Thứ Tư, 30 tháng 12, 2009

Thành ngữ - Điển tích - Danh nhân Từ điển của tác giả Trịnh Vân Thanh

- TIN ĐỘNG TRỜI!!! Thành ngữ – Điển tích – Danh nhân Từ điển (Nxb Văn Học): [...] (X-cafe).[...] He he! (5h sáng 30/12) Phải xóa bớt đoạn nầy đi, chớ bà con vô trích dẫn búa xua, rồi còm thêm nguy hiểm quá. Ta phải chờ cơ quan chức năng mần rõ đã chớ.
Được một độc giả báo, BS nhào vô coi, không tin nổi, chút xíu té ghế, đã cử phóng viên TTXVH kiếm mua ngay cuốn nầy. Và quả đúng như nội dung trong bài. Thiệt quá nguy hiểm! Đề nghị các sếp trên sớm mai tung quân cho thu hồi gấp trên toàn … thế giới, nếu không là tụi “các thế lực thù địch” lợi dụng phản tuyên truyền vô cùng nguy hiểm.

Chưa hết! Theo một cộng tác viên BS cho hay, hiện có một cuốn sách của tác giả Đài Loan, phân tích công phu về vụ nầy và đang được dịch ra tiếng Việt. Các cơ quan chức năng cần ngăn chặn ngay.
Nói thêm: tác giả cuốn sách là GS Trịnh Vân Thanh, một học giả ở miền Nam từ trước 1975. Cuốn sách nầy đã được xuất bản trước 1975, lần này chỉ là tái bản. Mời xem bài điểm sách.

- Cao Huy Thuần: An ninh (Thời đại).

“Ngành tuyên giáo tạo đồng thuận cao trong xã hội” (TTXVN).

- Vietnam entering Iranian energy sector (UPI). - Authorities in Vietnam Concerned About Gloomy Outlook for FDI in 2010 (Top News). - China And Vietnam Plan Tourism Cooperation Zone (China Hospitality News).
- In Southeast Asia, Unease Over Free Trade Zone (New York Times).

- Quà Tết và hối lộ (NNVN). – LUẬT GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ CÓ MỘT ĐIỀU LUẬT…” NGỘ ” (blog Ph.V Đào).
- Hà Nội: Mất chức vì đặt thừa… hai mâm cỗ cưới (DTrí).


- Hà Nội: 55.400m2 đất được thu hồi bằng quyết định… sai chính tả (VNN).
- Chi cục trưởng kiểm lâm Điện Biên dùng bằng giả? (NTNN)
- Quan hệ Việt-Mỹ đang phát triển nhanh và thiết thực (TTXVN)

- Danh Đức: Vay vốn ODA kém ưu đãi hơn: Phải rót đúng chỗ (Ttrẻ).
- TS Lê Xuân Nghĩa: Tỷ giá hối đoái sẽ ổn định hơn (Tổ quốc)

“Việt Nam làm thay đổi thị trường buôn bán hạt tiêu”
Vietnam alters global pepper trade scenario.
- Đầu tư vào Cambodia đến năm 2015: Vốn đầu tư của VN sẽ dẫn đầu (Tin tức).
- Chờ chỉnh sử thông tư … (Thanh tra).
- Vietnam Black Market Simmers Down (Forex Flash)
Vụ Nông trường Sông Hậu: Báo chí cần đưa tin nhiều chiều (VNN 29-12-09) -- Trần Ngọc Sương – ‘Chốt thí’ của tranh giành đất đai (NV 2&3-12-09) Vụ Ba Sương: không oan (BBC 29-12-09)



Hy vọng từ Năm Thánh (viet-studies 29-12-09) -- “Không có chuyện Việt Nam bị nước lớn ép” (VNN 29-12-09)


Thiếu cát, đá xây dựng các công trình trọng điểm (TTrẻ).


Hoa Kỳ phản đối vụ xử ông Trần Anh Kim (VOA) . – Tội đã rõ, sao cho rằng gán tội? (QĐND)


Bộ Tư pháp ký thỏa thuận hợp tác với PetroVietnam (TTXVN).
- Đồng minh Mỹ – Nhật những ngày trở gió (TuanVN).

- ‘Việt Nam không nên phá giá tiền đồng’ (VNExpress). - Duyệt lại lương của tập đoàn, tổng công ty (TBKTSG)
- Hai hợp đồng mua bán điện trị giá tới 15,8 tỷ USD (TTXVN).
- Jetstar Pacific bị rút quyền bảo dưỡng máy bay thông thường (VNN)
- Các doanh nghiệp sữa sẽ phải đăng ký giá (VNN)

- Vietnam’s Petrolimex to buy 2m tonnes of diesel (The Peninsula).
- Tehran, Hanoi to boost trade ties (Tehran Times). - Vietnam to export six mln tons of rice this year (Business Ghana). Vietnam Produced Maximum Spam in November 2009 (Spam Fighter).

