Nguyên Ngọc
Trần Đăng Khoa
I
Tôi vẫn còn nhớ buổi sáng ngày 1 tháng
9 năm 2000. Tại Trụ sở Hội Nhà văn Việt Nam, đã diễn ra một nghi lễ
long trọng: Trao tặng Huân chương Độc lập vì những cống hiến
to lớn trong lĩnh vực văn học nghệ thuật cho 5 nhà văn xuất sắc: Hải
Triều, Thanh Tịnh, Nguyễn Trọng Oánh, Nguyễn Thi và Nguyên Ngọc.
Trong số 5 nhà văn rất nổi tiếng này, chỉ có mỗi Nguyên Ngọc là còn
sống. Nhưng ông lại không có mặt. Nhiều người tỏ ra băn khoăn. Một
nhà văn bảo tôi: “Cái ông Nguyên Ngọc này buồn cười thật. Cứ khụng
khà khụng khiệng. Khó chịu quá”. “Hình như anh Ngọc đi vắng.”. “Vắng
đâu. Về rồi. Về mà vẫn không chịu đến! Cha này xem ra không được!”.
Khi Hội Nhà văn tổ chức đón nhận Huân
chương Độc lập cho ông thì ông vẫn còn lặn lội ở cơ sở cách mạng
vùng ngoại ô thành phố Đà Nẵng. Ông hoàn toàn không biết có sự kiện
này. Báo tin cho ông ngay trong buổi chiều hôm ấy lại là những độc
giả của ông ở Đà Nẵng. Họ tíu tít đến chúc mùng ông. Anh Giám đốc
khách sạn Non Nước còn mang lẵng hoa đến tặng ông. Nguyên
Ngọc rất cảm động vì tấm lòng thương yêu quý trọng của độc giả giành
cho mình. Xem chừng họ còn vui hơn cả ông khi ông được Nhà nước ghi
nhận về sự cống hiến to lớn trong cả một đời cầm súng và cầm bút.
Chiều 7-9- 2000, Nguyên Ngọc về đến Hà
Nội thì sáng ngày 8-9, nhà văn Nguyễn Trí Huân, Phó Tổng thư ký cùng
nhà thơ Nguyễn Hoa, cán bộ Tổ chức Hội, thay mặt Ban Chấp hành đã
đến tận nhà trao ông Huân chương Độc lập hạng nhì của Nhà
nước cùng với lẵng hoa của Hội nhà văn. Phó Tổng thư ký Nguyễn Trí
Huân còn thông báo cho ông biết, ông có 7 triệu đồng tiền đầu tư
sáng tác.
- Ồ, cái đó thì mình không nhận đâu.
Nguyên Ngọc lắc đầu. Nhà văn Nguyễn
Trí Huân cười điềm đạm:
- Đây là lộc chung thôi anh ạ. Lộc của
Nhà nước mà!
- Lộc nào của Nhà nước. Tiền đóng thuế
của dân đấy. Mình không nhận đâu!
- Mọi người đều nhận cả bác ạ - Tôi
chen vào - Nhà văn mình khổ quá. Nhà nước tạo điều kiện thêm để ngồi
làm tác phẩm. Em cũng đã nhận mấy triệu. Mọi người cũng đều nhận cả.
Bác không nhận, thế bằng bác bỉ chúng em à?
- Không! không! - Nguyên Ngọc vội vã
xua tay - Cái này là tuỳ quan niệm của mỗi người thôi. Mình viết
được cái gì thì “bán” cho Nhà xuất bản lấy tiền rồi. Sao bây giờ lại
còn lấy tiền của dân nữa?. Số tiền ấy mình không nhận đâu. Huân đừng
mang đến nhé!
Nguyên Ngọc lại từ chối. Như mấy lần
đầu tư trước đây, ông cũng kiên quyết từ chối. Ở Hội Nhà văn hiện
nay, chỉ có mỗi Nguyên Ngọc là chưa nhận tiền tài trợ lần nào. Mà
ông “gàn” lắm! Cực đoan lắm. Có người bảo, Nguyên Ngọc đã quyết cái
gì thì không ai có thể ngăn cản nổi. Có túm tay ông kéo lại thì lập
tức ông hoá thành anh La Văn Cầu, rút mã tấu chặt phéng ngay cái
cánh tay bị níu giữ ấy mà xông lên. Việc từ chối tiền đầu tư cũng
thế. Tôi biết Nguyên Ngọc rất nghèo. Số lương hưu của hai vợ chồng
ông có đáng là bao. Nguyên Ngọc lại đi thực tế liên miên, mà đi xa,
đi tự túc. Tính ông lại khảnh. Đã thế ông lại không chịu viết tạp.
