Chủ Nhật, 3 tháng 4, 2011

Hoa Kỳ Huyền Bí - Nhìn Từ Tây Tạng (Nguyễn Xuân Nghĩa)

-Hoa Kỳ Huyền Bí - Nhìn Từ Tây Tạng
"Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài"   
Nguyễn Xuân Nghĩa - Người Việt - ngày 20100221

Hãy nhìn đôi chân bậc hiền giả... 

Ai đang thuyết pháp? Đức Đạt Lai Lạt Ma và Tổng thống Obama
Hình của toà Bạch Cung

Khi hội kiến với đức Đạt Lai Lạt Ma tại tòa Bạch Cung, Tổng thống Barack Obama đã tặng vị lãnh đạo Phật giáo Tây Tạng bản sao của lá thư mà một vị tiền nhiệm xa xưa là Franklin Roosevelt đã gửi ngài vào tháng 12 năm 1942. Nguyên bản thì bị hủy trong những biến động lịch sử tại thủ đô Lhasa của Tây Tạng năm 1959. Bây giờ, đức Đạt Lai Lạt Ma mới thấy lại lá thư gần như của tiền kiếp, khi đó được hai sứ giả đưa tới với tặng vật là một chiếc đồng hồ Rolex....

Biết đâu chừng, nhờ đó mà đức Đạt Lai Lạt Ma sẽ suy ngẫm lại về quan hệ của Tây Tạng với Hoa Kỳ trong 68 năm qua, từ khi ngài mới là đứa trẻ lên bảy. Nói vậy là sai! Có lẽ ngài là người suy ngẫm về chuyện ấy mỗi ngày. 

Chúng ta sẽ hiểu tại sao và nên hiểu tại sao...


*** 


Sau Thế chiến I, Hoa Kỳ trở thành cường quốc thế giới nhưng còn mù mờ về Á châu. Cho tới khi Trân Châu Cảng Pearl Harbor bị Phát xít Nhật tấn công vào ngày bảy tháng 12 năm 1941. 

Ngay hôm sau, Tổng thống Roosevelt quyết định khai chiến với Nhật. Ba ngày sau, Đức Quốc xã cùng Phát xít Ý nhảy vào cuộc. Khi ấy, người Mỹ mới lật đật đi học về dịa dư Á châu và các chiến lược gia mới đi vẽ bản đồ, lúc ban đầu còn tập trung vào khu vực Đông Á.

Tới khi Nhật Bản tiến vào Miến Điện và có thể cắt đường liên lạc từ Nam Á vào Hoa Lục thì việc tiếp vận cho Trung Quốc từ Ấn Độ mới được Hoa Kỳ đặt ra.

Hoa Kỳ khi ấy mới để ý đến một xứ hiểm trở xa lạ, vùng trái độn giữa ba cường quốc là Trung Quốc, Ấn Độ và Nga Xô, một xứ bát ngát bằng cả Tây Âu. Nghe nói xứ Tây Tạng huyền bí đó theo đạo Phật dưới sự lãnh đạo của một cậu bé sáu bảy tuổi mà người dân gọi là Phật vương, Phật sống hay Hoạt Phật gì đó. 

Còn bản đồ xứ này thì là một vùng trắng toát! Chẳng vì bị tuyết phủ trên rặng Hy Mã Lạp Sơn mà vì người Mỹ chưa biết vẽ viết gì lên trên: các bản đồ sơ sài mà họ có là do Đế quốc Anh để lại sau khi đòi chinh phục xứ này vào năm 1904.

Với các nhà chiến lược gia Hoa Kỳ, hình như xứ Tây Tạng đó ít muốn tiếp xúc với bên ngoài và yên phận làm chư hầu của Trung Quốc.

Nếu từ Ấn Độ qua Tây Tạng mà tiếp vận cho Trung Quốc để chặn đà bành trướng của Nhật, thì giải pháp tiện lợi tất nhiên là hỏi thẳng Chính quyền Trung Hoa Dân Quốc của Tưởng Giới Thạch, vừa chống Phát xít Nhật, vừa tấn công quân Cộng sản của Mao Trạch Đông. May sao, Chính quyền này lại cho biết là họ kiểm soát được Tây Tạng. Cán bộ của họ có thể hướng dẫn một phái đoàn Hoa Kỳ vào thủ đô Lhasa gặp triều đình Tây Tạng.

