Chủ Nhật, 27 tháng 9, 2009

Chu kỳ ngũ hành hai tư năm của Trung Quốc

( Bình chọn: 4 -- Thảo luận: 2 -- Số lần đọc: 3170)

BQT SAGA giới thiệu bài viết công phu cua tác giả HanVu. Đây là những suy nghĩ của tác giả căn cứ trên sự kiện và phân tích riêng của tác giả, không nhất thiết phản ánh quan điểm của các nhà nghiên cứu-cố vấn khoa học của SAGA

Xã hội Trung quốc trong thế kỷ hai mươi đã biến đổi đều đặn sau mỗi 24 năm và trong mỗi giai đoạn lại mang một đặc tính ngũ hành khá rõ nét.
1.Thời kỳ trước 1945.

Những nét chính của bối cảnh lịch sử của Trung quốc cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ hai mươi là sự suy yếu của triều đình nhà Thanh, sự xâm lấn của các thế lực phương Tây và sự xâm nhập của các tư tưởng mới từ phương Tây. Khoảng giữa thế kỷ 19, cuộc khởi nghĩa Thái bình Thiên quốc đã làm sự thống trị của người Mãn tại Trung quốc lung lay nghiêm trọng. Triều đình Mãn Thanh buộc phải huy động các quan chức người Hán thành lập các lực lượng quân sự địa phương người Hán để đối phó với cuộc khởi nghĩa. Tuy mục tiêu dập tắt cuộc khởi nghĩa đã đạt được nhưng cũng từ đó các lực lượng quân sự địa phương của người Hán được tồn tại chính thức, trở thành tai hoạ đối với triều Thanh và là mầm mống cho tình trạng cát cứ quân sự của Trung quốc sau này.

tuhi02du2.jpgTừ năm 1861, Từ Hy thái hậu đã áp đặt được quyền lực của mình lên triều đình nhà Thanh và Trung quốc. Người phụ nữ thông minh tuyệt đỉnh và cũng vô cùng tàn nhẫn này đã khống chế vua, đàn áp một cách tàn nhẫn những ý định chống đối của quần thần. Chính vì vậy, khi Từ Hy thái hậu qua đời năm 1908 một khoảng trống quyền lực rất lớn, không dễ phục hồi đã được tạo ra. Nhà Thanh cũng có những cải cách nhất định nhưng trong đà đi xuống của xã hội, các cải cách không vì lợi ích của xã hội sẽ càng làm xã hội thêm suy thoái và tan rã. Đầu thế kỷ XX,nhà Thanh đã thành lập lực lượng “Quân đội mới”, được trang bị và hoạt động theo phong cách phương tây. Nhưng nhiều người trong lực lượng này với suy nghĩ cấp tiến đã ngầm ủng hộ các trào lưu tư tưởng mới tại Trung quốc.
Năm 1911, tình cờ cảnh sát đã tìm thấy danh sách một tổ chức bí mật trong lực lượng “Quân đội mới” tại Vũ Hán, thủ phủ tỉnh Hồ Bắc. Không còn cách nào khác, lực lượng quân đội tại đây đã nổi dậy cướp chính quyền và tuyên bố tách địa phương này khỏi triều đình nhà Thanh. Lực lượng cách mạng đã gửi điện đi các tỉnh kêu gọi nổi dậy và 15 trong số 24 tỉnh đã hưởng ứng, tuyên bố độc lập. Một số tỉnh ở phía nam đã thống nhất thành lập chính phủ lâm thời tại Nam Kinh và bầu Tôn Trung Sơn làm chủ tịch.
Nhà Thanh túng thế đành mời Viên Thế Khải, thủ lĩnh lực lượng “Quân đội mới” của triều đình bị tước quyền trước đó vài năm trở lại chức vị. Viên Thế Khải sau khi nắm quyền lực, thay vì chống lại quân nổi dậy đã khuyên nhà vua thoái vị và hứa sẽ đảm bảo tài chính cho hoàng gia. Với hy vọng thành lập một nền quân chủ lập hiến tương tự như nước Anh, vua Phổ Nghi (khi đó mới 5 tuổi) và Thái hậu chấp chính đã đồng ý. Tôn Trung Sơn vì muốn nhanh chóng lật đổ chế độ phong kiến và thành lập nền cộng hoà cũng đồng ý liên kết với Viên Thế Khải. Năm 1912 Phổ Nghi tuyên bố thoái vị. Nền Cộng hoà của Trung quốc được thành lập với Viên Thế Khải làm tổng thống. Quốc dân Đảng ra đời và chiếm đa số tại nghị viện.
Nhưng nền Cộng hoà đã không giúp Trung quốc ổn định trở lại. Viên Thế Khải với tham vọng trở thành nhà độc tài đã không ngừng lấn át quốc hội. Năm 1913, chủ tịch quốc hội Tống Giáo Nhân, nhân vật thứ hai trong Quốc dân Đảng bị ám sát. Tôn Trung Sơn tổ chức khởi nghĩa nhằm lật đổ Viên Thế Khải nhưng thất bại đã phải chạy sang Nhật bản lánh nạn. Viên Thế Khải giải tán quốc hội năm 1914 và tự xưng là hoàng đế năm 1915. Tuyên bố này đã vấp phải phản ứng quyết liệt từ các thế lực quân phiệt. Viên Thế Khải sau đó phải tuyên bố thoái vị và đã qua đời vì bệnh năm 1916. Trung quốc chính thức rơi vào tình trạng hỗn loạn, vô chủ. Nhân lúc Trung quốc bất ổn, Nhật bản đã xâm chiếm vùng đông bắc, khu vực Mãn Châu Lý năm 1914.
Năm 1919 Tôn Trung Sơn tái thành lập Quốc dân Đảng và chính phủ mới ở Quảng Đông với sự giúp đỡ của lực lượng quân sự tại đây. Sau những nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ từ các nước tư bản phương Tây không thành, năm 1921 Tôn Trung Sơn quay sang tìm kiếm sự giúp đỡ của nước Nga Xô viết và đã nhận được sự đồng ý. Cũng trong năm 1921, Đảng Cộng sản Trung quốc được thành lập và có liên hệ mật thiết với nước Nga và Quốc tế Cộng sản. Theo sự tư vấn của Quốc tế Cộng sản, hai đảng đã thoả thuận hợp tác với nhau. Năm 1923 sự hợp tác chính thức bắt đầu. Các cố vấn của Quốc tế Cộng sản đã tới Trung quốc để tư vấn cho cả hai đảng. Quốc dân Đảng khi đó mạnh hơn nhiều nhưng Đảng Cộng sản Trung quốc được phép hoạt động trong lòng Quốc dân Đảng. Một số thành viên của Đảng Cộng sản Trung quốc cũng đồng thời có chức vụ khá cao trong tổ chức Quốc dân Đảng. Liên xô đã giúp Quốc dân Đảng về tiền bạc, vũ khí và thành lập học viện chính trị tại Liên Xô để đào tạo cán bộ chính trị cũng như học viện quân sự Hoàng Phố để đào tạo các chỉ huy quân đội. Tưởng Giới Thạch, người đã từng được đào tạo tại học viện quân sự của Nhật và được tập huấn tại Liên xô được cử làm hiệu trưởng học viện quân sự.
Sau vài năm Quốc dân Đảng đã có lực lượng khá mạnh, đủ để từng bước thống nhất lại Trung quốc. Lực lượng của Đảng Cộng sản Trung quốc cũng phát triển mạnh trong thời gian này. Quốc tế Cộng sản cũng như các lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung quốc khi đó đều cho rằng cần giành chính quyền ở thành phố trước và đạt được điều đó bằng phong trào công nhân, bằng cách chèo lái Quốc dân Đảng đi theo đường lối của mình.