Thế thì làm sao mà có được tiền. Một lần nhà văn Nguyễn Thị Như
Trang đến thăm ông, thấy trên mâm chỏng trơ hai cái xoong. Một xoong
cơm, một xoong canh. Thức ăn không cho ra bát. Người ăn cứ múc thẳng
từ nồi. Đấy là lối ăn theo kiểu thời chiến của lính trận. Chiến
tranh đã kết thúc cách đây hơn một phần tư thế kỷ rồi, vậy mà Nguyên
Ngọc vẫn chưa ra khỏi cuộc chiến. Cho đến tận bây giờ, ông vẫn không
biết đi xe máy, cũng không biết đi cả xe đạp. Cứ túc tắc cuốc bộ. Và
ông bước phăm phắp như lính cắt rừng.
- Sao tôi được nhận Huân chương Độc
lập hạng nhì mà Nguyễn Thi lại chỉ hạng ba. Nguyễn Thi phải hơn tôi
chứ. Tôi so với anh Thi sao được ?
Nguyên Ngọc tỏ ra rất băn khoăn.
Nguyễn Trí Huân chỉ còn biết nở nụ cười của Phật bà Quan âm. Bởi
điều ấy nằm ngoài tầm tay Hội Nhà văn rồi. Có lẽ Ban Thi đua Khen
thưởng Nhà nước cứ chiểu theo Quy chế, căn cứ vào độ dài của thời
gian phục vụ trong chiến trường. Nguyễn Trọng Oánh và Nguyên Ngọc
lặn lội trong lửa đạn suốt hơn chục năm trời, hết chiến tranh mới ra
Bắc. Còn Nguyễn Thi thì ngay từ năm 1968, ông đã hy sinh rồi. Nguyễn
Thi ở chiến trường mới được có bốn năm. Còn cả một đời, Nguyễn Thi
nằm trong lòng đất và đến nay vẫn không tìm thấy hài cốt ở đâu…
Nguyên Ngọc ngồi lặng. Gương mặt đượm
buồn. Ông và Nguyễn Thi cùng đi B một ngày. Bấy giờ, Nguyên Ngọc đi
nhẹ nhàng lắm, vì ông chưa có vợ con. Còn Nguyễn Thi thì đã có vợ.
Người vợ trẻ của ông lại vừa sinh con trai đầu lòng. Nhà thơ Vũ Cao
còn nhớ buổi chia tay Nguyễn Thi. Bữa đó, ông rủ Nguyễn Thi ra phố.
Ông muốn mời bạn ăn một bát phở bò. Nhà
văn
thời
đó
nghèo xơ
xác. Trong túi Vũ Cao cũng chỉ đủ số tiền cho một bát phở thôi. Chả
lẽ chỉ bạn ăn, còn mình thì ngồi suông ngắm bạn? Hình như cũng hiểu
được nỗi băn khoăn của Vũ Cao, Nguyễn Thi bảo ông chỉ thèm khoai
lang luộc thôi. Trời, tưởng gì, chứ khoai lang thì rẻ lắm. Số tiền
trong túi Vũ Cao đủ để hai ông ăn no khoai lang. Thế là họ ngồi sụp
xuống bên đường, làm một đĩa khoai mật.
Tối ấy, Nguyễn Thi về nhà từ biệt vợ
con. Vợ ông chỉ lặng lẽ lau nước mắt còn thằng bé mới đẻ thì khóc ré
lên. Nguyễn Thi đùng đùng quay ra rồi phăm phăm bước thẳng, không
ngoái đầu lại, mặt tái ngắt, trông rất ghê sợ, cứ như sắp sửa chém
giết ai đó. Vũ Cao biết nếu chỉ quay nhìn lại vợ con, cửa nhà, chắc
Nguyễn Thi sẽ không thể đi nổi.
Đêm ấy, Nguyên Ngọc và Nguyễn Thi lên
tàu ở ga Thường Tín. Rồi họ vượt rừng, lội suối, luồn dọc Trường Sơn
hàng mấy tháng trời. Đến A Sầu, A Lưới thì chia tay nhau. Đêm chia
tay, họ còn giăng võng, nằm bên nhau trong một khu rừng xà nu. Khu
rừng này đã thành nỗi ám ảnh đối với Nguyên Ngọc. Đêm ấy, mọi người
còn mời một đồng chí ở cơ sở đến nói cho anh em mới vào nghe chuyện
chiến trường. Đồng chí cán bộ đó không thể nói được gì, vì suốt mấy
năm ở đây, ông chưa bao giờ được đứng trước một đám đông như thế.
Trời ơi! Chỉ có 5 người thôi mà đã thành một đám đông. Nguyễn Thi
bảo: “Tình hình thế này là ác liệt đấy. Chúng mình vào đây mà làm
nhà văn thì vô duyên quá! Kỳ cục quá! Phải sống đã. Cầm súng đánh
giặc đã rồi làm nhà văn sau. Chúng mình chỉ trở lại Hà Nội bằng con
đường số Một.”