- Vietnam may control gold trading floors (Commodity Online).
- Pledged foreign investment to Vietnam falls 70%: report (The China Post).


- Tuyên án tù chung thân giáo viên mất nhân tính (TTXVN).

Gangster Trials Highlight China's Crime Battle (WSJ 29-12-09)
Secret files show British PM hostile to Vietnam boat people (AFP 29-12-09) -- Việt Nam - Kinh Điển: An inquiry into the transformation process of village-based industrial clusters: The case of an iron and steel cluster in northern Vietnam (J. of Comparative Economics Dec 2009)


- Ukraina đạt thỏa thuận với Nga về việc trung chuyển dầu hỏa sang Liên hiệp châu Âu (RFI).
- Thế giới đổ xô đến Ghana để khai thác vàng (VOA).

Cải cách đảo ngược?
Economist
Cải cách đảo ngược?
Ngày 27-12-2009
Economist Intelligence Unit ViewsWire
Tranh luận về việc cải cách các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước nắm quyền điều hành đang tăng lên, thế nhưng [đó chỉ là tranh luận suông] không có hành động đi kèm
Cải cách doanh nghiệp do nhà nước quản lý, vốn đã chậm chạp ở Việt Nam đang bị chậm lại. Cuộc khủng hoảng kinh tế, tài chính toàn cầu đã tạo điều kiện cho “việc cổ phần hóa”, hoặc tư nhân hóa một phần, các doanh nghiệp nhà nước gặp nhiều thách thức hơn, và một số nhà hoạch định chính sách dường như đang có những ý nghĩ khác về tiến trình này. Chính phủ đang tích cực xem xét những cải cách, song có vẻ như họ hành động một cách thận trọng, và vẫn còn có sự cản trở đáng kể, thử thách đối với thực trạng các doanh nghiệp do nhà nước chi phối.
Cuộc tranh luận quanh chiến lược phát triển kinh tế dài hạn ở Việt Nam đang lớn dần lên. Các nhà hoạch định chính sách đang chuẩn bị một Chiến lược Phát triển Kinh tế Xã hội cho giai đoạn 2011-2020. Một yếu tố trong việc thảo luận sẽ là tính khả thi (hay không) về chiến lược công nghiệp hiện thời của đất nước, đặc biệt là lòng tin đối với các doanh nghiệp lớn của nhà nước (DNNN) ở Việt Nam. Trải qua hơn một thập kỷ, các DNNN lớn luôn ở vị trí hàng đầu trong chiến lược phát triển công nghiệp của đất nước. Điều này đã phản ánh một sự tin tưởng trong giới lãnh đạo nhà nước rằng khu vực [kinh tế] tư nhân thiếu kinh nghiệm, chưa đủ khả năng phát triển trong vai trò này, khi mà nó thiếu một số lượng đáng kể các công ty mạnh và có tầm cỡ.
Quan điểm này càng làm tăng thêm việc xem xét kỹ lưỡng khi một số lớn các công ty tư nhân hoạt động mạnh mẽ đã xuất hiện trong nhiều lĩnh vực. Một số nhà hoạch định chính sách có cảm giác rằng doanh nghiệp nhà nước có rất ít sáng kiến cũng như thiếu tài kinh doanh, khả năng này được thể hiện rõ ở nhiều công ty tư nhân. Ngoài những yếu kém này, cơ cấu quản trị doanh nghiệp yếu kém hoặc bất bình thường của nhiều doanh nghiệp nhà nước (do cơ cấu tổ chức phức tạp) cũng lộ rõ ra ngoài, như là các mối quan hệ gần gũi và thân thiết giữa các doanh nghiệp nhà nước với các Bộ của chính phủ quản lý chúng.
Tuy nhiên, khi các doanh nghiệp nhà nước lớn là các công ty quan trọng trong việc tăng trưởng kinh tế và là nguồn thu nhập của chính phủ, tiến hành việc thay đổi trong lĩnh vực này sẽ là một thử thách ngay cả khi ý chí chính trị buộc phải làm như thế, cũng rất khó có thể làm đối với một số nhà hoạch định chính sách.