Mỹ cứ nói chuyện với "người lớn" như vậy là xong!

Y như Đế quốc Anh trước đó, Hoa Kỳ đã lầm to. 


*** 


Dân Tây Tạng có tinh thần độc lập rất cao, họ  không chịu là chư hầu Trung Quốc và xứ này đã tuyên bố độc lập từ khi nhà Mãn Thanh sụp đổ sau Cách mạng Tân Hợi năm 1911. Còn cán bộ của Tưởng Giới Thạch có vài mống lèo tèo, thì đã bị gạt ra ngoài Lhasa từ lâu rồi. Và lập trường của Nội các Tây Tạng, gọi theo tiếng Tây Tạng là Kashag, là sẽ đón tiếp phái bộ Mỹ, qua sự thu xếp của người Tây Tạng chứ không qua cán bộ của họ Tưởng!

Tổng thống Roosevelt bèn yêu cầu trưởng ngành tình báo Office of Strategic Services (tiền thân của CIA) là Chuẩn tướng William Donovan - hỗn danh là "Wild Bill" - lập đường dây tiếp xúc.

Dự án tình báo đó của Tướng Donovan mang mật hiệu FE-2, được Roosevelt chấp thuận vào tháng Năm năm 1942. Đến tháng 12, phái bộ do Tướng Donovan gửi đi đã vào tới Lhasa. Họ đem theo lá thư và món quà của Tổng thống Mỹ gửi đức Đạt Lai Lạt Ma với danh hiệu "Tăng thống" chứ không phải là "Quốc trưởng". Cho an toàn về ngoại giao!

Bản sao lá thư đó vừa được ông Obama trao lại cho người nhận nay đã 75 tuổi.

Cầm đầu phái bộ là cháu nội văn hào Tolstoy của Nga, Đại úy Ilyia Tolstoi, khi đó vẫn còn tước vị Bá tước của Nga, lại có nhiều quan hệ với giới quý tộc Anh tại Ấn Độ. Người kia là Trung úy Brooke Dolan II, một sĩ quan uyên bác đã tốt nghiệp Princeton và Harvard và từng thám hiểm vùng Đông Bắc Tây Tạng và miền Tây Trung Quốc cho Hàn lâm viện Khoa học Tự nhiên của Philadelphia.

Phái bộ vào Tây Tạng, ăn Tết Quý Mùi 1943 tại thủ đô Lhasa sau khi gặp nhiều giới chức trong Nội các Kashag, kể cả đức Đạt Lai Lạt Ma năm đó mới là cậu bé bảy tuổi rưỡi, rồi họ trở về với lòng quý trọng dân tộc và văn hoá Tây Tạng.

Nhưng lãnh đạo Mỹ thì vẫn chưa hiểu gì cả!

 Đại úy Nolan và Bá tước Tolstoy chuẩn bị chuyến đi....


***

Tháng Ba năm 1943, Tướng Donovan phúc trình lên Tổng thống Roosevelt kết quả mỹ mãn của chuyến đi: 1) Tây Tạng đồng ý cho Hoa Kỳ chuyển quân cụ qua lãnh thổ Tây Tạng vào Trung Quốc; đổi lại, 2) Hoa Kỳ thiết lập quan hệ ngoại giao để công nhận nền độc lập của Tây Tạng. Việc bang giao là niềm tin và sự trông đợi của Nội các Kashag.

Nhưng họ không ngờ. Phái bộ này không có thẩm quyền ngoại giao. Tình báo thì có chứ bang giao thì chưa!

Ly kỳ hơn thế, ngày 26 tháng Ba 1943, Tổng thống Roosevelt trả lời phúc trình của Donovan, với sự duyên dáng của một con bò: 

"Anh Bill thân,
Cám ơn đã gửi lá thư của Kashag. Tôi chưa hề thấy một con Kashag. Tôi chẳng bao giờ muốn thấy. Nhưng lần này, tôi biết và biết rõ, rằng thà mình gặp một con còn hơn mình là một con! Gửi anh lời chúc tốt đẹp nhất,"
Ký tên Franklin D. Roosevelt

Cuối thư, Roosevelt còn ghi ở đoạn tái bút sự xuẩn động bất ngờ từ một Tổng thống Mỹ: "Tôi mới biết rằng Kashag là một Nội các. Nhưng những nhận xét ở trên vẫn có giá trị."

