Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2015

Henry Kissinger đã ‘biếu’ Hoàng Sa cho Trung Quốc như thế nào?


-Hướng Ti Mt Trt T Cho Châu Á: Đi Đu Hay Đi Tác?
BBT: Cho tới bây giờ, người Mỹ luôn chủ trương chinh phục thế giới với bất cứ phương tiện nào miễn đem lại "lợi nhuận" (chứ không phải lợi ích) cho Mỹ. Người Mỹ tự hào đã làm sụp đổ đế quốc Liên Sô, giải thoát các nước Đông Âu, nhưng phải công nhận yếu tố "dân trí", ý thức chính trị của các dân tộc dưới quyền cai trị của Liên Sô là yếu tố quan trọng nhất đưa đến sự sụp đổ này. Riêng về Á Châu mà đối tượng là Trung Cộng, Kissinger đã quá tự kiêu khi cho rằng mình đã "chọc thủng "màn sắt" của Trung Cộng, đã đem "đa trục thay thế lưỡng trục" để chinh phục Trung Cộng. Nhưng cả Kisssinger và Nixon đều chẳng biết gì về Cộng Sản Á Châu, đưa đến những di lụy vô tận cho các dân tộc Á Châu và cả Hoa Kỳ sau này.
Chà đạp Đài Loan, phá nát VNCH với màn loại Trung Hoa Quốc Gia - một trong 5 nước sáng lập ra LHQ - ra khỏi Liên Hiệp Quốc, bán đứng VNCH cho Trung Cộng, giúp Trung Cộng có nguyên tử mà Liên Sô đã bỏ không tiếp tục, ... hậu quả là ngày nay Liên Sô tan rã không phải vì Trung Cộng, Việt Cộng là cái đuôi không thể tách rời của Trung Cộng, Bình Nhưỡng ngày càng bướng bỉnh mà trong tay có nguyên tử! Trong khi đó thì Mỹ có một chính sách bắt lươn đằng đuôi. Một Trung Cộng hống hách cho mình sẽ qua mặt Hoa Kỳ và cả thế giới. Đành rằng ngườ Mỹ phải phục vụ quyền lợi ua Hoa Kỳ, nhưng quả thật, Hoa Kỳ chẳng biết mô tê gì về người Á Châu, nhất là Trung Cộng. Bài học này người Việt Nam chống Cộng phải lấy làm một bài học quý báu và phải đi bằng đôi chân của mình.
Tiếng Dân

Hướng Tới Một Trật Tự Cho Châu Á: Đối Đầu Hay Đối Tác?