Câu nói như một lời nguyền. Và rồi họ
đã thực hiện đúng như thế. Nguyễn Thi xuôi về Nam Bộ. Nguyên Ngọc
xuống khu Năm. Đấy là những vùng chiến trường rất đỗi khốc liệt. Năm
1968, Nguyễn Thi hy sinh trong một trận chiến đấu . Ông ngã xuống
như một người anh hùng. Còn Nguyên Ngọc thì sau chiến tranh, ông mới
trở lại Hà Nội bằng đúng con đường số Một.
II
Cũng như
Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc vào chiến trường khi đã là một nhà văn nổi
tiếng.Tác phẩm đầu tiên của ông là cuốn tiểu thuyết Đất nước đứng
lên, viết về anh hùng Núp. Cuốn sách vừa ra đời đã có tiếng vang
lớn. Và cũng từ đấy hình thành một lối viết của Nguyên Ngọc theo
kiểu Nguyên Ngọc. Lối viết này quán xuyến suốt một đời cầm bút của
ông và có ảnh hưởng tới nhiều nhà văn sau ông. Đó là viết về người
thật việc thật và người tốt việc tốt. Nhân vật của Nguyên Ngọc đều
bắt nguồn từ những nguyên mẫu có thật trong cuộc sống chiến đấu của
nhân dân mà ông từng tham dự. Sau tiểu thuyết Đất nước đứng lên,
là tập truyện ngắn Rẻo cao. Đây mới thật sự là kiệt tác của
Nguyên Ngọc. Tập sách rất mỏng, chỉ phong phanh chừng một trăm
trang, gồm có sáu truyện ngắn, mà truyện nào cũng đặc sắc. Bây giờ
đọc lại vẫn còn thấy rất hay, vẫn không cũ. Hay nhất trong tập là
truyện ngắn Rẻo cao. Đây cũng là cái truyện viết tài nhất
trong đời văn Nguyên Ngọc. Truyện không có cốt, tóm tắt rất nhạt. Vì
nó chẳng có gì cả. Nguyên Ngọc kể về một ông già người Mèo có tên là
Cắm. Ông bỏ nhà đi hoạt động cách mạng, mải việc nước đến quên cả
lấy vợ. Về già, không còn đủ sức đi nữa thì ông về quê, “làm cách
mạng” ở quê. Công việc của ông là chuyển thư từ, báo Đảng xuống các
làng bản. Ông không biết chữ, nên thằng cháu ruột của ông, một anh
chàng bưu tá huyện đã phải đánh dấu cho ông bằng những sợi chỉ xanh,
chỉ đỏ. Chỉ xanh là ông Lý A Pù. Chỉ đỏ là ông Ma Văn Keo, xóm Nà
Thăn. Thế là ông cắt rừng đi ngay trong đêm. Với chất liệu như thế,
chỉ đủ để viết một cái tin vắn, mà tin cũng nhạt phèo, khó mà đọc
được.Vậy mà Nguyên Ngọc dựng được thành một cái truyện ngắn đặc sắc,
đọc hấp dẫn và thấm
thía. Ông còn cho nhân vật của mình ghếch súng vào vai, ngồi nghe
hết tờ báo Nhân Dân, rồi ông còn chép nguyên cả cái dự báo thời tiết
trên báo Nhân Dân vào trong cái truyện vốn đã rất ngắn của mình: “Ở
miền Bắc nước ta hôm nay trời quang và nắng. Riêng vùng núi phía Bắc
và Tây bắc Bắc bộ, trời ít mây, thỉnh thoảng có mưa nhỏ rải rác ở
một vài nơi...”. Thế rồi sau cái dự báo thời tiết này, là bát
ngát một cảnh sắc của rừng đêm Tây bắc được nhìn qua con mắt của ông
già Cắm. Phải nói đó là những trang văn hay. Văn Nguyên Ngọc là thứ
văn trong, sánh như mật ong, lại đượm ướp một làn hương rất đặc
biệt. Đọc cứ bàng hoàng váng vất mãi. Nguyên Ngọc hơn người ở tài
văn. Không có thực tài, không thể viết được thế.
Nhân vật
của Nguyên Ngọc đều là những người tốt. Trong chuyện Dũng cảm,
cô giáo Tuyết, người Hà Nội đã bỏ Thủ đô, bỏ cả người yêu, xung
phong lên miền núi dạy học. Cô hết lòng yêu thương các em. Cô biết
mình sẽ gắn bó lâu dài với các em, cô không thể bỏ các em mà về xuôi
được. Rồi có lần hai em bé người Dao vắng mặt. Không biết các em ốm
đau hay làm sao. Cô cùng một em bé người Nùng băng
rừng vượt hàng chục cây số xuống bản. Rừng đối với cô là một thế
giới đầy bí ẩn. Nguyên Ngọc cũng qua con mắt của cô giáo vùng xuôi,
cho chúng ta những trang tả rừng rất đặc sắc. Cô giáo xuống bản, mới
hay học trò của mình không ốm. Ông bố cho các em đi làm công tác
cách mạng. Ấy là dẫn đường cho các chú địa chất dò tìm tài
nguyên cho đất nước. Thế là người tốt lại gặp những người tốt. Đọc
truyện của Nguyên Ngọc, cứ tưng bừng như đi dự một Đại hội Chiến sĩ
Thi đua.
