Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Hổ vẫn gầm, đến bao giờ ?

Hổ vẫn gầm, đến bao giờ ? (I)
Chỉ một tuần lễ sau khi Quỹ Tiền tệ Thế giới (IMF) điều chỉnh dự báo tăng trưởng của Trung Quốc (TQ) năm 2009, 2010 lên 8.5% và 9.0% (1) cuối tháng 10/2009, Ngân hàng Thế giới (WB) cũng đã nâng dự báo về mức tăng trưởng của TQ năm 2009 lên 8.4% và 8.7% cho năm 2010 (2). Các thông tin cập nhật này củng cố độ tin cậy của hai dự báo quan trọng khác: Năm 2010 TQ sẽ vượt qua Nhật Bản trở thành nền kinh tế lớn thứ hai, và đồng thời xuất khẩu TQ sẽ chiếm 10% thế giới, là tỷ lệ xuất khẩu nước Nhật đã từng đạt được năm 1986.
Nêu lên những dữ kiện trên đây, Pam Woodall, nhà bình luận kinh tế Châu Á của tờ The Economist đặt vấn đề cho bài viết Con Rồng Vẫn Gầm (3): "Nhưng nền kinh tế của TQ có nhiều nét tương đồng đáng quan ngại với nền kinh tế Nhật Bản vào những năm 1980. Vậy liệu rằng sự phồn thịnh này có thể sẽ suy sụp như đã từng xảy ra cho đất nước Phù Tang?". Ngày nay, với những chỉ dấu trọng yếu của nền kinh tế TQ, được các tổ chức kinh tế tài chánh hàng đầu thế giới như WB và IMF xác nhận, những luận cứ minh chứng TQ là con hổ giấy đang thưa dần. Các cuộc thảo luận về khả năng duy trì tốc độ phát triển hiện nay, ảnh hưởng và vai trò của TQ trên thế giới là các vấn đề trọng tâm của các cuộc luận bàn.

Trong bối cảnh của cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay, một luận điểm khá mới mẻ cho rằng các nền kinh tế đang lên (emerging markets) dẫn đầu bởi TQ và Ấn Độ là chủ lực trong tiến trình phục hồi nền kinh tế thế giới đang trên đà suy thoái. Ngày nay, những bài bình luận về TQ ngày thêm dày đặc trên các diễn đàn thế giới, vì cũng như các cường quốc kinh tế đứng đầu thế giới Hoa Kỳ-Nhật-Đức, những biến động của nền kinh tế TQ sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế toàn cầu, có thể cảm nhận được trong đời sống thường nhật của mỗi quốc gia.
Trở thành cường quốc kinh tế, TQ tất nhiên sẽ mở rộng ảnh hưởng chính trị qua việc tăng cường sức mạnh quân sự, gia tăng đầu tư ra nước ngoài, chiếm hữu nguồn nguyên, nhiên liệu chiến lược, thiết lập liên minh kinh tế và quân sự. Mặc dù các động thái này vẫn xảy ra với bất kỳ cường quốc kinh tế nào trên thế giới, và chiêu thức "củ cà rốt và cây gậy" là chiến lược ngoại giao được sử dụng phổ biến trong bang giao quốc tế, song con hổ TQ là một chế độ chuyên quyền, liệu nó có tuân thủ các qui ước quốc tế mới là mối quan ngại của các nhà quan sát chính trường thế giới.
Sự phát triển nhanh chóng của TQ còn là một thách đố đối với công cuộc vận động dân chủ, xây dựng trên luận điểm nền tảng rằng xã hội dân sự và định chế chính trị dân chủ là điều kiện tối ưu cho công cuộc phát triển quốc gia. Với những thành tựu kinh tế, ngày nay TQ đã quy tụ được không ít môn đồ; những nước đang ra sức củng cố thể chế độc tài, hoặc với niềm tin rằng mô hình TQ là khuôn mẫu phát triển hiệu quả, hoặc sử dụng nó như cái phao để bám víu, duy trì quyền lực chính trị và lợi ích cá nhân. Thế giới ngày nay đang dõi theo từng bước phát triển của TQ và Liên Xô, đại biểu cho hai nền kinh tế tư bản hiện đang, hay có khuynh hướng, theo chế độ chính trị chuyên quyền, và hai nền kinh tế Ấn Độ, Brazil, đang phát triển trong khuôn khổ của mô hình chính trị dân chủ.
Trên một góc độ khác, dù rằng các nhà đầu tư, các cường quốc chỉ quan tâm đến lợi nhuận và quyền lợi quốc gia, chỉ lên án một cách chiếu lệ các vấn đề nhân quyền và bình đẳng xã hội, song sự phát triển kinh tế đơn thuần sẽ phiến diện nếu như những thành tựu không được phân bố rộng rãi đến các tầng lớp dân chúng, và khi các quyền căn bản của người dân không được tôn trọng và bảo vệ.

I. Tổng Quan:

Mức tăng trưởng GDP của TQ trong ba thập niên qua đạt trung bình gần 10% mỗi năm. Với tốc độ phát triển này, từ một nền kinh tế đứng thứ 10 thế giới 20 năm trước, TQ hiện là nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới, với GDP 4.327 tỷ USD theo số liệu năm 2008. Khoảng cách GDP giữa TQ và nền kinh tế thứ hai Nhật Bản đang thu hẹp dần, các nhà kinh tế dự báo rằng TQ sẽ vượt Nhật trở thành nền kinh tế lớn thứ 2 vào năm 2010.
Vị thế và tiến trình phát triển kinh tế TQ được biểu thị qua bảng xếp hạng 10 nền kinh tế đứng đầu thế giới dựa theo số liệu của WB và IMF (4), và biểu đồ so sánh sự phát triển của hai nền kinh tế của TQ và Nhật Bản giai đoạn 1985-2010 do nhóm Economist Intelligence Unit thiết lập (5).