Henry Kissinger
Dr. Đ Kim Thêm, dịch
Henry Kissinger (1923), Cựu Cố vấn An ninh Quốc gia Hoa Kỳ (1969 – 1973), Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ (1973 – 1977), tác giả Hiệp định Paris (1973) và đoạt giải Nobel Hoà Bình (1973). Hiện nay ông là Chủ tịch của Công ty Tư vấn Quốc tế Kissinger Associates Inc. Tác phẩm mới nhất của ông là World Order: Reflections on the Character of Nations and the Course of History, Pengiun Press, 2014, 432 pp. Nguyên tác của bản dịch là CHAPTER 6 – Toward an Asian Order: Confrontation or Partnership?, World Order, 212- 233. (LND)
Một đặc điểm chung các quốc gia châu Á là họ có ý thức mình là biểu tuợng cho những nước “đang trổi dậy” hay là “hậu thuộc điạ”. Tất cả các nước này đã cố vượt qua một di sản của thời kỳ thuộc địa cai trị bằng cách tự khẳng định về một bản sắc dân tộc hùng cường. Các nước này cùng chia sẽ một niềm tin là một trật tự cho thế giới ngày nay đang tái lập một tình trạng quân bình sau khi phương Tây đột nhập bất thường trong nhiều thế kỷ vừa qua, nhưng phương Tây đã rút ra nhiều bài học to tát khác nhau từ trong các cuộc phiêu lưu lịch sử của họ. Khi các quan chức cao cấp cố gợi lại những quyền lợi cốt lõi, một số người trong giới này hướng về truyền thống văn hoá dị biệt và lý tưởng hoá các thời vàng son khác nhau.
Theo các hệ thống chính trị trong châu Âu vào thế kỷ XVIII và XIX, việc bảo tồn một tình trạng quân bình về cán cân quyền lực – và do ảnh hưởng của việc duy trì nguyên trạng – được xem là ưu điểm. Tại châu Á, hầu hết mỗi quốc gia đều bị thúc dục bởi những tính năng động của chính mình. Tự tin là mình đang trổi dậy, các nước này hoạt động trong một niềm tin là thế giới chưa khẳng định một vai trò toàn diện cho mình. Thậm chí ngay cả  không có một quốc gia nào tìm hiểu về chủ quyền tối thượng và phẩm giá của các quốc gia khác, tất cả cùng kiên quyết đeo đuổi một chính sách ngoại giao theo kiểu một là thắng và hai là thua, việc đồng loạt thực thi nhiều chương trình xây dựng uy tín quốc gia đưa ra một biện pháp làm thay đổi cho một trật tự trong khu vực. Với sự tiến hoá của nền công nghệ hiện đại, các cường quốc của châu Á đã trang bị cho mình bằng nhiều công xưởng vũ khí quân sự có sức công phá nhiều hơn cả khả năng của một quốc gia châu Âu hùng mạnh nhất vào thế kỷ XIX có được, nhờ thế họ còn gây thêm những nguy hiểm do việc tính toán sai lạc.
Vì thế, tổ chức của châu Á là một thách thức cố hữu cho một trật tự của thế giới. Do tình trạng nhận thức của một số cường quốc và việc theo đuổi quyền lợi quốc gia, đúng ra là do cán cân của quyền lực như là một hệ thống của các nước lớn đã định hình cho một cơ chế về một trật tự mà nó đã phát triển trước đây. Những thử nghiệm của các nước này là chuyện khả thi, cho dù nó có nằm trong quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương hay không, khi nó đem sẽ lại một khuôn khổ hoà bình cho việc tương tác của nhiều lợi ích đã được minh định.
Một Trật Tự Quốc Tế Của Châu Á và Trung Quốc
Trong tất cả những khái niệm về một trật tự cho thế giới ở châu Á, Trung Quốc đã vận hành một ý tưởng bền bỉ nhất, định nghĩa rõ ràng nhất vàsâu xa nhất theo hoà ước Westphalian[i]. Trung Quốc cũng đã theo đuổi một cuộc hành trình phức tạp nhất, từ thời văn minh cổ đại thông qua đế chế cổ điển, cho đến cách mạng Cộng sản, rồi đạt đến tình trạng một cường quốc hiện đại – một tiến trình sẽ có tác động sâu đậm đến nhân loại.
Từ khi Trung Quốc thống nhất như là một thực thể chính trị duy nhất vào năm 221 trước Công nguyên cho đến đầu thế kỷ XX, vị thế trung tâm của Trung Quốc trong trật tự của thế giới đã ăn sâu vào trong suy nghĩ của giới lãnh đạo đến độ mà không có một từ nào trong Hoa ngữ để diễn đạt cho ý tưởng này. Chỉ qua cách suy tưởng nội quan mà các học giả định nghĩa về một hệ thống triều cống của Trung Quốc trong tinh thần thần phục “Dĩ Hoa Vi Trung“. Trong khái niệm truyền thống này, Trung Quốc tự nhận thức mình như là một chính quyền duy nhất có chủ quyền của thế giới. Hoàng đế của Trung Quốc tự xem mình là biểu tượng có tầm vóc hoàn vũ và có vai trò then chốt giữa con người và thần thánh. Tầm nhắm của vua không phải là Trung Quốc, một quốc gia có chủ quyền, – có nghĩa là đặt lãnh thổ dưới quyền cai trị trực tiếp của mình – mà còn “tất cả trong thiên hạ” và trong đó Trung Quốc tạo nên phần chính yếu và văn minh: “một vương quốc ở trung tâm”, nhằm gây nguồn cảm hứng và làm thăng hoa cho phần còn lại cuả nhân loại.
Theo quan điểm này, một trật tự của thế giới phản ảnh một hệ thống quyền lực rộng khắp hoàn vũ, không chỉ đem lại một tình trạng quân bình của các quốc gia có chủ quyền đang cạnh tranh. Mỗi một xã hội, khi được kết thân, được xem là có một loại quan hệ triều cống với Trung Quốc, một phần vì dựa vào sự gần gũi văn hoá, nhưng không ai có thể đạt đến tinh trạng bình đẳng với Trung Quốc. Các vương quốc khác không là những nước đồng đẳng có chủ quyền, mà là những học trò nghiêm túc nhất trong nghệ thuật lãnh đạo, phấn đấu hướng tới văn minh. Ngoại giao không phải là một tiến trình thương lượng giữa nhiều quyền lợi tối thượng, nhưng là một loạt các nghi lễ được trù liệu cẩn trọng mà các nước ngoài có cơ hội xác quyết đuợc vị thế của mình trong hệ thống phân cấp quyền lực trong toàn cầu. Theo cổ thư của Trung Quốc, để giữ đúng theo quan điểm này, thì những gì mà ngày nay gọi là “chính sách đối ngoại” thì khi xưa là một lĩnh vực thuộc Bộ Lễ, được xác định các sắc thái trong mối quan hệ triều cống, và Vụ Biên Phòng chuyên trách quản lý mối quan hệ với các bộ lạc du mục. Cho mãi đến giữa thế kỷ XIX, Bộ Ngoại giao Trung Quốc chưa hề được thành lập và sau đó là nhăm lo cho việc đối phó với kẻ xâm lăng phương Tây. Thậm chí các quan chức coi nhiệm vụ của mình như là cách thực hành theo truyền thống của công tác quản lý người man rợ, không có gì được họ coi như là một chính sách ngoại giao theo hệ thống Westphalian. Một Bộ mới mang danh hiệu “Vụ Quản lý Quốc tế Sự vụ”, có hàm ý là Trung Quốc không tham gia kết ước trong các chính sách ngoại giao liên quốc.
Mục tiêu của hệ thống triều cống là thúc đẩy lòng tôn trọng, không thu tóm lợi lộc kinh tế hay chế ngự xã hội các nước ngoài bằng quân sự. Một thành tựu kiến trúc ấn tượng nhất của Trung Quốc là Vạn lý Trường thành kéo dài với khoảng hơn năm ngàn dặm do Hoàng đế Tần Thủy Hoàng khởi công. Ông là người đánh bại tất cả các đối thủ bằng quân sự, kết thúc thời Chiến Quốc và thống nhất Trung Quốc. Đó là một di chúc huy hoàng về một chiến thắng quân sự, nhưng cũng có những giới hạn cố hữu của nó trong việc biểu thị quyền lực rộng lớn, cùng gắn liền với ý thức về khả năng bị tổn thương. Từ ngàn năm nay, Trung Quốc cố tìm cách thu hút và lôi kéo những kẻ đối nghịch nhiều hơn là cố đánh bại họ bằng những sức mạnh quân sự. Dù có những phân tích cơ bản cho thấy là Trung Quốc là một cường quốc có ưu thế quân sự, một vị quan thượng thư thời nhà Hán (206 B. C- A.D. 220) đã mô tả “năm miếng mồi“ mà ông đề nghị để quản lý các bộ lạc từ Hung Nô cho đến biên thùy Tây Bắc Trung Quốc:
“Tặng cho họ … quần áo và xe ngựa để làm mờ mắt họ, tặng cho họ cao lương mỹ vị để làm câm miệng họ, tặng nhạc và dâng gái cho họ để làm bùi tai họ, cho họ nhà cao cửa rộng, kho thóc và gia nhân để lo cho đầy dạ dày của họ … và  đối với kẻ đến hàng phục, nhà vua (nên) bày tỏ ân huệ cho họ bằng cách bày ra yến tiệc tiếp đãi, đích thân nhà vua phải hầu rượu và thực phẩm cho họ để làm họ mềm lòng. Những cách này có thể được gọi chung là năm miếng mồi ngon.“
Một đặc điểm nổi bật trong những nghi lễ ngoại giao của Trung Quốc là lễ khấu đầu,  - qùy gối và đê đầu chạm đất để công nhận quyền tối thượng của Hoàng đế – đó là một sự hạ mình, điểm chắc chắn là nghi thức này là một bước cản trở cho việc bang giao với các nước tân tiến phương Tây. Nhưngkhấu đầu là hành vi tự nguyện có tính cách tượng trưng: Đó là lòng tôn trọng biểu lộ của một người không bị chinh phục khi khiếp sợ. Trong những trường hợp như thế, giá trị triều cống cho Trung Quốc thường vượt quá mức, nếu so với giá trị các quà đáp lễ của nhà vua.
Theo truyền thống, Trung Quốc cố tìm cách chế ngự về phương diện tâm lý bằng những thành quả hay thái độ ứng xử của mình, – thảng hoặc có xen kẻ qua những cuộc hành quân nhằm dạy cho kẻ man rợ ngoan cố một “bài học“ và khiến họ phải tôn kính. Cả hai mục tiêu chiến lược và phương cách cơ  bản để thu phục tâm lý qua một cuộc xung đột có vũ trang này đã được minh chứng gần đây trong chiến cuộc giữa Trung Quốc với Ấn Độ năm 1962 và với Việt Nam năm 1979, cũng như những phương cách mà Trung Quốc xác nhận những quyền lợi cốt lõi của họ đối với các lân quốc.
Mãi cho đến nay, Trung Quốc không là một xã hội mang sứ mệnh truyền giáo theo như nghiã của phương Tây về thuật ngữ này. Trung Quốc cố tìm cách tạo ra sự khâm phục, không tạo sự thay đổi, họ không bao giờ làm sai đường lối tinh tế này. Nhiệm vụ của họ là tạo thành quả mà họ kỳ vọng là ngoại bang sẽ hiểu ra và thừa nhận. Đối với một nước khác thì việc trở thành một người bạn, kể cả là bạn vong niên, đó là chuyện khả thi, nhưng họ sẽ không bao giờ được coi là bạn đồng đẳng với Trung Quốc. Chuyện trớ trêu là chỉ có hai nước ngoại gần đạt được một tình trạng tương tự này lại là những kẻ đi chinh phục. Một trong những đặc điểm kỳ diệu của đế quốc văn hoá trong lịch sử là có hai dân tộc chinh phụcTrung Quốc; đó là Mông Cổ vào thế kỷ XIII và Mãn Châu vào thế kỷ XVII; – cả hai bị thuyết phục phải chấp nhận đặc điểm chủ yếu về văn hoá Trung Quốc, vì để làm cho việc cai trị dễ dàng một dân tộc quá đông và quá cương ngạnh, trong khi Trung Quốc giả định về tính ưu việt văn hoá của mình. Xã hội Trung Quốc, dù bị đánh bại, những đã đồng hoá được những kẻ đi chinh phục đến mức độ mà các phần lớn trong lãnh thổ nhà bị coi như là theo Trung Quốc từ truyền thống. Trung Quốc không cố tìm cách xuất khẩu hệ thống chính trị của mình, đúng hơn, Trung Quốc nhìn thấy các nước khác tìm đến họ. Theo ý nghĩa này, Trung Quốc mở rộng không bằng chinh phục mà do sự thẩm thấu.
Trong kỷ nguyên hiện đại, vì theo quan điểm về tính ưu việt văn hoá của mình, nên những đại biểu của phương Tây đã bày tỏ việc đưa Trung Quốc tham gia vào hệ thống thế giới thuộc về châu Âu, mà hệ thống này trở thành một cấu trúc cơ bản cho một trật tự cho thế giới. Họ gây áp lực với Trung Quốc nên vun bồi mối quan hệ với các nơi khác trên thế giới bằng cách trao đổi sứ thần, cho tự do mậu dịch và mang lại nhiều hạnh phúc hơn cho dân chúng với việc hiện đại hoá nền kinh tế và mở cửa xã hội để chấp nhận tín ngưỡng Thiên Chúa giáo.
