Thương hiệu Chile và thương hiệu… khác (NVP)
Thương hiệu là cái chi chi? Có lẽ mọi người đã chán ngấy đến tận cổ vì hàng ngàn bài báo về thương hiệu trong mấy năm gần đây. Bởi đơn giản, thương hiệu tựu trung là cái còn đọng lại trong tâm trí người tiêu dùng khi nhắc đến một sản phẩm hay một dịch vụ nào đó. Thương hiệu quốc gia, thương hiệu địa phương, suy cho cùng, cũng chừng đó chuyện.
Sau cuộc giải cứu thành công 33 thợ mỏ ở Chile, khi nhắc đến tên nước này, có lẽ cái đọng lại trong chúng ta sẽ là sự coi trọng mạng sống con người của chính quyền Chile, là sự dũng cảm, bình tĩnh của người thợ mỏ Chile, là sự tận tụy, tính chuyên nghiệp của những người cứu hộ nước này. Chắc ý nghĩ có chuyện lợi dụng để đánh bóng tên tuổi chính trị cũng thoáng qua nhưng nó sẽ bị lấn át bởi những hình ảnh ấm áp tình người. Đó chính là thương hiệu quốc gia, xây dựng theo kiểu “bất chiến tự nhiên thành” (mặc dù đằng sau nó có thể là những chiến dịch truyền thông có tính toán).
Nhìn sang Trung Quốc sau vụ Lưu Hiểu Ba được trao giải Nobel Hòa Bình năm nay, hình ảnh còn lại là gì? Có lẽ đầu tiên là sự khó hiểu đối với nhiều người trên thế giới: Sao công dân nước họ được trao giải Nobel mà lại phản đối dữ dội thế? Dư luận thế giới đâu cần biết đến vị thế hóc búa của chính quyền Trung Quốc, khó làm khác được. Và cuối cùng, ấn tượng đọng lại, ở mức tích cực nhất, cũng sẽ là: đất nước này chưa sẵn sàng chia sẻ những giá trị phổ quát của nhân loại về các quyền cơ bản của con người.
Quay về Hà Nội, cảm nhận chung của dư luận về đại lễ 1000 Thăng Long-Hà Nội, chỉ đo lường bằng các bài viết trên báo chí chính thống, là những từ như: lãng phí, không có chiều sâu, ồn ào, đông nghẹt, rác sau lễ hội, sự xuống cấp của văn hóa đô thị… Những cảm nhận tích cực chắc cũng gói gọn vào những từ như: hoàng tráng, pháo hoa (nhớ kèm với tai nạn gây chết người), kỷ lục (kèm luôn kỷ lục nghẽn đường)… Đó có phải là một thương hiệu 1000 năm Thăng Long mà Hà Nội muốn xây dựng? Đo lường giữa chi phí và hiệu quả, chúng ta đã có thể đánh giá sự thành công hay thất bại của chương trình này. Ở đây chỉ xin nhấn mạnh, thương hiệu là cái đọng lại trong tâm trí của người dân chứ không phải là ý muốn chủ quan của người xây dựng thương hiệu. Cho nên đừng chủ quan đánh giá ngược lại với cảm nhận của xã hội – sẽ không giúp rút ra bài học gì.
Trở ngược vào Sài Gòn, nơi mà hiện nay nhắc đến, chắc ai cũng nghĩ tới những sự cố gần đây do đường sá Sài Gòn gây ra. Taxi sụp hố, tai nạn thương tâm do nắp cống nhô ra đường, trẻ em và cả người lớn rơi vào hố ga, cống thoát nước tử nạn. Thật ra, cảm nhận lớn nhất của người dân Sài Gòn là đường sá ở đây sau mấy năm chịu cảnh lô cốt mọc giữa đường nay như tấm áo rách bươm được vá chằng chịt. Mặt đường chịu những vết thẹo lồi lõm, mấp mô ổ gà, ổ trâu. Sức chịu đựng của con người thật đáng phục nhưng tâm trí của họ giờ đây cũng hằn những vết sẹo không dễ gì phai về “Hòn ngọc Viễn Đông” ngày nào.
Nhưng khác với Hà Nội là chuyện đã qua, trường hợp Sài Gòn còn cứu chữa được. Nếu chính quyền hiểu ra rằng một trong những nhiệm vụ trọng yếu của họ là quản lý đô thị; một trong những nhiệm vụ trọng tâm của quản lý đô thị là chăm lo mạng lưới giao thông; để rồi nhanh chóng tái lập mặt đường, lấp ổ gà, ổ voi, rà soát và ngăn chận hiểm họa sụt đường, đây là con đường nhanh nhất lấy lại uy tín của một chính quyền đô thị. Một con đường, chẳng hạn, đường Hai Bà Trưng nối dài xuống Phan Đình Phùng, kéo đến Nguyễn Kiệm mà lấy hết lô cốt, tráng nhựa lại cho đàng hoàng sẽ tạo ra cảm nhận tích cực gấp trăm lần tuyên bố chỉ tiêu GDP hoàng tráng và trong thực tế sẽ đóng góp vào tăng trưởng GDP một cách trực tiếp, chứ bản thân chính quyền đô thị làm gì được với cái GDP địa phương.