Một số nhà quan sát đã hy vọng rằng việc thành lập Tổng công ty Đầu tư vốn nhà nước (SCIC) vào năm 2005 sẽ mở ra một kỷ nguyên mới cho việc cải cách doanh nghiệp nhà nước. Cơ quan này có nhiệm vụ đại diện và quản lý các doanh nghiệp nhà nước quan trọng và tái cơ cấu các doanh nghiệp đó. Thế nhưng, cho dù được sự ủy nhiệm rộng rãi, SCIC cũng chỉ thực sự được giao trách nhiệm quản lý vốn nhà nước ở các công ty cổ phần tương đối nhỏ, hơn là quản lý các doanh nghiệp nhà nước lớn. Các doanh nghiệp nhà nước lớn hơn và “các nhóm kinh tế” (các tập đoàn công ty thuộc sở hữu nhà nước có quyền lực) vẫn thường được báo cáo trực tiếp đến Văn phòng Chính phủ (một cơ quan ngang Bộ, phục vụ thủ tướng). Điều này không báo trước điềm may cho việc cải cách khu vực kinh tế thuộc sở hữu nhà nước, nếu quyền hành không được uỷ thác, ảnh hưởng chính trị và tham nhũng vẫn tràn lan như hiện tại.
Điềm gở cho cải cách đó là chính phủ có kế hoạch tạo ra hai nhóm kinh tế mới trong lĩnh vực xây dựng. Hai tập đoàn mới này, Tập đoàn Xây dựng Công nghiệp và Tập đoàn Phát triển Nhà và Đô thị, cả hai nằm dưới sự quản lý của Bộ Xây dựng. Hai tập đoàn này sẽ phục vụ như là các công ty cốt lõi cho tất cả các công ty xây dựng thuộc sở hữu nhà nước mà vẫn chịu sự quản lý của Bộ; SCIC không đóng một vai trò gì trong vấn đề quản lý. Một trong những lập luận đưa ra đối với việc lập nên hai cơ quan siêu quyền lực mới để củng cố những ngành này là sẽ nội địa hoá lĩnh vực xây dựng và các công ty bất động sản để có thể cạnh tranh với các đối thủ nước ngoài tràn vào mà dự kiến sẽ diễn ra như là kết quả của sự tự do hoá trên thị trường sau khi Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới năm 2007.
Tài chính là một lĩnh vực quan trọng trong việc cải cách, thế nhưng ở đây cũng đã có những bước thụt lùi. Việc cổ phần hóa đã bị trì hoãn một thời gian dài, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV) thuộc sở hữu nhà nước đã chính thức hoãn lại cho đến nửa đầu năm 2010. BIDV ban đầu được dự kiến sẽ cổ phần hoá trong năm 2007, thế nhưng như trường hợp của Ngân hàng Nhà ở Cửu Long thuộc sở hữu nhà nước, quá trình [cổ phần hoá] này đã bị trì hoãn nhiều lần. Kế hoạch hiện tại là giá trị của ngân hàng vào thời điểm cuối năm 2009, và sau đó cố gắng bán 20% cổ phần của ngân hàng cho một hoặc nhiều nhà đầu tư chiến lược và bán thêm 10% nữa cho các cá nhân bỏ tiền ra đầu tư. Trong số các ngân hàng thương mại lớn trong nước, Vietcombank và VietinBank đã được liệt kê cổ phiếu trên sàn chứng khoán chính trong nước, Công ty Giao dịch Chứng khoán Hồ Chí Minh. Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và Ngân hàng Nhà ở Cửu Long đứng sau cùng, vẫn chưa cổ phần hoá bất kỳ cổ phiếu nào. Chính phủ cũng sở hữu và điều hành hai ngân hàng gọi là chính sách, Ngân hàng Chính sách Xã hội Việt Nam và Ngân hàng Phát triển Việt Nam, nhưng đây không phải là tổ chức thương mại và ít có khả năng được cổ phần hoá.
Người dịch: N.T.
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2009