Những gì mà phương Tây quan niệm như một tiến trình khai sáng và kết ước thì được Trung Quốc xem là một cuộc tấn công. Trước tiên, Trung Quốc cố  tìm cách lẫn tránh rồi sau đó chống đối triệt để. Khi George Macartney, đặc sứ Anh Quốc đầu tiên đến Trung Quốc vào cuối thế kỷ XVIII, ông có mang theo một vài phẩm vật đầu tiên của cuộc Cách mạng Công nghiệp và bức thư của Hoàng đế Georg III đề nghị cho tự do mậu dịch và thiết lập sứ quán thường trú cho hai nước tại Bắc Kinh và Luân Đôn. Chiếc tàu của Trung Quốc đưa vị sứ thần này đi từ Quảng Châu đến Bắc Kinh kết đầy hoa có mang biểu ngữ đề chữ xem ông như  là “Sứ thần Anh quốc triều cống cho Hoàng đế Trung Quốc”. Vị sứ thần bị thải hồi kèm theo một lá thư gởi cho Hoàng đế nước Anh để giải thích rằng không có vị sứ thần nào được phép lưu trú tại Bắc Kinh, bởi vì “châu Âu gồm có nhiều nước khác ngoài qúy quốc, nếu từng nước một và tất cả các nước cùng xin được có đại biểu tại triều đinh, thì làm sao hoàng triều có thể chấp thuận được? Đó là chuyện bất khả thi.“ Hoàng đế không thấy có nhu cầu cho việc mua bán nào vượt qua giới hạn số lượng nhỏ bé đã được quy định, bởi vì Anh quốc không có mặt hàng gì được Trung Quốc ưa chuộng:
“Dù xoay chuyển trong một thế giới rộng lớn, nhưng trước mắt cụ thể, Trẩm có một mục tiêu là duy trì sự cai trị tốt đẹpvà hoàn thành mọi nhiệm vụ của nhà nước, các mục tiêu xa lạ và tốn kếm đều không làm cho Trẩm quan tâm. Nếu Trẩmra lệnh cho tiếp nhận các phẩm vật triều cống do qúy quốc gởi tới, đó chỉ là vì Trẩm chiếu cố với tinh thần là những phẩm vật này từ xa gởi tới . . . Như sứ thần của qúy quốc cũng có thể tự thấy được là Trung Quốc có tất cả mọi thứ hàng.“
Sau khi Napoleon bại trận, khi từng bước mở rộng ngoại thương, nước Anh thử tìm một cách khác để mở cửa giao dịch, phái một đặc sứ thứ nhì cùng với những đề xuất tương tự. Phô diễn hải lực của Anh quốc trong chiến tranh với Napoléon đã không làm thay đổi được cách đánh giá của Trung Quốc về sự mong muốn trong quan hệ ngoại giao. Trong khi sứ thần William Amherst không chịu tham dự lễ khấu đầu, xin lỗi vì lấy cớ là ông chưa có bộ phẩm phục dự chầu, nhiệm vụ của ông bị thải hồi, và nước Anh không còn thiết tha gì về bất cứ một nỗ lực ngoại giao nào khác. Nhà vua gởi một thông điệp cho Hoàng tử Nhiếp chính của Anh quốc để giải thích với giọng như là “Đại chuá tể trong thiên hạ”, Trung Quốc không thể bị phiền nhiễu bởi vì phải đưa mỗi vị sứ thần man rợ đi vào trong một nghi lễ trang nghiêm. Sử liệu của hoàng gia ghi nhận là  “Qúy quốc từ đại dương xa xôi đến để đề xuất lòng trung thành của mình và ao ước đạt được trình độ văn minh, “nhưng, (như một ấn phẩm của cơ quan truyền giáo của phương Tây vào thế kỷ XIX đã dịch lại sắc chỉ này):
“Từ nay trở đi, không cần gởi thêm một đặc sứ nào từ phương xa tới, mà kết quả chỉ là phí sức cho chuyến đi. Nếu Qúy quốc có thể, nhưng tâm có khuynh hướng là tùng phục, thì Qúy quốc được phép gởi sứ bộ đến hoàng triều vào bất cứ lúc nào; đó là cách đích thực để tiến tới văn minh. Để Qúy quốc có thể tuân phục vĩnh viễn, nay Trẩm ban chiếu chỉ này.”    
Nếu so với chuẩn mực cuả ngày nay thì những lời cảnh báo này dường như là quá kiêu ngạo – và xúc phạm quá mức đối với một nước đã duy trì tình trạng quân bình tại châu Âu và có thể tự xem mình là cường quốc tiên tiến về công nghiệp, kinh tế và hải quân – Hoàng đế tự biểu lộ với cung cách theo như lý tưởng về vị thế của mình trong thế giới mà mình đã chinh phục từ ngàn năm nay và các dân tộc láng giềng bị khiến tối thiểu là phải tuân chiều.
Các cường quốc phương Tây, trong sự xấu hổ của mình, đã mang những vấn đề lên trên vấn đề tự do mậu dịch, khi họ kiên quyết lập luận dựa theo quyền nhập khẩu không bị hạn chế – như là thành quả của tiến bộ phương Tây -, để họ bán bạch phiến, một sản phẩm gây tác hại hiển nhiên nhất. Trung Quốc vào cuối thời nhà Thanh đã xao lãng về một nền công nghệ quốc phòng, một phần là vì họ không bị ai thách thức trong một thời kỳ dài, mà chủ yếu vì quân đội chiếm vị thế thứ yếu theo quan niệm trật tự xã hội của Khổng giáo, như họ diễn đạt qua câu nói: “Sắt tốt không dùng để làm móng tay, người tốt không trở thành lính giỏi”. Ngay khi bị các cường quốc phương Tây tấn công, nhà Thanh xuất tiền trong ngân quỹ quốc phòng vào năm 1893 để trùng tu một chiếc tàu làm bằng cẫm thạch rực rỡ trong cung điện muà hè của hoàng gia.
Do lúc đang bị áp lực quân sự nặng nề nhất thời vào năm 1842, Trung Quốc ký các thoả ước tương nhượng các yêu sách của phương Tây. Nhưng Trung Quốc không từ bỏ ý thức độc tôn của mình và chiến đấu triệt thoái trong ngoan cường. Sau khi ghi được một chiến công có tính cách định đoạt trong chiến tranh 1856-58 (chống lại việc một chiếc tàu có đăng ký tại Anh, bị cáo giác là tịch thu trái phép tại Quảng Châu), Anh kiên quyết theo một thoả ước quy định về một quyền mà họ tranh đấu từ lâu, đó là quyền cho sứ thần được lưu ngụ tại Bắc Kinh. Năm sau, khi đến nhậm chức với đoàn tùy tùng trong khí thế khải hoàn, vị sứ thần Anh nhận ra trên các tuyến đường sông chính hướng về thủ đô bị phong toả bởi những xích và kẽm gai. Ông ra lệnh cho lực lượng thủy quân lục chiến Anh dẹp chướng ngại, quân đội Trung Quốc khai hoả, 519 lính Anh chết và 456 người khác bị thương trong trận đánh kế tiếp. Anh liền gởi một lực lượng dưới sự chỉ huy của Lord đột kích Bắc Kinh và tiêu huỷ cung điện muà hè khi triều đình nhà Thanh bỏ chạy. Việc can thiệp thô bạo này buộc triều đình miễn cưỡng chấp nhận lập một khu vực làm toà công sứ cho các đại biểu ngoại giao lưu ngụ. Sự tùng phục của Trung Quốc trong khái niệm của một chính sách ngoại giao hỗ tương theo hệ thống Westphalian thuộc các quốc gia có chủ quyền là miễn cưỡng và phẫn uất.
Trọng tâm của các tranh chấp này là một vấn đề rộng lớn hơn: Có phải Trung Quốc là một trật tự cho toàn bộ thế giới không, hay chỉ là một nước như những nước khác và là một thành phần trong hệ thống thế giới rộng hơn? Trung Quốc bám chặt vào tiền đề truyền thống. Vào cuối năm 1863, sau hai lần thất trận do cường quốc man rợ và nội loạn tràn lan (loạn Thái Bình) dập tắt được là do lời kêu gọi lực lượng ngoại quốc, Hoàng đế đã gởi một thư tới Abraham Lincoln để đảm bảo với ông về một đặc ân của Trung Quốc: “Vì nhận được mệnh trời để cai trị thế gian, nên Trẩm xem Trung Quốc và các nước khác bên ngoài như là tạo thành một gia đình mà không có phân biệt.”
Năm 1872, James Legge, người Tô Cách Lan, là một nhà Trung Quốc học nổi danh, ông đã nói rõ vấn đề và niềm tin về tính ưu thế hiển nhiên của khái niệm ở phương Tây về một trật tự của thế giới vào thời của ông ta:
“Trong suốt 40 năm qua, vị thế của Trung Quốc trong vấn đề đối với các nước tiên tiến hơn của thế giới đã hoàn toàn thay đổi. Trung Quốc đã kết ước với họ trong những điều kiện bình đẳng; nhưng nhìn từ bề ngoài bằng một cách công bình, thì tôi không nghĩ là các quan thượng thư và dân chúng của họ vẫn chưa nhìn thấy sự thực này phải đối diện, đểhọ hình dung một sự thực là Trung Quốc chỉ là một trong số những quốc gia độc lập trên thế giới, và “trong thiên hạ“, Hoàng đế của họ là có quyền cai trị, nhưng không phải là cai trị thiên hạ trong mọi bầu trời, nhưng chỉ là một phần trong bầu trời, như được định nghiã trong bề mặt của trái đất và có thể được chứng minh trên bản đồ.“  
Khi nền công nghệ và trào lưu mậu dịch buộc các hệ thống tương phản tiếp xúc nhau nhiều hơn, thì quy luật của một trật tự thế giới nào sẽ chiếm ưu thế?
Tại châu Âu, hệ thống là kết quả tự nhiên của một loạt các quốc gia độc lập trong thực tế sau khi chiến tranh Ba Mươi Năm kết thúc. Châu Á bước vào kỷ nguyên hiện đại mà không có một cơ cấu đặc biệt nào về tổ chức quốc gia và quốc tế. Hệ thống này bao gồm nhiều trung tâm văn minh, được bao bọc bởi các vương quốc nhỏ hơn, với một tập hợp các cơ chế tương tác lẫn nhau trong tinh tế và luôn thay đổi.
Tài nguyên phì nhiêu của vùng đồng bằng Trung Quốc, một nền văn hoá về tinh thần kiên cường lạ thường và sự nhạy bén chính trị tạo khả năng cho Trung Quốc duy trì được một thời kỳ hơn hai ngàn năm và gây ảnh hưởng đáng kể về các mặt văn hoá, kinh tế và chính trị – ngay cả khi Trung Quốc có điểm yếu về quân sự theo chuẩn mực thông thường. Lợi điểm tương đối nằm ngay trong sự thịnh vượng của nền kinh tế, nó sản xuất những sản phẩm mà tất cả các lân quốc mơ ước. Định hình theo những yếu tố này, tư tưởng của Trung quốc về một trật tự của thế giới hoàn toàn khác biệt với kinh nghiệm của châu Âu, khi họ dựa trên đa số của các nước bình đẳng.
Vở kịch của Trung Quốc phải đương đầu với thế giới phương Tây phát triển và Nhật Bản là ảnh hưởng của các đại cường quốc, mà họ có tổ chức như là các quốc gia có chủ trướng bành trướng văn minh. Thoạt đầu, Trung Quốc thấy cạm bẩy của một nhà nước hiện đại như là một sự hạ mình cho họ. Sự trổi dậy của Trung Quốc về đặc điểm ưu việt trong thế kỷ XXI không là chuyện mới, nhưng là tái lập lại một khuôn mẫu lịch sử. Điểm đặc sắc là Trung Quốc trở thành một người thừa kế một nền văn minh xa xưa  và còn là một siêu cường hiện đại theo mô hình của hoà ước Westphalian. Trung Quốc kết hợp những di sản của khái niệm “Gồm thâu Thiên hạ”, hiện đại hoá kỹ trị, và một mưu cầu để tổng hợp hai nhiệm vụ này cho đất nước trong thế kỷ XX đầy những biến động bất thường.
Trung Quốc và Một Trật tự Của Thế Giới
Chế độ hoàng triều sụp đổ vào năm 1911. Sự thành lập chế độ Cộng hoà Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của Tôn Dật Tiên vào năm 1912 đã để lại cho Trung Quốc một chính quyền trung ương yếu kém và mở đầu một một thập niên của các sứ quân. Vào năm 1928 dưới sự lãnh đạo của Tưởng Giới Thạch, một chính quyền trung ương mạnh hơn được thành lập và cố tạo điều kiện cho Trung Quốc đảm nhiệm một vị thế trong khái niệm theo hoà ước Westphalian về một trật tự của thế giới và trong một hệ thống kinh tế toàn cầu. Nỗ lực để trở thành một Trung Quốc vừa hiện đại vừa giữ được truyền thống, Trung Quốc cố thích nghi vào trong một hệ thống quốc tế, mà hệ thống này tự nó đang nằm trong biến động. Tuy nhiên, tại thời điểm này, Nhật Bản đã tiến hành chương trình hiện đại hoá sớm hơn nửa thế kỷ, nay đã nỗ lực dành quyền bá chủ châu Á. Theo sau hành vi chiếm đóng Mãn châu vào năm 1931 là hàng loạt các cuộc xâm chiếm của Nhật Bản trải dài từ vùng Trung nguyên và phía Đông Trung Quốc vào năm 1937. Chính phủ Quốc Dân Đảng bị ngăn trở trong việc củng cố vị thế, và loạn quân Cộng sản có được phạm vi hoạt động. Dù trổi dậy như một cường quốc của Đồng minh thắng trận với sự kết thúc của thế chiến thứ hai vào năm 1945, Trung Quốc bị phân hoá do nội chiến và hỗn loạn cách mạng mà nó gây thách thức cho tất cả các mối quan hệ và các di sản.