Đó chính là xây dựng thương hiệu, đó là cách xóa đi ấn tượng vô cảm của quan chức trong tâm và trí của người dân.
Sẽ kiểm điểm thiếu sót dịp đại lễ (TUỔI TRẺ)-- SẼ TỔ CHỨC LẠI MÍT-TING, DIỄU HÀNH ? (Gốc Sậy).
- Lo hoàn thiện “lễ” đi, xin đừng “hội” nữa… (TVN). Chỉ khi có được những cái "lễ" tối thiểu với con người, với môi trường sống chung quanh thì mới hy vọng thời đại mình chính danh có "Đại lễ", và "lễ hội" mới trở về đúng nghĩa - củng cố các giá trị tinh thần dân tộc.
- Kiểm nghiệm văn hoá (SGTT) “Quả thật đã đến lúc không thể không nghĩ rằng đối với Hà Nội những thói xấu như vậy đã thành hệ thống, thành bệnh kinh niên, hỡi ôi, thành nếp sống, nghĩa là đã đi vào tận tâm khảm mất rồi, và phải đặt câu hỏi vì sao mà nên nông nỗi này?”.
- Quà tặng Đại lễ Nghìn năm – Nghìn năm sau có gì? (Tổ quốc). “Người ta sẽ làm gì với những bức Chiếu dời đô, những chú rùa, những chú rồng, những bình hoa, những cái trống, những tà áo dài, những bài dự thi, những hũ rượu kỷ lục?”. – Tầm vóc mới, nỗi buồn cũ (Thế giới & VN).
- Rồng “khuân” về núi Nùng rồi “dần dà sẽ biến nơi đây thành cái kho chứa “hàng tồn” thì thật lãng phí và vô trách nhiệm” (Nguyễn Trọng Tạo/Đinh Quang Tỉnh).-Ca ngợi Hà Nội thanh lịch sao vẫn... bắt chẹt khách Dân Trí
(Dân trí) - Việc “chặt chém” khách gửi xe với giá cao ngất là một trong những điểm “chưa được” của Đại lễ mà cử tri nêu lên. “Chúng ta cứ ca ngợi là văn minh, thanh lịch mà vẫn còn bắt chẹt như thế thì không ổn”, cử tri Nguyễn Giang Đông nói. ...
Leopold Unger – Giải Nobel Hoà Bình có giá trị gì không? Lê Diễn Đức
Lời người dịch: Trên Blog Beo của mình, bà Hồ Thu Hồng (Tổng Biên tập tờ Thể thao Tp. HCM) viết:
“Đôi khi Beo tự hỏi, giải Nobel hòa bình đặt mục đích gì vì càng ngày, những nhân vật nó trao tặng càng ít liên quan đến… hoà bình thế giới mà, chủ yếu chỉ để cho mấy ông lùng nhùng trong mớ tóc giả áo đuôi tôm bày tỏ thái độ của mình. Một thái độ vừa kẻ cả vừa già nua cũ kỹ.
(…) Thời của áp lực (tinh thần) của cộng đồng quốc tế lên một quốc gia, đang qua. Nobel năm nay tự giải tỏa bực tức với chính sách ngoại giao bá quyền của Trung quốc bằng cách… vinh danh ông Lưu, dạng một kiểu chơi đểu của người yếu thế hơn.
Cũng ông Lưu, nhưng là người Singapore, liệu Nobel có đoái hoài? Mở ngoặc là theo Beo, Sing nghiệt ngã với tự do báo chí vào hàng nhất thế giới. Ông Lưu không phải vừa vào tù, thế thì sao Nobel không trao cho ông từ năm ngoái, mà lại đeo nó lên ngực ông Obama để dẫn tới tình trạng, ngài tổng thống Mỹ ngượng nghịu mà rằng, không hiểu vì đâu khi không lại tặng tớ cả triệu đô thế này.
Beo không chống đối gì ông Lưu Hiểu Ba, càng không chống đối luồng tư tưởng ông theo đuổi nhưng, Beo ghét mùi cơ hội chính trị trong giải thưởng khoác cái áo hòa bình cho nhân loại này”
Hy vọng bài viết dưới đây của nhà báo, bình luận gia Ba Lan Leopold Unger[1] phần nào phản biện lại hoài nghi của bà Hồ Thu Hồng.