Các nhà kinh tế còn dự đoán TQ có khả năng vựợt qua Hoa Kỳ trong vòng 20 năm tới. Tuy nhiên, cũng đã từng có những dự đoán tương tự như vậy khi nước Nhật đang ở thời kỳ phát triển sung mãn của những năm 80. Thế rồi cuộc khủng hoảng kinh tế nước Nhật xảy ra, nền kinh tế Nhật suy thoái kéo dài hàng thập niên, và khoảng cách giữa hai nền kinh tế Nhật và Hoa kỳ không thu hẹp mà gia tăng.
Xuất khẩu là nhân tố chính của cán cân thanh toán thặng dư, nguồn chủ lực cho phát triển kinh tế TQ. Ngành xuất khẩu TQ tăng nhanh, chiếm 4% tỷ phần xuất khẩu của thế giới năm 2000, và dự báo sẽ đạt 10% vào năm 2010.
Số liệu từ hai bảng số 4 (6) cho thấy thặng dư cán cân thượng mại của TQ tăng mạnh những năm gần đây. Theo bảng xếp hạng xuất khẩu năm 2008 của The World Fact Book, kim ngạch xuất khẩu của TQ năm 2008 đạt 1435 tỷ USD, gần bắt kịp Đức quốc (1498 tỷ USD) là nước dẫn đầu thế giới (7).
Bảng số 5 biểu thị một góc cạnh quan trọng khác về ngành xuất khẩu của TQ. Các sản phẩm sơ chế và gia công như may mặc (apparel), bàn ghế (furniture), khoáng sản (mineral fuel & oil) tuy vẫn nằm trong số 10 mặt hàng xuất khẩu lớn nhất, song chiiếm tỷ lệ thứ yếu so với các sản phẩm hóa chất, thiết bị, máy móc cơ khí, điện tử và y tế, là các mặt hàng có giá trị gia tăng cao (8).
Mức tăng trưởng của ngành xuất khẩu và cán cân thương mại thặng dư cũng là điểm nóng của nền mậu dịch quốc tế vì sự mất cân đối nghiêm trọng trong cán cân thương mại giữa TQ và thế giới, đặc biệt đối với Hoa kỳ. Cuộc khủng kinh tế thế giới làm giảm mạnh mức cầu tiêu thụ trên thế giới, đặc biệt tại các nước phát triển. Liệu TQ có thể duy trì được mức tăng trưởng kinh tế trước sự suy thoái của hoạt động xuất khẩu? TQ sẽ đối phó thế nào trước áp lực gia tăng của các cường quốc kinh tế, đặc biệt Hoa Kỳ, về cán cân thương thặng dư quá lớn?
Dự trữ ngoại hối của TQ lên đến 2.270 tỷ USD, tính đến tháng 9/2009. TQ hiện là quốc gia có nguồn dự trữ ngoại hối lớn nhất thế giới, với lượng dự trữ lớn hơn hai lần dự trữ ngoại hối của nước đứng thứ hai là Nhật Bản, 1.052 tỷ USD (9).
Biểu đồ số 2 dưới đây cho thấy thặng dư cán cân thanh toán (current account) của TQ tăng mạnh những năm gần đây khiến nguồn dự trữ ngoại hối không ngừng gia tăng. Năm 2006, thặng dư cán cân thanh toán hàng năm của TQ đã vượt Nhật Bản, trở thành quốc gia có thặng dư cán cân thanh toán lớn nhất thế giới. Mức thặng dư năm 2008 đạt 426 tỷ USD, chiếm 9.8% GDP (10).
Trong mối giao thương với Hoa Kỳ, từ năm 2000 TQ đã thay thế Nhật Bản là quốc gia mà Hoa Kỳ có thâm hụt thương mại cao nhất. Chỉ riêng năm 2008, thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ với TQ lên đến 268 tỷ USD, chiếm 32.8% tổng thâm hụt thương mại của Hoa Kỳ (11).



Tuy nhiên, nhóm nghiên cứu của công ty Pivot Capital Management cho rằng con số dự trữ ngoại hối trên 2 ngàn tỷ USD và số nợ rất thấp tương ứng với 23% GDP không phản ảnh thực trạng tài chính của TQ. Với khoản nợ chính phủ trên 1000 tỷ USD, giá trị trái phiếu ấn hành để cứu các ngân hàng năm 2003, các khoản bảo chứng nợ ngân hàng, và dòng đầu tư nóng nước ngoài đang rút ra dần, TQ sẽ không có khả năng chi dùng số dự trữ ngoại khổng lồ này (12).
Mặc cho các thành quả và những con số thống kê đầy ấn tượng của nền kinh tế Trung Quốc (TQ), được công nhận bởi các tổ chức kinh tế tài chánh hàng đầu thế giới như World Bank (WB), International Monetary Fund (IMF), Moody's Investor Serivices, không ít nhà kinh tế, nhà đầu tư vẫn hoài nghi thực lực và triễn vọng phát triển của nền kinh tế TQ. Cuộc tranh luận của họ có thể giúp làm sáng tỏ những vấn đề của nền kinh tế Trung Quốc.
(Xem tiếp Phần II)


Trần Bình - tháng 12/2009



(1) IMF Raises 2010 Growth Forecast for Asia - TRENDSnIFF
(2) World Bank Raises Forecast for China's Economy - New York Times
(3) The dragon still roars - The Economist - Dragon
(4) List of countries by GDP - Wikipedia
(5) Dragon
(6) US-China Trade Statistics and China's World Trade Statistics - USCBC
(7) Country Comparison : Exports - CIA The World Factbook
(8) USCBC
(9) List of states by foreign exchange reserves - Wikipedia
(10) Redressing the Global Imbalance - RIETI
(11) RIETI
(12) China's Investment Boom the Great Leap Into the Unknown

Hổ vẫn gầm, đến bao giờ? (II)
Mặc cho các thành quả và những con số thống kê đầy ấn tượng của nền kinh tế Trung Quốc (TQ), được công nhận bởi các tổ chức kinh tế tài chánh hàng đầu thế giới như World Bank (WB), International Monetary Fund (IMF), Moody's Investor Serivices, không ít nhà kinh tế, nhà đầu tư vẫn hoài nghi thực lực và triển vọng phát triển của nền kinh tế TQ. Cuộc tranh luận của họ có thể giúp làm sáng tỏ những vấn đề của nền kinh tế Trung Quốc.

