp đỡ của người thân, bạn bè ở Philippinnes, người Tấn Giang lũ lượt di cư sang nước này. Gần 10 năm trở lại đây, rất nhiều di dân từ các khu vực nội địa Trung Quốc đến mưu sinh ở Philippinnes.
Sự hiện diện của Trung Quốc đang gia tăng tại Lào
Đợt di dân mới thứ hai đến Đông Nam Á xuất hiện vào giữa thập niên 1990, kéo dài liên tục cho đến nay, chủ yếu đến Singapore, Malaysia và Indonesia. Đợt này bao gồm những thương nhân và người thân của họ lâu đời ở Đài Loan. Hàng vạn thương nhân Đài Loan đã rất năng động tại các nơi ở Đông Nam Á. Thời kỳ cuối thập niên 1990, thương nhân Đài Loan và những người gốc Đài Loan liên quan đến các công ty đầu tư của Đài Loan ở cả Đông Nam Á lên tới 100 nghìn người. Năm 2002, Trung Quốc xuất khẩu lao động đến Singapore gần 100 nghìn người, tuyệt đại bộ phận làm trong ngành xây dựng. Sau năm 1994, để thúc đẩy ngành du lịch phát triển, chính phủ Malaysia từng bước mở cửa cho người Trung Quốc Đại lục sang Malaysia, đông đảo người Đại lục đã sử dụng visa du lịch để vào Malaysia, sau đó ở lại không về, trở thành di dân. Tư liệu điều tra di dân mới của Văn phòng Hoa Kiều tỉnh Phúc Kiến cho thấy, phần lớn di dân mới người Phúc Kiến ở Malaysia đều đến Malaysia sau năm 1996. Hôn nhân cũng trở thành một trong những con đường cho một bộ phận di dân Trung Quốc đến Malaysia. Đến cuối năm 2005, cô dâu Trung Quốc lấy chồng người Malaysia đã lên tới 6.000 người. Những năm gần đây, học sinh Trung Quốc đến du học tại Malaysia tăng lên nhanh chóng. Theo số liệu của Bộ Giáo dục Malaysia, từ năm 1997 đến 2002, khoảng 20 nghìn học sinh Trung Quốc Đại lục đã đến Malaysia du học. Chỉ riêng năm 2003, có 10.884 học sinh Trung Quốc đến du học tại Malaysia. Một số di dân mới lấy danh nghĩa du học, thực chất là đến làm thuê tại nước này. Sau năm 2003, một số ngành nghề của Malaysia sẽ mở cửa cho người lao động Trung Quốc. Đến cuối năm 2003, số nhân công lao động xuất khẩu sang Malaysia hợp pháp qua các công ty giới thiệu việc làm có 5.582 người. Cuối thời kỳ cầm quyền của Suharto, với sự giúp đỡ của họ hàng giàu có ở Indonesia, di dân Trung Quốc đến từ Phúc Kiến bắt đầu từng đợt đổ đến Indonesia, trong đó chủ yếu từ khu vực Phúc Châu, một số ít đến từ vùng Tuyền Châu. Theo tài liệu điều tra của tỉnh Phúc Kiến, đến năm 2005, chỉ riêng di dân mới gốc Phúc Châu ở Indonesia đã lên tới 51.311 người.
Làn sóng di dân mới lần thứ ba đến Đông Nam Á bắt đầu từ những năm đầu của thế kỷ 21, chủ yếu đến các khu vực đất liền ở Đông Nam Á như: bắc Mianmar, Campuchia, Lào và Bắc Thái Lan..., số lượng người trong đợt di cư này vượt xa hai đợt trước, trong đó đông nhất là ở Mianmar. Đáng chú ý là những tập thể người Trung Quốc đến bắc Mianmar, Lào và Campuchia làm nghề trồng trọt. Năm 2006, một nhà quan sát phương Tây quan tâm đến di dân cho rằng, di dân Trung Quốc đổ vào Campuchia những năm gần đây khoảng từ 5 đến 30 vạn người, rải rác khắp nơi ở Campuchia, cả những nơi xa xôi, hẻo lánh, khó tới nhất vẫn thấy dấu chân của di dân Trung Quốc mới.
Hiện đang diễn ra một làn sóng người di cư từ tỉnh Vân Nam và các tỉnh khác của Trung Quốc tới Lào, tìm kiếm cơ hội tại đây với sự hỗ trợ bởi sự hiện diện kinh tế hùng mạnh của Trung Quốc. Dòng người Trung Quốc di cư ngày càng nhiều nhờ mạng lưới đường xá khu vực được mở mang.
Năm 2000, Hoa kiều và người Hoa ở Lào có 160 nghìn người, khoảng 2/3 là di dân mới. Đến năm 2006, di dân Trung Quốc mới ở Lào có thể trên 100 nghìn người. Con số này tiếp tục tăng lên với cấp số nhân cùng các chương trình hợp tác, đầu tư và viện trợ cuả Trung Quốc cho Lào./.

Tổng số lượt xem trang