_________
Giải Nobel Hòa bình có giá trị như thế nào ngoài một triệu đô la? Không có giá trị nào hết – những người hoài nghi nói như vậy. Và họ có thể chứng minh điều đó không mấy khó khăn.
Quyết định của Ủy ban Nobel ở Oslo mang đến cho ông Lưu Hiểu Ba điều gì? Ông vẫn tiếp tục ngồi tù, và nhạy cảm với uy tín của Giải thưởng, chính quyền Trung Quốc trong ứng xử với áp lực từ nước ngoài còn quyết liệt hơn trước khi giải thưởng được trao. Liệu Trung Quốc sẽ bắt đầu phải tôn trọng dân quyền, tự do báo chí, trả tự do cho các tù nhân chính trị và trục xuất họ? Chắc chắn sẽ ngược lại. Bắc Kinh đang xiết chặt thêm đinh ốc.
Câu hỏi trên càng hiện thực bởi không một cường quốc nào dám phản đối, khi trong suốt tiến trình Thế vận hội của Trung Quốc họ đã chẳng làm bất kỳ thiện chí nào đối với những người sau song sắt. Với Na Uy, các chính trị gia nói rằng, chuyện này thật đơn giản: Na Uy có dự trữ lượng tiền bạc rất lớn và dầu mỏ, người Na Uy không hề sợ Trung Quốc trả đũa. Còn lợi ích của chúng ta, các vị tổng thống của các nền dân chủ lớn nói, không cho phép chúng ta tìm kiếm sự nới lỏng ở Trung Quốc, bởi vì đây là một cường quốc đang giữ chúng ta trong gọng kìm kẹp của vụ tống tiền tài chính.
Ông Barroso, người đứng đầu Hội đồng châu Âu hùng mạnh, sau khi thông báo Giải thưởng được trao cho ông Lưu, thậm chí quên tuyên bố yêu cầu trả tự do cho người Trung Quốc đầu tiên đoạt Giải thưởng Nobel đang sống tại Trung Quốc.
Thế nhưng, lý luận hoài nghi của những người bi quan là sai lầm.
Với logic của Giải thưởng Nobel và có thể dễ dàng chứng minh, các nhà phê bình đưa ra nhiều ví dụ. Họ có thể đặt câu hỏi rằng, Giải thưởng cho Đạt Lai Lạt Ma vào năm 1989 có làm cải thiện tình hình ở Tây Tạng, chưa nói đến người Duy Ngô Nhĩ ở Tân Cương? Giải thưởng Nobel cho Obama, Arafat hay Rabin đã mang lại điều gì cho tự do và hòa bình thế giới?
Họ hãy gượm đã. Chưa ai biết hết tác dụng của các giải thưởng này. Nobel Hòa bình không phải là sản phẩm trên thị trường chứng khoán để có thể tính lợi nhuận tức thì. Giải thưởng này, mặc dù nhiều lần tiên lượng sai lầm, là một sự đầu tư với thời gian trung bình hoặc thậm chí lâu dài. Có ai đã nhìn nhận được trước hiệu quả thực sự của Giải thưởng Nobel cho Sakharov ở Liên Xô (1975)? Và Wałęsa ở Ba Lan (1983)?
Chính xác là vậy. Ông Lưu bị bắt vào tháng Năm 2008 và sau đó bị kết án 11 năm tù; đêm trước đó, ông đã chuyển lên Internet Hiến chương 08 đòi hỏi tự do, tôn trọng nhân quyền, bình đẳng trước pháp luật, bầu cử tự do và huỷ bỏ sự độc quyền của Đảng Cộng sản. 10 ngàn người đã kịp ký tên vào Hiến chương 08 trước khi nó bị sự kiểm duyệt Internet của Trung Quốc loại bỏ.
Loại bỏ khỏi Internet – có thể. Nhưng người ta không thể gỡ bỏ nó ra khỏi lịch sử. Ra khỏi lương tri của dân chúng trong thế giới tự do, cũng không. Và mặc dù khó khăn, và có thể là thiếu thực tế, khi so sánh tình hình ở Trung Quốc với châu Âu, nhưng không thể không nhớ lại rằng, Hiến chương 08, hồ sơ đối lập quan trọng nhất chống lại chế độ độc đoán, là phôi thai trực tiếp của Hiến chương 77 ở Praha của Václav Havel cùng với một nhóm bất đồng chính kiến Tiệp Khắc.
Cũng như 21 đòi hỏi [2] của Công đoàn Đoàn kết từ Gdansk ở Ba Lan, Hiến chương 77, một danh mục các nhu cầu dân chủ, đã cuốn chuyển và đóng vai trò chủ chốt trong tiến trình chuyển hoá chế độ êm như nhung vào năm 1989, kết thúc thể chế độc tài ở Prague.