II. Thần kỳ hay Ảo vọng:


1. Đầu tư và sản xuất thừa (overinvestment/overcapacity) có thể dẫn đến tình trạng nền kinh tế quá nóng (overheat) do sản phẩm làm ra vượt quá nhu cầu tiêu thụ là vấn đề trọng tâm của cuộc bàn luận.
Bản báo cáo tháng 8/2009 của công ty đầu tư Pivot Capital Management (PCM), một công trình nghiên cứu công phu (1), đã nhận định rằng hiệu quả đầu tư và phát triển của nền công nghiệp của TQ đã đạt điểm đỉnh, ở mức bão hòa; do đó, sự gia tăng đầu tư để duy trì mức tăng trưởng hiện nay không những sẽ giảm hiệu quả mà còn có khả năng dẫn đến suy thoái và khủng hoảng kinh tế. Nhận định này xây dựng trên các luận cứ sau đây:
  • Duy trì một tỷ lệ đầu tư trên GDP cao là con đường phát triển thành công của một số quốc gia trong hậu bán thế kỷ 20 và cũng là con đường phát triển của TQ. Tuy nhiên, nếu 9 năm là thời gian dài nhất mà Thái Lan và Singapore đã duy trì tỷ lệ đầu tư trên 33% GDP, thì TQ đã vuợt qua tỷ lệ này suốt 12 năm qua.
  • Trải qua ba thập niên phát triển, hệ số hiệu quả đầu tư (ICOR) trong hai thập niên đầu hầu như không thay đổi quanh con số 3.0, nhưng hệ số này tăng lên 4.0 giai đoạn 2001-2008, tức là hiệu quả đầu tư đang giảm dần.
  • Để giữ đà tăng trưởng trong bối cảnh khủng hoảng kinh tế, TQ nới lỏng tín dụng trong nước lên đến 50% năm 2009. Nếu tiếp tục mức gia tăng tín dụng 35%, tỷ lệ tín dụng trên GDP có thể lên đến 200% GDP vào năm 2010, là tỷ lệ đã từng xảy ra ngay trước thời kỳ khủng hoảng của Nhật năm 1991 và Hoa Kỳ năm 2008. Do vậy, TQ không thể kéo dài chính sách gia tăng tín dụng nhằm duy trì mức tăng trưởng cao.
  • TQ cũng không thể sử dụng khoản dự trử khổng lồ trên 2 nghìn tỷ USD cho đầu tư, vì các khoản nợ chính phủ, trái phiếu phát hành giải cứu ngân hàng năm 2003, bảo chứng nợ ngân hàng gộp lại khoảng 1.7 nghìn tỷ, và dòng đầu tư nóng nước ngoài ước tính 500 tỷ USD đang chảy dần ra nước ngoài.
  • Công nghiệp (manufacturing) là một trong ba lĩnh vực chính thu hút vốn đầu tư của TQ. Năng lực sản xuất công ngiệp TQ đã đạt mức của các nước phát triển, đã bão hòa, và phạm vi mở rộng rất hạn hẹp. Ví dụ, sản lượng thép TQ sản xuất 500 triệu tấn, bằng EU, Nhật, Hoa Kỳ và Liên Xô gộp lại. Năng lực sản xuất thép thừa (idle capacity) 166 triệu tấn, bằng sản lượng của Nhật và Nam Hàn gộp lại. Lượng xi-măng TQ tiêu thụ 1 nghìn 350 tỷ tấn tương đương với lượng tiêu thụ của thế giới, và năng lực sản xuất xi-măng thừa 340 triệu tấn, bằng sản lượng của Ấn Độ, Hoa Kỳ và Nhật cộng lại. Năng lực sản xuất nhôm thừa của TQ tương đương với sản lượng tổng hợp của Brazil và Ấn Độ.
  • Ngành xây dựng là địa hạt thu hút đầu tư lớn khác để đáp ứng nhu cầu đô thị hóa. Mức độ đô thị hóa 45% của TQ do WB tường trình thấp hơn thực tế đến 20% vì tiêu chuẩn xếp loại đô thị của TQ cao hơn tiêu chuẩn quốc tế. Như vậy, lượng dân cư cần đô thị hoá sẽ chỉ ở khoảng 100 triệu thay vì 350 triệu. Hơn thế nữa, theo IMF, tỷ lệ dân TQ sở hữu nhà cửa lên đến 86%. Do đó, nhu cầu xây dựng nhà cửa, đô thị không còn cao như trước đây. Cần lưu ý rằng đô thị hoá và xây dựng không chỉ là cách nâng cao GDP dễ, nhanh mà còn là phương cách làm giàu của các viên chức nhà nước.
  • Cơ sở hạ tầng là phạm vi thứ ba thu hút nhiều đầu tư. Tính theo tỷ lệ diện tích lãnh thổ, mật độ dân số sống tập trung và số lượng sông ngòi giữa TQ và Hoa Kỳ, thì TQ có số km đường tráng nhựa, cao tốc tương đương với Hoa Kỳ và số cầu vượt qua Hoa Kỳ. Ngành hoả xa TQ chưa phát triển cao với 80 nghìn km, đứng thứ 3 thế giới sau Hoa Kỳ và Liên Xô, đang được đầu tư 420 tỷ USD để xây dựng thêm 63 nghìn km trong giai đoạn 2009-2012. TQ còn có nhiều công trình hạ tầng lãng phí và phô trương. 37 trên 44 phi trường xây dựng giai đọan 2005-2010 tọa lạc ở những vùng dân cư thưa thớt miền Tây, và nhiều công trình hoành tráng đã thực hiện, mà điển hình là tuyến đường xe lửa cao nhất thế giới Quinghai-Tibet và đưòng xe lửa hoả tốc sử dụng công nghệ từ trường Shanghai.
  • Sau cùng, giả thuyết cho rằng gia tăng tiêu thụ nội địa có thể giúp TQ duy trì mức tăng trưởng hiện nay là không thực tế. Để đạt được điều này, mức tăng trưởng thị trường nội địa phải đạt 20-30% mỗi năm. Mức tăng thị trường nội địa ở thời kỳ cao nhất của Nhật cũng chỉ đến 12%. Trên thực tế, mức tăng trưởng tiêu thu nội địa của TQ giai đoạn 1997-2007 là 8.2% và tỷ lệ lợi tức hộ dân cư trên GDP giảm 20% từ 1999-2008.



Tuy đồng quan điểm với nhóm PCM trong nhận định rằng mức tăng trưởng của TQ sẽ chậm dần lại, song Pam Woodall, qua bài bình luận Con Rồng Vẫn Gầm trên tờ The Economist tháng 11/2009 (2), có cái nhìn lạc quan hơn về viễn cảnh của nền kinh tế TQ. Ông cho rằng nền kinh tế TQ ngày nay có nhiều lợi thế hơn so với nước Nhật Bản vào trước thời kỳ khủng hoảng cuối thập niên 80, do đó, ít có khả năng TQ sẽ lâm vào tình trạng suy thoái và khủng hoảng kinh tế như đã từng xảy ra với Nhật Bản ở thập niên 90:
  • Khác với Nhật Bản vào thập niên 80, TQ ngày nay đang ở giai đoạn đầu của phát triển, vẫn còn có thể tiếp tục phát triển, bắt kịp các nước giàu, qua việc gia tăng dung lượng vốn và nâng cao năng suất. Dung lượng vốn (capital stock) của TQ hiện chỉ bằng phân nửa của Nhật Bản, và gần phân nửa lực lượng lao động ở khu vực nông nghiệp có thể chuyển dần qua ngành công nghiệp và dịch vụ.
  • Mặc dù có tình trạng đầu tư quá tải trong một số lĩnh vực, như ở ngành thép, song mối lo ngại về đầu tư thừa là sự phóng đại.
  • Không như nước Nhật thường bị đem ra chế giễu là đã xây dựng đường xá đến chỗ không (to nowhere) vào thời kỳ trước khủng hoảng nhằm duy trì mức tăng trưởng kinh tế, TQ vẫn có nhu cầu đầu tư cải thiện cơ sở hạ tầng công cộng, cần thiết cho công cuộc phát triển mai sau.
2. Các con số thống kê của nền kinh tế Trung Quốc là vấn đề quan trọng khác thường được bàn luận. Luật gia Gordon Chang, tác giả quyển sách The Coming Collapse of China (Trung Quốc trên con đường suy sụp) ấn hành năm 2001, và nhà đầu tư tỷ phú Jim Chanos là hai trong số các nhà nghiên cứu, nhà đầu tư đặt vấn đề trung thực của các con số thống kê của TQ.
Chanos nổi danh từ năm 2001 khi ông sớm phát hiện ra sự ngụy tạo trong các bản báo cáo tài chánh của công ty Enron, nhanh chóng bán đi các cổ phiếu Enron trước khi công này sụp đổ. Chang và Chanos cho rằng TQ ngụy tạo ra các con số thống kê, chẳng hạn như tỷ lệ thất nghiệp thấp hơn con số thực, nhầm phục cho mục tiêu chính trị. Một ví dụ khác được hai ông nêu lên là những con số chênh vênh giữa bảng báo về số lượng xe bán tháng 8/2009 tăng vọt lên 94.7 %, trong khi đó, lượng xăng dầu tiêu thụ gia tăng trong cùng thời kỳ chỉ có 6.4% (3).
Song, Jim O'Neill, người đứng đầu bộ phận nghiên cứu của công ty đầu tư tầm cỡ thế giới Goldman Sachs lại bác bỏ các luận cứ ngờ vực về các con số thống kê của nền kinh tế TQ. Theo ông, "nếu như có điều gì đáng nói, thì đó chính là nền kinh tế TQ đang bị đánh giá thấp" (4). Một số nhà nghiên cứu lưu ý rằng vì đồng yuan đạng được định giá thấp, do đó, các chỉ số kinh tế khi chuyển đổi từ đồng Yuan qua USD thấp hơn con số thực.
Bài bình luận trên tờ The Economist dưới tựa đề Liệu Trung Quốc có cố ý hạ thấp con số thống kê về thặng dư thương mại cũng đã nêu lên con số thặng dư thương mại do TQ báo cáo thấp hơn đáng kể so với con số thâm hụt thương mại do các nước trao đổi mậu dịch với TQ tường trình. Thực ra, sự chênh lệch này là do một phần đáng kể hàng xuất khẩu của TQ đi qua ngõ Hong Kong, do đó việc theo dõi hàng TQ xuất từ Hong kong thường gặp khó khăn. Hơn thế nữa, Hong Kong lại tăng giá hàng TQ thêm khoảng 25% khi tái xuất khẩu và cách tính các phí tổn liên quan đến dịch vụ xuất giữa nước xuất và nhập cũng khác nhau (5).