Vào ngày 1 tháng 10 năm 1949 tại Bắc Kinh, Mao Trạch Đông, nhà lãnh đạo Đảng Cộng Sản thắng trận, tuyên bố thành lập nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Quốc với với các lời lẽ: “Nhân dân Trung Quốc đã đứng dậy”. Mao đề ra khẩu hiệu này khi Trung Quốc thanh lọc và tự lực tăng cường qua giáo điều của “cuộc cách mạng liên tục“ và tiến hành loại bỏ các khái niệm đã thành hình trước đây về trật tự quốc nội và quốc tế. Toàn bộ của các phạm vi thuộc về thể chế đều bị công kích: nền dân chủ phương Tây, sự lãnh đạo của Liên Xô trong thế giới Cộng sản và một di sản về quá khứ của Trung Quốc. Nghệ thuật và các lăng tẩm, các ngày lễ hội và truyền thống, ngôn ngữ và y phục bị cấm đoán qua nhiều hình thức khác nhau, tất cả bị cáo buộc là gây ra tinh thần thụ động khiến cho Trung Quốc không chuẩn bị đối phó ngoại xâm. Trong khái niệm của Mao về một trật tự, điểm mà ông gọi là một “sự hoà hợp vĩ đại“, có âm hưởng triết học cổ điển của Trung Quốc – một Trung Quốc hiện đại sẽ vươn lên thoát khỏi sự hủy diệt của truyền thống văn hoá Nho giáo mà nó nhấn mạnh đến sự hài hoà. Ông tuyên bố rằng mỗi đợt sóng của nỗ lực cách mạng sẽ phục vụ như người đi tiên phong cho các đợt sóng cách mạng theo sau. Mao lập luận là tiến trình cách mạng phải được tăng tốc, vì sợ rằng những nhà cách mạng sẽ tự mãn và lười biếng: “Tình trạng bất quân bình là một qui luật tổng quát và khách quan.” Mao viết:
Chu kỳ này không kết thúc, nó phát triển từ tình trạng bất quân bình sang tình trạng quân bình rồi thì từ quân bình lại sang bất quân bình. Tuy nhiên, mỗi chu kỳ mang đến cho chúng ta một trình độ phát triển cao hơn. Tình trạng bất quân bình là bình thường và tuyệt đối trong khi tình trạng quân bình là tạm thời và tương đối. 
Kết cuộc, biến động này nhằm để mang lại một loại thành quả theo truyền thống Trung Quốc: một hình thức của chủ nghĩa Cộng sản thuộc về đặc thù nội tại cho Trung Quốc, tự đặt tách ra cho mình một hình thức độc tôn của hành vi ứng xử mà nó thay đổi là do thành tựu của mình, trước kia Trung Quốc có độc quyền về luân lý, nay độc quyền này mang tính đạo đức cách mạng, một lần nữa nó làm xoay trong khái niệm về “Gồm thu Thiên hạ”
Mao chỉ đạo các vấn đề quốc tế bằng cách đặt nhiều tin cậy tương tự vào tính độc tôn của Trung Quốc. Về mặt khách quan, dù Trung Quốc là yếu, nếu đo với sức mạnh của các nơi khác trên thế giới, Mao kiên quyết nhấn mạnh về vai trò trọng yếu của Trung Quốc qua tính ưu việt về mặt tâm lý và ý thức hệ, nó được biểu hiện qua việc thách thức nhiều hơn là hoà hợp với thế giới, một thế giới đang nhấn mạnh đến uy quyền kinh tế tối thượng. Khi phát biểu trong một hội nghị quốc tế của các lãnh tụ Đảng Cộng Sản tại Mạc Tư Khoa vào năm 1957, Mao gây chấn động cho các đại biểu tham dự bằng cách tiên đoán là trong trường hợp có biến cố với chiến tranh hạt nhân, là quốc gia đông dân nhất và có nền văn hoá kiên cường, Trung Quốc sẽ là người chiến thắng sau cùng, và Trung Quốc không thay đổi tiến trình cách mạng ngay cả khi hằng trăm triệu dân bị thương vong. Trong khi lời tuyên bố này có phần nào là đánh lừa các nước có những công xưởng vũ khí hạt nhân rộng lớn nản lòng, Mao muốn thế giới tin là Mao nhìn vấn đề chiến tranh hạt nhân với lòng bình thản. Vào tháng 7 năm 1971 – trong chuyến viếng thăm bí mật của tôi tại Bắc Kinh – Chu Ân Lai đã đúc kết khái niệm về trật tự thế giới của Mao bằng cách viện dẫn lời của Mao Chủ tịch về tầm nhìn của các vị hoàng đế Trung Quốc với gịong điệu miã mai: “Cả trong thiên hạ đang hỗn loạn, tình hình là tuyệt vời”. Từ trong một thế giới nhiễu nhương, Cộng Hoà Nhân Dân, được rèn luyện qua nhiều năm tranh đấu, cuối cùng sẽ đứng lên đạt chiến thắng, không phải chỉ ở Trung Quốc, mà còn khắp mọi nơi “trong thiên hạ”. Trật tự thế giới theo thuyết Cộng sản sẽ hoà quyện với quan điểm truyền thống của hoàng triều.
Giống như nhà sáng lập triều đại đầu tiên hùng cường nhất của Trung Quốc (221-207 trước Công nguyên) là Hoàng đế Tần Thủy Hoàng, Mao cố gắng thống nhất Trung Quốc, trong khi ông cũng tìm cách phá hoại truyền thống xa xưa mà ông cáo buộc là làm cho Trung Quốc bị suy yếu và sĩ nhục. Ông trị vì theo một phương cách từ xa giống như cách của bất cứ vị Hoàng đế nào (dù các vị Hoàng đế không cần triệu tập quảng đại quần chúng), ông kết hợp cách này với những cách áp dụng của Lenin và Stalin. Cách cai trị của Mao thể hiện nhiều khó khăn trong việc tiến thoái của đấu tranh cách mạng. Những thay đổi do cách mạng càng càn quét bao nhiêu, thì Mao càng gặp chống đối bấy nhiêu. Sự chống đối này không nhất thiết là do giới đối kháng thuộc về ý thức hệ hay chính trị, nhưng còn do sự trì trệ của người trong Đảng. Nhà tiên tri cách mạng đã đem cái chết của mình ra để thách thức nhằm tăng tốc cho lịch trình hành động và nhân rộng hơn về những phương tiện để thực hiện viễn kiến của mình. Mao tung ra chiến dịch Bước Tiến Nhãy Vọt đầy tai hoạ vào năm 1958 để buộc phải công nghiệp hoá nhanh chóng và Cách mạng Văn hoá vào năm 1966 để thanh trừng giới lãnh đạo, tất cả nhằm ngăn ngưà tiến trình thể chế hoá trong một chiến dịch ý thức hệ dài cả hằng chục năm, lưu đày một thế hệ trẻ có trình độ học vấn lui về nông thôn. Hàng chục triệu người chết trong khi theo đuổi mục tiêu của Mao – hầu hết bị loại trừ mà không kể thương hay ghét, buộc phải kết liễu cuộc đời, những gì mà đến nay được xem là một quá trình lịch sử.
Những cuộc cách mạng thắng lợi khi thành quả cách mạng được bảo đảm và cái giá phải trả cho thành quả này được xem như không thể tránh được. Một số nhà lãnh đạo hiện nay của Trung Quốc đã chịu đựng những tổn thất khá nặng nề trong thời Cách mạng Văn hoá, nhưng hiện nay, họ trình bày rằng đau khổ đem lại cho họ sức mạnh và khám phá chính mình để tự rèn luyện cho các nhiệm vụ khó khăn về lãnh đạo một thời kỳ khác của sự chuyển hoá toàn diện. Và dân chúng Trung Quốc, đặc biệt giới trẻ đã trực tiếp trải nghiệm gian lao, dường như họ chấp nhận sự mô tả Mao chủ yếu như là một mẫu người kết hợp nhân danh phẩm giá Trung Quốc. Khiá cạnh nào của di sản này là có ưu thế – thách thức của chủ nghĩa Mao trêu chọc cho thế giới hay sự kiên cường trong thầm lặng, mà đặc điểm này đạt được qua thời kỳ biến động của Mao – và sẽ đóng vai trò quyết định mối quan hệ của Trung Quốc về một trật tự của thế giới trong thế kỷ XXI.
Trong thời kỳ đầu tiên của cuộc Cách mạng Văn hoá, Trung Quốc tự chọn có bốn vị đại sứ trên toàn thế giới và đối đầu với hai siêu cường có hạt nhân là Hoa Kỳ và Liên Xô. Vào cuối thập niên 1960, Mao thừa nhận Cách mạng Văn hoá đã làm cạn kiệt khả năng chịu đựng của người Hoa mà họ đã được thử thách qua hàng ngàn năm trước và sự cô lập của Trung Quốc gây thu hút cho ngoại quốc can thiệp. Mao cố tìm cách khắc phục bằng một tinh thần ngoan cố theo ý thức hệ lẫn sự thách thức. Năm 1969, Liên Xô dường như đang sắp tấn công Trung Quốc khiến cho Mao phải sơ tán các Bộ về các tỉnh, và chỉ có Thủ tướng Chu Ân Lai còn ở lại Bắc Kinh. Để đối phó với cuộc khủng hoảng này, Mao phản ứng lại với cách chuyển chiều hướng bất ngờ thật đặc biệt. Ông chấm dứt mọi khía cạnh vô chính phủ nhất của Cách mạng Văn hoá bằng cách dùng quân đội dẹp tan Hồng Vệ Binh, lực lựợng đã gây tai biến – đưa họ về nông thôn, nơi mà họ lần đầu tiên tham gia chung với các nạn nhân thuở trước của họ, mà kỳ thực, là làm trong các trại lao động cưỡng bách. Và ông cố trấn áp Liên Xô bằng cách chuyển hướng về một đối thủ mà từ trước đến nay ông luôn phỉ báng, đó là Hoa Kỳ.
Mao ước tính rằng việc mở cửa cho Hoa Kỳ sẽ chấm dứt sự cô lập của Trung Quốc và các nước khác có được một sự biện minh để công nhận Công Hoà Nhân Dân Trung Quốc. (Một điểm thú vị là khi tôi đang chuẩn bị chuyến đi lần đầu tiên, một bản phân tích của CIA cho là những xung đột Liên Xô và Trung Quốc đang căng thẳng, nên dễ làm cho sự xích lại của Hoa Kỳ và Trung Quốc thành khả thi, nhưng sự cuồng nhiệt về ý thức hệ của Mao sẽ ngăn trở tiến trình này trong suốt cả đời ông)
Những cuộc cách mạng, cho dù có sức càn quét đến đâu chăng nữa, cần phải được cũng cố, rút cuộc, các lúc sôi nổi cần phải thích ứng cho những gì có thể duy trì được qua thời gian. Đó chính là vai trò lịch sử mà Đặng Tiểu Bình đã đóng. Dù ông đã hai lần bị Mao thanh trừng, hai năm sau khi Mao chết vào năm 1976, ông trở thành nhà lãnh đạo có hiệu năng. Ông nhanh chóng tiến hành cải cải cách kinh tế và mở cửa xã hội. Theo đuổi những gì mà ông gọi là “Xã hội chũ nghiã với đặc trưng Trung Quốc”, ông cởi trói những năng lực tiềm tàng của người dân Trung Quốc. Không đầy trong vòng một thế hệ, Trung Quốc thăng tiến để trở thành một nền kinh tế mạnh hàng thứ nhì trên thế giới. Để tăng tốc sự chuyển hoá đầy ngoạn mục này, – nếu không nhất thiết là do niềm tin – Trung Quốc hoà nhập trong các thể chế quốc tế và chấp nhận những quy luật đã được quy định cho một trật tự thế giới.
Tuy nhiên, sự tham gia của Trung Quốc theo những đặc điểm của cấu trúc của hoà ước mang đến cho họ một sự mâu thuẩn đã phát sinh trong lòng lịch sử. Trung Quốc đem khía cạnh này khi tham gia vào hệ thống nhà nước trên chính trường quốc tế. Trung Quốc không quên rằng từ ban đầu họ bị buộc phải kết ước với một trật tự quốc tế sẳn có theo cách hoàn toàn trái ngược với hình ảnh lịch sử của họ, hoặc đối với những nguyên tắc của hệ thống đã được thừa nhận, họ cũng chiụ y như vậy. Khi bị thúc dục tham gia vào “quy luật của cuộc chơi” và “trách nhiệm” trong hệ thống quốc tế, các phản ứng nội tại của số đông người Trung Quốc – kể cả các giới lãnh đạo cao cấp – họ đã bị ảnh hưởng cực kỳ sâu đậm bởi nhận thức rằng Trung Quốc đã không tham gia trong tiến trình lập pháp cho hệ thống. Khi họ được yêu cầu – và, như là một vấn đề thận trọng, họ đồng ý – tuân thủ luật pháp mà họ đã không tham gia trong việc lập pháp. Nhưng họ kỳ vọng rằng – và sớm muộn gì họ sẽ hành động đúng theo ước vọng này – một trật tự quốc tế phát triển theo cách tạo điều kiện cho Trung Quốc trở nên là người tham gia chủ động trong công tác lập pháp, ngay cả việc duyệt xét lại một số các luật lệ đang hiện áp dụng.
Trong khi chờ đợi việc này thành hình, Bắc Kinh ngày càng tích cực hơn trên chính trường thế giới. Với sự trổi dậy của Trung Quốc là cường quốc kinh tế có tiềm năng mạnh nhất trên thế giới; hiện nay, trong từng diễn dàn quốc tế, người ta tìm kiếm các quan điểm và hỗ trợ của Trung Quốc. Trung Quốc đã tham gia  một vài khía cạnh có tính cách phô trương uy thế trong những hoạt động của phương Tây trong thế kỷ XIX và XX: thí dụ như đăng cai tổ chức Thế Vận hội, các nhà lãnh đạo đọc diễn văn trước diễn đàn Liên hiệp quốc, thăm viếng hỗ tương giữa các nguyên thủ quốc gia và các chính quyền của các cường quốc khắp thế giới. Dù theo chuẩn mực nào, thì Trung Quốc cũng đã lấy lại được một tư thế đã nổi danh trong nhiều thế kỷ với những ảnh hưởng sâu rộng nhất của mình. Vấn đề đặt ra trước mắt là Trung Quốc sẽ ứng xử với một trật tự thế giới như thế nào trong sự tìm kiếm hiện nay, đặc biệt nhất là trong mối quan hệ với Hoa Kỳ.