Tôi không biết số phận của ông Lưu rồi sẽ ra sao. Nhưng dấu tích Hiến chương 77 của Praha ở Trung Quốc cho thấy rằng, Internet, cái chai điện tử được ném xuống biển, giờ đây đã đi khắp mọi nơi và nhanh chóng.
Hiến chương 77 chứng minh một đầu tư dài hạn, cuối cùng đã đổ bộ lên bến bờ của Trung Quốc: Hiến chương 08. Và trên bàn của Ủy ban Nobel tại Oslo.
Bây giờ nó sẽ di chuyển sang các chế độ bạo chúa khác. Vấn đề chỉ là thời gian. Và ngày của Hiến chương.
Nguồn: “Jaką wartość ma Nobel?”, Gazeta Wyborcza ngày 11/10/2010.
Bản tiếng Việt © 2010 Lê Diễn Đức
Bản tiếng Việt © 2010 talawas
[1] Leopold Unger (còn có bút danh Pol Mathil hay Brukselczyk) là nhà báo Ba Lan gốc Do Thái, chuyên bình luận về các vấn đề quốc tế. Trong Chiến tranh thế giới II ông sống ở Romania. Sau chiến tranh ông làm việc cho báo Zycie Warszawy (Warsaw Life) của Ba Lan, sau đó Le Soir của Bỉ. Từ năm 1969, ông lưu vong ở Bỉ, là tác giả thường xuyên của tạp chí Kultura ở Paris, Radio Free Europe, BBC Polish và Herald Tribune. Hiện ông làm việc cho nhật báo Ba Lan Gazeta Wyborcza. (ND)
[2] Vào thập niên 80, công nhân trên toàn Ba Lan dưới sự lãnh đạo của Công đoàn Đoàn kết đã đồng loạt biểu tình, bãi công và ngày 17/08/1980 đã đưa ra 21 điểm buộc chính quyền cộng sản Ba Lan phải đáp ứng. 21 điểm viết trên tấm gỗ thô sơ này được lưu giữ như một chiến tích lịch sử của nhân dân Ba Lan trong cuộc đấu tranh xoá bỏ chế độ cộng sản và đã được UNESCO ghi vào di sản văn hoá của thế giới: http://en.wikipedia.org/wiki/21_demands_of_MKS (ND)
-----------
Quyền của nhân dân!NguoivietTK21
Trước tiên, muốn có cảm nhận về hai chữ “DÂN CHỦ” thì phải hiểu “Dân Chủ là gì?”. Đây là một câu hỏi không dễ trả lời, nhất là đối với những người “phi chính trị” (dân làm kỹ thuật, dân hoạt động kinh doanh, dân công chức văn phòng…vv…chẳng hạn). Chính vì vậy mà thay vì dùng những từ ngữ quá to lớn, tôi chỉ xin trình bày cách hiểu của tôi về khái niệm thế nào là “dân chủ” dưới góc nhìn của một thường dân. Qua đó, hy vọng ngay cả dân trong giới “phi chính trị” cũng nắm được cơ bản khái niệm nhạy cảm này.
“Dân Chủ”, nói ngắn gọn là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân, bộ máy quyền lực của nhà nước, chính quyền do nhân dân trực tiếp điều hành. Và nhà nước ấy phải là nhà nước pháp trị thật sự. Các quyền dân chủ tự do, nhân quyền của nhân dân trong toàn xã hội được nhà nước pháp quyền ấy thực thi và tôn trọng một cách đầy đủ, toàn diện nhất…”.