Người viết phải bình giải về lối chơi chữ tưởng là có duyên của Roosevelt. Thời ấy, dân Mỹ phổ biến một thành ngữ xuất phát từ bài thơ "Con Bò Tím" - Purple Cow - của Gelett Hurgess: "Tôi chưa hề thấy một con bò tím và không hề mong thấy nó."

Sự thản nhiên tới vô tâm của lãnh đạo nước Mỹ trong thời chiến sẽ còn được nhiều lãnh tụ nối tiếp duy trì trong khi dân Tây Tạng cứ oằn mình chịu đựng và tưởng rằng có sự yểm trợ của Mỹ về độc lập hay nhân quyền. Đúng ba chục năm sau chuyện con bò tím, khi cần bắt tay với Trung Quốc, Richard Nixon sẵn sàng cho các nước nhỏ của Á châu số phận của con dê tế thần.

Từ Roosevelt tới Nixon là những trò chơi nửa mùa của Hoa Kỳ.

Khi lãnh đạo Mỹ thờ ơ với Tây Tạng như vậy thì việc đầu tiên của Mao sau khi giải phóng Hoa lục vào tháng 10 năm 1949 là... giải phóng luôn Tây Tạng! Tháng 10 năm 1950, Hồng quân Trung Cộng chiếm luôn các tỉnh miền Đông xứ này và tiến hành cải tạo tới toé máu. Phần mình, sau khi hồn nhiên nghĩ rằng đã "bang giao" với Lhasa, Hoa Kỳ lại không hề có phản ứng khi Tây Tạng bị chiếm đóng năm đó. Liên hiệp quốc, Anh và Ấn cũng vậy. Thừa thắng xông lên, khi Mao tiến vào bán đảo Triều Tiên thì Ngoại trưởng Mỹ Dean Achison mới bàng hoàng.

Nếu vậy, Mỹ phải nhìn lại cục diện Á châu! Và quan niệm lại nhu cầu be bờ để ngăn làn sóng đỏ Trung Quốc.

Đấy là lúc Việt Nam và Tây Tạng lại được chiếu cố.

Cụ thể thì từ 1956 đến 1968, trong 12 năm và qua ba triều Tổng thống Eisenhower, Kennedy và Johnson, Hoa Kỳ cho CIA yểm trợ phong trào kháng chiến Tây Tạng chống Trung Cộng. Nhưng từ một căn cứ cũng rất tuyết lũng âm u ở mãi tận... Colorado. Với nhân viên tình báo không rành Tạng ngữ và chưa ai đặt chân lên xứ tuyết này. Có chừng 300 du kích quân Tây Tạng đã được CIA huấn luyện như vậy.

Kết quả là Mỹ thu thập được một số tài liệu tình báo về Trung Cộng, với cái giá là nhiều du kích quân phải hy sinh, bị cầm tù hoặc chạy trốn ra ngoài. Và hậu quả ghê tởm là triều đình Tây Tạng lẫn ban tham mưu của đức Đạt Lai Lạt Ma bị mang tiếng là tay sai của CIA. Mao Trạch Đông mượn lý cớ tri hô là Đế quốc can thiệp vào Tây Tạng để cho quân tấn công thủ đô Lhasa vào mùa Xuân Kỷ Hợi, đầu năm 1959 và hoàn toàn kiểm soát Tây Tạng.

Khi ấy, ở tại Lhasa chỉ có tám người da trắng, đa số là các học giả Anh và Hòa Lan! Đức Đạt Lai Lạt Ma phải sống lưu vong từ đó, từ tháng Ba năm 1959.

Tại Hoa Kỳ, hoạt động của CIA còn bị bộ Ngoại giao Mỹ ngăn chặn - như thường lệ. 

Cố vấn của Kennedy là kinh tế gia đại trí thức John Kenneth Galbraith khi ấy là Đại sứ Mỹ tại Ấn Độ từ 1961 đến 1963, và như nhiều đại trí thức nông cạn, ông ta coi Ấn Độ mới đáng kể. Với Galbraith, Tây Tạng là xứ man rợ đáng tởm - và thiếu vệ sinh. Ông cản trở kế hoạch yểm trợ Tây Tạng và thuyết phục được cậu ấm Kennedy về một quyết định quái gở: chỉ yểm trợ Tây Tạng nếu có sự đồng ý của Ấn Độ. Khi đó, Thủ tướng Ấn  awaharlal Nehru, người bạn của Galbraith, lại đang muốn hoà giải với Bắc Kinh!