***

Qua bài viết Sự Hồi phục của nền Kinh tế TQ - Thần diệu hay Ảo tưởng, đăng trên tờ TIME tháng 11/2009, Cesar Bacani ví von nền kinh tế TQ và các quan điểm đối nghịch của các nhà đầu tư, nhà nghiên cứu với giai thoại Con voi và anh mù.
Chanos, nhà đầu tư tỷ phú, thì nhận định rằng "Nền kinh tế chỉ huy sau cùng đã phát triển như vậy là Liên Xô, đổ vốn đầu tư vào các nhà máy kém hiệu quả, các đập nước bị vỡ, nhà máy nguyên tử xảy ra tai nạn, v..v.. Trung Quốc cũng đang đi theo con đường như thế".
Jim O'Neill, công ty Goldman Sachs, từng giao dịch và viếng thăm TQ từ hai thập niên qua, lại cho rằng "Trung Quốc là câu chuyện kinh tế quan trọng nhất của thời đại chúng ta, và rất có thể đến thế hệ con cháu chúng ta".
Thế nhưng, theo quan điểm của Nhóm PCM, nền kinh tế TQ đã đạt điểm đỉnh và đang trên đà suy thoái. Viễn cảnh của nền kinh tế TQ, hoặc là mức tăng trưởng sẽ hạ thấp dần trong thập niên tới, hoặc là sẽ xảy ra sự suy giảm đầu tư đột ngột đi đôi với cuộc khủng hoảng tài chính.
Cũng như PCM, Pam Woodall dự đoán rằng mức tăng trưởng của TQ sẽ giảm dần xuống còn khoảng 7% trong vài năm tới, song ông cho rằng đây vẫn một trong những mức tăng trưởng cao nhất thế giới. Pam dự đoán nền kinh tế tương lai của TQ sẽ bớt lệ thuộc vào xuất khẩu. Khi xuất khẩu của nước Nhật đạt 10% thế giới, thì tỷ lệ này giảm dần vì đồng Yen tăng giá. Tương tư, nền xuất khẩu của TQ ở ngưỡng cửa 10%, đang chịu áp lực mạnh mẽ của thế giới sẽ phải nâng giá. Mặc khác, nếu đẩy mạnh đầu tư vào cơ sở hạ tầng nhầm kích thích phát triển kinh tế là giải pháp ngắn hạn, thì về lâu dài, TQ sẽ phải phát triển thị trường tiêu thụ nội địa qua các chính sách tái phân phối lợi tức kinh doanh từ các công ty đến các hộ dân cư, cải thiện hệ thống an sinh xã hội và y tế. Với sự suy giảm về tỷ lệ xuất khẩu và gia tăng thị trường nội địa, thặng dư cán cân thanh toán hàng năm của TQ sẽ quân bình hơn, ở mức 5%, giảm phân nửa so với thời kỳ cao điểm năm 2007; và như thế, sự phát triển của nền kinh tế TQ sẽ đi vào ổn định hơn (6).
Tầm quan trọng của thị trường nội địa của TQ cũng được các ông Richard Dobbs, Andrew Grant, và Jonathan Woetzel nhấn mạnh trên bài viết Hãy mở cửa cho giới tiêu thu Trung Quốc, đăng trên Newsweek tháng 9/2009. Các vị này nhận định rằng, trong khi khả năng tiêu thụ của các nước phát triển sẽ không thể trở lại như thời kỳ trước khủng hoảng vì tuổi già của thế hệ hậu thế chiến, nguồn tiết kiệm đang cạn kiệt dần và gánh nặng thuế má gia tăng, thì Châu Á và các nền kinh tế mới nổi, mà TQ là nước đầu đàn, sẽ có thêm khoảng 1 tỷ dân số vào năm 2015, với thành phần trung lưu ngày một đông đảo, hứa hẹn sẽ góp phần gia tăng thị trường tiêu thụ thế giới. Do đó, sự thành bại của TQ trong nỗ lực gia tăng sức tiêu thụ của thị trường nội địa sẽ là yếu tố tối hệ trọng, không chỉ riêng với TQ, mà còn cho cả quá trình hồi phục của nền kinh tế thế giới (7).
Sự thành bại của nền kinh tế TQ còn sẽ ảnh hưởng sâu sắc đến nền kinh tế Hoa kỳ hiện đang chiến đấu vất vả, cố thoát ra khỏi thời kỳ suy thoái, Dan Carter đã cảnh báo như thế qua bài viết Nền Kinh tế Trung Quốc là Thần diệu hay Ảo vọng trên tờ airamerica.com (8). Hoa Kỳ đang lệ thuộc vào TQ để tài trợ khoản nợ quốc gia. Theo bộ Ngân khố Hoa Kỳ, TQ hiện là chủ nợ lớn nhất của Hoa Kỳ (9).
Và cũng với mối quan ngại này, Cesar Bacani, đã kết thúc bài viết Sự Phục hồi nền kinh tế TQ - thần diệu hay Ảo tưởng: "Thật khó mà biết ai đúng ai sai, nhưng vì lợi ích của 1.3 tỷ dân Trung Quốc và của chính chúng ta, hãy hy vọng rằng các phân tích của Jim Chanos sai và Jim O'Neill là đúng.