Tuy nhiên, trong thực tế, mọi chuyện lại không đơn giản như vậy. Để xác định một đất nước có dân chủ hay không thì phải xem xét nhiều vấn đề. Người dân được làm gì và không được làm gì? Quan hệ giữa người dân và nhà nước, chính quyền là quan hệ gì? Trên thế giới hiện nay, nước nào là có mức dân chủ cao nhất? Nước nào hoàn toàn không có, mà thể chế chính trị của họ chỉ thực ra là bản chất một chế độ độc tài mà thôi? Nước nào chỉ hô hào ta có Dân Chủ, nhưng trên thực tế thì mức độ dân chủ rất thấp hoặc không hề có chút dân chủ tự do gì cả? Và đời sống “dân chủ” trong một xã hội có cần thiết không? Một quốc gia không có “dân chủ” có phát triển được hay không? Hoặc “dân chủ” có gây rối loạn cho xã hội không? Dân chủ có xâm hại đến chủ quyền đất nước và an ninh quốc gia hay không? Dân chủ có gây mất đoàn kết không, có làm chia rẽ dân tộc không?...vv và vv…Có biết bao câu hỏi được đặt ra liên quan xoay quanh khái niệm này mà trong suy nghĩ của người viết và cũng như của biết bao bạn đọc cứ lởn vởn trong tâm trí của tôi và của biết bao người quan tâm đến giá trị thiêng liêng này…
Theo ý kiến của riêng tôi thì có ba lập luận mà chúng ta thường nghe và cần làm rõ như sau:
Lập luận thứ nhất là: “Tại đất nước Việt Nam hiện nay, vì dân trí còn thấp, do đó chưa nên có dân chủ, nếu có dân chủ sẽ loạn mất, sẽ làm mất ổn định chính trị dẫn đến môi trường xã hội bị hỗn loạn thì làm sao có cơ hội cho mở mang và phát triển đất nước nữa…”. Nếu vậy, thì có lẽ chúng ta cần phải đặt ra một số vấn đề tiếp theo để thử đi sâu phân tích chẳng hạn như sau:
Đầu tiên, giả sử lập luận trên là đúng thì có nghĩa, là khi dân trí cao hơn mới được quyền thực thi dân chủ, tự do. Vậy dân trí cao là cao cỡ nào? Phải quy định mức nào là mức dân trí cao, để đặt ra mục tiêu mà còn phấn đấu cho bằng được. Nếu không có chuẩn cụ thể thì mai mốt dân trí đã cao lắm rồi, chúng ta vẫn nói “chưa cao” thì biết đâu mà lần. (?!) Đồng thời, trách nhiệm nâng cao dân trí chính là trách nhiệm của các nhà lãnh đạo đất nước chứ không phải trách nhiệm ấy của người dân hay ai đó chung chung vô hình. Vậy các nhà lãnh đạo quốc gia phải cam kết với xã hội, với nhân dân trong bao nhiêu năm nữa thì dân trí sẽ cao đến mức cả xã hội sẽ được hưởng quyền có dân chủ, tự do…? Không thể nói chung chung mà phải nói rõ cụ thể là trong bao lâu nữa. Nếu cứ thả nổi thì một trăm, thậm chí một nghìn năm sau chúng ta vẫn nói: “Vì dân trí trong xã hội còn rất thấp nên chưa nên có dân chủ, chưa thể thực thi dân chủ được…”. Như vậy là, với lập luận kiểu cách này thì có nghĩa là nhà cầm quyền chỉ muốn biện minh cho việc từ chối mãi mãi không trao trả lại cho nhân dân, cho cả dân tộc quyền được sống trong một xã hội có tự do, dân chủ thật sự mà thôi. Cũng có thể nói rằng, nếu cứ kéo dài tình trạng đó lâu dài, thì chính lãnh đạo mãi mãi vẫn nợ nhân dân món nợ dân chủ, tự do. Và đó là bi kịch buồn thật “vĩ đại”, bởi vì chính nhân dân, chứ không phải ai khác, đã dùng xương máu, mồ hôi để xây dựng nên Nhà Nước “của dân, do dân và vì dân” hiện nay.
Dù sao thì đó cũng chỉ là giả sử lập luận trên đúng thôi. Thật ra lập luận trên cũng không thuyết phục lắm. Vì chính dân trí Việt Nam trước đây so với các nước ngay trong khu vực Đông Nam Á là hoàn toàn không thua kém. So với các nước như Mã Lai, Thái Lan, Inđônêxia, Philippin… tôi cho rằng từ xa xưa, dân trí nước ta nếu không cao hơn thì cũng bằng dân trí của nhân dân các quốc gia trên đây. Trong khi ở các nước đó, từ lâu rồi, mức độ dân chủ của họ cao hơn của nước ta, và hiện nay, dân trí xã hội ta đã tụt hậu khá xa so với họ. Do đó, nói vì dân trí thấp nên chưa thể có dân chủ là không cơ sở. Ngược lại, vì thiếu dân chủ nên giáo dục (và kể cả mọi mặt) của ta đang tụt hậu rất đáng buồn. (đọc bài: “Giáo dục – cho tôi được nói thẳng” của giáo sư Hoàng Tụy). Từ đó dẫn đến dân trí nước ta cũng càng ngày tụt hậu so với các nước ngay trong khu vực và các nước dân chủ, văn minh khác trên toàn thế giới. Vì vậy nếu nói là: “Ở Việt nam ta, vì mức độ dân chủ chưa cao nên dân trí bị thấp so với các nước ngang hàng” thì nghe đúng hơn, thuyết phục hơn.