Trung Quốc và Việt Nam chuyển thế tiến công vào Lào
ASIA TIMES
Trung Quốc và Việt Nam
Chuyển thế Tiến công vào Lào
Bài của Brian McCartan
Ngày 30-8-2008
Những ảnh hưởng đang lớn dần của Trung Quốc tại nước Lào giàu tài nguyên đã được một số người coi như biểu hiện làm phương hại tới những mối quan hệ chặt chẽ với Việt nam, vốn từ lâu đã là nhà bảo trợ chính và đảm bảo an toàn trên thực tế cho Lào. Điều chỉnh chính sách ngoại giao là một phần trong nỗ lực của đất nước nằm sâu trong đất liền này nhằm hòa nhập đầy đủ hơn về kinh tế với khu vực và cho tới lúc này đã đáp ứng tốt cho những quyền lợi của mình.
Lào có ý nghĩa quan trọng chiến lược ngày càng tăng đối với cả Trung Quốc và Việt Nam, hai trong số những quốc gia đang phát triển nhanh nhất Á châu. Các nguồn lợi của Việt Nam nằm chủ yếu trong vùng đất được đảm bảo an toàn trải dài trên tuyến biên giới giáp với Lào và tuyến đường đang phát triển mạnh hơn tới các thị trường ở Thái Lan. Đối với Trung Quốc, Lào cung ứng tuyến đường đang lớn dần cho việc xuất khẩu các sản phẩm tới vùng Đông nam Á rộng lớn, đặc biệt từ những khu vực nằm sâu trong đất liền phía tây nam xa xôi và kém phát triển hơn của Trung Quốc.
Cả hai quốc gia này đều có một mối quan tâm lớn dần đối với tài nguyên thiên nhiên phong phú và phần lớn chưa khai thác, các sản phẩm nông nghiệp và thủy điện của Lào nhằm cung ứng nhiên liệu cho nền kinh tế đang phát triển của mình.
Một số nhà phân tích ở đây dự đoán rằng cán cân quyền lực bên trong Đảng Nhân dân Cách mạng Lào (LPRP) có thể sớm chuyển hướng về phía Trung Quốc với lối xử sự hậu hĩ, khi những nhà lãnh đạo kỳ cựu của Lào lu mờ dần trên chính trường và ban lãnh đạo trẻ hơn, am hiểu kinh tế thị trường hơn, ít trải qua giai đoạn cách mạng cộng sản, nắm lấy các vị trí quyền lực.
Mặc dù 10 trong số 11 ủy viên thường vụ bộ chính trị nói tiếng Việt trôi chảy – một dấu hiệu cho thấy những mối gắn kết sâu sắc của họ với Hà Nội và ban lãnh đạo chính trị nước này – số cán bộ nòng cốt trung cấp đang nổi lên hầu như ít học tập ở Việt Nam hơn trong khi một số lượng ngày càng đông đã và đang học tập tại Liên Xô cũ, Trung Quốc hoặc các nước khác.
Việc bổ nhiệm Thủ tướng Lào Bouasone Bouphavanh tại Đại hội Đảng lần thứ Tám năm 2006 được nhiều người cho là sự bắt đầu của một bước chuyển dịch theo ảnh hưởng của Trung Quốc hơn lên chính phủ nước này. Sinh năm 1954, ông từng là một nhà hoạt động 21 tuổi trong phong trào sinh viên và không phải là một cựu binh trong chiến tranh cách mạng khi những người cộng sản giành được chính quyền ở nước này năm 1975. Sau đó ông đã sang học tập tại Liên Xô thay vì Hà Nội.
Trong hiện thực rõ ràng của sự thay đổi này, Trung Quốc đã nắm lấy và thực hiện một chiến lược ngoại giao dài hạn đối với Lào. Thay vì tận dụng lực đòn bẩy bằng thế mạnh thương mại của mình, Bắc Kinh đang đồng thời nuôi dưỡng những lãnh đạo trẻ hơn của Lào thông qua các chương trình đưa họ sang Trung Quốc để huấn luyện nghề nghiệp, ý thức hệ và quân sự. Những động thái này được thực hiện trong trạng thái chuẩn bị cho một thời hoàng kim đang qua đi khi đội cận vệ già thân Việt Nam lui dần khỏi chính trường.
Trong một cuộc phỏng vấn với tờ Asia Times Online, người phát ngôn của Lào ông Yong Chanthalangsy đã cho thấy khía cạnh thực dụng trong tư tưởng của Lào. Lưu ý rằng Trung Quốc hiện là cường quốc mới đang nổi lên trong khu vực, ông nói, “Cởi mở và hòa nhập trong khu vực tốt hơn là cuộc Chiến tranh Lạnh trong quá khứ bị áp đặt bởi một số cường quốc. Khi Lào đã là một phần của một vành đai an ninh, nó đã đi theo và lãnh hậu quả ba mươi năm chiến tranh.”