Hoa Kỳ và Trung Quốc là hai trụ cốt thiết yếu cho một trật tự của thế giới. Điểm đáng chú ý là cả hai nước cùng thể hiện trong lịch sử một thái độ nước đôi để hướng tới một hệ thống quốc tế mà hiện nay họ đem lại sự ổn định, bằng cách là họ xác định những kết ước cho hệ thống này, ngay cả khi họ dành quyền xét đoán những khiá cạnh của việc phác thảo. Khi Trung Quốc được yêu cầu phải đóng một vai trò như là một quốc gia chủ chốt trong số các quốc gia khác cho một trật tự của thế kỷ XXI, họ không có tiền lệ cho vai trò này như một quốc gia quan trọng trong số các quốc gia khác. Hoa Kỳ cũng không có kinh nghiệm trong việc tương tác với Trung Quốc dựa trên cơ sở lâu dài, một nước  có cùng trong một tầm vóc tương tự, khả năng gây ảnh hưởng và thánh tựu kinh tế, mà Trung Quốc có những mô hình về trật tự quốc nội hoàn toàn dị biệt.
Các nền tảng chính trị và văn hoá của hai phiá khác biệt nhau trong các khía cạnh quan trọng. Đường lối của Hoa Kỳ hướng về chính sách là thực tiển; phương sách của Trung Quốc dựa theo khái niệm. Hoa Kỳ không hề có một lân quốc hùng mạnh nào đe doạ; Trung Quốc không hề có một kẻ nghịch thù hùng mạnh nào ngay biên giới. Người Mỹ cho là mỗi một vấn đề đều có giải pháp; người Hoa nghĩ rằng mỗi một giải pháp là một cơ hội mở ra thêm một loạt vấn đề mới. Người Mỹ tìm kết quả đáp ứng với tình hình trước mắt; người Hoa tập trung giải quyết trên sự thay đổi tuần tự tiến hoá. Người Mỹ phác thảo một chương trình nghị sự với các đề mục thực tiễn “có thế chuyển giao được“ cho đối tác; Người Hoa đề ra những nguyên tắc tổng quát và phân tích tìm ra ở đâu họ sẽ lãnh đạo. Suy nghĩ của nguời Hoa một phần định hình do chủ nghĩa Cộng sản, nhưng bao gồm cả cách suy nghĩ theo truyển thống của Trung Quốc đến một mức độ mà nó ngày một gia tăng. Cả hai điểm này không nằm trong trực giác quen thuộc của người Mỹ.
Trong lịch sử của hai nước, chỉ mới gần đây, Trung Quốc và Hoa Kỳ đã tham gia toàn diện trong một hệ thống quốc tế của các quốc gia có chủ quyền. Trung Quốc tin rằng mình là độc tôn và hàm chứa chủ yếu là có một thực tại riêng biệt. Hoa Kỳ cũng thế, cũng tự coi mình là độc nhất – có nghĩa là “một ngoại lệ“ -. nhưng với một nghĩa vụ đạo đức để hỗ trợ cho giá trị này khắp thế giới với nhiều lý do ngoài phạm vi biện luận vì nhân danh chính nghĩa quốc gia là thể diện. Hai xã hội to lớn với những nền văn hoá dị biệt và với những cơ sở làm tiền đề khác nhau, cả hai đang tiến hành điều chỉnh những vấn đề nền tảng thuộc phạm vi quốc nội, cho dù liệu rằng hành vi này được chuyển sang thành cạnh tranh hay là đem lại một hình thức mới của quan hệ đối tác hay không, chủ yếu nó sẽ định hình cho một triển vọng về trật tự của thế giới của thế kỷ XXI.
Kể từ khi có cuộc cách mạng, thì hiện nay thế hệ thứ năm đang lãnh đạo Trung Quốc. Mỗi nhà lãnh đạo trước đây đã đãi lọc những tầm nhìn đặc biệt của thế hệ về nhu cầu của Trung Quốc. Mao Trach Đông kiên quyết bứng tận gốc các thể chế đã hình thành, kể cả thể chế mà ông đã xây dựng trong gia đoạn đầu của chiến thắng, vì ông e rằng thể chế sẽ gây trì trệ do các chiều hướng quan liêu của Trung Quốc. Đặng Tiểu Bỉnh nhận ra rằng Trung Quốc không thể đãm nhận vai trò lịch sử của mình, trừ khi Trung Quốc dấn thân trong các vấn đề quốc tế. Phong cách của Đặng là tập trung mạnh vào chủ điểm: không phô trương uy thế, vì sợ rằng các nước ngoài sẽ lo âu – không yêu sách làm lãnh đạo, nhưng mở rộng ảnh hưởng của Trung Quốc bằng cách hiện đại hoá cả xã hội lẫn nền kinh tế. Dựa trên cơ sở này, Giang Trạch Dân, người được bổ nhiệm trong cuộc khủng hoảng Thiên An Môn, đã khởi động vào năm 1989 một chính sách ngoại giao cá nhân của mình trong tầm vóc quốc tế và mở rộng cơ sở của Đảng Cộng Sản trong phạm vi quốc nội để khắc phục hậu quả. Ông ta lãnh đạo Trung Quốc tham gia vào một hệ thống quốc tế và mậu dịch quốc tế như là một thành viên toàn phần. Là người do Đặng tuyển chọn, Hồ Cẩm Đào khéo léo xoa dịu những quan tâm về quyền lực của Trung Quốc ngày một tăng lên và gây dựng cơ sở cho một khái niệm về khuôn mẫu mới của mối quan hệ giữa các siêu cường, do Tập Cận Bình đề xuất.
Dưới sự lãnh đạo của Tập Cận Bình, ông cố xây dựng các di sản này bằng cách thực hiện chương trình cải cách rộng lớn theo quy mô của Đặng. Trong khi từ bỏ dân chủ, ông ta dự phóng một hệ thống sẽ hình thành với nhiều minh bạch mà kết quả được xác định bởi thủ tục pháp lý nhiều hơn là do một khuôn mẫu theo những mối quan hệ cá nhân và gia đình đã có. Việc này đưa ra những thách thức đối với một vài thể chế đã hình thành và  hoạt động – thí dụ như thuộc về xí nghiệp quốc doanh, dựa thế vào các quan chức địa phương, và tham nhũng tràn lan – bằng cách ông kết hợp viễn kiến với lòng can đảm, nhưng chắc chắn mang lại cho cải cách một thời kỳ có nhiều phương tiện dồi dào và bất trắc.
Thành phần của giới lãnh đạo Trung Quốc phản ảnh sự tiến triển của Trung Quốc nhằm hướng tới việc tham gia và ngay cả việc định hình trong các vấn đề quốc tế. Năm 1982, không có một thành viên nào của Bộ Chính trị có trình độ đại học. Lúc tôi viết sách này thì hầu hết những người này đã có trình độ đại học, một số nhân vật quan trọng đã có trình độ cao học. Văn bằng đại học ở Trung Quốc dựa theo giáo trình theo kiểu của phương Tây, không phải là di sản của hệ thống quan lại củ, (hoặc là giáo trình theo Đảng Cộng Sản mà họ áp đặt nhồi nhét trí thức theo hình thức của họ). Việc này biểu hiện một sự thanh toán triệt để với quá khứ của Trung Quốc, trong khi người Hoa đã bị buộc chặt và tự hào về những nhận thức của họ về thế giới ngoài những phạm vi gần gũi. Giới lãnh đạo Trung Quốc hiện nay bị ảnh hưởng bởi những kiến thức của họ về lịch sử Trung Quốc, nhưng họ không bị giam hãm trong hoàn cảnh của lịch sử.
Một Triển Vọng Lâu Dài
Nhưng xung đột tiềm tàng giữa một cường quốc đã thành hình và một cường quốc đang nổi lên không phải là chuyện mới. Điều không thể tránh được là cường quốc đang trổi dậy chạm phải một số lĩnh vực mà từ trước đến nay được xem là dành độc quyền cho cường quốc đã thành hình. Cũng tương tự như vậy, cường quốc đang trổi dậy nghi ngờ đối thủ của mình có thể dẹp tan sự tăng trưởng của mình trước khi quá trể. Một công trình nghiên cứu của Đại học Harvard chứng minh rằng có 15 trường hợp trong lịch sử, khi cường quốc đã thành hình và đang trổi dậy va chạm nhau, thì có đến 10 trường hợp là kết thúc bằng chiến tranh.
Chính vì thế mà không ngạc nhiên gì khi thấy những nhà tư tưởng chiến lược có tầm vóc của cả hai phiá đề xuất những quy cách ứng xử và kinh nghiệm lịch sử để tiên đoán những xung đột không thể tránh được giữa hai xã hội. Về phiá Trung Quốc, một vài hành động của Hoa Kỳ được giải thích như là một phác thảo một mô hình nhằm ngăn chận sự trổi dậy của Trung Quốc, và sự cổ vũ của Hoa Kỳ trong lĩnh vực nhân quyền được xem như là một đề án làm suy yếu cấu trúc chính trị quốc nội của Trung Quốc. Một vài nhân vật chủ yếu mô tả cái gọi là chính sách chuyển trục của Hoa Kỳ như là khúc dạo đầu trong màn trình diển chót để đọ sức nhằm buộc Trung Quốc phải chịu vị thế thứ yếu thường trực – một thái độ để càng đáng được chú ý nhiều hơn, bởi vì Hoa Kỳ không liên hệ đến bất cứ một cuộc tái phối trí quân sự nào đáng kể vào lúc mà tôi viết tác phẩm này.
Về phiá Hoa Kỳ, có nỗi lo sợ là Trung Quốc càng lớn mạnh sẽ làm suy yếu tính ưu việt của Hoa Kỳ một cách có hệ thống và chính vì thế ảnh hưởng đến tình hình an ninh của Hoa Kỳ. Khi so sánh tình trạng tương tự như Liên Xô trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, các phe nhóm chủ chốt nhìn ra rằng khi Trung Quốc quyết tâm đạt được việc chế ngự quân sự cũng như kinh tế trong tất cả những vùng lân cận, vàcuối cùng thì từ đó họ kết luận Trung Quốc là bá quyền.
Cả hai phiá đều tăng cường những cuộc thao diễn quân sự và chương trình quốc phòng trong khi có những ngờ vực nhau. Trong tình trạng bình thường, ngay khi cả hai nước có những biện pháp bảo vệ quyền lợi quốc gia một cách hợp lý, – khi sự bảo vệ này được hiểu một cách đại thể – thì họ giải thích theo những điều kiện của những kịch bản tồi tệ nhất. Mỗi phiá phải có trách nhiệm cho vấn đề bảo vệ, vì e rằng những huy động và ứng xử đơn phương của họ làm leo thang thành một cuộc chạy đua vũ trang.  Hai phiá cần hấp thụ từ trong lịch sử của thập niên trước thế chiến thứ nhất, khi một bầu không khí ngờ vực ngày càng hiện dần và đối đầu tiềm ẩn gia tăng đến độ thành thảm hoạ. Các nhà lãnh đạo của châu Âu bị sập trong một cái bẩy do cách lập kế hoạch quân sự của mình và họ không có khả năng để tách các khó khăn của chiến thuật ra khỏi kế hoạch của chiến lược.
Có hai vấn đề khác đang góp phần cho sự căng thẳng trong mối quan hệ Trung Quốc và Hoa Kỳ. Trung Quốc từ bỏ một đề nghị mà trong đó một trật tự quốc tế được thúc đẩy do sự lan toả của nền dân chủ tự do và cộng đồng thế giới phải có nghĩa vụ thực hiện, và đặc biệt nhất là nó sẽ đạt được một tình trạng nhận thức về nhân quyền bởi các tác động quốc tế. Hoa Kỳ có thể điều chỉnh cách áp dụng quan điểm của mình về các vấn đề nhân quyền trong mối quan hệ với những ưu tiên thuộc về chiến lược. Nhưng trong ánh sáng của lịch sử và niềm tin của dân chúng, Hoa Kỳ không bao giờ từ bỏ tất cả những nguyên tắc chung này. Về phiá Trung Quốc, giới lãnh đạo nhìn chủ đề này đúng theo như lời của Đặng Tiểu Bình phát biểu:
Thực ra, chủ quyền tối thượng của quốc gia là quan trọng hơn các vấn đề nhân quyền, nhưng nhóm Bảy hay Tám cường quốc thường vi phạm quyền tối thượng của các quốc gia nghèo và yếu của thế giới thứ Ba. Những thuơng thảo của họ về các vấn đề nhân quyền, tự do và dân chủ chỉ nhằm đặt ra để bảo vệ quyền lợi của các quốc gia giàu mạnh. Họ tận dụng sức mạnh của mình để dọa nạt nước yếu hầu theo đuổi bá quyền và thực hiện chính trị theo quyền lực.   