Nói đến đây tôi xin dẫn chứng đôi dòng để chúng ta liên hệ so sánh mới rút ra được kết luận dứt khoát là: “Thể chế chính trị văn minh, tự do dân chủ sẽ là môi trường và bối cảnh tốt đẹp, đầy thuận lợi để mỗi cá nhân con người phát triển thăng hoa rạng rỡ như thế nào. Ngược lại nếu con người phải sống, phải tồn tại trong hoàn cảnh một đất nước có thể chế độc tài, không dân chủ thì con người sẽ ắt bị thui chột tài năng, thậm chí các quyền con người, quyền công dân bị chà đạp, bị xâm phạm nghiêm trọng…vv…”. Từ đó chúng ta sẽ thấy đời sống dân chủ cho một xã hội vô cùng quan trọng, cần thiết và có ý nghĩa sống còn như thế nào đối với xã hội và mọi công dân.
Chúng ta đều biết trên thế giới ngoài các nước trong hệ thống các quốc gia dân chủ có truyền thống lâu đời như ở Châu Âu, Bắc Mỹ và Ca na đa, Úc Châu…không kể đến, thì chúng ta còn chứng kiến biết bao các nước khác tuy có nền kinh tế còn chậm phát triển, thậm chí rất nghèo nàn lạc hậu như Việt Nam, có nước còn kém cả Việt Nam. Thế nhưng xã hội và nhân dân nước họ đều đang được hưởng dân chủ, tự do, nhân quyền thực sự, đang từng bước được hoàn thiện và đương nhiên đất nước họ đang hội nhập toàn diện vào sinh hoạt của cộng đồng nhân loại tiến bộ. Trong danh sách các quốc gia này có các nứơc ở Châu Á, Châu Phi, Mỹ La tinh như: Ấn Độ, Philipin, Paksitan, Băngđalet, Nê Pan, Dămbia, Kênia, Nigiêria, Brazil, Argentina….nhiều lắm nhiều lắm không thể thống kê hết. Còn trường hợp của nước Cu Ba XHCN thì sao? Chính Việt Nam ta còn phải viện trợ gạo cho họ để cứu đói, tặng họ máy tính (computer) để góp phần xóa mù thông tin!!!
Lập luận thứ hai là: “Ở Việt Nam ta vẫn có dân chủ chứ, nhưng nhân dân không thể tự lãnh đạo nên Đảng Cộng Sản thay mặt nhân dân lãnh đạo đất nước để thực thi dân chủ cho toàn thể xã hội…”. Điều này thật ra chỉ đúng ở điểm “nhân dân không thể tự lãnh đạo” nhưng lại sai ở rất nhiều các điểm khác rất căn bản.
Ở bất kỳ quốc gia nào cũng vậy, không làm gì có chuyện người dân tự lãnh đạo quốc gia được. Luôn luôn phải có người đại diện đứng ra để lãnh đạo đất nước. Người này tất nhiên có quyền lực rất lớn (vẫn trong khuôn khổ luật pháp), nhưng trách nhiệm cũng rất nặng. Ta sẽ nhìn nhận bản chất vấn đề này thông qua việc xem xét một vấn đề nhỏ hơn như sự phân tích dưới đây để sáng tỏ thì sẽ thấy rất rõ.
Ở các công ty cổ phần, người chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Những người này bỏ vốn (tiền bạc, tài sản…) để thành lập công ty kinh doanh. Vì là một Ban nhiều người nên họ phải chọn ra một người đại diện để lãnh đạo công ty đó. Người được chọn (Tổng Giám Đốc - TGD) là người chịu trách nhiệm điều hành toàn bộ hoạt động và kết quả lợi nhuận của công ty. Nhưng TGD không phải là chủ công ty. Chủ thật sự của công ty là Ban Quản Trị. Khi ông ta làm việc không hiệu quả, Ban Quản Trị quyết định họp lại và cách chức ông ta. Điều quan trọng nhất là chỗ này. Người lãnh đạo công ty (Tổng Giám Đốc) hoàn toàn có thể bị chủ nhân của công ty (Ban Quản Trị) sa thải để thay thế vị TGĐ khác tài năng hơn, điều hành công việc làm ăn của công ty có hiệu quả hơn.
Nói ví dụ vậy cho dễ hiểu. Ở một quốc gia cũng tương tự vậy. Nếu mức độ dân chủ đủ cao, thì ông chủ của đất nước là nhân dân, tương tự như Ban Quản Trị của một công ty. Nhân dân bỏ vốn (tài nguyên, trí lực, con người…) và chọn ra người đại diện để lãnh đạo đất nước. Người lãnh đạo này giống như là Tổng Giám Đốc của công ty vậy. Nếu ông này lãnh đạo kém, đưa đất nước tụt hậu thì sẽ bị Nhân Dân thay thế, và chọn người khác, thông qua tự do bầu cử.
So sánh như vậy để thấy rằng, người dân làm chủ đất nước, thì phải được quyền chọn, được quyền bầu ra người lãnh đạo cho họ. Nếu nhân dân không được chọn người thay mặt dân lãnh đạo thì chưa thể là dân chủ mức độ cao được.