Mặc dù đề cập tới cuộc Chiến tranh Đông Dương dài lâu và ác liệt hơn với Hoa Kỳ, và trước đó với Pháp, nhưng có lẽ không thể chối cãi được là ông đã ám chỉ đến kỷ nguyên của những mối quan hệ giá lạnh giữa Lào và Trung Quốc trong khoảng thời gian giữa những năm 1975 và 1988. Giờ đây, khi các quốc gia cựu cộng sản trong khu vực cải cách nền kinh tế kế hoạch hóa từ trung ương của mình bằng các chính sách hướng thị trường hơn, nhu cầu giao thương đang đánh giá lại cách thức tương tác với nhau trong khu vực, trong đó có với Lào.
Xác định vị trí mang tính thương mại
Giờ đây Lào đang háo hức nâng địa vị lên như là “xứ sở của sự nối kết” thay vì là “đất nước nằm sâu trong đất liền”, làm nổi bật vai trò đầy tiềm năng của mình như một ngã tư giao thương giữa Trung Quốc và Đông nam Á. Theo người phát ngôn Yong, “Lào đã và đang phải chịu nhiều khó khăn gian khổ bởi vị trí biệt lập sâu trong nội địa. Việc kết nối với trong vùng chỉ có thể mang lại những gì tốt đẹp cho Lào.”
Quan điểm này nói lên một điều rằng Lào hiểu rõ những giá trị trong việc đa dạng hóa đường lối ngoại giao của mình rời xa khỏi sự nhờ cậy vào Việt nam theo truyền thống. Hành động giữ cân bằng cũng đã được mở rộng ra với các nhà bảo trợ một thời ở phương Tây: trong khi kiên định chấp nhận những khoản đầu tư và viện trợ để thúc đẩy nền kinh tế, tạo công ăn việc làm và nâng cao mức sống, cùng lúc, chính phủ cũng muốn tránh né những điều kiện cho sự thay đổi về hiện tình chính trị và tăng cường tính minh bạch trong thủ tục hành chính thường giúp đẩy mạnh nguồn viện trợ đó.
Mặt khác, các khoản đầu tư từ Trung Quốc và Việt Nam đều không cần điều kiện ban đầu. Theo một nghiên cứu chuyên đề năm 2005 của tổ chức danh tiếng Martin Stuart-Fox, những quan tâm chiến lược nhất của Trung Quốc và Việt Nam không phải là làm cho LPRP mất hết độc quyền lãnh đạo chính trị và với sự hỗ trợ thương mại của cả hai quốc gia này đang làm cho LPRP có được ít cơ may khởi đầu những cải thiện chính trị.
Mối quan hệ mật thiết của Việt Nam với Lào xuất phát từ cội nguồn của hai đảng cộng sản hai nước từ Đảng Cộng sản Đông Dương trong những năm 1930. Mối quan hệ này được thắt chặt hơn nữa trong ba mươi năm đấu tranh chống thực dân Pháp và rồi với một chế độ có sự hậu thuẫn của người Mỹ và cuối cùng bị lật đổ vào năm 1975.
Quân đội Lào và Việt Nam cộng sản đã cùng sát cánh chiến đấu trong suốt các cuộc chiến tranh này; tuyến đường vận chuyển hàng hóa của Bắc Việt Nam thời kỳ đó – Đường mòn Hồ Chí Minh – chạy qua miền đông lãnh thổ Lào, và đã được sử dụng hiệu quả trong cuộc chiến của Bắc Việt chống lại chính quyền Nam Việt Nam được Hoa Kỳ ủng hộ. Lực lượng nòng cốt cộng sản Lào đã được đào tạo tư tưởng và quân sự tại Hà Nội, trong khi sự dính líu của Trung Quốc vào cuộc chiến tại Lào chỉ hạn chế trong việc mở tuyến đường tại các vùng đất phía bắc nước này.
Năm 1977, Lào và Việt Nam đã gia nhập một Hiệp ước Hợp tác và Hữu nghị chính thức Lào-Việt trong hai mươi lăm năm, làm cơ sở cho những gì mà hai bên đã coi như là một “mối quan hệ đặc biệt”. Hành động đứng về phía Liên Xô chống lại Trung Quốc của Việt Nam trong một cuộc tranh cãi về chủ thuyết đã làm cho các mối quan hệ giữa đồng minh Lào của nước này với Trung Quốc cũng lạnh giá đi. Các mối quan hệ đã trở nên tồi tệ hơn khi Việt Nam xâm chiếm Cambodia vào cuối năm 1978 và Trung Quốc đã mở một cuộc xâm lăng có giới hạn vào vùng phía bắc Việt Nam cuối năm 1979.