Lần giở
những trang sách của Nguyên Ngọc, không hiểu sao, tôi cứ nghĩ đến Tố
Hữu và Phạm Tuyên. Cũng như thơ Tố Hữu, ca khúc Phạm Tuyên, Nguyên
Ngọc viết văn bằng hồn mình và cái hồn ấy thuộc về cách mạng. Ông
bám sát các vấn đề lớn của chính trị, phục vụ trực tiếp các nhiêm vụ
chính trị mà tác phẩm vẫn vượt qua được sự minh hoạ, vẫn thành tác
phẩm nghệ thuật hoàn chỉnh. Không ít tác phẩm có giá trị lâu dài.
Những vấn đề lớn mà Tố Hữu quan tâm cũng là những vấn đề Nguyên Ngọc
đề cập đến trong hầu hết các sáng tác của mình. Tố Hữu viết:
Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người sống để yêu nhau
Đảng cho ta trái tim giầu
Thẳng lưng mà bước, ngẩng đầu mà
bay..
Nguyên Ngọc
dựng Mùa hoa thuốc phiện cuối cùng. Đây cũng là một truyện
ngắn hay của ông. Cô gái Mèo Vàng Thị Mỹ ở với bố trên những đỉnh
núi cao quanh năm mây phủ. Ở đó nếu có khách tới nhà thì chỉ là thú
rừng thôi. Cô bé thấy thèm người. Rồi ông bố cho cô đến với người.
Đó là một phiên chợ. Cơ man nào là người. Ông bố bán thuốc phiện,
một thứ vàng đen, mong giúp con gái đổi đời. Nhưng bị trả quá rẻ,
ông không bán. Thế rồi dọc đường trở về, bố con ông bị bọn người đó
chặn lại. Chúng cướp không số thuốc phiện rồi bắn chết ông. Cô bé
may mà thoát chết. Rồi cô được một bà goá đem về nuôi. Năm 13 tuổi,
cô bị gả chồng. Chồng cô là thằng bé mới 7 tuổi, con lão chúa đất.
Ngày về nhà chồng, cô khóc nhiều lắm. Khóc vì không được cô độc sống
giữa các vách núi. Cô lại phải đến với người. Ở nhà chồng, cô bỗng
nhận ra bố chồng là một tên dã thú đã giết bố cô. Thế là cô bỏ trốn.
Bây giờ thì cô sợ phải gặp người. Cứ thấy làng, thấy người là cô
tránh. Cô đi lang thang rồi lạc vào rừng. Hoang mang và đói lả, cô
ngồi thụp xuống bên hang đá, thiếp đi. Rồi cô chợt bừng tỉnh khi
thấy trong hang lại có tiếng người. Thế là cô bé lại vùng dậy chạy.
Nhưng không còn sức chạy nữa. Cô lại phải gặp người. Không phải
người thú mà người cách mạng. Chính người cách mạng đó đã cứu cô.
Rồi cô gặp Đảng. Đảng chỉ cho cô đường đi, nước bước. Đảng bảo phải
bỏ cây thuốc phiện. Nó chính là nguồn gốc mọi nỗi đau khổ của người
Mèo. Phải phá bỏ cây thuốc phiện trồng ngô sắn. Rồi Nguyên Ngọc còn
để cô Vàng Thị Mỹ nói với đồng bào Mèo nguyên văn như thế này:
“Ngày xưa, người đối với người coi nhau như thú dữ, bây giờ có Đảng,
có chính phủ, có Cụ Hồ, người với người mới tin nhau, giúp nhau như
thể anh em một nhà vậy. Đó là bản chất của Chủ nghĩa xã hội đấy, bà
con ạ...”.
Vàng Thị Mỹ
cũng là một nhân vật có thật. Tô Hoài và Xuân Thiều đã gặp và tiếp
xúc với người con gái Mèo rất xinh đẹp này. Cô thầm yêu Nguyên Ngọc,
nặng lòng với Nguyên Ngọc. Cô gọi Nguyên Ngọc là Mùa hoa thuốc
phiện cuối cùng của em. Gặp người nào ở dưới xuôi lên, cô cũng
hỏi anh Ngọc. Những năm ấy, anh Ngọc của cô lại đang ở
chiến trường mù mịt bom đạn, khói lửa, chẳng biết sống hay chết. Cô
viết trong cuốn sổ tay công tác của mình một dòng rất da diết mà Tô
Hoài “tóm” được: Mùa hoa thuốc phiện cuối
cùng ơi!