Không một thỏa hiệp chính thức nào có thể đạt được giữa các quan điểm này; giử sao cho những bất hoà tránh thành xung đột gia tăng là một trong những nghiã vụ chính của các nhà lãnh đạo của cả hai phiá.
Một vấn đề trước mắt quan hệ đến Bắc Hàn, mà một câu cách ngôn của từ thế kỷ XIX chắc chắn là áp dụng được: “Chúng ta đang sống trong thời gian kỳ diệu mà kẻ mạnh là kẻ yếu vì sự thận trọng, và kẻ yếu thành kẻ mạnh do sự táo bạo.“ Bắc Hàn cai trị không theo nguyên tác chính thống được chuẩn nhận, thậm chí cũng không theo nguyên tắc của Cộng Sản như họ tuyên bố. Thành tựu chính của họ là xây dựng một vài thiết bị hạt nhân. Bắc Hàn không có khả năng quân sự để gây chiến với Hoa Kỳ. Những sự tồn tại các vũ khí này có ảnh hưởng chính trị vượt xa hơn những tiện ích quân sự. Họ gây khích lệ tác động cho Nhật Bản và Nam Hàn tạo khả năng hạt nhân quân sự. Họ khuyến khích Bình Nhưỡng chấp nhận rủi ro không cân xứng với khả năng của mình, gây thêm nguy hiểm cho một cuốn chiến khác trên bán đảo Triều Tiên.
Đối với Trung Quốc, Bắc Hàn là hiện thân của các di sản phức tạp. Trong nhãn quan của một vài người Hoa, chiến tranh Hàn quốc được xem là một biểu tượng về lòng quyết tâm của Trung Quốc nhằm kết thúc “một thế kỷ bị sĩ nhục“ và “trổi dậy“ trên chính trường thế giới, nhưng cũng là một lời cảnh báo chống lại các việc tham chiến mà về nguồn gốc thì Trung Quốc không thể kiểm soát được và các hậu quả có thể kéo dài nghiêm trọng và ngoài dự kiến. Đó là lý do tại sao Trung Quốc và Hoa Kỳ cùng một quan điểm tại Đại Hội Đồng Bảo An LHQ trong việc đòi hỏi Bắc Hàn từ bỏ – không cắt giảm – chương trình hạt nhân.
Đối với chế độ Bình Nhưỡng, từ bỏ vụ khí hạt nhân có thể liên hệ đến tình trạng phân hoá chính trị. Nhưng từ bỏ là chuyện rõ ràng, đó là những gì mà Hoa Kỳ và Trung Quốc công khai đòi hỏi trong các Nghị Quyết của LHQ mà họ đã hỗ trợ. Hai nước cần phối hợp các chính sách của mình để dự phóng trong trường hợp mà các mục tiêu đề ra được thực hiện. Liệu việc này có thể kết hợp các quan tâm và các mục tiêu của hai phía về vấn đề Hàn quốc? Liệu Trung Quốc và Hoa Kỳ có thể tiến hành một chiến lược hợp tác cho một Hàn Quốc giải giới vũ khí hạt nhân và thống nhất, để cho tất cả các phe phái sống trong an bình và tự do hơn không? Đây là một biện pháp quy mô nhằm hướng tới “một khuôn mẫu mới cho các mối quan hệ của cường quốc”, một sách lược thường được đề cập nhưng việc hình thành còn quá chậm.
Những nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc sẽ nhận ra rằng họ không tài nào biết được phản ứng của dân chúng Trung Quốc đối vối chương trình nghị sự quá rộng lớn, họ đang chèo chống trong một vùng biển lạ. Họ không muốn tìm kiếm những cuộc phiêu lưu ở nước ngoài, nhưng họ sẽ chống lại mọi sự thâm nhập vào những lĩnh vực mà họ định nghĩa như là quyền lợi cốt lõi, có lẽ với tinh thần quyết liệt hơn các vị tiền nhiệm; nói một cách chính xác hơn, bởi vì họ cảm thấy có trách nhiệm giải thích các điều chỉnh không thể tách rời khỏi chương trình cải cách qua việc nhấn mạnh về quyền lợi quốc gia. Bất cứ một trật tự quốc tế nào bao gồm cả Hoa Kỳ và Trung Quốc đều phải có liên hệ đến tình trạng quân bình của cán cân quyền lực, nhưng việc điều hành xưa củ của việc quân bình cần phải được giảm nhẹ bằng cách thoả thuận dựa trên luật lệ và thúc đẩy bởi các yếu tố của hợp tác.
Những nhà lãnh đạo của Hoa Kỳ và Trung Quốc đã thừa nhận công khai là quyền lợi chung của hai quốc gia đang phác hoạ một kết quả xây dựng. Hai vị Tổng Thống của Hoa Kỳ (Barack Obama và George W. Bush) đã thoả thuận với hai vị tương nhiệm Trung Quốc (Tập Cận Bình và Hồ Cẩm Đào) để tạo ra một quan hệ đối tác chiến lược tại khu vực Thái Bình Dương, làm thành một cách cho việc duy trì tình trạng quân bình trong khi giảm bớt đe doạ quân sự cố hữu trong vấn đề. Tính đến nay, các bảng tuyên bố về ýđịnh chung không phù hợp với các bước cụ thể trong chiều hướng đã thỏa thuận.
Quan hệ đối tác không thể nào thành tựu do bảng tuyên cáo. Không một thoả ước nào có thể bảo đảm cho một quy chế đặc biệt cho Hoa Kỳ. Nếu Hoa Kỳ đến lúc cảm nhận mình là một cường quốc đang suy vi – một vấn đề có do chọn lựa, không phải là chuyện định mệnh – Trung Quốc và các nước khác sẽ thành công trong việc lãnh đạo thế giới, một tình trạng mà Hoa Kỷ đã hành sử hầu như trong suốt một thời kỳ sau thế chiến thứ hai sau một thời kỳ giữa hỗn loạn và biến động
Nhiều người Hoa có thể thấy Hoa Kỳ là một siêu cường vượt qua đĩnh cao của mình. Tuy nhiên, trong giới lãnh đạo của Trung Quốc, họ cũng công nhận là Hoa Kỳ sẽ duy trì khả năng lãnh đạo quan trọng trong tương lai gần. Nền tảng cho việc xây dựng một trật tự cho thế giới tốt đẹp không phải là do một quốc gia duy nhất, không phải là do Hoa Kỳ mà cũng không phải là do Trung Quốc có đủ tư thế tự mình đảm nhận vai trò lãnh đạo thế giới theo cách mà Hoa Kỳ đã thực hiện thời kỳ ngay sau khi Chiến tranh Lạnh, khi mà Hoa Kỳ còn có những ưu điểm nổi bật cả về kinh tế lẫn tâm lý.
Tại Đông Á, Hoa Kỳ không hẳn là một cán cân, một thành phần không thể thiếu để đạt tới tình trạng quân bình. Những chương trước đây đã chứng minh được của tình trạng quân bình là mong manh, vì số lượng các thành phần tham gia là các nước nhỏ và thay đổi lòng trung thành có thể trở thành yếu tố quyết định. Một phương sách thuần túy về quân sự cho tình trạng quân bình tại Đông Á dường như sẽ dẫn đến việc liên kết, thậm chí nó còn cứng rắn hơn so v ới sự liên kết đã gây ra thế chiến thứ nhất.
Tại Đông Á, có một cái gì đó đang tiến gần tới tình trạng quân bình trong cán cân quyền lực giữa Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, và Hoa Kỳ, với những thảnh viên ngoại vi là Liên Xô và Việt Nam. Nhưng tinh trạng này khác biệt với tình trạng quân bình trong cán cân quyền lực thuộc về lịch sử mà nó có một thành viên chủ yếu là Hoa Kỳ. Hoa Kỳ có trọng tâm hấp lực của mình, nằm xa với trọng tâm điạ lý của Đông Á – và trên hết, dù lực lượng quân sự của hai nước tự cảm nhận là kẻ thù thông qua các tạp chí quân sự và trong các lời tuyên bố cũng nói về về mối quan hệ đối tác như là một mục tiêu của các vấn đề chính trị và kinh tế. Vì vậy, việc xãy ra là Hoa Kỳ là một đồng minh của Nhật Bản và tuyên dương xem Trung Quốc như một bạn đối tác,  - một tình trạng tương tự như dưới thời Bismarck khi ông liên minh với Áo để tạo quân bình với Liên Xô do một thoả ước. Nghịch lý rõ ràng vì tình trạng mơ hồ duy trì được tính cách mềm dẻo cho tình trạng quân bình tại châu Âu. Và sự từ bỏ này – khi nhân danh sự minh bạch – tạo nên hằng loạt các cuộc đối đầu ngày càng gia tăng, mà cao điểm là thế chiến thứ nhất.
Trong hơn một thế kỷ, – kể từ khi có chính sách Mở Cửa và trung gian hoà giải của Theodore Rossevelt về chiến tranh giữa Liên Xô và Nhật Bản – đã có một chính sách cố định của Hoa Kỳ để ngăn ngừa tình trạng bá quyền tại châu Á. Trong tình trạng hiện nay, Trung Quốc có một chính sách không thể tránh được để kiềm chế các lực lượng có tiềm năng đối đầu là làm tìm cách cho nó càng xa biên giới càng tốt. Cả hai nước di động trong phạm vi này. Duy trì hoà bình tùy thuộc vào mức kiềm chế mà hai quốc gia theo đuổi những mục tiêu và trong khả năng đảm bảo là có tình trạng cạnh tranh trong phạm vi chính trị và ngoại giao.
Trong thời kỳ Chiến tranh Lạnh, lằn ranh phân định được định nghiã qua các lực lượng quân sự. Trong thời kỳ hiện đại, lằn ranh không nên được định nghiã chủ yếu là do sự  phối trí bằng quân sự. Thành tố quân sự không nên được quan niệm như là một định nghiã duy nhất hay chính yếu cho tình trạng quân bình. Chuyện nghịch lý là khái niệm về quan hệ đối tác cần có một thành tố của tình trạngquân bình mới cho cán cân của quyền lực, đặc biệt là tại châu Á, – một đường lối nếu áp dụng như nguyên tắc bao quát -, sẽ là khái niệm quan trọng như chưa từng có trước đây. Sự kết hợp về một chiến lược nhằm đem lại tình trạng quân bình trong cán cân quyền lực với một sách lược ngoại giao về quan hệ đối tác sẽ không thể thay đổi các khiá cạnh thù nghịch, nhưng nó có thể lảm giảm nhẹ tác động này. Trên hết, sự kết hợp này sẽ đem lại cho những nhà lãnh đạo của Trung Quốc và Hoa Kỳ những kinh nghiệm trong sự hợp tác xây dựng và mang đến cho hai xã hội một đường lối xây dựng hướng tới một tương lai bình ổn hơn.
Một trật tự luôn đòi hỏi về một tình trạng quân bình trong sự kiềm chế, sức mạnh và tính chính thống với tất cả tinh tế. Tại châu Á, cần phải có sự kết hợp một tình trạng quân bình trong cán cân quyền lực với một khái niệm về quan hệ đối tác. Một định nghiã của tình trạng quân bình thuần túy về mặt quân sự sẽ chuyển dần sang một tình trạng đối đầu. Một khảo hướng thuần túy về mặt tâm lý cho quan hệ đối tác sẽ gây thêm lo sợ về nạn bá quyền. Giới lãnh đạo khôn ngoan phải cố tìm cách đạt được tình trạng quân bình này. Ngoài tình trạng quân bình này ra, thì tai họa tất sẽ đến.
Đỗ Kim Thêm dịch
Bài liên quan:
Bản Tổng Kết Của Một Cố Vấn: Phỏng Vấn Henry Kissinger Do Christoph Amend Và Matthias Nass Thực Hiện
Giới Thìệu Sách: Hồ Sơ tội trạng Của Henry Kissinger Chistopher Hitchens, The Trial of Henry Kissinger, Verso Books, London, New York 2001, 159 pp.
Book Review Essay – Henry Kissinger  – World Order: Reflections on the Character of Nations and the Course of History, Penguin Press, 2014, 432 pp.
[i]  Hoà ước Westphalia là một loạt các thoả ước được ký kết từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1648 tại hai thành phố Osnabrück và Münster (Đức) nhằm kết thúc chiến tranh Ba mươi năm (1618- 1648) tại Trung Âu (Holy Roman Empire) và chiến tranh Tám mươi năm (1569-1648) giữa Tây Ban Nha và Hoà Lan. Các hoà ước này đã định hình cho một hệ thống chính trị mới cho các quốc gia châu Âu với các khái niệm chủ yếu là tôn trọng quyền dân tộc tự quyết, vẹn toàn lãnh thổ và nguyên tắc bất can thiệp vào nội bộ nước khác. Các khái niệm này sau trở thành nền tảng cho luật quốc tế nhờ sự chuẩn nhận của Cơ quan Liên Hiệp Quốc. (CTCND)
-