Các quan hệ song phương giữa Lào và Việt Nam vẫn khăng khít mặc dù liên minh 1977 thừa nhận chấm dứt vào năm 2002. Các quan hệ mang tính cá nhân giữa các nhà lãnh đạo hai nước Lào và Việt Nam vẫn đủ vững chắc về mặt chính trị cho “mối quan hệ đặc biệt” được tiếp tục. Hệ thống truyền thông do nhà nước Lào quản lý chứa đựng hầu hết tin tức hàng tuần của hoạt động hợp tác song phương về kinh tế xã hội, văn hóa và quân sự giữa hai quốc gia. Những khẩu hiệu được dăng khắp nơi trên đất nước Lào mừng kỷ niệm lần thứ 45 thiết lập quan hệ ngoại giao và 30 năm Hiệp định Hợp tác và Hữu nghị Lào-Việt.
Trong khi đó, Việt Nam vẫn là bạn hàng lớn thứ nhì trong trao đổi thương mại với Lào. Ủy ban Hợp tác Việt-Lào đã cho biết vào tháng Bảy rằng buôn bán hai chiều giữa hai nước đã đạt 240 triệu đô la trong nửa đầu năm nay, tăng 58% năm. Hai nước đã bắt đầu cho một mục tiêu chung nhằm đạt được trao đổi thương mại song phương 1 tỉ đô la vào năm 2010 và 2 tỉ vào năm 2015.
Đua tranh đầu tư
Việt Nam rõ ràng cũng ganh đua với Trung Quốc trong ảnh hưởng đầu tư. Các con số được đưa ra tại một hội nghị ngày 12 tháng Tám về hợp tác đầu tư Việt-Lào được tổ chức ở Viêng Chăn cho thấy rằng đầu tư của Việt Nam đã tăng lên 177 dự án với 1,28 tỉ đô la. Nếu con số là chính xác thì điều này sẽ đưa Việt Nam lên thành nhà đầu tư lớn thứ hai tại Lào, sau Thái Lan và đẩy Trung Quốc xuống hàng thứ ba.
Các lĩnh vực đầu tư bao gồm khai mỏ, trợ giúp nông nghiệp và gia công chế biến. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã đầu tư mạnh vào các đồn điền cao su tại phía nam Lào, đặc biệt là hai tỉnh Savannakhet và Champassak. Lào cũng ngày càng được coi là một nguồn thủy điện tiềm tàng và có thông tin cho hay PetroVietnam và Điện lực Việt Nam đang lên kế hoạch cho những dự án mới tại nước này.
Để tạo điều kiện thuận lới cho thương mại và đầu tư và mở đường vào các thị trường tại Thái Lan và những nước còn lại của Đông nam Á, Việt Nam đã tất bật xây dựng các con đường tại phía đông Lào như là một phần của dự án mở tuyến đường Hành lang Đông-Tây thuộc Tiểu vùng Thượng nguồn Mekong, nhằm nối liền Việt Nam, Lào, Thái Lan, Myanmar và Ấn Độ. Mắt xích quan trọng nhất là con đường nối bến cảng Đà Nẵng ở miền trung Việt Nam với cái gọi là “Nhịp cầu Hữu nghị Thứ hai” kéo dài suốt sông Mekong nối liền Savannakhet của Lào với Mukhdahan Thái Lan.
Trong lúc các quan hệ thương mại phát triển nhanh chóng, những gắn kết về an ninh giữa hai nước có lẽ đã được xác lập chặt chẽ hơn. Cho tới ít nhất là cuối thập kỷ 1980, có 40.000 đến 50.000 binh lính Việt Nam được cho rằng đã đồn trú ở Lào. Mặc dù Việt Nam đã rút quân đội của mình về vào những năm 1990, nước này vẫn duy trì công việc huấn luyện lực lượng cốt cán của Lào, và theo một số nguồn tin, cơ quan tình báo quân đội Việt Nam đang trú đóng ở đây. Quân đội Lào tiếp tục sang Việt Nam để có được những hướng dẫn về quân sự, đặc biêt là những mối quan ngại đối với tình hình nổi dậy của người dân tộc thiểu số Hmong. Theo một số nhà phân tích, các đoàn đại biểu quân đội Lào tới Việt Nam năm 1999 và 2000 đã đề nghị tìm những lời khuyên sau những phản kháng và một làn sóng đánh bom bí ẩn khắp thủ đô Viêng Chăn.