Năm 1925 Tôn Trung Sơn qua đời vì bệnh ung thư. Tưởng Giới Thạch khi đó là tổng tư lệnh quân đội. Từ lâu Tưởng Giới Thạch không có thiện cảm với Liên Xô và cũng rất lo ngại về tình trạng đảng trong đảng. Năm 1926 Tưởng Giới Thạch đã ra lệnh hạn chế những người của Đảng Cộng sản nắm chức vụ cao trong Quốc dân Đảng. Nội bộ Quốc dân Đảng trong năm đó có sự chia rẽ nghiêm trọng, Tưởng Giới Thạch bị những người cánh tả chủ trương hợp tác với Đảng Cộng sản tẩy chay và khai trừ ra khỏi đảng. Tưởng Giới Thạch quay sang tìm kiếm sự ủng hộ của giới tư bản Thượng hải. Sau khi có được sự ủng hộ, Tưởng Giới Thạch đã cùng với các chiến hữu của mình quay trở lại đàn áp rất dã man những người cộng sản và phong trào công nhân tại Thượng hải, thành lập chính phủ riêng tại Nam Kinh. Khi đó Trung quốc có ba thủ đô. Thủ đô cũ ở Bắc kinh, Thủ đô của Quốc dân Đảng cánh tả và Đảng Cộng sản ở Vũ hán và thủ đô của Quốc dân Đảng do Tưởng Giới Thạch cầm đầu đóng tại Nam kinh.
Trước sự đàp áp của Tưởng Giới Thạch, trong năm 1927 Đảng Cộng sản Trung quốc tổ chức nhiều cuộc nổi dậy ở nhiều thành phố nhưng đều bị thất bại, bị đàn áp nặng nề. Không chỉ có vậy, Đảng Cộng sản Trung quốc còn bị cánh tả của Quốc dân Đảng vốn là đồng minh trước đây quay sang đàn áp.
Một trong những cuộc nổi dậy trong năm 1927 là do Mao Trạch Đông tổ chức ở tỉnh Hồ tu-cam-thanh.jpgam. Mao Trạch Đông khi đó có vị trí khá cao trong Đảng Cộng sản nhưng không phải là nhân vật chủ chốt vì Mao Trạch Đông vốn xuất thân từ nông thôn, ít nhiều còn mang tác phong nông dân, không có bằng cấp cao, chưa từng được đào tạo ở nước ngoài và cũng không biết tiếng nước ngoài để đọc các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác khi đó còn chưa được dịch sang tiếng Trung quốc. Chính vì vậy, nhiều bài luận Mao Trạch Đông viết trước đó về cách mạng Trung quốc, chủ trương tiến hành cách mạng bằng vũ trang dựa vào nông dân đã không được những người lãnh đạo chấp nhận. Sau khi khởi nghĩa thất bại, Mao Trạch Đông rút lui về vùng núi Tĩnh Cương tỉnh Giang Tây để củng cố lại lực lượng. Căn cứ này đã phát triển thành một căn cứ chính của cách mạng Trung quốc. Tại đây, khi lực lượng Hồng quân khá phát triển, Mao Trach Đông đã ra lệnh các đơn vị từ cấp đại đội trở lên phải có tổ chức đảng và một cán bộ lãnh đạo công tác tư tưởng. Cách tổ chức này đã thiết lập sự lãnh đạo vững chắc của Đảng Cộng sản đối với quân đội.
Năm 1928 với lực lượng quân đội khá mạnh, Tưởng Giới Thạch tiếp tục Bắc phạt chống lại các thế lực quân phiệt địa phương. Tưởng Giới Thạch đã thống nhất được phần lớn các tỉnh đồng bằng của Trung quốc và chiếm được Bắc Kinh. Chính phủ của Tưởng Giới Thạch được các nước trên thế giới công nhận là đại diện hợp pháp của Trung quốc.
Năm 1930, sau khi cơ bản bình định xong các thế lực quân phiệt, Tưởng Giới Thạch quay trở lại tấn công lực lượng của Đảng Cộng sản Trung quốc trong đó có căn cứ địa Tĩnh Cương Sơn. Căn cứ này đã phát triển thành Cộng hoà Xô viết Trung hoa năm 1931 với Mao Trạch Đông làm chủ tịch. Ngoài Mao Trạch Đông, ở đây còn nhiều chỉ huy quân sự lừng danh sau này như Bành Đức Hoài, Chu Đức và Lâm Bưu. Bốn lần tấn công đầu tiên từ 1930 đến 1933 của Tưởng Giới Thạch đều bị thất bại bởi chiến thuật cơ động hợp lý của lực lượng du kích.
Cuối năm 1930, một nhóm đảng viên Đảng Cộng sản Trung quốc sau thời gian học ở Liên xô đã quay trở về nước. Nhóm này có hai tám người được sự hậu thuẫn của Quốc tế Cộng sản và được gọi là nhóm “28 đảng viên Bôn sê vích”. Ngay sau khi về nước nhóm này nắm giữ nhiều vị trí chủ chốt trong đảng. Tuy nhiên với những sách lược không sát thực tế, hy vọng giành chính quyền bằng đấu tranh tư tưởng, nhóm đã bị đánh bật khỏi Thượng hải và phải lánh nạn đến Tĩnh Cương sơn vào năm 1932. Tại đây nhóm kịch liệt phê phán đường lối đấu tranh của Mao Trạch Đông. Tuy vẫn giữ chức chủ tịch Cộng hoà Xô viết nhưng Mao Trạch Đông bị mất quyền chỉ huy Hồng quân và hầu như không còn vai trò lãnh đạo Tĩnh Cương sơn. Chu Ân Lai, một trong số hai tám đảng viên thay thế Mao Trạch Đông chỉ huy Hồng quân.
Cuối năm 1933, Tưởng Giới Thạch phát động cuộc tấn công lần thứ năm vào căn cứ địa Tĩnh Cương Sơn. Lần này Tưởng Giới Thạch huy động một lực lượng rất lớn với sự giúp đỡ của cố vấn quân sự người Đức. Tưởng Giới Thạch áp dụng chiến thuật tiến chậm, đến đâu lại xây dựng các lô cốt phòng thủ đến đó, tạo ra nhiều lớp bao vây từ từ thắt chặt khu căn cứ, cắt mọi ngả đường tiếp tế vào trong cũng như khả năng rút lui ra ngoài.
Đến cuối năm 1934, dưới sự chỉ huy của những người mới đến, với sự từ bỏ chiến thuật đánh du kích, lực lượng kháng chiến tại Tĩnh Cương Sơn bị nhiều tổn thất nặng nề. Nguy cơ bị huỷ diệt hoàn toàn là điều hiển hiện trong tình trạng vòng vây ngày càng thắt chặt. Tình hình đó đã khiến những nhà lãnh đạo tính đến phương án phá vòng vây bằng mọi giá để rút chạy đến căn cứ cách mạng khác. Đây chính là khởi đầu của cuộc Vạn lý Trường chinh nổi tiếng trong lịch sử.