-Henry Kissinger đã ‘biếu’ Hoàng Sa cho Trung Quốc như thế nào? 
FB Minh Quang Bùi

Kissinger và Mao Trạch Đông
Việc thất thủ Hoàng Sa là hậu quả của những đổi chác giữa Mỹ và Trung Quốc, mà chủ súy chính là cố vấn Henry Kissinger.
Chính sách của Mỹ trước thời kỳ Nixon, tức trước Kissinger hoàn toàn khác. Còn từ thời kỳ Kissinger trở đi là trái nghịch hoàn toàn, thậm chí cả các đồng minh Đài Loan và Nhật Bản cũng “nếm mùi” ông này.

Nếu biết rằng vào ngày 24-4-1965, tổng thống Mỹ lúc đó là Lyndon Johnson đã ký chỉ thị hành pháp số 11216 (Executive Order 11216) đặt Việt Nam và toàn thể khu vực Hoàng Sa và Trường Sa “trong vùng chiến sự”, thì có thể thấy việc chín năm sau Kissinger và Richard Nixon “buông” Hoàng Sa là một sự bội phản không chỉ với Việt Nam mà cả với các chính quyền Mỹ tiền nhiệm




Henry Kissinger lúc còn trẻ
."
Hoàng Sa trong “vùng chiến sự”

Tài liệu giải mật của Bộ Ngoại giao Mỹ - FRUS, 1955-1957 – Volume III, China, Document 186 (*) - cho biết hôm chủ nhật 10-6-1956, tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn báo cáo việc Bộ Ngoại giao VNCH báo động với tòa đại sứ Mỹ rằng “Chicom (quân Trung Cộng, cách gọi lúc đó của VNCH và Mỹ cùng đồng minh) đổ bộ lên đảo Robert (đảo Hữu Nhật)”, căn cứ trên báo cáo của trạm khí tượng của VNCH trên đảo Pattle (tức đảo Hoàng Sa) trong quần đảo Paracels (Hoàng Sa).Trong cuộc họp sau đó, Ngoại trưởng Mỹ Dulles bảo các cộng sự của mình xem xét khả năng viện dẫn hiệp định kết thúc chiến tranh với Nhật Bản, theo đó Hoa Kỳ có quyền hạn và trách nhiệm kế thừa đối với tất cả lãnh thổ Nhật chiếm đóng trước kia. Ông cũng chỉ thị xem xét khả năng đơn phương ra tay hành động chiếu theo tinh thần điều 8 hiệp ước SEATO (Liên phòng Đông Nam Á), theo đó Mỹ có nhiệm vụ phòng thủ khu vực này, một khi máy bay thám thính của hạm đội 7 xác nhận nguồn tin từ phía Sài Gòn, và sau khi đã thăm dò đánh giá tính hiệu quả của biện pháp đề ra.
Ngày hôm sau, thứ hai 11-6-1956, Bộ Ngoại giao Mỹ gửi tiếp bức điện Deptel 4021 cho tòa đại sứ Mỹ tại Sài Gòn và tại Đài Loan, cho biết “Các lực lượng khả dụng của Mỹ trong khu vực sẽ đơn phương hành động buộc Trung Cộng rút lui sau khi đã cảnh cáo”, đồng thời yêu cầu “cố đạt đến một thỏa thuận hành động hỗn hợp lực lượng giữa Trung Hoa Dân Quốc và Sài Gòn”.
Trong thời gian đó, hạm đội 7 phái hai tuần dương hạm và một số máy bay thám thính đến khu vực Hoàng Sa thực hiện các cuộc thám thính trên biển, trên không và cả trên bộ ở đảo Hữu Nhật trong hai ngày 12 và 13-6. Trong bức điện sau đó gửi CINCPAC (bộ chỉ huy trung tâm), phó đô đốc Ingersoll, tư lệnh hạm đội 7 kiêm tư lệnh bộ chỉ huy lực lượng Mỹ phòng vệ Đài Loan, loan báo các kết quả thám thính:“Thay đổi duy nhất ở Hoàng Sa trong mấy tháng qua chỉ là việc Trung Cộng tăng người lên đảo Woody (Phú Lâm)… Hoạt động của họ hầu như chỉ là thu gom phân chim. Không thấy binh sĩ hay vũ khí”. Và ông kết luận: “Trong những điều kiện trên, hiện chưa đến lúc Mỹ phải quét sạch bọn Trung Cộng ra khỏi đảo Phú Lâm. Một nỗ lực chung giữa Đài Loan và (Nam) Việt Nam cũng không tiện…”.Câu chuyện trên cho thấy vào năm 1956 đó, dưới thời kỳTổng thống Dwight D. Eisenhower, Mỹ khẩn trương đáp ứng bảo vệ Hoàng Sa, thậm chí còn thoáng có ý định tổ chức cho Đài Loan và Sài Gòn cùng phối hợp đuổi Trung Quốc ra khỏi Hoàng Sa!Tạm lấy mốc chín năm sau, lập trường của Mỹ về Hoàng Sa vẫn không thay đổi, thậm chí mạnh mẽ hơn qua việc Tổng thống Johnson ký chỉ thị hành pháp số 11216 đặt Việt Nam và toàn thể khu vực Hoàng Sa và Trường Sa “trong vùng chiến sự”, khiến Trung Quốc tức điên lên.Đại sứ Trung Quốc tại Ba Lan là Wang đã gặp đại sứ Mỹ Cabot tại Ba Lan để phản kháng. Đại sứ Cabot sau đó đã đánh điện báo cáo lại Bộ Ngoại giao: “Wang nói là đã được lệnh phản đối mạnh mẽ chỉ thị hành pháp ngày 24-4 của tổng thống bao gồm đảo Hoàng Sa trong vùng biển chiến sự. Chính phủ Mỹ phải chịu trách nhiệm về mọi hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ đây… Tôi đã bác bỏ những khiếu nại của Wang về đảo Hoàng Sa”.Không chỉ đại sứ họ Wang này mà một đại sứ cùng họ Wang khác thay thế vào tháng 7 sau đó đã đưa ra vô số khiếu nại và đều nhận được cái lắc đầu của đại sứ Cabot. Đơn giản vì Hoàng Sa là của Việt Nam, đang do VNCH quản lý.
Và Kissinger xuất hiện


Nixon và Chu Ân LaiChín năm sau, Trung Quốc thôn tính Hoàng Sa vào ngày 19-1-1974 và Nhà Trắng ra thông cáo trong bức điện mang mã số 1974STATE012641_b, đề ngày thứ bảy 19-1-1974: “Chính phủ Hoa Kỳ không đứng về phe nào trong các cuộc tranh chấp xung đột về quần đảo Hoàng Sa, song mạnh mẽ mong muốn giải quyết tranh chấp một cách hòa bình… Chúng tôi không rõ vụ đụng độ này đã nổ ra trong hoàn cảnh nào. Lực lượng quân sự Mỹ không dính dự vào vụ này…”.Một thái độ hoàn toàn khác với trước kia!Chẳng qua do “vua đi đêm” Kissinger (cách gọi của báo chí Sài Gòn) đã quân sư cho Tổng thống Nixon, kế vị Tổng thống Johnson từ 20-1-1969, bắt tay với Trung Quốc để đối trọng với Liên Xô lúc đó đang căng thẳng với Trung Quốc, và tìm một lối ra khỏi Việt Nam trong danh dự.Trong các vụ “đi đêm” đó, Kissinger đã lần lượt “biếu” Trung Quốc những món quà sau để đổi lấy chuyến thăm Trung Quốc vào tháng 2-1972: ngày 10-6-1971, Nhà Trắng loan báo chấm dứt lệnh cấm vận thương mại Trung Quốc kéo dài 21 năm; ngày 28-7-1971, Chính phủ Mỹ loan báo ngưng việc thu thập tin tức tình báo về Trung Quốc; ngày 2-8-1971, Ngoại trưởng Roger loan báo Mỹ sẽ thôi chống lại việc Trung Quốc gia nhập Liên Hiệp Quốc, song sẽ không bỏ phiếu trục xuất Đài Loan…Về phần mình, nhật báo Hồng Kỳ cũng hôm 2-8 đó giải thích rằng việc Trung Quốc mở ra với Mỹ là do Trung Quốc phải liên minh với “kẻ thù bậc hai” là Mỹ, để cô lập và tấn kích “kẻ thù bậc nhất” là Liên Xô. Trung Quốc lúc đó rất muốn “ẩu đả” với Liên Xô, thậm chí hôm 21-4 trước đó Nhân Dân Nhật Báo đăng bài xã luận kêu gọi lật đổ chính quyền Xô viết, khiến lãnh đạo Liên Xô Leonid Brezhnev lên án chiến dịch chống Liên Xô này của Trung Quốc.Song món quà thượng hạng mà Kissinger biếu Bắc Kinh là chuyến bay đến Bắc Kinh hôm 20-10-1971 và lưu lại tại đó. Đến 25-10, ở New York, Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc biểu quyết mời Đài Loan ra, Trung Quốc bước vô thay thế. Đại sứ Mỹ tại Liên Hiệp Quốc lúc đó là George Bush (bố) than rằng việc Kissinger có mặt tại Bắc Kinh trong thời điểm đó đã ngáng trở các nỗ lực của Mỹ nhằm giữ ghế cho Đài Loan.
Những đổi chác qua lại đó đã đưa Nixon sang Trung Quốc “đi tour bảy ngày” Bắc Kinh, Hàng Châu, Thượng Hải từ 21 đến 28-2-1972, mà đỉnh cao là Thông cáo chung Thượng Hải (Sino-U.S. relations, PBS.org).