Trong mối tương phản, Trung Quốc chỉ khôi phục các mối quan hệ ngoại giao thông thường với Lào năm 1988 – song giờ đây đang nhanh chóng bù đắp lại quãng thời gian đã mất. Trung Quốc có thể tăng cường mạnh mẽ ảnh hưởng của mình tại Lào bằng việc cứu giúp nước này từ cơn khủng hoảng tài chính Á châu năm 1997 thông qua việc tăng cường các khoản viện trợ, đầu tư và thương mại. Những món trợ cấp xuất khẩu hào phóng và các khoản vay không tính lãi đã giúp ổn định đồng kíp nội tệ đang chao đảo của Lào.
Kể từ sau đó, một loạt những thỏa thuận song phương đã được ký kết kèm theo việc hợp tác kinh tế, kỹ thuật, phát triển hạ tầng cơ sở và đầu tư, ngân hàng. Vào năm 2000, Chủ tịch Giang Trạch Dân đã thực hiện chuyến viếng thăm đầu tiên của một lãnh đạo nhà nước Trung Quốc tới quốc gia này, dọn đường cho việc tiếp tục những trao đổi cấp cao giữ hai chính phủ. Theo nguồn tin báo chí Trung Quốc, Bắc Kinh đã xóa khoản nợ 1,7 tỉ đô la của Lào vào năm 2003.
Mối quan của Trung Quốc ở Lào chủ yếu là về kinh tế, do nước này vừa là một nguồn tài nguyên thiên nhiên và vừa là một tuyến đường trung chuyển hàng hóa do Trung Quốc sản xuất đi tới Đông nam Á. Các nhà đầu tư Trung Quốc chú tâm nhiều vào thủy điện ở Lào và một vài đập nước đang được xây dựng với nhiều đập nước khác đang trong giai đoạn lập kế hoạch. Khai mỏ cũng là một lĩnh vực quan trọng trong đầu tư, với những hình thức nhượng quyền được ban cho các nhà đầu tư Trung Quốc, gồm vàng, đồng, sắt, kali và bô-xít.
Cả nông nghiệp thương mại cũng giống như vậy, với các khoản đầu tư mạnh mẽ của Trung Quốc vào trồng ngô, sắn, mía và cao su tại các khu vực phía bắc để xuất khẩu sang Trung Quốc.
Lưu tâm tới công nghệ, giống và thị trường mới đã được đưa tới bởi đầu tư của Trung Quốc, người phát ngôn Yong nói rằng “các quan hệ được cải thiện và đang rộng mở đối với Trung Quốc tại sáu tỉnh (phía bắc) này đã có một lợi ích ngay tức khắc.”
Mậu dịch hai chiều đạt 249 triệu đô la năm 2007, nhưng chỉ ngang với Việt Nam, Trung Quôc cho biết nước này hy vọng buôn bán song phương sẽ lên tới 1 tỉ đô la trong ít năm tới. Theo Uỷ ban Kế hoạch và Đầu Tư Lào, Trung Quốc đã đầu tư trực tiếp 1,1 tỉ đô la vào tháng Tám năm 2007, làm cho nước này trở thành nhà đầu tư lớn thứ hai sau Thái Lan.
Trong chuyến viếng thăm của Thủ tướng Trung Quốc Ôn [Gia Bảo] tới Viêng Chăn tháng Ba, đồng thời dự Hội nghị thượng đỉnh Tiểu vùng Thượng nguồn Mekong, bảy thỏa thuận đã được ký kết giữa hai nước trải rộng trong các vấn đề về kinh tế, kỹ thuật, năng lượng và chính phủ điện tử. Trung Quốc cũng đã đề nghị một khoản tín dụng cho xuất khẩu sản phẩm gồm xe hơi và máy bay trực thăng. Các khoản vay mượn từ Trung Quốc cũng đã giúp thành lập Công ty Lao Telecom và Lao Asia Telecom, lập những dự án chính phủ điện tử và mua máy bay cho hãng Lao Aviation.
Trung Quốc đã dành sự chú ý đặc biệt cho phát triển mở rộng nhanh chóng mạng lưới đường xá phía bắc Lào. Tái thiết tuyến Đường số 3, đối diện với Siêng Khoảng, Thái Lan, qua Lào tới thị trấn Huay Xai, nối với thành phố Jinghong của tỉnh Yunnan, Trung Quốc, đã hoàn thiện từ đầu năm nay. Xây dựng một cây cầu – bằng công quỹ nhà nước Trung Quốc – ngang qua Sông Mekong để hoàn hoàn tất con đường này, được cho rằng sẽ bắt đầu khởi công vào cuối năm nay. Dự án đường xá là một phần trong Hành lang Bắc-Nam của Tiểu vùng Thượng nguồn Mekong nối Trung Quốc, Lào và Thái Lan. Trung Quốc hy vọng rằng tuyến đường này sẽ cho phép nước này vận chuyển hiệu quả hơn hàng hóa qua Thái Lan tới phần còn lại của Đông nam Á và cung cấp một mắt xích nối kết với các cảng biển của Thái.