Tháng 10 năm 1934, lợi dụng sự hợp tác lơi lỏng của một thủ lĩnh quân phiệt và với rất nhiều tổn thất, lực lượng kháng chiến cuối cùng cũng phá được vòng vây. Hơn 100 ngàn người đã rút ra ngoài. Mao Trạch Đông khi đó đang bị ốm nặng và hầu như không được tham gia chỉ huy cũng được mang theo. Nhưng tai hoạ chưa phải đã chấm dứt. Với chiến thuật đơn giản, rút chạy theo đường thẳng đến căn cứ kháng chiến gần nhất, tháng 12 năm 1934 Hồng quân bị Quốc dân Đảng đón đầu. Chỉ trong hai ngày giao tranh, khoảng 40 ngàn Hồng quân đã hy sinh. Không có đích đến rõ ràng, phía trước và phía sau đều có địch, tình thế của lực lượng kháng chiến như ngàn cân treo sợi tóc. Uy tín của cố vấn quân sự đến từ quốc tế cộng sản, của ban lãnh đạo đảng giảm mạnh. Mao Trạch Đông đã đề xuất rút về Tuân nghĩa và được mọi người đồng ý.
china3.jpgĐầu năm 1935, tại Tuân Nghĩa, Đảng Cộng sản Trung quốc họp khẩn cấp để tìm phương hướng đối phó tình hình. Hội nghị đã phế truất chức tổng bí thư của Bác Cổ. Các chỉ huy quân sự và nhiều lãnh đạo đảng, bao gồm cả Chu Ân Lai lúc này đều hướng về Mao Trạch Đông, thừa nhận đường lối đấu tranh vũ trang của ông là đúng đắn. Mao Trach Đông được bầu vào bộ chính trị, giữ chức Chủ tịch Uỷ ban Quân sự Cách mạng. Tuy phải tới năm 1945 Mao Trach Đông mới chính thức trở thành lãnh đạo tối cao của đảng nhưng từ thời điểm này, Mao Trạch Đông luôn đóng vai trò chủ chốt của cách mạng Trung quốc và là lãnh đạo tối cao của Hồng quân Trung quốc. Do các căn cứ khác cũng bị Quốc dân Đảng truy quét, Mao Trạch Đông quyết định di chuyển theo đường núi về phía tây và sau đó vòng lên phía bắc. Cuộc hành quân kéo dài hơn một năm với những quyết định táo bạo, những thủ thuật đánh lừa kẻ địch và những trận chiến liên miên. Đoàn đã vượt qua hơn 9000 Km núi cao, rừng sâu, những vùng đất hoang vu không có người sinh sống. Rất nhiều người đã hy sinh dọc đường do đói, rét, bệnh tật, do Quốc dân Đảng và các lực lượng quân sự địa phương truy sát. Từ hơn 100 ngàn người và rất nhiều tân binh bổ sung dọc đường, chưa đến bảy ngàn người đã đến được đích cuối cùng là căn cứ cách mạng tại Thiểm Tây. Cuối năm 1936, hai đạo quân khác xuất phát từ miền trung Trung quốc gần như đồng thời với đạo quân của Mao Trạch Đông cũng đến được Thiểm Tây với những tổn thất nặng nề.
Cuộc Vạn lý Trường chinh đã thu hút sự chú ý của dư luận cả trong và ngoài nước và đã gây ấn tượng rất mạnh về tinh thần bất khuất, mưu trí của những người Cộng sản. Vạn lý Trường chinh trở thành bản anh hùng ca, huyền thoại của cách mạng Trung quốc. Đến lúc này Mao Trạch Đông được mọi người đều công nhận cả về tài năng chỉ huy quân sự, và tài năng chỉ huy giáo dục tư tưởng.
Lực lượng Quốc dân Đảng ở phía bắc không mạnh. Đầu năm 1935 Hồng quân tại Thiểm Tây không những đã bẻ gãy hai đợt bao vây của Quốc dân Đảng mà còn mở rộng được địa bàn hoạt động. Trong năm 1935 Nhật mở rộng xâm lược Trung quốc cũng góp phần làm Tưởng Giới Thạch bỏ kế hoạch truy quét đến cùng lực lượng kháng chiến. Đảng Cộng sản và Hồng quân Trung quốc đã có thời gian phục hồi và phát triển lực lượng của mình.
Năm 1936 đã xảy ra một sự kiện đặc biệt. Một tướng Quốc dân Đảng bắt giam Tưởng Giới Thạch và yêu cầu hợp tác với Đảng Cộng sản để kháng Nhật. Trong hoàn cảnh bắt buộc, Tưởng Giới Thạch đã phải đồng ý. Năm 1937, người Nhật chiếm toàn bộ các tỉnh duyên hải Trung quốc trong đó có thủ đô Nam kinh của Quốc dân Đảng. Tại Nam kinh binh lính Nhật đã gây ra vụ thảm sát kinh hoàng làm khoảng 250 ngàn người chết. Không còn cách nào khác, Tưởng Giới Thạch buộc phải bắt tay với Đảng Cộng sản. Năm 1938, Mặt trận Kháng Nhật Thống nhất ra đời.
Tuy vậy, sự tranh chấp giữa hai lực lượng vẫn thường xuyên xảy ra và sự hợp tác hầu như đã kết thúc vào năm 1941. Trong năm 1944, người Mỹ đã đến Trung quốc để khảo sát tình hình, đã cố gắng hoà giải hai đảng để tiến đến một chính phủ gồm tất cả các đảng phái. Bản thân Mao Trạch Đông và Tưởng Giới Thạch cũng gặp nhau vài lần để tìm kiếm sự hợp tác lần thứ ba. Nhưng tất cả các cố gắng này đều không dẫn đến kết quả. Năm 1945 Nhật bị quân Đồng minh đánh bại, rút khỏi Trung quốc. Với tư cách chính phủ chính thức, các vùng đất bị Nhật chiếm đóng đều được trao trả chính quyền Tưởng Giới Thạch. Khi Liên Hợp Quốc được thành lập tháng 6 năm 1945, Trung quốc với chính phủ của Quốc dân Đảng không chỉ nằm trong số các nước sáng lập mà còn là một trong năm thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an. Chính quyền Tưởng Giới Thạch còn nhận được rất nhiều viện trợ từ Mỹ trong giai đoạn 1946-1948. Đảng Cộng sản Trung quốc tại thời điểm này có vị thế rất bất lợi so với Quốc dân Đảng nhưng lịch sử Trung quốc vẫn còn nhiều biến đổi bất ngờ ở
phía trước.
Như vậy, lịch sử Trung quốc từ 1911 đến 1945 là thời kỳ đổ vỡ của nền quân chủ và hỗn độn kéo dài. Bên trong sự đổ vỡ đó, tư tưởng dân chủ với hai trường phái là Dân tộc chủ nghĩa và Cộng sản chủ nghĩa đã từng bước đi lên. Cả hai trường phái này đã có sự hợp tác chặt chẽ và đều có những bước phát triển đột phá từ năm 1923. Đến năm 1927, sự hợp tác giữa hai trường phái tạm thời chấm dứt nhưng cả hai lực lượng đều tiếp tục phát triển.
Năm 1935, Đảng Cộng sản Trung quốc, người đại diện chính thức của đất nước Trung quốc sau này đã lâm vào tình thế cực kỳ hiểm nghèo. Nhưng trong tình thế hiểm nghèo đó, đảng đã được đổi mới, quan điểm giành chính quyền bằng vũ lực đã được chấp nhận rộng rãi.
Không chỉ Đảng Cộng sản bị tổn thất nặng nề sau năm 1935, Quốc dân Đảng cũng bị tổn thất nặng nề trước sự xâm lấn của người Nhật. Người dân Trung quốc phải chịu nhiều đau thương trong thời kỳ đất nước bị xâm lăng.
Có thể kết luận rằng thời kỳ 1911 đến 1923 là thời kỳ chuyển tiếp giữa Hoả và Thổ của đất nước Trung quốc. Từ 1923 đến 1935 là thời kỳ thổ thịnh. Từ 1935 đến 1947 là kỳ chuyển tiếp giữa Thổ và Kim. Các diễn biến lịch sử sau năm 1945 sẽ khẳng định thêm kết luận này. Chu kỳ ngũ hành của Trung quốc còn tiếp tục kéo dài.
2.Trung quốc sau 1945Năm 1945 khi Quốc dân Đảng được lợi và mạnh lên rất nhiều từ thất bại của người Nhật thì ngược lại, Đảng Cộng sản Trung quốc lại trở nên rất khó khăn trước ưu thế áp đảo của Quốc dân Đảng. Lực lượng Hồng quân dù đã phát triển rất nhiều nhưng khi đó mới khoảng 500 ngàn người với trang bị vũ khí hết sức thô sơ và hầu như không có vũ khí hạng nặng. Lực lượng Quốc dân Đảng tại thời điểm này có khoảng hơn 4 triệu quân và được trang bị tốt hơn rất nhiều. Ngoài ra Quốc dân Đảng còn có rất nhiều lực lượng quân sự địa phương đã quy thuận chính phủ. Từ năm 1946 viện trợ quân sự của Mỹ càng làm Tưởng Giới Thạch mạnh thêm.