Sau này,
vào những năm 90, Nguyên Ngọc mới có dịp gặp lại Vàng Thị Mỹ. Cô đã
nghỉ hưu, giờ ngồi bán hàng xén ở chợ Mèo Vạc. Nguyên Ngọc viết
Trở lại Mèo Vạc, kể về cuộc gặp gỡ của ông với cô sau hơn 30
năm. Ông gọi là bài ký. Nhưng tôi lại thấy nó là một truyện ngắn
hoàn chỉnh. Vẫn thứ văn có nhung có tuyết. Đọc rất cuốn hút. Đây
cũng là một tác phẩm xuất sắc nữa của Nguyên Ngọc.
Có thể nói
Nguyên Ngọc là một Tố Hữu trong văn xuôi, cũng như Phạm Tuyên là Tố
Hữu trong âm nhạc. Cùng có tài, cùng dâng hiến trọn vện tài năng của
mình cho đất nước, cho Đảng, vậy mà số phận của mỗi người khác nhau
biết bao. Âu đó cũng là lẽ đời. Tố Hữu viết:
Lớp cha trước, lớp con sau
Đã thành đồng chí chung câu quân
hành
Ta cũng gặp
ý tưởng đó trong Rừng xà nu, một truyện ngắn rất hay của
Nguyên Ngọc thời chống Mỹ. Bao lớp cha con nối nhau đánh giặc, bảo
vệ cán bộ của Đảng. Nói như cụ Mết: “Cán bộ là Đảng. Đảng còn, núi
nước này còn”. Mỹ Diệm treo cổ anh Xút lên cây vả đầu làng. Anh Xút
chết, anh Quyết thay. Nối tiếp anh Quyết là Tnú. Cũng như Mai chết
thì có Dít lớn dậy. Dít là Chính trị viên xã đội. Cô giống hệt Mai.
Đến nỗi ngồi trước Dít mà Tnú bàng hoàng như ngồi trước Mai.
Rồi ông già Tâng, bà Brôi, chị Blom, anh Bre. Rồi cả thằng bé Heng
Tnú gặp ở đầu con nước nữa. Thằng bé có tí tuổi đầu mà đã như một
anh giải phóng quân với khẩu súng dài đeo chéo vai. Mấy thế hệ cha
con cùng đánh giặc. Đứng đầu là ông già Mết, một nhân vật rất lạ.
Ông chính là linh hồn của làng Xô man, cũng là linh hồn của cái
truyện ngắn này. Ông già Mết là nhân vật có thật. Nguyên Ngọc giữ
nguyên tên. Và cũng y hệt như trong truyện, ở ngoài đời, ông Mết là
ngọn cờ tập hợp dân chúng. Ông thông minh, dũng cảm, chỉ huy đánh
giặc rất tài. Người ta đã tính phong danh hiệu Anh hùng cho ông.
Nhưng khi xét, lại thấy ông là tầng lớp trên, nên không thể phong
được. Thực ra, cái chức Già làng là dân tín nhiệm mà suy tôn
thôi, chứ đâu phải chức sắc quan cách gì. Hàng ngày, ông vẫn cởi
trần đóng khố, ăn đói mặc rét như bất cứ người dân nghèo nào ở làng
Xô man. Tnú cũng là nhân vật có thật. Tên thực của anh là Đề. Nhưng
để tên Đề thì nghe như một người Kinh. Chẳng Tây Nguyên chút
nào. Nguyên Ngọc đổi thành Tnú. Tnú theo tiếng Ba na có nghĩa là
người dũng sĩ. Đúng là Lớp cha trước, lớp con sau,
mấy thế hệ nối tiếp nhau đánh giặc, bảo vệ buôn làng, bảo vệ Đảng.
Nguyên Ngọc còn trung thành với ý tưởng này ngay cả trong từng đoạn
văn tả cảnh rừng xà nu: “Trong rừng ít có loại cây nào sinh sôi
nảy nở khoẻ như vậy. Cạnh một cây xà nu mới ngã gục, đã có bốn năm
cây con mọc lên, ngọn xanh rờn, hình nhọn mũi tên lao thẳng lên bầu
trời”...Rồi Nguyên Ngọc còn cho cả ông già Mết nói với Tnú: “Mày
có đi qua rừng xà nu gần con nước lớn không? Nó vẫn sống đấy. Không
có cây gì mạnh bằng cây xà nu đất ta. Cây mẹ ngã, cây con mọc lên.
Đố nó giết hết rừng xà nu này!”. Khi kết truyện, Nguyên Ngọc vẫn
nhắc lại ý tưởng này, mà không ngại bị lặp: “Cụ Mết và Dít đưa
anh ra đến rừng xà nu gần con nước lớn. Trận đại bác đêm qua đã đánh
ngã bốn năm cây xà nu to. Nhựa ứa ra ở những vết thương, đang đọng
lại, lóng lánh nắng hè. Quanh đó vô số những cây con đang mọc lên.
Có những cây mới nhú khỏi mặt đất mà đã nhọn hoắt như những mũi lê.