*

Tuy các phân tích về mặt lý thuyết trong tài liệu của công ty đầu tư PCM dẫn tới kết luận rằng, do các khoản nợ lớn và đầu tư ngắn hạn đang rút dần, Trung Quốc (TQ) không có khả năng sử dụng khoản dự trữ ngoại khối trên 2 nghìn tỷ USD, song các nhà nghiên cứu như Ken Davies, Michael Forsythe lại cho rằng với nguồn dự trữ dồi dào này, TQ có khả năng mởi rộng đầu tư ra nước ngoài và tăng cường sức mạnh quân sự. Trên thực tế, các báo cáo cho thấy các khoản đầu tư của TQ ra nước ngoài và chi phí quốc phòng vẫn gia tăng mạnh mẽ.

Những diễn biến này tuy không làm ngạc nhiên giới quan sát, song cũng đã gây không ít mối quan ngại vì TQ hiện là quốc gia có chế độ chuyên quyền. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế TQ còn là một thách thức với cuộc vận động dân chủ.

(Xem tiếp Phần III)


Trần Bình - tháng 12/2009



(1) China's Investment Boom the Great Leap Into the Unknown - Pivot Capital Management -
(2) The dragon still roars - How sustainable is China’s economic boom? - The Economist
(3) China's Economic Recovery: Miracle or Mirage? - Time - Recovery
(4) Time - Recovery
(5) Is China deliberately understating the size of its trade surplus? - The Economist
(6) Time - Recovery
(7) Unleashing the Chinese Consumer - Newsweek
(8) Is China Economic Miracle A Mirage?
(9) MAJOR FOREIGN HOLDERS OF TREASURY SECURITIES - US Department of Treasury


Hổ vẫn gầm, đến bao giờ? (III)
Tuy các phân tích về mặt lý thuyết trong tài liệu của công ty đầu tư Pivot Capital Management trình bày ở phần II dẫn tới kết luận rằng, do các khoản nợ lớn và đầu tư ngắn hạn đang rút dần, Trung Quốc (TQ) không có khả năng sử dụng khoản dự trữ ngoại khối trên 2 nghìn tỷ USD, song các nhà nghiên cứu như Ken Davies, Michael Forsythe lại cho rằng với nguồn dự trữ dồi dào này, TQ có khả năng mở rộng đầu tư ra nước ngoài và tăng cường sức mạnh quân sự. Trên thực tế, các báo cáo cho thấy các khoản đầu tư của TQ ra nước ngoài và chi phí quốc phòng vẫn gia tăng mạnh mẽ.
Những diễn biến này tuy không làm ngạc nhiên giới quan sát, song cũng đã gây không ít mối quan ngại vì TQ hiện là quốc gia có chế độ chuyên quyền. Sự phát triển nhanh chóng của nền kinh tế TQ còn là một thách thức với cuộc vận động dân chủ.

III. Vươn ra thế giới:


1. Mở rộng đầu tư ra nước ngoài:

Dư luận xôn xao nhiều về các đầu tư của TQ tại Châu Phi, song thực ra, tỷ lệ đầu tư vào châu lục này chỉ chiếm 4% trên tổng số đầu ra nước ngoài của TQ, thể theo số liệu của Ken Davies, nhà kinh tế và trưởng ban liên lạc quốc tế của Tổ chức Hợp tác và Phát triển (OECD). Những số liệu về đầu tư của TQ ra nước ngoài trong bài viết "Sự phát triển nhanh chóng đầu tư ra nước ngoài của Trung Quốc" tháng 8/2009 của Ken Davies làm rõ nét các động lực, hiện trạng và viễn cảnh của nguồn đầu tư này (1).
Theo số liệu cuối năm 2007, TQ đã đầu tư 118 tỷ USD, với tỷ lệ theo thành phần khu vực lãnh thổ như sau: Châu Á 67%, Châu Mỹ Latin (Nam Mỹ) 21%, Châu Âu 4%, Châu Phi 4%, Bắc Mỹ 3%, Oceania 2%.
Cho đến nay, đầu tư ra nước ngoài của TQ vẫn chỉ là một con số khiêm tốn, chiếm 1% thế giới. Song tốc độ phát triển rất nhanh của con số này gây chú ý đối với giới các nhà nghiên cứu. Biểu đồ dưới đây cho thấy các con số đầu tư hàng năm tăng nhanh từ năm 2004, với số đầu tư năm 2008 lớn hơn 7 lần con số năm 2004.



Trong bối cảnh của nền kinh tế thế giới khủng hoảng, một câu hỏi thường đặt ra là liệu nguồn đầu tư này của TQ sẽ suy giảm? Con số sơ khởi về đầu tư năm 2009 cho thấy tốc độ đầu tư ra nước ngoài không hề có dấu hiệu suy giảm, mà ngược lại. Chỉ tính riêng quý 1, đầu tư của TQ vào nước Úc đã tăng lên 13 tỷ USD từ con số 1.4 tỷ USD năm 2008, và tổng đầu tư quý 1 năm 2009 đã vuợt con số của cả năm 2008.
Cũng theo Ken Davies, các động lực về kinh tế thúc đẩy đầu tư của TQ bao gồm:
  • Bảo đảm nguồn nguyên liệu cho nền sản xuất đang phát triển nhanh
  • Các doanh nghiệp lớn của TQ đang mua lại các công ty có danh hiệu thế giới như Lenovo mua lại chi nhánh máy vi tính cá nhân (PC) của IBM, hay SAIC và Nanjing mua MG Rover.
  • Các doanh nghiệp lớn nhà nước đang mất dần lợi thế độc quyền trong nước, cần mở rộng ra nước ngoài.
  • TQ đang mất dần lợi thế cạnh tranh do giá lao động tăng, chuyển các doanh nghiệp thâm dụng lao động qua các nước như Việt Nam và Châu Phi.
  • Các doanh nghiệp lớn nội địa xuất khẩu lượng hàng lớn đang cần các dịch vụ như vận chuyển và bảo hiểm.
Sự gia tăng nhanh chóng đầu tư của TQ được nhiều nước Châu Phi đón nhận vì những khoản viện trợ không điều kiện, song những ngờ vực về ý đồ của TQ cũng lan rộng. Do vai trò chủ đạo của các doanh nghiệp nhà nước trong nền kinh tế TQ, hiện đang có mối e ngại rằng "các đầu tư này có thể không được quản lý theo tiêu chuẩn thương mại thông thường, và hơn thế nữa, có thể là cánh tay nối dài của các chính sách ngoại giao và quốc phòng".
Trên tờ NewYork Times số ngày 9/1//2009 qua bài viết "Trung Quốc Cam kết viện trợ 10 tỷ USD cho Châu Phi" (2) Michael Wines nhắc lại những chỉ trích của một số học giả về điều kiện lao động và an toàn tại một số mỏ khoáng sản do TQ điều hành, và tình trạng tràn ngập hàng hóa TQ giá hạ đang thay thế các sản phẩm đã từng được sản xuất tại Châu Phi. TQ ngày nay đã trở thành một trong quốc gia đứng đầu trong giao dịch thương mại với Châu Phi, với kim ngạch 106.5 tỷ USD năm 2008, lớn hơn khoảng 11 lần con số mậu dịch năm 2000, và hiện đang khai thác rộng rãi các mỏ dầu và khoáng sản của lục địa giàu tài nguyên thiên nhiên này.
Trong nỗ lực đánh tan mối ngờ vực rằng TQ đang trở thành thực dân mới thay thế cho Châu Âu truớc đây, và để cũng cố mối quan hệ khá sâu rộng với các nước Châu Phi, TQ hiện là một trong những nước chủ lực xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng cho các nước Châu Phi. Tháng 11/2009 vừa qua, TQ đã tung ra hàng loạt các chính sách viện trợ kinh tế cho các nước Châu Phi: tăng khoản cho vay lãi suất thấp lên 10 tỷ USD cho ba băm tới, xóa bỏ một số nợ cho vay không lãi, hạ thuế quan trên hầu hết hàng xuất cảng vào TQ cho các nước cắt đứt quan hệ ngoại giao với Đài Loan, sẽ xây dựng 100 dự án điện lực sạch ..v..v..