Ngay cả Liên xô khi đó cũng không tin Hồng quân Trung quốc có thể đảo ngược tình thế nên1112963.jpg cũng chỉ viện trợ rất hạn chế. Sau khi đánh tan đạo quân Quan đông của Nhật tại Mãn Châu Lý, Liên xô đã rút quân và trao trả các vùng đất này cho chính quyền Tưởng Giới Thạch.
Tuy nhiên bước ngoặt khó ngờ đã xảy ra sau một loạt những sai lầm của Tưởng Giới Thạch. Sau chiến tranh Tưởng Giới Thạch không quan tâm đến việc ổn định xã hội, lấy lòng dân mà dồn lực lượng để tiêu diệt Đảng Cộng sản và Hồng quân. Kinh tế Trung quốc khi đó rơi vào tình trạng siêu lạm phát khiến người dân Trung quốc vốn đã rất khó khăn sau nhiều năm loạn lạc lại càng thêm khốn đốn. Cùng với sự thể hiện yếu kém trước quân đội Nhật và tình trạng tham nhũng tràn lan, uy tín của chính phủ Tưởng Giới Thạch tụt đến tận cùng.
Để nhận được viện trợ của Mỹ, Tưởng Giới Thạch phải giải trừ quân bị một phần. Tưởng Giới Thạch khi đó rất lo lắng về các lực lượng quân sự địa phương ở phía bắc Trung quốc vì tuy họ đã quy thuận chính phủ nhưng vẫn khá độc lập. Nhân cơ hội này Tưởng đã giải giáp một triệu rưỡi quân thuộc về các lực lượng quân sự địa phương.
Những tưởng một mũi tên bắn trúng hai đích. Nhưng những người lính bị giải giáp bỗng chốc bị ném ra ngoài đường với hai bàn tay trắng, không mưu kế sinh nhai nên hết sức bất bình. Nhiều người quay sang ủng hộ lực lượng kháng chiến và đã đem đến cho Hồng quân một thứ vô cùng giá trị. Đó là các thông tin về các kho vũ khí khổng lồ mà người Nhật bỏ lại ở các vùng hẻo lánh. Tuy Mãn Châu Lý đã được Tưởng Giới Thạch tiếp quản nhưng khu vực này bị Nhật chiếm đóng từ lâu nên Quốc dân Đảng hầu như không có sơ sở tại đây. Tưởng Giới Thạch khi đó chỉ đủ quân để giữ các thành phố lớn. Các vùng nông thôn và vùng núi hẻo lánh bị bỏ ngỏ và lực lượng kháng chiến đã nhanh chóng chiếm giữ khoảng trống này cùng với những kho vũ khí do người Nhật bỏ lại.
Nhờ lấy được vũ khí của Nhật, trang bị của Hồng Quân tốt lên rất nhiều. Hồng quân Trung quốc cũng tăng rất nhanh về số lượng, đến năm 1947 đã có 1,5 triệu người. Tuy vẫn ít hơn nhưng Hồng quân Trung quốc rất có kỷ luật, tinh thần chiến đấu và nghệ thuật chiến đấu rất cao. Người Mỹ sau này đụng độ với Hồng quân ở Triều tiên cũng đã phải viết nhiều lời thán phục.
Tháng ba năm 1947, Tưởng Giới Thạch dốc toàn lực lượng với cả máy bay ném bom tấn công căn vào thủ đô kháng chiến, quyết tâm xoá sổ Đảng Cộng sản và Hồng quân. Mao Trạch Đông và các cơ quan đầu não phải rút chạy hết sức vất vả. Nhưng dù trong tình thế bị động, Hồng quân Trung quốc đã đánh thắng nhiều trận chiến quan trọng làm nhụt dần sức mạnh của Quốc dân Đảng. Tháng tám năm 1947, sau thành công của chiến dịch Sa Gia Điếm, nhận thấy thời cơ đã đến, Mao Trach Đông phát động tổng phản công. Bước sang năm 1948, Hồng quân giải phóng toàn bộ phía bắc Trung quốc. Lực lượng Hồng quân khi này tăng lên gần ba triệu trong khi quân của Tưởng Giới Thạch ngày càng giảm sút. Liên xô cũng đã tăng cường viện trợ cho Hồng quân Trung quốc. Đầu năm 1949 Hồng quân giải phóng Bắc kinh (khi đó được gọi là Bắc bình) và tiếp tục truy đuổi quân Quốc dân Đảng về phía nam. Ngày 1 tháng 10 năm 1949 Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa được tuyên bố thành lập với thủ đô tại Bắc kinh. Tháng 12 năm 1949, Tưởng Giới Thạch cùng khoảng hai triệu người ủng hộ bỏ chạy ra đảo Đài loan, thành lập chính phủ tại đây.
Như vậy từ tình thế vô cùng khó khăn sau năm 1945, chỉ sau hai năm Hồng quân Trung quốc đã giành được thế chủ động trên chiến trường. Theo chu kỳ ngũ hành, năm 1947 cũng chính là thời điểm Trung quốc bước vào kỳ Kim thịnh. Hai tư năm sau bước phát triển đột phá của Thổ lại là bước phát triển đột phá của Kim. Đấu tranh vũ trang không chỉ được thừa nhận mà trở thành phương thức hành động chính quyết định thành công của cách mạng Trung quốc, quyết định lịch sử Trung quốc.
Do sự đe doạ can thiệp của người Mỹ, Hồng quân không tiến ra đảo Đài loan nhưng đã giải phóng đảo Hải nam năm 1950. Đảng Cộng sản Trung quốc ngay sau khi giành được chính quyền đã nhanh chóng tiến hành cải cách ruộng đất, ổn định lại tình hình xã hội. Lạm phát chấm dứt.
Tháng sáu năm 1950, với mục tiêu thống nhất đất nước, quân đội Bắc Triều tiên vượt qua vĩ tuyến 38 tràn xuống phía nam và nhanh chóng chiếm tới 90% lãnh thổ Nam Triều tiên. Lo ngại sự phát triển của phong trào cộng sản, Mỹ đã mượn danh Liên Hợp Quốc đổ quân và vũ khí vào giúp chính phủ thân Mỹ tại Nam Triều tiên. Quân đội Bắc Triều tiên buộc phải rút lui trước hoả lực quá mạnh của người Mỹ. Nhưng người Mỹ không dừng ở vĩ tuyến 38 mà tiếp tục tiến lên phía bắc, hướng tới biên giới Trung quốc. Mặc dù còn nhiều khó khăn, chính phủ Trung quốc vẫn quyết định can thiệp. Sau vài lần cảnh báo không làm người Mỹ dừng bước, cuối năm 1950 gần một triệu Quân chí nguyện Trung quốc đã vượt Áp Lục giang bí mật tiếp cận chiến trường và giúp Bắc Triều tiên phản công. Dù các phương tiện chiến tranh kém hơn nhưng bằng chiến thuật hợp lý, Hồng quân Trung quốc nhanh chóng đẩy lùi liên quân Mỹ - Nam Triều tiên. Choáng váng trước sức mạnh và nghệ thuật chiến đấu của Hồng quân, người Mỹ đã tính đến việc sử dụng bom nguyên tử. Tuy nhiên chiến trường trở nên cân bằng xung quanh vĩ tuyến 38 và chấm dứt năm 1953 nhờ sự dàn xếp của Liên Hợp Quốc. Lần đầu tiên sau hơn một thế kỷ, Trung quốc đã cạnh tranh ngang ngửa với các cường quốc phương tây và người dân Trung quốc đã rất tự hào về điều này.