Ba người đứng ở đấy nhìn ra xa. Đến hút tầm mắt cũng không thấy gì
khác ngoài những rừng xà nu nối tiếp nhau, chạy đến tận chân
trời...”
Truyện của
Nguyên Ngọc hầu hết là thế. Ông ca tụng chủ nghĩa anh hùng cách
mạng. Ông rất gần với Tố Hữu và Phạm Tuyên. Và cũng như Tố Hữu và
Phạm Tuyên, bút
pháp ông nhất quán, trước sau như một, không thay đổi, không quay
quắt. Trong khi đó, có không ít cây bút chuyển hướng, hoặc thay đổi
cách tiếp cận hiện thực để thu hút sự chú ý của bạn đọc. Trước viết
người tốt việc tốt thì sau viết người xấu việc xấu.
Nguyên Ngọc không thế. Suốt đời dường như ông chỉ viết truyện
người tốt việc tốt. Ngay cả khi dựng nhân vật tiểu thuyết, ông
cũng tựa trên những con người có thật, những sự kiện có thật ở ngoài
đời.
Còn nhớ năm
1969, Nguyên Ngọc cho ra cuốn Đất Quảng tập I. Cuốn sách được
bạn đọc đón nhận rất nồng nhiệt. Nguyên Ngọc kể về cuộc chiến đấu
của những người bám trụ ở vùng ven thành phố Đà Nẵng. Đó cũng là
vùng đất hoạt động của ông. Nguyên Ngọc xuống đó không phải để làm
một nhà văn đi thực tế mà ông là một người lính chiến, bám trụ thật
sự. Đó là một địa bàn khốc liệt. Để bảo vệ khu sân bay và thành phố
Đà Nẵng, địch ủi trắng cả một vùng xung quanh. Chúng lùa dân vào ấp
chiến lược. Chúng nã pháo vào vành đai trắng, chỉ một rảnh lá khô
bất thường, chúng cũng cho trực thăng tới bắn. Người dân phải tìm
mọi cách trụ lại. Họ rải lá khô cho địch bắn. Bắn mãi cũng chẳng
thấy có gì. Họ cắm lá xanh rồi trồng cây xanh. Giặc bắn mãi, hoá
quen, quen đến phát nản. Cứ thế, bằng chính máu xương mình, dân lấn
dần từng bước. Rồi họ đào hầm. Dựng lều bám trụ. Dân có trụ được thì
cách mạng mới có đất mà trở về. Ngày nào cũng có người chết. Nhưng
dân vẫn trụ vững. Nguyên Ngọc nằm ở đây hai năm. Ông cùng dân chống
càn, rồi chỉ huy dân đánh địch. Khi đồng chí Bí thư Đảng uỷ hy sinh,
Nguyên Ngọc thay luôn làm Bí thư. Ông chiến đấu, bám trụ như một
người lính kiên cường. Rồi ông ghi lại cuộc chiến đấu ấy. Đó là tiểu
thuyết Đất Quảng tập I. Trong số những người bám trụ ở vành
đai này, Nguyên Ngọc rất quý Phan Văn Giả, Phó Bí thư đảng uỷ. Anh
cùng nằm hầm bí mật với ông, cùng kề vai chiến đấu với ông. Khi
Nguyên Ngọc phải rút về quân khu, chuyển sang vùng hoạt động khác,
anh thay ông làm Bí thư. Đó là một người lính dũng cảm, mưu trí,
chiến đấu rất kiên cường. Anh là một trong những nhân vật chính của
tiểu thuyết Đất Quảng. Khi vào tiểu thuyết, Nguyên Ngọc đổi
tên anh là Thiệt. Bí thư Thiệt. Khi ở tập I tiểu thuyết Đất Quảng,
Thiệt mới chỉ lấp ló xuất hiện. Anh sẽ là nhân vật trung tâm, là
linh hồn của Đất Quảng tập II. Cuốn sách ấy Nguyên Ngọc đã
viết xong. Ông cũng đã cho in một số chương trên báo Văn nghệ
thời ấy. Nhưng điều đau xót là sau đó, tổ chức Đảng tắm trong biển
máu, tưởng không thể vực lên được. Địch nhổ hết cơ sở cách mạng. Bí
thư Giả bị địch bắt và anh đã đầu hàng. Tất nhiên, anh là người còn
lại cuối cùng. Anh chỉ khai những cơ sở đã bị xoá sổ, những con
người đã bị địch giết. Bởi thế, việc đầu hàng, khai báo của Giả cũng
không gây thiệt hại gì thêm cho cách mạng, nhưng đối với Nguyên
Ngọc, thì đó lại là một tổn thất không gì bù được. Tại sao một con
người quả cảm mà ông yêu mến, tin tưởng như thế lại đầu hàng địch?