Nixon từ Trung Quốc về được một tháng thì Bắc Kinh bắt đầu phản kháng về Hoàng Sa, song lần này phản ứng của Mỹ khác trước.Bức thư của Chính phủ Mỹ gửi Chính phủ CHNDTQ (được lưu trong FRUS volume XVII, số 219) không ghi ngày tháng, phúc đáp việc Trung Quốc phản kháng việc tàu chiến Mỹ đến gần quần đảo Hoàng Sa: “Phía Mỹ đã tiến hành điều tra toàn diện các sự cố mà phía Trung Quốc đã lưu ý hôm 24-3-1972… Vì lợi ích của quan hệ Mỹ – Trung, phía Mỹ đã ra chỉ thị (cho tàu bè, tàu bay của mình) từ nay giữ khoảng cách tối thiểu 12 hải lý với các đảo Hoàng Sa…”.Tuy vẫn bảo rằng quyết định này không can dự gì đến các tranh chấp lãnh thổ ở Hoàng Sa, song khi hứa tránh xa 12 hải lý đã là thừa nhận lãnh hải của Trung Quốc ở Hoàng Sa rồi. Bức thư này chẳng qua là một văn bản phản ánh nội dung cuộc trao đổi giữa Hoàng Hoa – đại sứ Trung Quốc tại Liên Hiệp Quốc – với Kissinger hôm 12-4-1972 ở New York, qua đó Hoàng Hoa yêu cầu Mỹ giữ khoảng cách 12 hải lý ở Hoàng Sa, và Kissinger đã hứa miệng (FRUS, Document 220. Memorandum of Conversation).Thái độ này của Mỹ năm 1972 khác hẳn trước kia dưới thời kỳ Tổng thống Johnson, Kennedy và Eisenhower. Nguyên nhân? Hoàng Sa chỉ là một trong những “vật đổi chác” của Kissinger, thậm chí rất nhỏ! Tỉ như so với Đài Loan mà nay tờ Want China Times 29-11-2013 đã tiết lộ rằng tháng 1-1974, Tưởng Giới Thạch đã phải lần đầu tiên để cho hạm đội Đông Hải đi qua eo biển Đài Loan kể từ 25 năm qua khi Quốc Dân đảng tháo chạy về Đài Loan.Hạm đội Đông Hải đi qua eo biển này để đổ xuống Hoàng Sa cho nhanh, thay vì đi vòng sau lưng Đài Loan như trước. Biết sao bây giờ, Tưởng Giới Thạch giữ thân mình còn chưa xong, làm sao cứu bồ đồng minh Nguyễn Văn Thiệu được!
Có gì biếu nấy: Senkaku cũng muốn biếu!
Biếu xén Bắc Kinh đã trở thành một thói quen mới của Kissinger. Ngày 31-1-1974, tức 12 ngày sau khi Trung Quốc chiếm Hoàng Sa, Kissinger (lúc này đã thôn tính luôn ghế ngoại trưởng) họp với các thuộc cấp ở Bộ Ngoại giao.
Biên bản phiên họp đó còn ghi rằng sau khi Hummel, trợ lý ngoại trưởng đặc trách Đông Á, báo cáo tình hình ở Hoàng Sa đã xong xuôi, không còn bất cứ hoạt động quân sự nào nữa và các nước trong khu vực từ Nhật Bản đến Philippines và VNCH đều đang âu lo, đặc biệt VNCH đã đổ bộ 200 binh sĩ lên Trường Sa, thì Kissinger chợt hỏi: “Liệu có thể thúc họ hướng đến đảo Senkaku được không?”.
Trợ lý Hummel ngớ cả người: “Xin ngài thứ lỗi, nghe chưa rõ ạ?”. Kissinger lặp lại: “Liệu chúng ta có thể thúc họ đến Senkaku được không?”. Trợ lý Hummel vẫn chưa hiểu ra: “Thúc ai ạ?”. Kissinger tỉnh bơ trả lời: “Thúc CHNDTH”.Trợ lý Hummel lúc này tỉnh ra, hỏi vặn: “Ngài có chắc là chúng ta muốn làm điều đó không?”. Kissinger quả quyết: “Thì để dạy dỗ người Nhật”. Không nhất trí, Hummel hỏi vặn lại thẳng thừng: “Tôi cũng hiểu rằng chúng ta cần dạy dỗ người Nhật, song với cái giá đó thì có đáng hay không?”. Đến đây, Kissinger “chém vè”: “Không, không” (Minutes of the Secretary of State ‘s Staff Meeting Washington, January 31, 1974).Chẳng qua Kissinger lúc đó đang hậm hực Thủ tướng Nhật Kakuei Tanaka vì ông này không chịu nhượng bộ thương mại với Mỹ. Nếu nhớ rằng mới năm 1972, Mỹ đã trao trả lại đảo Senkaku cho Nhật, thì việc Kissinger đòi thúc Trung Quốc “quậy” Nhật ở Senkaku năm 1974 quả là…!Biếu cả thiên hạ chưa đủ, năm 2005, cố vấn cao cấp Công ty dầu hỏa CNOOC Kissinger còn định biếu cả dầu hỏa Mỹ cho Trung Quốc khi chỉ đường cho công ty này mua lại Công ty dầu hỏa Unocal của Mỹ, song cuối cùng bị Quốc hội Mỹ ngăn trở. Bởi thế Trung Quốc mới thỉnh Kissinger sang Bắc Kinh để mừng thượng thọ 90 tuổi.
~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

* Foreign Relations of the United States, 1955–1957 Volume III, China, Document 186

***********************
--
wikileaks: Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974

-Trung Quốc chiếm Hoàng Sa sau trận đánh đầu năm 1974

Một số tư liệu giải mật gần đây của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho người ta biết rõ hơn về thái độ lưng chừng của Mỹ trước tranh chấp quanh quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa đầu thập niên 1970.
Loạt sách Quan hệ Ngoại giao của Hoa Kỳ là hồ sơ chính thức về hoạt động ngoại giao của chính phủ Mỹ bắt đầu từ 1952, tập hợp các văn bản gốc như biên bản cuộc họp, điện tín, thư từ.
Các sử gia của Bộ Ngoại giao Mỹ đã hoàn tất 25 cuốn về chính quyền Kennedy, 34 cuốn về chính quyền Johnson, trong khi ý định làm 54 tập về thời kỳ Nixon và Ford (1969-1976) vẫn còn đang dở dang.


Biên bản cuộc họp ngày 27/01/1974, một tuần sau trận hải chiến Hoàng Sa (17 - 19 tháng Giêng), tường thuật cuộc họp về Đông Dương do Ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger chủ trì.
'Tránh xa'
Đô đốc Thomas H. Moorer, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu liên quân, báo cáo: "Chúng ta đã tránh xa vấn đề."
Ngoại trưởng Kissinger hỏi lại: "Chúng ta chưa bao giờ ủng hộ tuyên bố chủ quyền của họ [Nam Việt Nam]?"
Đô đốc Moorer trả lời: "Toàn vùng đó là cả vấn đề. Trường Sa và các đảo khác có cùng vấn đề - đó là lãnh thổ đang tranh chấp. Chúng tôi đã ra lệnh tránh khỏi vùng đó."
Ông Kissinger hỏi "Ai khởi đầu trận chiến ở Hoàng Sa?" 
clip_image002
Đô đốc Thomas H. Moorer mô tả: "Một đội tuần tra của Nam Việt Nam trong khu vực phát hiện một số tàu Trung Quốc tiến về các đảo; họ tiến đến và đưa khoảng 75 người lên đảo Duncan (Quang Hòa). Đó là một trong các đảo phía nam của nhóm Nguyệt Thiềm. 
"Họ phải đối đầu với hai đại đội Trung Quốc. Phía Nam Việt Nam phải rút sang các đảo gần đó.
"Bốn tàu Nam Việt Nam và khoảng 11 tàu Trung Quốc sau đó có trận hải chiến trong khi quân Nam Việt Nam rút lui."
Ngoại trưởng Mỹ hỏi tiếp: "Phản ứng của Bắc Việt trước toàn bộ vụ việc là thế nào?"
William Colby, Giám đốc tình báo CIA, nói: "Họ bỏ qua, nói rằng nó nằm dưới Vĩ tuyến 17 và vì thế không có ảnh hưởng đến họ. Nói chung, họ không đưa ra lập trường, không theo bên nào."
Ông William Smyser, từ Hội đồng An ninh Quốc gia, nói thêm: "Nó đặt họ vào tình thế tế nhị. Họ không nói gì cho đến khi đã xong chuyện, và rồi chỉ nói họ lên án việc dùng vũ lực."
Cuộc bàn luận tiếp tục với trình tự như sau:
"Ngoại trưởng Kissinger: Tôi biết họ nói gì rồi, nhưng họ thực sự cảm thấy thế nào?
Đô đốc Moorer: Tôi nghĩ họ lo lắng.
Ông Colby: Bắc Việt có thể muốn có mỏ dầu tại đó.
Ông Clements [Thứ trưởng Quốc phòng]: Đừng quá mơ mộng về khả năng có dầu tại các đảo đó. Đó vẫn là chuyện trên trời. Hiện chẳng có gì ở đấy cả, chỉ là tương lai thôi. Hiện nay dầu hỏa ở đó không khả thi. Chỉ là tiềm năng.
Đô đốc Moorer: Người Pháp nắm giữ các đảo trong thập niên 1930 cho đến khi Nhật chiếm trong Thế chiến. Năm 1955, người Pháp từ bỏ chủ quyền các đảo và Nhật đã làm như thế năm 1951. Nam Việt Nam và Trung Cộng kể từ đó cùng nhận chủ quyền. Philippines có tuyên bố yếu ớt, nhưng chỉ là trên giấy."
Sau đó, Đô đốc Moorer xác nhận lại với Henry Kissinger: "Chỉ thị của tôi là tránh xa khỏi toàn bộ khu vực."
Cũng cần nhắc lại, trong một cuộc gặp trước đó, ngày 23/1/1974 với ông Han Hsu, quyền trưởng phái đoàn liên lạc của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa tại Washington, Ngoại trưởng Kissinger nói: "Hoa Kỳ không có lập trường trong việc ủng hộ tuyên bố chủ quyền của Nam Việt Nam tại các đảo này."
Bảo vệ Philippines hay không?

Đồng minh Philippines không rõ Mỹ có giúp về quân sự hay không nếu xảy ra xung đột ở các hòn đảo tranh chấp
Trong một cuộc họp ngày 31/1/1974 của Bộ Ngoại giao, Ngoại trưởng Kissinger khi đó được thông báo: "Không có dấu hiệu Trung Quốc định tiến về Trường Sa. Dẫu vậy, có sự lo ngại đáng kể từ phía Nhật, Philippines và đặc biệt là Nam Việt Nam, mà theo tin báo chí thì hôm nay đã gửi đoàn 200 người ra chiếm một số hòn đảo lâu nay không ai ở trong khu vực Trường Sa."
"Đài Loan đã chiếm ít nhất một đảo và Trung Quốc cũng vậy."
Trong bối cảnh này, Philippines đã hỏi Mỹ liệu Hiệp Ước An ninh Mỹ - Philippines có được dùng nếu quân Philippines kéo ra Trường Sa và bị Trung Quốc tấn công.
Các quan chức Mỹ có mặt trong cuộc họp đồng ý rằng không có câu trả lời rõ rệt và họ muốn để ngỏ sự mơ hồ trong câu trả lời cho Philippines.
Một người trong cuộc họp, ông Hummel, nói: "Tạp âm xung quanh các tuyên bố của chúng ta về những hòn đảo này hẳn đã đủ cho người Philippines hiểu rằng chúng ta không có ý định hay chúng ta không muốn."
Ngoại trưởng Kissinger kết luận: "Câu trả lời của chúng ta là đúng. Chúng ta không nên nói chúng ta sẽ bảo vệ họ."
Chỉ cho đến gần đây, hồi tháng Bảy 2011, Thượng Nghị sĩ Jim Webb, chủ tịch Ủy ban Đông Á và Thái Bình Dương của Thượng viện Mỹ, đã kêu gọi Bộ Ngoại giao Mỹ giải thích công khai về hiệp ước an ninh Mỹ - Philippines trong tranh chấp Biển Đông.
Ông Jim Webb khi đó nói: "Sự minh bạch của chúng ta trong vấn đề này là vô cùng quan trọng với đồng minh, Philippines và cho toàn vùng Đông Nam Á."

-

Thái độ của Mỹ sau trận Hoàng Sa 1974


-


Các bài liên quan

Đã có 88 ngư dân từ Philippines về nước (NLĐ).-- 

Tổng số lượt xem trang