Năm 1952, Trung quốc thu hồi Tây Tạng, một vùng lãnh thổ rộng lớn phía Tây, cơ bản định hình xong lãnh thổ quốc gia, đánh dấu đỉnh cao của Kim. Tuy nhiên, do sự hậu thuẫn của nước Mỹ đối với Đài loan được tăng cường sau khi xảy ra chiến tranh Triều tiên, Cộng hoà Nhân dân Trung hoa đã không thể thống nhất trọn vẹn lãnh thổ của mình. Cộng hoà Nhân dân Trung hoa chỉ được một số nước trên thế giới công nhận trong khi chính phủ tại Đài loan vẫn được Liên Hợp Quốc coi là đại diện chính thức. Tình hình đó khiến Trung quốc còn nằm trong tình trạng chiến tranh kéo dài.
447540.jpgQuan điểm đấu tranh bằng vũ lực vẫn được Mao Trạch Đông và chính phủ Trung quốc áp dụng trong suốt thập kỷ năm mươi và sáu mươi. Đầu thập kỷ năm mươi, Cộng hoà Nhân dân Trung hoa ký hiệp ước phòng thủ với Liên xô. Nhà nước Trung quốc áp dụng chính sách khuyến khích sinh đẻ vì cho rằng càng nhiều người càng thêm sức mạnh khiến dân số trung quốc tăng từ 400 triệu lên 700 triệu trong vòng 20 năm. Trung quốc đã nhiều lần yêu cầu Liên xô chuyển giao công nghệ chế tạo bom hạt nhân. Khi bị từ chối, Trung quốc tự mình tiến hành nghiên cứu và đã thành công vào năm 1964, trở thành nước thứ năm trên thế giới sở hữu vũ khí hạt nhân.
Sau những thành công ban đầu về kinh tế giúp ổn định xã hội, chính phủ Trung quốc có nhiều kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội nóng vội và sai lầm, đặc biệt kế hoạch “Đại nhảy vọt” do Mao Trạch Đông khởi xướng. Các công xã lớn được thành lập với nền sản xuất chỉ dựa vào sức người, không quan tâm đến khoa học kỹ thuật. Công xã bãi bỏ quan hệ kinh tế thị trường, chi phối mọi khía cạnh cuộc sống của các thành viên. Công nghiệp phát triển với các chỉ tiêu kinh tế được đưa ra một cách chủ quan, bỏ qua nhiều yếu tố như quan hệ cung cầu, nguồn tài nguyên và khả năng công nghệ trong xã hội.
Bước vào thời kỳ chuyển tiếp giữa Kim và Thuỷ, Trung quốc đã phải trả giá cho những sai lầm kinh tế trước đó. Sản lượng lương thực giảm mạnh tạo ra nạn đói lớn trong các năm từ 1959 đến 1961. Kế hoạch “Đại nhảy vọt” chính thức bị huỷ bỏ năm 1961 và uy tín của Mao Trạch Đông suy giảm ở mức độ nhất định. Đặng Tiểu Bình khi đó là Tổng bí thư đảng và Lưu Thiếu Kỳ trên cương vị chủ tịch nước đã phần nào đưa Trung quốc trở lại kinh tế thị trường. Từ cuối thập kỷ năm mươi, quan hệ giữa Liên xô và Trung quốc xấu đi nghiêm trọng. Năm 1960, Liên xô rút toàn bộ cố vấn của mình về nước. Hai nước bắt đầu có những tranh cãi công khai trên các diễn đàn quốc tế. Trung quốc còn tranh cãi về lãnh thổ với Ấn độ và hai nước đã có những xung đột quân sự tại biên giới, cắt đứt quan hệ ngoại giao.
Năm 1966, Cách mạng Văn hoá nổ ra với Giang Thanh và Lâm Bưu đóng vai trò quan trọng. Giới tôn giáo, trí thức và văn nghệ sỹ bị đả phá kịch liệt. Nhiều trường học bị đóng cửa, giáo viên và học sinh phải đi lao động chân tay. Lực lượng Hồng vệ binh bao gồm các thanh thiếu niên sau đó đấu tố cả nhiều lãnh đạo cao cấp của đảng và chính phủ. Cách mạng văn hoá biến thành đấu tranh quyền lực. Cả Lưu Thiếu Kỳ và Đặng Tiểu Bình đều bị đấu tố, truất quyền lãnh đạo. Lưu Thiếu Kỳ chết trong nhà tù năm 1969 và Đặng Tiểu Bình đã phải lao động như công nhân ở nhà máy máy kéo. Nhiều Hồng Vệ binh đấu tố cả cha mẹ mình. Sau đó nhiều nhóm Hồng Vệ binh quay sang đánh lẫn nhau. Trung quốc rơi vào tình trạng hỗn loạn về chính trị và xã hội. Năm 1969, Mao Trạch Đông ra lệnh cho quân đội can thiệp. Lực lượng Hồng vệ binh sau đó bị giải tán và được đưa về các vùng nông thôn để lao động. Mao Trạch Đông tuyên bố cách mạng văn hoá kết thúc nhưng trên thực tế nó còn kéo dài đến năm 1976, sau khi nhóm Giang Thanh bị bắt.
Trong năm 1969 xảy ra chiến tranh biên giới giữa Trung quốc và Liên xô ở Mãn Châu Lý. Cuộc chiến tranh không kéo dài nhưng đã chứng tỏ sự yếu thế của nền quân sự Trung quốc. Với tình trạng cô lập, với quan điểm dùng vũ lực nhưng không đật được kết quả như mong muốn… có lẽ các nhà lãnh đạo Trung quốc đã phải lo ngại, muốn có sự hoà hoãn với các nước khác trên thế giới. Đồng thời với xu thế này, do khả năng chiếm lại Đại lục của Quốc dân Đảng ngày càng xa vời, nhiều nước trên thế giới đã xem xét lại quan hệ với hai chính phủ tại Trung quốc.
Năm 1970, Canada đã thiết lập quan hệ ngoại giao với Cộng hoà Nhân dân Trung hoa. Năm 1971, An-ba-ni với sự ủng hộ của các nước xã hội chủ nghĩa và cả Anh, Pháp đã đưa ra đề xuất trao chiếc ghế tại Hội đồng Bảo an cho Cộng hoà Nhân dân Trung hoa. Mỹ đã cố gắng ngăn chặn nghị quyết này và đưa ra đề xuất khác với một ghế cho chính phủ Đài Loan tại Liên Hợp Quốc. Tưởng Giới Thạch đã không chấp nhận bất kỳ phương án nào trong hai phương án này, yêu cầu Đài Loan phải là uỷ viên thường trực trong Hội đồng Bảo an và tuyên bố “Trời không đủ lớn để có hai mặt trời”. Tháng 10 năm 1971, Liên Hợp Quốc đã thông qua “Nghị quyết 2758” trên cơ sở đề xuất của An-ba-ni, trao ghế cho Cộng hoà Nhân dân Trung hoa và trục xuất Đài loan ra khỏi Liên Hợp quốc.
Một lần nữa Tưởng Giới Thạch đã mắc sai lầm nghiêm trọng. Đài loan lúc này chỉ còn là mộtHoc_thuyet_am_duong_ngu_hanh_trong_tu_tuong_Trung_Quoc.jpg vùng lãnh thổ thuộc Trung quốc. Hai tư năm sau sự nghịch đảo ngoạn mục về quân sự lại là một nghịch đảo ngoạn mục về chính trị. Sự nghịch đảo đó đã trùng vào thời điểm Trung quốc bước vào kỳ Thuỷ thịnh. Thuỷ còn tiếp tục phát triển mạnh sau đó. Năm 1972, trước sự ngạc nhiên của cả thế giới, tổng thống Mỹ Richard Nixon đã đến thăm Trung quốc. Hai bên đồng ý thiết lập quan hệ ngoại giao. Tuy nhiên, do chính quyền Nixon sau đó bị vướng vào vụ Watergate, kế hoạch này bị lùi lại đến năm 1978. Sau chuyến thăm của Nixon, các nước tư bản đã lần lượt thiết lập quan hệ ngoại giao với Trung quốc. Đại sứ quán của các nước được chuyển từ Đài loan về Bắc kinh vì quan điểm một nhà nước Trung quốc luôn là yêu cầu tiên quyết khi thiết lập quan hệ.