Nguyên Ngọc đau xót lắm. Phản bội Cách mạng, phản bội Đảng là một
tội lỗi không thể tha thứ được. Và như thế trong ông, bí thư Thiệt
thực sự đã chết. Anh ta chẳng còn lý do gì để có thể tồn tại. Nguyên
Ngọc đốt luôn cả cuốn sách đã viết xong. Bây giờ ông cũng không có ý
định viết lại tập II nữa. Nhân vật của ông đã chết trong ông thì
cuốn sách coi như cũng đã chết. Vì vậy mà
Đất Quảng thành cuốn sách dang dở. Nhưng Nguyên Ngọc vẫn đau
đáu với đề tài chiến tranh Cách mạng ấy. Ông vẫn trung thành với lối
viết đã có của mình. Nghĩa là vẫn viết người thật việc thật,
người tốt việc tốt. Những tác phẩm gần đây nhất của ông, ông còn
để nguyên cả đống tư liệu mà chả cần phải hư cấu hay dàn dựng thêm
gì. Khi hiện thực tự nó đã đủ là một vẻ đẹp thì người viết không cần
phải tô vẽ thêm nữa. Đó là tập Đường mòn trên biển, kể về
những người lính cảm tử của lữ đoàn 125 Hải quân, bí mật chuyên chở
vũ khí vào Nam trong những năm chiến tranh, và tập Cát cháy,
cũng lại viết về cuộc chiến đấu của những người bám trụ ở vùng Đất
Quảng khốc liệt. Một đống tư liệu ngổn ngang bề bộn mà đọc lại rất
hấp dẫn. Đấy là sức hấp dẫn của sự thật trần trụi, cũng là sự hấp
dẫn của một tài năng. Phải nói đó là những tập sách hay của văn học
ta hiện nay. Hai bút ký đặc sắc của ông vừa in trên báo Văn nghệ:
ABôc ở Mường Hon và Lửa nguyên thuỷ cũng vẫn một bút pháp
như vậy.
Bấy lâu
nay, không ít người cứ dị ứng với loại truyện người tốt việc tốt.
Thậm chí có người còn cực đoan cho đó không phải là văn chương thứ
thiệt. Nguyên Ngọc là một trường hợp thú vị cho thấy sự thật lại
không phải như vậy. Mới hay, văn chương thật bí hiểm. Nó đâu có như
một số người vẫn nghĩ. Thực tình, cách viết của Nguyên Ngọc đâu có
mới mẻ gì. Ông cũng chẳng phải là người cách tân hay cấp tiến gì gì.
Ông vẫn viết như chúng ta đã từng viết trong những năm Sáu mươi
của...thế kỷ trước. Có đến hàng trăm nhà văn viết như ông. Nhưng rồi
cũng có đến hàng trăm nhà văn sẽ bị thời gian đào thải. Có chăng chỉ
còn lại một đôi người. Trong số rất ít người còn lại ấy, chắc chắn
có Nguyên Ngọc. Nguyên Ngọc tồn tại được là nhờ tài văn. Mới hay tài
văn và sự chân thành của tấm lòng người viết là vô hạn quan trọng.
Vấn đề không phải viết về cái gì mà là viết như thế nào.
Điều đáng
sợ nhất của văn chương ta là căn bệnh nhạt. Đó là căn bệnh trầm kha,
nguy hiểm vì rất khó chữa. Nó không phải là cái xấu để người ta có
thể dễ nhận biết và loại bỏ. Nó chỉ nhạt nhèo, không có sắc thái và
cá tính. Nhưng nó lại được nhiều nhà quản lý, lãnh đạo ủng hộ vì nó
luôn bảo đảm sự ổn định và an toàn. Nó yếu đuối, không có sinh khí,
nhưng lại có sức mạnh trong việc làm băng hoại mọi sự sáng tạo.
Nguyên Ngọc luôn dị ứng với căn bệnh ấy. Ông bộc lộ thái độ của mình
qua hàng loạt những bài viết và cả các bài trả lời phỏng vấn. Còn
sáng tác, ông vẫn viết theo lối cũ. Văn Nguyên Ngọc là một dạng văn
có ma lực. Giản dị, chắt lọc và trong veo. Đó cũng là dòng văn chủ
đạo rất cần có trong đời sống của chúng ta hiện nay. Tuy nhiên nếu
cả nền văn học mà nhìn đâu cũng chỉ thấy một kiểu Nguyên Ngọc thì
cũng thật đáng sợ. Vì nó lại có gì như là không bình thừơng. Trong
khi đó chúng ta lại rất cần sự đa dạng phong phú trong các giọng
điệu cũng như bút pháp và cách tiếp cận hiện thực. Bởi hiện thực vốn
như thế. Nó bao giờ cũng phong phú, đa dạng và phức tạp. Hình như
Nguyên Ngọc hiểu điều này thấm thía hơn bất cứ ai. Bởi thế, mà ông
yêu mến, ủng hộ Nguyễn Huy Thiệp, Bảo Ninh, Phan Thị Vàng Anh,
Nguyễn Khắc Trường, Tạ Duy Anh... Đó là những tài văn hoàn toàn khác
ông, thậm chí phong cách sáng tác ngược hẳn với ông. Chấp nhận và
ủng hộ những tài năng hoàn toàn khác mình, tôi nghĩ đấy cũng là một
cái tài của Nguyên Ngọc. Không phải ai cũng có được cái tài ấy.