Rồi đến Nixon thì chuyện hoà giải với Bắc Kinh thành quốc sách. Khi Henry Kissinger chuẩn bị gặp Chu Ân Lai thì kế hoạch yểm trợ Tây Tạng mặc nhiên chấm dứt. Chuyện Việt Nam của Mỹ cũng vậy!

Cho đến ngày nay, Chính quyền Hoa Kỳ vẫn chưa công nhận Tây Tạng và lãnh đạo Mỹ thì chỉ gặp đức Đạt Lai Lạt Ma "với tư cách riêng". Chẳng khác gì thời Roosevelt.

Tổng thống Bill Clinton có gặp vị lãnh đạo Tây Tang trong tòa Bạch Cung khi "ngẫu nhiên" bước vào văn phòng của một thuộc cấp trong tòa Bạch Cung. Tổng thống George W. Bush thì anh hùng hơn vì đã gặp ngài ba lần, mỗi lần một cách nghiêm túc hơn và còn yêu cầu Bắc Kinh nên đối thoại với ngài. Lần cuối là năm 2006, khi ông Bush tới trước Quốc hội long trọng trao ngài huân chương cao quý nhất của Lập pháp Hoa Kỳ. 

Tổng thống Barack Obama thì phải thoái thác năm ngoái để khỏi làm Bắc Kinh phật ý. Năm nay mới gặp trong một văn phòng nhỏ, với duy nhất một tấm ảnh được phổ biến ra ngoài. Khá hơn Clinton nhưng còn thua Bush.

Lãnh đạo Tây Tạng không thể không rút tỉa những bài học của sự bẽ bàng ấy. 



*** 


Nhưng, họ luôn luôn niềm nở và kiên trì tranh thủ sự ủng hộ của mọi người. Riêng đức Đạt Lai Lạt Ma đã xoay chuyển tình hình bằng đức độ và trí tuệ của mình. Nhờ vậy, dân Mỹ ngày nay đã quan tâm và nhìn Tây Tạng với con mắt khác. Lòng kính trọng của họ với đức Đạt Lai Lạt Ma đang trở thành sức ép chính trị cho Chinh quyền tại thủ đô Washington. Sự hung hăng ngang ngược của Bắc Kinh càng khiến họ thấy giải pháp do ngài đề nghị là ôn hòa và biết điều.

Phần mình, nhìn từ bên ngoài, hay từ bên trên, với một khái niệm thời gian khác biệt, đức Đạt Lai Lạt Ma nghĩ sao? Việc đúng thì phải làm, chưa đạt kết quả trong kiếp này thì còn nhiều kiếp sau! Xa hơn một chu kỳ tranh cử. Ngài còn dí dỏm cho biết mình là Đạt Lai Lạt Ma duy nhất trong 14 vị đã được hội kiến Tổng thống Mỹ!

Người viết có cơ duyên được diện kiến đức Đạt Lai Lạt Ma hai lần - mùa Thu 2006 và mùa Xuân 2007 - và chú ý đến đôi chân của ngài khi hoá thân của Quán Thế Âm Bồ Tát tháo giày co chân ngồi trên ghế nói chuyện. Nhưng lần này, khi gặp Tổng thống Obama giữa mùa tuyết lạnh, ngài lại đi dép. Mà là loại dép Nhật dân Mỹ gọi là "flip-flops." Nhưng dân Mỹ cũng mỉa mai việc các chính khách Mỹ ưa thay đổi lập trường chính trị, nay tả mai hữu, là "flip-flop".

Chẳng lẽ bậc hiền giả này vừa có một thông điệp từ đôi chân của ngài?  


    Đôi chân bậc hiền giả - Hình Getty



(Có độc giả yêu cầu nên xin tìm lại và trình bày bài viết năm ngoái trên nhật báo Người Việt, trong mục "Hoa Kỳ Nhìn Từ Bên Ngoài".  NXN)

Tổng số lượt xem trang