Tình hình trong nước cũng có những chuyển biến đáng chú ý. Trong suốt cách mạng văn hoá, bộ trưởng bộ quốc phòng Lâm Bưu đã được Mao Trạch Đông chọn là người kế vị chức chủ tịch đảng. Nhưng năm 1971 Lâm Bưu âm mưu lật đổ Mao Trạch Đông và bị chết khi dùng máy bay để trốn chạy. Mao Trạch Đông sau đó cho gọi Đặng Tiểu Bình, giao chức phó thủ tướng để phục hồi những đổ vỡ do Cách mang Văn hoá gây ra. Sức khoẻ của Mao Trạch Đông lúc này giảm nhiều. Vai trò điều hành xã hội trên thực tế được chia sẻ giữa hai nhóm: một bên là Chu Ân Lai, Đặng Tiểu Bình và bên kia là nhóm bốn người với Giang Thanh đứng đầu, sau này được gọi là “bè lũ bốn tên”. Kinh tế Trung quốc cũng có những bước phục hồi và phát triển sau Cách mạng Văn hoá.
Tháng giêng năm 1976, Chu Ân Lai qua đời. Nhân vụ lộn xộn trong đám tang Chu Ân Lai, nhóm Giang Thanh đã quy cho Đặng Tiểu Bình tội xúi giục phản loạn. Một lần nữa Mao Trạch Đông bãi miễn mọi chức vụ của Đặng Tiểu Bình. Tuy nhiên Mao Trạch Đông cũng đã đoán được những ý đồ của nhóm Giang Thanh nên ông chọn Hoa Quốc Phong làm người kế nhiệm chức thủ tướng. Tháng chín năm 1976, Mao Trạch Đông qua đời. Hoa Quốc Phong tiếp tục là người kế vị Mao Trạch Đông giữ chức Chủ tịch đảng. Ngay sau đó Hoa Quốc Phong đã cho bắt nhóm Giang Thanh và phục hồi chức vụ cho Đặng Tiểu Bình vào năm 1977.
Sau gần ba mươi năm phát triển, kinh tế Trung quốc vẫn chỉ dừng ở mức đủ cung cấp cho nhu cầu tối thiểu của nhân dân trong khi mức sống người dân ở Nhật bản, Hàn quốc, Hồng kông và Đài loan đã được cải thiện đáng kể. Điều đó làm nóng lòng nhiều nhà lãnh đạo Trung quốc. Sau khi trở thành lãnh đạo tối cao, Hoa Quốc Phong chủ trương phát triển kinh tế Trung quốc theo mô hình Liên xô. Tuy nhiên Đặng Tiểu Bình từ lâu có ý định đưa kinh tế Trung quốc phát triển theo định hướng thị trường. Với sự ủng hộ của nhiều người, những cải cách kinh tế - xã hội theo quan điểm của Đặng Tiểu Bình đã được đại hội đảng thông qua trong năm 1978.
Năm 1979 Trung quốc thử nghiệm cải cách ruộng đất. Đất đai được chia lại cho nông dân và nông dân có quyền tự quyết định trên mảnh đất của mình. Giá sản phẩm nông nghiệp dần được thả nổi. Nhờ chính sách này sản lượng lương thực thực phẩm đã liên tục tăng. Từ 1982 đến 1984, cải cách được nhân rộng trên toàn quốc. Đây cũng là thời điểm Trung quốc bước vào kỳ chuyển tiếp giữa Thuỷ và Mộc. Các Công xã Nhân dân bị giải tán sau 25 năm tồn tại. Chế độ bao cấp với biểu tượng “chiếc bát ăn cơm bằng sắt” (Iron rice bowl) rơi không vỡ, thua lỗ vẫn được đảm bảo cuộc sống đã bị “đập bẹp”. Thay vào đó các “Doanh nghiệp hương trấn” (Township and Village Enterprises -TVE) có tính cạnh tranh cao phát triển mạnh. Nhờ chính sách tự chủ, chỉ sau vài năm Trung quốc đã đủ lương thực cho nhu cầu nội địa và các TVE đã sản xuất được một lượng hàng tiêu dùng rất lớn đáp ứng nhu cầu cấp thiết của xã hội, đem lại việc làm, thu nhập cho người dân nông thôn.
Năm 1980, cải cách về thuế được tiến hành. Các địa phương được quyền thu các loại thuế và trích nộp về trung ương theo tỷ lệ nhất định. Vai trò của các quan chức địa phương trở nên nổi bật nhưng đồng thời họ cũng phải quan tâm tạo điều kiện cho các doanh nhân để thu hút đầu tư, để phát triển kinh tế tại địa phương mình. Các khu công nghiệp được phát triển, Trung quốc trở thành nước thu hút đầu tư trực tiếp lớn nhất trên thế giới. Các công ty tư nhân được phép hoạt động và nền kinh tế ngoài quốc doanh đã phát triển nhanh chóng. Đến năm 2005 kinh tế ngoài quốc doanh đã đóng góp 70% GDP của Trung quốc. Năm 1985, Trung quốc tiến hành cải cách công nghiệp. Các công ty, nhà máy được giao quyền tự chủ lớn hơn. Sản lượng công nghiệp, đặc biệt hàng tiêu dùng đã tăng mạnh trong những năm sau đó. Cùng với các cải cách kinh tế, cải cách chính trị cũng đã diễn ra. Năm 1984 chính phủ Trung quốc đưa ra lời đảm bảo với hội nhà văn về tự do ngôn luận. Các lãnh đạo nhiều tuổi từ chức để thế hệ trẻ hơn nắm quyền.
untitled.jpgMặc dù kinh tế có nhiều chuyển biến, Trung quốc đã gặp khá nhiều vấn đề rắc rối trong thời kỳ chuyển tiếp. Số người thất nghiệp tăng mạnh. Giá cả nhiều loại hàng hoá tăng cao khiến đời sống nhiều người dân, đặc biệt những người cao tuổi gặp khó khăn. Khoảng cách giàu nghèo tăng nhanh. Các địa phương tự thu thuế đã tạo cơ hội cho tham nhũng, lãng phí phát triển. Nhiều doanh nghiệp nhà nước vẫn thua lỗ triền miên. Nhiều người Trung quốc mong muốn có những cải cách xã hội triệt để hơn nữa. Năm 1989 đã xảy ra những lộn xộn nhất định ở các thành phố lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải... khiến nhà nước phải dùng quân đội để can thiệp. Tăng trưởng kinh tế Trung quốc trong hai năm 1989, 1990 suy giảm đáng kể, chỉ còn xấp xỉ 4% so với hơn 10% của các năm trước. Tốc độ tăng trưởng chỉ phục hồi hoàn toàn từ năm 1992.
Sự phát triển của kinh tế Trung quốc đã gây ấn tượng mạnh đối với dư luận quốc tế. Nhưng từ 1980 đến 1993 do thuế chủ yếu được giữ lại ở các địa phương nên dù kinh tế Trung quốc tăng sáu lần nhưng thu nhập của toàn chính phủ tăng chỉ hai lần và thu nhập của chính quyền trung ương hầu như không tăng so với năm 1978. Vì vậy trong suốt thời kỳ cải cách chính phủ Trung quốc đã phải chật vật xoay xở để duy trì chính sách cải cách của mình.
Sau rất nhiều tranh luận và phải đích thân Đặng Tiểu Bình đi công du một loạt các tỉnh phía nam để thuyết phục, năm 1993 kế hoạch cải cách tổng thể hệ thống tài chính được thông qua. Cải cách này có hiệu lực từ 01/01/1994 và có hai năm chuyển tiếp. Hệ thống thuế trong cả nước được thống nhất trở lại từ trung ương đến địa phương. Trung ương trực tiếp thu nhiều loại thuế quan trọng và chia lại cho địa phương 25% số thuế thu được từ địa phương đó. Số tiền còn lại sẽ được điều tiết cho các địa phương gặp khó khăn.