2. Tăng cường sức mạnh quân sự:

TQ không che giấu chính sách hiện đại hóa quân lực, dưới các danh hiệu mỹ miều "vươn ra thế giới" (go global), "phát triển hòa bình" (peaceful development). Theo tờ công báo của bộ quốc phòng TQ, "TQ đang sẽ đẫy mạnh nỗ lực nhằm tạo được những bước tiến về mặt kỹ thuật, một quân lực có khả năng, hầu có thể hoạt động tầm xa vào năm 2020".
Việc gửi hai khu trục hạm và các tàu tiếp liệu đến vùng biển Somalia tháng 12/2008 nhằm bảo vệ các tàu thương mại của TQ được các nhà quan sát lưu ý vì đây là lần đầu tiên hải quân TQ mở rộng phạm vi hoạt động xa phạm vi lãnh hải.
Dưới tựa đề "Hãy quan sát TQ đang tăng cường không lực" trên NewYork Times số ngày 20/10/2009 (3), Michael Forsythe trích dẫn báo cáo tháng 7/2009 của cơ quan tình báo hải quân Hoa Kỳ, dự báo rằng TQ sẽ hạ thuỷ chiếc hàng không mẫu hạm (trang bị phi cơ chiến đấu) Varyag vào khoảng thời gian 2010-2012, và sẽ tự sản xuất được loại mẫu hạm vào năm 2015. Chiếc Varyag mua lại của Ukraine năm 2002, đang được tân trang, sẽ gia nhập hạm đội 190 chiếc, so với hạm đội 285 chiếc bao gồm 15 hàng không mẫu hạm của Hoa Kỳ.
Động thái tăng cường hạm đội tại một vùng biển mà Hoa Kỳ giữ thế khống chế từ thế chiến thứ II "tuy chưa thây đổi cán cân cân quân lực giữa TQ và Hoa Kỳ, song nó tiếp sức cho TQ trong cuộc tranh chấp lãnh thổ và lãnh hải với các nước Nhật, Nam Hàn, Việt Nam và Philippines".
Các phân tích của Jayshree Bajoria trong bài bình luận "Bối cảnh của quân lực Trung Quốc" trên Newyrok Times số ngày 3/5/2009 (4) bổ sung các góc nhìn và dữ liệu quan trọng khác về quân lực TQ. Theo sự đánh giá của các chuyên gia, việc tăng cường quân lực của TQ là một tiến trình tự nhiên khi quốc gia này trở thanh cường quốc, và TQ sẽ phải mất nhiều thập niên mới có thể đủ mạnh để đối đầu với Hoa Kỳ. Song sự quan ngại của các chuyên gia phương Tây đối sự phát triển của quân lực TQ là về những động lực dài hạn của TQ.
Các mối quan ngại này đã Jayshree trích dẫn từ bản báo cáo của Kerry Dumbaugh, chuyên gia nghiên cứu các vấn đề Châu Á của hạ viện Hoa kỳ trong báo cáo năm 2008, như sau:
  • Sự thiếu minh bạch về ngân sách quốc phòng và các hoạt động quân sự: Ngân sách quốc phòng do TQ công bố là 52 tỷ USD năm 2008. Con số ngân sách quốc phòng TQ do Ngũ Giác Đài Hoa Kỳ ước tính khoảng 97 tỷ năm 2007 và 139 tỷ USD năm 2008. Quan điểm của TQ là ngân sách quốc phòng chỉ chiếm 1.38% GDP nếu so với Hoa Kỳ 4.5% GDP.
  • Các hoạt động gián điệp thu thập bí mật quốc phòng: Hoa Kỳ tố giác TQ không những xâm nhập hệ thống vi tính của bộ Ngoại giao, thương mại và quốc phòng của Hoa Kỳ mà còn cả các công ty Anh Quốc, và các cơ quan chính phủ của Pháp, Đức, Nam Hàn, và Đài Loan. Do hệ thống phòng ngự xâm nhập các mạng vi tính kinh tế và quốc phong Hoa Kỳ còn thiếu hữu hiệu, bản báo cáo nhấn mạnh, nếu như xãy ra sự xung đột, lợi thế của TQ về phương diện này sẽ làm giảm ưu thế của Hoa Kỳ về sức mạnh của vũ khí qui ước.
  • TQ đang cải thiện kỹ năng về kỹ thuật và quân sự: Cuộc thử nghiệm hỏa tiễn chống vệ tinh của TQ tháng giêng 2007, qua việc bắn hạ vệ tinh của chính mình, chứng tỏ TQ đã đạt tiến bộ về lĩnh vực không gian, do đó, "Lợi thế của Hoa Kỳ về địa hạt này có lẽ sẽ giảm đi trong vòng 10 đến 20 năm tới".
    Về vũ khí nguyên tử, TQ gần đây đã đạt bước cải tiến quan trọng về họa tiễn liên lục địa, qua việc thây thế loại nhiên liệu lỏng bằng nhiên liệu đặc (solid-fuel DF-31), tăng độ chính xác và khả năng chống trả các cuộc tấn công nguyên tử.
    Trong cuộc tường trình trước quốc hội tháng 1/2009, bộ trưởng quốc phòng Hoa Kỳ, ông Robert M. Gate tuyên bố rằng: việc hiện đại hóa của TQ có thể đe dọa sức mạnh quân sự và khả năng bảo vệ các nước đồng minh tại vùng biển Thái Bình Dương
  • Các viện trợ về kỹ thuật và quân sự cho Zimbabwe, Myanmar (Miến Điện) và các nước bị thế giới lên án vì chính sách áp bức và bị đặt ra ngoài vòng pháp luật.