Một người
chuyên viết về người tốt, việc
tốt, tài đến như Nguyên Ngọc, tốt đến như Nguyên Ngọc, không hiểu
sao, lại có những người rất tốt, cứ nghi ngờ và thậm chí khăng khăng
khẳng định Nguyên Ngọc là một người không tốt hoặc rất ...không tốt.
Nghiệt ngã thay, có người còn nhìn ông như một kẻ nổi loạn… Đó là
điều làm tôi rất đỗi kinh ngạc và có lúc tôi đã coi đó như là một
nỗi bi kịch của cả cuộc đời ông…
III
Lúc nào cảm
thấy cô đơn, trống vắng, Nguyên Ngọc lại về Đà Nẵng, trở lại chiến
khu xưa. Rồi ông cùng anh em đi tìm mộ đồng đội, đưa về nghĩa trang
liệt sĩ huyện Điện Bàn. Có lần tình cờ đi qua Điện Bàn, tôi đến thăm
nhà tưởng niệm anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi và gặp ông. Ông rủ
tôi về căn cứ hoạt động cũ. Đó là ấp Phái Nhất, thôn Quang Hiện, xã
Điện Hoà. Ở đấy, từ người trẻ đến người già, ai cũng biết ông và
thương yêu ông. Họ vẫn gọi ông là anh Thành, chú Thành, bác Thành,
rồi Bí thư Trung Thành. Các má thì chỉ gọi ngắn gọn là thằng Thành.
“Thằng Thành đã về đây rồi, bây ơi!”. “Trời, bận chi mà lặn riết thế
Thành?”. Họ hoàn toàn không biết Bí thư Nguyễn Trung Thành là Nguyên
Ngọc, cũng không biết ông là nhà văn nổi tiếng. Thì hồi xưa ở đây,
người ta chỉ thấy ông đánh giặc rồi chỉ huy chống càn chứ có thấy
ông viết văn bao giờ.
- Lúc nào
buồn hay thất cơ lỡ vận thì cứ vô đây với tau. Cuộc đời nhiều bất
trắc lắm, con à! Cứ vô đây! Đói thì tau nuôi. Ngày xưa bom đạn là
thế, giặc giã và đói khổ là thế mà tau còn nuôi được mi. Bây giờ yên
hàn rồi, chả lẽ tau không nuôi được mi sao ?
Má Phan Thị
Vinh, 89 tuổi, người đã nuôi và cất giấu Nguyên Ngọc ngày xưa, vui
vẻ nói với ông. Rồi má chỉ ra ngoài cửa nhà, nơi có bao nhiêu là tài
sản của má. Sau vách đất, ngay bên cạnh mảnh sân to chừng hơn cái
nong phơi thóc là một vạt ngô đã trổ cờ, mấy luống mía sắp bóc lá và
cả một ruộng khoai lang. Gia tài ấy của má cũng đã đủ nuôi Nguyên
Ngọc rồi.
Má Vinh rót
nước râu ngô mời tôi với Nguyên Ngọc. Trên chiếc bàn nước bằng gỗ
tạp, sau tấm kính vỡ được ghép lại là la liệt giấy khen, bằng khen
đủ các kích cỡ thời kháng chiến. Cái thì đánh máy, cái thì viết tay,
nét chữ đã ố mờ, chỉ có chữ ký của người chỉ huy chứ không có dấu.
Những giấy tờ dã chiến như thế, liệu bây giờ người ta có tin không?
Nguyên Ngọc cũng đã viết chứng thực cho gia đình má có công nuôi
giấu cán bộ Cách mạng. Mọi văn bản cũng đầy đủ rồi, nhưng cơ quan
chính sách vẫn chỉ im lặng. Má Vinh cười móm mém:
- Thôi, chả
cần nữa đâu, Thành à. Mình sống được đến bây giờ là may mắn lắm. Còn
mong gì thêm nữa. Mà má cũng già rồi. Chẳng biết chết lúc nào. Má
chỉ còn lo, là lo cho con thôi...
Không phải
chỉ có má Vinh, bao nhiêu người dân ở khu căn cứ cách mạng này đều
thương yêu và lo lắng cho Nguyên Ngọc. Bởi thế, chắc họ sẽ rất vui
khi biết Nhà nước trao tặng Nguyên Ngọc Huân chương Độc lập hạng
nhì. Biết đâu, điều ấy sẽ làm cho họ thêm tin yêu cách mạng, như
những ngày gian khổ xa xưa...
10 - 9 -
2000
10 – 10
-2007
(Rút trong
Chân dung và đối thoại
trọn bộ sắp xuất bản)
Nguồn: vietstudies