Bằng chính sách này, không chỉ ngân sách trung ương tăng đáng kể mà quyền điều hành xã hội cũng được tập trung trở lại Trung ương. Nếu trước đây chỉ có dân và địa phương giàu lên thì từ thời điểm này Trung quốc phát triển theo đúng nghĩa “dân giàu, nước mạnh”. Như vậy, tuy phát triển kinh tế là một quá trình lâu dài nhưng năm 1995 cũng có thể coi là thời điểm bước ngoặt. Hai tư năm sau chuyển biến thần kỳ về chính trị lại là bước chuyển biến thần kỳ về kinh tế. Trung quốc bước vào kỳ Mộc thịnh.
Có một điều đáng chú ý là trong kỳ Thuỷ thịnh trước đó Trung quốc đã bỏ qua quan hệ với các nước láng giềng để kết giao với các nước ở xa. Chắc chắn ngay cả các nhà lãnh đạo Trung quốc cũng không thể ngờ được rằng cách làm “bỏ gần kết xa” này hoá ra lại phát huy hiệu quả rất tích cực sau đó. Nhờ quan hệ với các nước tư bản, Trung quốc đã có dòng vốn và công nghệ ngoại rất lớn đổ vào, có thị trường khổng lồ để xuất khẩu. Đây là những yếu tố quyết định để kinh tế Trung quốc phát triển và không thể hy vọng có chúng từ những “láng giềng gần”. Thuỷ đã đóng vai trò nền tảng để Mộc cất cánh. Sự vận động của Ngũ hành được thể hiện rất trực quan và cũng rất sâu xa.
Quan hệ với các nước láng giềng lớn xấu đi khi Thuỷ qua cực tiểu (năm 1962) và ấm lại dần sau khi Thuỷ đã qua cực tiểu tiếp theo vào năm 1992. Với nước Nga, Trung quốc đã có quan hệ khá mật thiết cả về quân sự, chính trị và kinh tế. Với Ấn độ, tuy bất đồng lãnh thổ vẫn còn đó nhưng quyền lợi kinh tế đã được đặt lên trên. Quan hệ với Việt nam xấu đi ở nửa sau kỳ Thuỷ cũng phục hồi mạnh sau năm 1992. Chính sách nước lớn, tranh giành lãnh thổ và tranh giành ảnh hưởng trong khối các nước xã hội chủ nghĩa là các nguyên nhân quan trọng làm xấu đi quan hệ láng giềng. Yếu tố kinh tế, ngược lại, đã đóng vai trò nhất định khiến Trung quốc xích lại gần các nước láng giềng.
Kinh tế Trung quốc sau năm 1995 phát triển chậm lại (khoảng 10%) nhưng ổn định hơn. Lạm phát giảm từ xấp xỉ 20% một năm trong nhiều năm trước đó xuống còn 6% trong năm 1996 và được duy trì trong nhiều năm sau đó. Dự trữ ngoại tệ của Trung quốc liên tục tăng. Năm 1997 và sau đó năm 1999 Trung quốc đã thu hồi hai vùng đất có nền kinh tế thị trường rất phát triển là Hồng Kông và Macao. Chính sách “Một nhà nước, hai chế độ” được áp dụng để duy trì sự phát triển của hai khu vực này. Đất nước Trung quốc như vậy tiến thêm một bước tới sự toàn vẹn lãnh thổ.
Trong việc thu hồi êm đẹp Hồng kông và Macao có vai trò rất lớn của cải cách kinh tế theo hướng thị trường. Nếu nền kinh tế thị trường của Trung quốc khi đó chưa phát triển, phương án “Một nhà nước, hai chế độ” sẽ rất khó được chấp nhận từ tất cả các bên. Nếu gắng gượng chấp nhận, nó cũng sẽ gây ra những xáo trộn lớn không chỉ đối với hai vùng đất được thu hồi mà cả với Đại lục. Những làn sóng di tản và rút vốn sẽ diễn ra ồ ạt tại Hồng kông và Macao. Hai thành phố thu về khi đó chỉ là những thành phố vô hồn và đầy rẫy các tệ nạn xã hội. Kinh nghiệm này làm nảy sinh câu hỏi liệu trong kỳ Hoả thịnh sắp tới, hai nền cộng hoà (Republic) ở hai bên eo biển Đài loan có xảy ra những cải cách đủ để xích lại gần nhau giúp Trung quốc thu hồi êm đẹp Đài loan, để có một Trung quốc thống nhất?.
Năm 1997 khủng hoảng kinh tế Châu Á khiến kinh tế Trung quốc tăng trưởng chỉ còn hơn 7%. Tuy vậy việc Trung quốc không thả nổi đồng nhân dân tệ đã góp phần đáng kể trong việc ngăn chặn khủng hoảng. Trung quốc đã chứng tỏ ảnh hưởng về kinh tế của mình không chỉ trong khu vực mà trên toàn thế giới. Từ năm 1997 sự phát triển của Mộc được tiếp thêm sinh khí bởi quá trình cổ phần hoá các doanh nghiệp nhà nước được đẩy mạnh sau thời gian dài thử nghiệm. Từ năm 2000, Trung quốc trở lại tốc độ phát triển kinh tế cao. Năm 2001 Trung quốc trở thành thành viên tổ chức thương mại thế giới WTO.
Tính theo Chu kỳ ngũ hành, năm 2007 là năm Trung quốc bước vào kỳ chuyển tiếp giữa Mộc vàtutuong.jpg Hoả. Kinh tế Trung quốc vẫn tăng trưởng mạnh nhưng các nhà lãnh đạo Trung quốc đã phải lo lắng về khả năng tăng trưởng không ổn định. Nhiều chuyên gia cũng lo ngại thị trường chứng khoán của Trung quốc quá nóng. Có vẻ như Trung quốc đang và sẽ gặp phải những khó khăn nhất định khi bước vào kỳ chuyển tiếp. Gần đây, chính phủ Trung quốc đã phải có những nhân nhượng về chính sách tỷ giá tiền tệ và giá trị đồng nhân dân tệ đã tăng liên tục so với đồng đô la Mỹ (8.27 NDT ăn một đô la năm 2005 còn 7.7 năm 2007). Thặng dư thương mại với Mỹ trong năm 2007 đã giảm so với 2006. Sau một thời gian hàng giá rẻ của Trung quốc gây ấn tượng và bành trướng ra khắp thế giới, gần đây người ta bắt đầu lo ngại về chất lượng, mức độ vệ sinh an toàn của chúng. Thị trường cũng đã được phát triển hết cỡ trong khi nhiều nước cũng có xu thế sản xuất hàng giá rẻ. Nhà nước Trung quốc đang dự trữ một lượng khổng lồ hơn một nghìn tỷ đô la nhưng đồng tiền này đã mất giá mạnh cũng tạo ra những thua thiệt nhất định...
Luật sở hữu tài sản cá nhân đã được thông qua năm 2004 ở Trung quốc khẳng định tài sản cá nhân là bất khả xâm phạm. Năm 2007 Trung quốc có tới hơn 100 tỷ phú đô la, chỉ ít hơn nước Mỹ. Nhưng đây cũng là lúc các doanh nhân nên thận trọng nhìn lại mình. Thời của Mộc đang dần qua và xã hội sẽ soi xét những sai phạm của một số doanh nhân làm ăn không đúng đắn. Họ cũng cần phải nhìn về xa để có những bước đi thích hợp nếu muốn tồn tại và phát triển. Con đường phía trước sẽ có rất nhiều thay đổi bởi sự lớn mạnh của hành tiếp theo.
Hành kỳ tiếp theo của Trung quốc sẽ là Hoả, là khoa học, kỹ thuật, luật pháp, giáo dục, văn hoá, nghệ thuật… Khi kinh tế đã phát triển, thưởng thức văn hoá nghệ thuật sẽ được nhiều người quan tâm tạo ra động lực cho các lĩnh vực này phát triển. Phong cách sống tinh tế mang tính Hoả phát triển cũng khiến các loại hàng xa xỉ sẽ được tiêu thụ nhiều.