Mặc dù khả năng xảy ra cuộc xung đột quân sự TQ và Hoa Kỳ là rất thấp, các chuyên gia quân sự vẫn e ngại rằng những "tai nạn" đã từng xảy ra giữa TQ và Hoa Kỳ, nhự vụ chạm trán giữa phi cơ dọ thám Hoa Kỳ và các chiến đấu cơ TQ năm 2001, hay hoả tiễn Hoa Kỳ bắn "nhầm" vào tòa đại sứ TQ tại Bỉ năm 1999, có thể làm bùng nổ chiến tranh. Hơn thế nữa, với sự mở rộng phạm vi hoạt động, không quân và hải quân TQ sẽ cọ sát nhiều hơn với các lực lượng của Hoa Kỳ, Đài Loan và Nhật Bản.
Cũng theo nhận định của Jayshree, Hoa Kỳ gần đây có nỗ lực tái lập sự hiện diện tại Châu Á, qua việc xít lại gần Ấn Độ và các nước trong khu vực, và việc tăng cường lực lượng hải quân và không tại đảo Guam. Song thách thức lớn của chiến lược quốc phòng Hoa Kỳ hiện nay, theo bộ trưởng Robert Gate và các nhà phân tích, là làm thế nào để giữ được thế quân bình giữa hai mặt trận, cuộc chiến tranh chống khủng bố tại Iraq và Afghanistan, và việc hiện đại hóa quân lực TQ.

3. Cuộc cạnh tranh mô hình phát triển:

Sự phát triển nhanh chóng của TQ còn là một thách đố đối với công cuộc vận động dân chủ. Với những thành tựu kinh tế, ngày nay TQ đã quy tụ được không ít môn đồ; những nước đang ra sức củng cố thể chế độc tài, hoặc với niềm tin rằng mô hình TQ là khuôn mẫu phát triển hiệu quả, hoặc sử dụng nó như cái phao để bám víu, duy trì quyền lực chính trị và lợi ích cá nhân. Thế giới ngày nay đang dõi theo từng bước phát triển của TQ và Liên Xô, đại biểu cho hai nền kinh tế tư bản hiện đang, hay có khuynh hướng, theo thể chế chuyên quyền, và hai nền kinh tế Ấn Độ, Brazil, đang phát triển trong khuôn khổ của mô hình chính trị dân chủ.
Trong bài viết "Cuộc thảo luận về sự tiến triển của dân chủ sau khi bức tường Bá Linh sụp đổ" trên tờ The Wall Street Journal số ngày 29/10/2009 (5), Marcus Walker đã nêu lên các con số thống kê quan trọng do tổ chức nghiên cứu Freedom House tại Hoa Kỳ thực hiện. Nền dân chủ phát triển mạnh mẽ kể từ khi bức tường Bá Linh sụp đổ, với tỷ lệ quốc gia có được nền dân chủ phát triển tăng từ 36% vào 1989 lên 46% năm 1999; hầu hết xảy ra tại các nước nằm trong quỹ đạo của Liên Xô cũ, nơi đã đạt mức phát triển kinh tế ngoạn mục dưới thể chế dân chủ. Tuy nhiên, con số 46% đã chựng lại, vẫn không thay đổi từ 1999 cho đến nay. Trong những năm gần đây, Liên Xô và đa số các nước láng giềng của Liên Xô cũ đã trở lại với thể chế chuyên quyền.
Giáo sư Fukuyama, tác giả tập tiểu luận nổi tiếng “Sự cáo chung của lịch sử” viết năm 1989, cũng đã thận trọng hơn về sự diễn biến của lịch sử, đã nhận định: "Sự thành công bất ngờ của TQ trong việc phát triển nền kinh tế tư bản trong khi vẫn duy trì chế độ độc đảng là thử thách lớn nhất đối với khái niệm cho rằng chế độ chuyên quyền sẽ sớm tàn lụi và tiêu vong. TQ đang làm chủ được sự phát triển kinh tế trong một thể chế thể độc tài, và do đó, bạn có thể kết luận rằng họ làm được điều đó nhanh hơn vì họ chuyên quyền".
Mô hình phát triển TQ hiện là "một sự lựa chọn mới, khác với mô hình Tây phương, đang hấp dẫn các nước như Châu Phi, nơi nền dân chủ đã sớm nở rộ sau chiến tranh lạnh, nhưng ngày nay đang nhìn về Bắc Kinh như một nguồn khích lệ. Bộ trưởng lao động Nam phi tuyên bố trong chuyến thăm TQ năm 2007: Rõ ràng có điều gì đó đúng về những gì TQ đang làm, và Nam Phi có nhiều điều cần học hỏi qua việc trao đổi kinh nghiệm với TQ".
Mô hình phát triển TQ cũng đang lôi cuốn Nga. Trong bài viết tháng 10/2009 trên NewYork Times "Giới lãnh đạo Nga xem Trung Quốc như là thể khuôn mẫu cai trị" (6), Clifford J. Levy phân tích rằng nước Nga sau khi trải nghiệm những ngày tháng đen tối của tiến trình chuyển đổi qua nền kinh tế thị trường, đang hổ thẹn vì nền kinh tế lệ thuộc nặng nề vào dầu, khí đốt và tài nguyên thiên nhiên, nay thán phục TQ về "khả năng sử dụng hệ thống chính trị một đảng có thể duy trì được sự kiểm soát quốc gia, đồng thời vẫn phát triển kinh tế với mức tăng trưởng cao". Nga chắc chắn sẽ không trở lại thời kỳ cộng sản cũ, nhưng dưới sự lãnh đạo của Vladimir V. Putin và đảng của ông, United Russia, đang chuyển dần theo mô hình phát triển chính trị và kinh tế của TQ".

Trong cuộc họp mặt với các viên chức TQ ngày 9/10/2009 tại Trung Quốc, Aleksandr D. Zhukov, phó thủ tướng và phụ tá cao cấp của ông Putin đã ngợi khen "Những thành tựu của đảng Cộng Sản TQ trong việc phát triển chính quyền xứng đáng được đánh giá cao". Và ông Zhukov đã mời Tổng bí thư đảng Cộng Sản TQ Hu Jintao đến tham dự đại hội đảng United Russia tháng 11/2009 tại St. Petersburg.