Quyền lực mềm và cứng
Tuy nhiên không phải tất cả các nguồn đầu tư của Trung Quốc đều hoàn toàn mang tính chất thương mại. Nỗ lực đáng kể – cộng với tiền bạc – đã được sử dụng cho những dự án “ảnh hưởng mềm”, bao gồm xây dựng Nhà Văn hóa Quốc gia trị giá 7 triệu đô la do Trung Quốc tài trợ, Đại lộ Trung tâm dài 13 km, nâng cấp Đài tưởng niệm Chiến thắng Patuxai và công viên xung quanh đài tại Viêng Chăn. Trung Quốc cũng xây dựng một Bệnh viện Hữu nghị Trung-Lào ngay bên ngoài thị trấn du lịch và là cố cung Luang Prabang. Ngoài ra, số lượng tăng dần các cán bộ nòng cốt của LPRP đang tham dự những khóa huấn luyện và hội thảo tại Trung Quốc, nhiều hoạt động được tổ chức tại thành phố Côn Minh phía nam Trung Quốc, trong khi ngày càng có nhiều các học bổng cho học sinh Lào tới học tập tại Trung Quốc.
Đặc biệt, Trung Quốc đã xây dựng những mối gắn kết kinh tế này nhằm tạo nên những thế chủ động quân sự chiến lược trong quan hệ với Lào, được một số nhà quan sát nhìn nhận như là một mối đe doạ tiềm tàng đối với vị thế của Việt Nam. Các tiếp xúc mới đây giữa Quân đội Nhân dân Lào (LPA) và Quân Giải phóng Nhân dân Trung Quốc (PLA) đã được tăng cường, trong khi số sĩ quan Lào đang tham gia huấn luyện tại Trung Quốc ngày càng tăng.
Theo các nhà phân tích, ngân sách giành cho quân đội của Lào đã được tăng lên đều đặn trong những năm gần đây, và chính phủ không hề nghi ngại trước nhận thức rằng với nền công nghiệp quốc phòng khổng lổ của Trung Quốc và thái độ sốt sắng đã được minh chứng của Bắc Kinh trong trao đổi khí tài hạng nặng cho quân đội với những ưu đãi thương mại được đánh giá tốt hơn cho việc hiện đại hóa quân đội nước này thông qua những mối gắn kết gần gũi thêm với Trung Quốc hơn là Việt Nam.
Tuy nhiên, không phải ai ai cũng vui lòng với vai trò đang gia tăng của Trung Quốc. Trong khi nhiều người Lào hồ hởi tiếp nhận những hàng hóa rẻ hơn sản xuất tại Trung Quốc, họ không phải lúc nào cũng tán dương những gì được nhìn thấy khi mà một dòng di dân Trung Quốc ngày càng tăng vào đất nước này và một ảnh hưởng lớn thêm dần của Trung Quốc đối với chính phủ ở đây. Lào lo ngại về một “cuộc xâm lăng từng bước của Trung Quốc” có lẽ hầu như rõ rệt qua thái độ phản đối được thể hiện trong sự thức tỉnh từ thông báo của chính phủ về một một nhượng bộ đất đai to lớn cho các nhà đầu tư Trung Quốc gần ngôi đền That Luang mang tính biểu tượng của Phật giáo tại Viêng Chăn.
Trong lúc sự trợ giúp đất đai đặc biệt có vẻ như được thực hiện qua trao đổi với Trung Quốc để xây dựng một tổ hợp sân vận động thể thao mới hiện đại giành để sử dụng khi Lào đăng cai Đại hội Thế thao Đông nam Á 2009, thì sự sắp đặt này rõ ràng đã gây phẫn nộ cho một số đảng viên LPRP là những người không được tham khảo ý kiến về bản thỏa thuận. Mặc dù chính phủ đã tỏ ra đặc biệt cố gắng xua tan những lời đồn đại, song nó vẫn tiếp tục dai dẳng.
Cựu chủ tịch nhà nước Lào Kaysone Phomvihan từng nói, “Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song tình hữu nghị Lào-Việt sẽ đời đời bền vững.” Điều đó có thể đúng, bởi tính chất địa lý đặc biệt cũng như quá khứ lịch sử, song cuộc ganh đua Trung Quốc-Việt Nam để có được ảnh hưởng đối với Lào đang diễn ra cao độ và cho đến giờ đất nước này đã được hưởng những món lợi tuyệt vời trong việc cân bằng màn ve vãn của hai vị láng giềng.
Brian McCartan là một nhà báo tự do trú tại Chiềng Mai.
Hiệu đính: Blogger Trần Hoàng
Bản tiếng Việt © Ba Sàm 2008

Tổng số lượt xem trang