Lập luận thứ ba là: “Sau hơn 35 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và nếu so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 35 năm, kết luận rằng đất nước chúng ta đang được ĐCSVN lãnh đạo đi rất đúng hướng, không cần thiết bàn về dân chủ nữa ”…
Đúng và hoàn toàn đúng là hiện nay, đất nước chúng ta có những mặt lớn mạnh hơn 35 năm trước rất nhiều. Nhưng nếu vì vậy mà cho rằng chúng ta đang đúng hướng là không ổn chút nào và khá chủ quan.
Hãy lấy ví dụ để liên hệ so sánh thì lập luận trên đây sẽ khó lòng đứng vững được, chẳng hạn, một đứa trẻ sinh ra, được cho ăn cháo loãng, ăn củ mì, ăn cơm độn bo bo thì đứa trẻ ấy vẫn sống, vẫn lớn lên. Sau 35 năm, đứa trẻ ấy rồi cũng trở thành một thanh niên, và chắc chắn anh thanh niên kia khỏe hơn, lớn hơn chính đứa trẻ đó 35 năm trước. Nhưng không có nghĩa là chúng ta đã nuôi đứa trẻ đúng hướng được!
Một đứa trẻ khác được nuôi đúng hướng, được chăm sóc y tế chu đáo, được cho uống sữa giàu dinh dưỡng, được ăn thịt, ăn cá, ăn đủ chất xơ… Nó còn được giáo dục, được học hành tử tế, nhân cách, phẩm chất đạo đức được phát triển toàn diện có nề nếp. Khi đó, sau hơn 35 năm, bảo đảm đứa trẻ sẽ thành anh thanh niên tuyệt vời hơn anh thanh niên kia rất nhiều. Nói đến đây chúng ta hãy liên tưởng đến một vài các sự kiện gần đây được các cơ quan truyền thông quốc tế, hải ngoại và cả trong nước loan tin khá ấn tượng. Đó là mới rồi sự kiện lần đầu tiên ở ngay tại CHLB Đức thống nhất, trong chính phủ của nữ thủ tướng Angela Merkel đã lựa chọn ông Philipp Roesler 36 tuổi, một thanh niên gốc Việt trở thành Bộ trưởng y tế mà ông này vốn nguồn gốc từ hơn 3 thập niên trước đã được xin về từ trại trẻ mồ côi ở Long Khánh thuộc tỉnh Khánh Hoà (ĐT: Khánh Hưng, Ba Xuyên) khi cha mẹ bé đều đã chết cả vì bom đạn trong chiến tranh. Thế mà, nhờ được sự nuôi dưỡng, chăm sóc y tế, giáo dục trong môi trường tốt, đầy đủ tại nước Đức hùng cường nên tài năng con người này đã được bộc lộ và phát triển đến kỳ diệu như thế đó.
Trường hợp khác là trung tá Lê Bá Hùng, chỉ huy hạm trưởng hải quân Hoa Kỳ rất tối tân với hơn 300 sĩ quan và thủy thủ đoàn thì viên sĩ quan trẻ này cũng chỉ từ một đứa bé lúc 5 tuổi được tầu chiến Mỹ vớt lên trên biển Đông khi cả gia đình anh trôi dạt ngoài khơi sau khi cuộc chiến tại Nam Việt Nam kết thúc sau ngày 30/4/1975. Ấy thế mà cũng chỉ sau hơn 35 năm từ số phận một đứa bé cùng cả gia đình thuyền nhân khốn khổ này tưởng như phải bỏ mạng giữa đại dương thì nay do được nuôi dưỡng, giáo dục trong môi trường một quốc gia thịnh vượng, dân chủ như Hoa Kỳ mà anh đã học hành thành đạt để trưởng thành lên một sĩ quan của hải quân một siêu cường hùng mạnh bậc nhất trên thế giới…vv…
Một trường hợp khác nữa khá danh tiếng, đó là vị dân biểu trong Quốc Hội Liên bang Hoa Kỳ gốc người Việt Nam duy nhất thuộc đảng Cộng hòa - Josheph Cao Quang Ánh của Hạ viện trong nhiệm kỳ hiện nay. Ông hiện là một trong những tiếng nói quan trọng trong cơ quan lập pháp của quốc gia giàu mạnh nhất trên địa cầu. Tên tuổi ông là niềm kiêu hãnh và tự hào lớn lao của cộng đồng người Việt định cư tại cường quốc số 1 này, cũng như của chung những người Việt tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Ai đâu có thể ngờ rằng, hơn 35 năm về trước vị dân biểu này chỉ là đứa trẻ lên 8 tuổi phải xa gia đình, xa cha mẹ để vượt biển rời miền Nam Việt Nam đi tỵ nạn chính trị. Thế mà sau mấy chục năm được nuôi dưỡng, giáo dục, học tập trong môi trường lành mạnh, đầy đủ tiện nghi nên ông đã trưởng thành vượt bậc để vượt qua biết bao những chính trị gia sừng sỏ, đầy kinh nghiệm, cả những trí thức gốc da trắng lừng danh khác để có mặt trên chính trường nước Mỹ đầy quyền uy như hiện nay…