*

Các luận cứ quan trọng từ các phản ứng của các nhà vận động dân chủ trước làn sóng TQ, như Niall Ferguson, Harvard, cho rằng "không có gì chắc chắn là TQ có thể duy trì cấu trúc quyền lực hiện nay". Giáo sư Fukuyama biện luận: "Dân chủ cuối cùng vẫn có thể thắng thế ngay tại TQ. Nếu như lợi tức đầu người tăng lên gấp đôi trong vòng 10-15 tới, ở mức lợi tức mà nền dân chủ chuyển mình tại Nam Hàn và Đài loan, phải chăng lúc ấy sẽ có áp lực đòi dân chủ hóa? (7). Một luận điểm quan trọng khác được Fukuyama nhấn mạnh trong cuộc phỏng vấn trên Die Welt: "Tạm thời thì Trung Quốc được cái ân huệ là có các nhà lãnh đạo nhiều năng lực. Nhưng trước đó thì Trung Quốc có Mao Trạch Đông. Thiếu một hình thức ràng buộc trách nhiệm kiểu dân chủ thì không gì có thể ngăn cản một Mao Trạch Đông mới lại xuất hiện." (8)
Ngày nay thế giới đang đặt kỳ vọng vào hai ngôi sao mới nổi là Ấn Độ và Brazil, hai nền kinh tế tư bản đang phát triển trong khuôn khổ của nền chính trị dân chủ, như những chứng cứ cho sự thành công của con đường phát triễn dân chủ. Cả hai nền kinh tế này vẫn ở khoảng cách khá xa so với TQ, song hứa hẹn nhiều triển vọng.
Bài bình luận "Brazil cất cánh" trên The Economists (9), số ngày 12/11/2009 nhận định: Gần một thập niên trước, khi các nhà kinh tế của Goldman Sachs ghép Brazil với Russia, India, và China (BRIC) là bốn nền kinh tế sẽ khống chế thế giới, thì đã có nhiều người muốn gở bỏ chữ B trong BRIC đi. Mối ngờ vực này nay đã rõ là sai lầm. Một số nhà phân tích nêu lên những lợi thế của Brazil trong nhóm BRIC: Khác với India, Brazil không có các nhóm phiến loạn, các xung đột về sắc tộc, tôn giáo, và với nước láng giềng. Khác với TQ, Brazil là một nước dân chủ. Khác với Nga, Brazil xuất khẩu dầu nhiều hơn là vũ khí, và tôn trọng các nhà đầu tư. Brazil đang nhanh chóng hồi phục từ cuộc khủng hoảng kinh tế, là quốc gia giàu tài nguyên thiên nhiên, hiện là nền kinh tế lớn thứ 10 thế giới, và được nhiều nhà phân tích dự đoán sẽ vượt qua Anh, Pháp, trở thành nền kinh tế lớn thứ 5 trong thập niên tới.
Ấn Độ từ bỏ con đường phát triển định hướng xã hội chủ nghĩa từ khi Liên Xô sụp đổ năm 1991 và duy trì nền dân chủ đầy khó khăn của mình. Mức độ tăng trưởng quanh con số 9% trong những năm gần đây và sự phục hồi nhanh chóng trước cuộc khủng hoảng hiện là những thành tựu rất ấn tượng. Bài bình luận "Miền đất hứa hẹn phía Đông" trên The Economists (10), số tháng 19/11/2009, lưu ý rằng sự phục hồi kinh tế của Ấn Độ không dựa nhiều vào gói kích thích lớn như TQ, và mức độ của đầu tư vào sản xuất và cơ sở hạ tầng cũng cân đối hơn. Ấn Độ hiện là ngôi sao của ngành công nghệ thông tin, vốn đầu tư của Nhật vào nước này đang vượt qua TQ, và ngành điện tử của Nam Hàn đang đổ bộ vào đất nước này. Nền kinh tế Ấn Độ hiện đứng thứ 12 trên thế giới, phát triển khá cân đối vì không lệ thuộc nhiều vào xuất khẩu và có thị trường nội địa khá mạnh. Tác giả bài bình luận cho rằng trong trường kỳ, Ấn Độ sẽ vượt qua ngay cả TQ.
***

Sự phát triển của Trung Quốc là niềm khích lệ cho các nước đang phát triển, có thể có cơ hội vươn lên từ đói nghèo và lạc hậu. Song, nó cũng là mối đe dọa đáng lo ngại, nhất là đối với các quốc gia láng giềng, vì TQ là một nước chuyên quyền. Trong mối bang giao giữa TQ và Hoa Kỳ, các nhà quan sát nhận thức rằng kết quả của các nỗ lực tăng cường hợp tác quân sự giữa hai nước sẽ rất hạn chế. Tuy nhiên, họ hy vọng rằng "sự phụ thuộc lẫn nhau về phương diện kinh tế ngày càng gia tăng giữa hai nước sẽ là nền tảng để hai bên tránh các cuộc xung đột" (11). Trên bình diện thế giới cũng thế. Trong bối cảnh của nền kinh tế toàn cầu hội nhập ngày nay, TQ cũng sẽ phải lệ thuộc vào các nền kinh tế khác để có thể duy trì được mức tăng trưởng và sự thịnh vượng, và do đó sẽ phải thận trọng cân nhắc trong các chiến lược phát triển kinh tế và quân sự.
Trên một góc độ khác, dù rằng các nhà đầu tư, các cường quốc chỉ quan tâm đến lợi nhuận và quyền lợi quốc gia, chỉ lên án một cách chiếu lệ các vấn đề nhân quyền và bình đẳng xã hội, song sự phát triển kinh tế đơn thuần sẽ phiến diện nếu như những thành tựu không được phân bố rộng rãi đến các tầng lớp dân chúng, và khi các quyền căn bản của người dân không được tôn trọng và bảo vệ.
Hãy thử hình dung, nếu nơi bạn đang tạm cư là một nước có nền dân chủ phát triển, các quyền căn bản về tự do và bình đẳng đến với người dân mặc nhiên và thiết yếu như không khí hít thở. Rồi bỗng dưng một ngày nào đó, người dân bị tước đoạt tất cả các quyền căn bản ấy. Họ không được tự do chọn người đại diện trong chính phủ. Bị bỏ tù, tra tấn vì phát biểu chống đối chính phủ. Phải đút lót để có được cơ hội thăng tiến, và các viên chức chính phủ giàu sụ lên nhờ tham nhũng sống nhởn nhơ mà không bị trừng phạt. Nếu những điều tồi tệ này xảy ra, thì người dân sẽ nghĩ gì? làm gì? Tôi đoan chắc rằng dân chúng sẽ lồng lộn lên vì tức giận, sẽ xuống đường biểu tình đấu tranh, cho dù phải đổ máu, phải hy sinh, để giành lại các quyền đã mất, như thể giành lại không khí, hơi thở để sống.

Dân chủ, vì vậy không phải chỉ vì cơm với áo. Cơm áo dù rất thiết thực cho cuộc sống, song cuộc sống không phải chỉ có cơm áo.



Trần Bình 12/2009



Xem các bài trước: phần I, và phần II



(1) On China's rapid growth in outward FDI - ChinaDaily
(2) China Pledges $10 Billion to Africa - NewYork Times
(3) Watching Beijing's Air Power Grow - NewYork Times
(4) Backgrounder: China's Military Power - NewYork Times - Backgrounder
(5) After the Wall: A Debate Over Democracy's Reach - The Wall Street Journal
(6) Russia's Leaders See China as Template for Ruling - NewYork Times
(7) The Wall Street Journal
(8) Chống chủ nghĩa bi quan về văn minh - Die Welt - Talawas
(9) Brazil takes off - The Economists
(10) Land of Eastern promise - The Economists
(11) Backgrounder

Tổng số lượt xem trang