Tại đại hội lần thứ XVII năm 2007, Đảng Cộng sản Trung quốc đã đưa vào điều lệ đảng sửa đổi quan điểm phát triển một cách khoa học. “Khoa học” ở đây được hiểu là phát triển bền vững bao gồm bảo vệ môi trường và bảo vệ công bằng xã hội, tăng cường chống tham nhũng. Định hướng phát triển mang tính Hoả cấp nhà nước như vậy đã có những biểu hiện nhất định.
Nền khoa học kỹ thuật của Trung quốc đã phát triển khá mạnh với nhiều thành tựu trong nhiều lĩnh vực. Nhưng nó sẽ còn phát triển mạnh trong thời gian tới. Nhu cầu cạnh tranh, nền kinh tế mạnh là các điều kiện quan trọng để phát triển khoa học cơ bản và công nghệ nay đã hội đủ ở Trung quốc. Không chỉ nhà nước mà các doanh nghiệp cũng sẽ đầu tư mạnh cho nghiên cứu phát triển. Nhân tài sẽ được hút vào khoa học, kỹ thuật và những đỉnh cao khoa học sẽ không ngừng được nâng lên không chỉ mang lại danh tiếng mà còn tạo ra những hiệu quả kinh tế lớn. Tỷ trọng chất xám trong kinh tế tăng nhanh, Trung quốc sẽ dịch chuyển mạnh tới nền kinh tế tri thức. Phong trào sáng kiến, cải tiến kỹ thuật cũng sẽ được các doanh nghiệp chú ý phát triển một cách thực chất với phần thưởng xứng đáng cho người có công. Đã có nhiều nhà khoa học gốc Trung quốc làm việc ở nước ngoài đoạt giải Nobel nhưng sẽ không quá ngạc nhiên nếu trong thời gian tới có những giải Nobel trao cho các nhà khoa học Trung quốc làm việc tại Trung quốc. Giới trí thức Trung quốc đã bị tổn thất nặng nề trong suốt những năm năm mươi và sáu mươi nhưng vị thế của họ đã được cải thiện đáng kể trong thời gian gần đây và sẽ còn đi lên trong thời gian sắp tới.
Giáo dục và luật pháp cũng sẽ phát triển đồng bộ. Nhiều doanh nghiệp Trung quốc hiện nay đang được lợi lớn từ sự vi phạm tràn lan quyền sở hữu trí tuệ nhưng việc nâng cao hiệu lực của luật là điều tất yếu khi xét lợi ích lâu dài. Sẽ không có mấy người đủ nhiệt tình bỏ công sức tìm tòi nghiên cứu để sau đó sản phẩm của mình bị đánh cắp, làm nhái. Nếu Luật sở hữu trí tuệ không có hiệu lực cao, sẽ chỉ có nhà nước bỏ tiền ra để nghiên cứu một số lượng đề tài hạn chế, những công trình đơn lẻ. Một sự phát triển liên hoàn, bước nhảy toàn xã hội của khoa học, công nghệ sẽ là điều không tưởng. Định hướng phát triển một cách khoa học cũng sẽ chỉ là một ước mơ đẹp.
Công nghệ thông tin cũng có thể có bước nhảy lớn tại Trung quốc. Mao Trach Đông đã thành công khi dựa vào người nghèo để làm cách mạng. Đặng Tiểu Bình đã tiếp nối truyền thống đó trong kỳ Mộc bằng những cải cách từ nông thôn và hàng giá rẻ của Trung quốc đã tràn ngập thế giới. Phải chăng sẽ có “hệ điều hành giá rẻ”, “phần mềm giá rẻ” dành cho người nghèo tràn ngập thế giới trong kỳ Hoả sắp tới?
6759f0e398.jpgTuy vậy, có thể Hoả sẽ có những suy thoái và biến đổi nhất định trước khi trở thành chủ lực trong xã hội. Khoa học, công nghệ của mười năm tới của Trung quốc sẽ khác rất nhiều khoa học, công nghệ hiện tại. Có thể thấy những điều tương tự trong các kỳ trước. Quốc dân Đảng của thập kỷ hai mươi khác với Quốc dân Đảng năm 1912. Hồng quân Trung quốc cuối thập kỷ bốn mươi khác với Hồng quân đầu thập niên ba mươi. Trung quốc đã “bỏ gần” ở thập kỷ sáu mươi để “kết xa” trong thập kỷ bảy mươi. Kinh tế Trung quốc thập kỷ chín mươi cũng rất khác kinh tế ở đầu thập kỷ tám mươi. Xu hướng đổi mới phát triển khoa học công nghệ Trung quốc có lẽ sẽ là sự gia tăng mạnh mẽ tỷ trọng đầu tư của các doanh nghiệp và cá nhân. Hiệu quả đầu tư sẽ được nâng lên rõ rệt và điều đó sẽ ảnh hưởng ngược tới các cơ sở nghiên cứu của nhà nước. Sự phát triển của khoa học nói chung cũng sẽ ảnh hưởng rất mạnh tới cách nghĩ, cách làm của toàn xã hội. Liên quan tới khả năng suy thoái của Hoả sắp tới, cần cân nhắc kỹ lưỡng khi đầu tư vào thị trường chứng khoán Trung quốc ở thời điểm hiện tại vì chứng khoán cũng mang nhiều tính hoả.
Cùng với Mộc và Hoả, Thuỷ cũng đang xuống chậm, sẽ đạt cực tiểu ở đầu kỳ Hoả thịnh và ở mức trung bình thấp trong suốt thời kỳ Hoả và Thổ. Trung quốc vì vậy ít nhiều sẽ rơi trở lại trạng thái cô lập. Nhưng có thể đây không phải là trạng thái cô lập thụ động mà Trung quốc chủ động làm điều đó để phục vụ các mục tiêu mang tính Hoả và Thổ. Quan hệ với các nước láng giềng có thể một lần nữa bị coi nhẹ.
Như vậy xã hội Trung quốc trong suốt thế kỷ hai mươi đã vận động theo các chu kỳ mang tính ngũ hành. So với Việt Nam, chu kỳ ngũ hành tại Trung quốc sớm pha hơn gần một hành kỳ, chính xác là hai mươi hai năm. Ta có thể thấy những kế hoạch kinh tế của Việt nam sau năm 1975 có nhiều điểm tương đồng với các kế hoạch kinh tế của Trung quốc cuối thập kỷ năm mươi.
Sự sớm hay chậm pha không hề phản ánh sự tiến bộ hay lạc hậu của một đất nước vì chu kỳ ngũ hành mang tính xoay vòng, lặp lại. Sự chậm pha có thể còn có lợi cho người đi sau vì có thể học được kinh nghiệm của người đi trước. Tuy chúng ta đã không rút được kinh nghiệm từ những sai lầm về kinh tế của Trung quốc trong thập kỷ 50 nhưng cũng nhờ học tập kinh nghiệm từ Trung quốc, chúng ta đã có sự phát triển kinh tế sớm, ngay từ đầu kỳ Thuỷ trong khi Trung quốc phải đến giữa kỳ Thuỷ mới có sự chuyển biến rõ rệt.
Cũng như đối với chu kỳ ngũ hành của Việt nam, chu kỳ ngũ hành của Trung quốc tạm thời chỉ nên dừng ở mức độ tham khảo. Tuy vậy người viết hy vọng nó hữu ích cho những người đang và sẽ có các hoạt động kinh tế tại Trung quốc, những người quan tâm đến tình hình Trung quốc nói chung. Người viết cũng hy vọng chu kỳ ngũ hành giúp cho Việt nam, các tổ chức và mỗi cá nhân chúng ta tiếp thu tốt hơn các kinh nghiệm từ nước ngoài.
© Hanvu03-www.saga.vn

Tổng số lượt xem trang