Còn vô số những trường hợp khác trong cộng đồng người Việt định cư ở hải ngoại đã thành đạt, thành danh trên đủ các lãnh vực từ chính trị, quân sự, khoa học kỹ thuật, văn hoá, nghệ thuật….không sao kể hết trong khuôn khổ bài viết ngắn này. Chính họ đã làm vẻ vang rạng rỡ truyền thống văn hiến ngàn đời của dân tộc ta. Thật đáng tự hào biết bao về con người Việt Nam, về Con Hồng Cháu Lạc! Nói đến các ví dụ này càng thấy rõ vấn đề được nêu lên là đứa trẻ được nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục thì sẽ có sự phát triển đúng hướng, rất tốt, còn ngược lại chỉ là sự phát triển què quặt trong hoang dã thiếu sự chăm lo, quan tâm vun xới của con người mà thôi. Và từ đó mới thấy rằng các yếu tố lãnh đạo, môi trường, thể chế chính trị của một quốc gia thật vô cùng quan trọng và hết sức cần thiết như thế nào trong sự nghiệp phát triển đất nước nói chung và của con người nói riêng.
Vậy, khi muốn xem xét, ta phải xem trên 3 yếu tố:
Một là, trong cùng khoảng thời gian hơn 35 năm, đất nước người ta đã phát triển như thế nào, so với đất nước chúng ta. (chỉ so với các nước trong khu vực thuộc khối ASEAN thôi, không cần so với Nhật, Mỹ, Pháp, Anh…)
Hai là, trong cùng khoảng thời gian hơn 35 năm đó, với tố chất của dân tộc Việt, nếu chúng ta đi đúng hướng, thì chúng ta sẽ phát triển nhanh gấp mấy lần so với thực tế đã qua. Rất đơn giản, chúng ta so tốc độ phát triển trong 10 năm trước đổi mới (1975-1986) với khoảng thời gian sau đổi mới là thấy rõ quan điểm này.
Ba là, với sự phát triển như kiểu hiện nay, ai là người hưởng lợi nhiều nhất. Sự phát triển đó có đồng đều giữa nông thôn và thành thị không? Giữa trí thức và lao động tay chân? Giữa dân thường và cán bộ nhà nước ra sao?
Ba câu hỏi trên thuộc lĩnh vực mà tôi cũng không thể trả lời thỏa đáng được. Cần một nghiên cứu, thống kê, thu thập số liệu ở tầm quốc gia để trả lời. Ở đây, tôi chỉ có ý muốn nói rằng lập luận “sau hơn 35 năm thống nhất đất nước, chúng ta đã phát triển về mọi mặt. Và so sánh tình hình nước ta hiện nay với cách đây 34 năm, kết luận rằng chúng ta đang đi rất đúng hướng” là không thỏa đáng, không chính xác và không thuyết phục lắm.
Tạm kết luận
Khái niệm về “Dân Chủ” là một hình thức xã hội mà “Toàn bộ Quyền Lực nằm trong tay người dân”, tức Người Dân là chủ thực sự đất nước thông qua Tổng tuyển cử tự do trong minh bạch, công bằng và có cạnh tranh lành mạnh.
Một số lập luận không chặt chẽ, dễ gây ngộ nhận và mang tính ngụy biện giả trá. Vì thế rất cần có câu trả lời rõ ràng, khoa học hơn.
Tiến trình dân chủ hóa đất nước ta hiện nay nhất là trong mấy năm gần đay cũng có chút đỉnh tiến bộ và theo hướng tích cực, nhưng quá chậm chạp và không đáp ứng được nhu cầu lành mạnh, chính đáng của đại bộ phận nhân dân trong toàn xã hội. Và tiến trình này cũng không theo kịp các chuyển biến tích cực của bối cảnh quốc tế và trào lưu tiến bộ của thời đại đòi hỏi bức thiết trong quá trình hội nhập của nước ta vào sinh hoạt của cộng đồng quốc tế văn minh tiến bộ. Do đó, tốc độ phát triển của nước ta vừa chậm chạp, vừa không toàn diện, vừa không chắc chắn và không được đảm bảo bền vững lâu dài.
Quyền nổi bật nhất thể hiện cho được một xã hội có “Dân chủ” chính là quyền nhân dân được tự do chọn người lãnh đạo, tự do ứng cử và bầu cử. Khi chưa có quyền này thì mọi chuyện khác đều không có ý nghĩa gì cả.
Nguyễn Đại