Thứ Hai, 28 tháng 12, 2009

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới

Định vị Việt Nam trong thế giới của thập kỷ mới
Việt Nam bước vào thập kỷ mới của thế kỷ 21 đúng vào lúc thế giới đang có những thay đổi bước ngoặt. Định vị Việt Nam trong thế giới ấy, nhận diện những thách thức nội tại để tìm hướng bứt phá phát triển sẽ được bàn luận trong loạt bài của Nguyễn Trung. 

LTS: Đánh giá một cách toàn diện cục diện thế giới và những vấn đề đặt ra cho Việt Nam liên quan đến con đường phát triển, ứng xử đối ngoại... là câu chuyện có tính chiến lược đối với sự phát triển của đất nước. Không tham vọng giải quyết trọn vẹn bài toán này, song loạt bài của Nguyễn Trung hy vọng sẽ cung cấp cho độc giả một góc nhìn, một tư liệu cần tham khảo.
Bài viết dưới đây thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời độc giả cùng tranh luận.
Phần 1: Nhận diện thế giới mới
Việt Nam, kể từ 1986, sau một phần tư thế kỷ thực hiện sự thay đổi căn bản mang tên là đổi mới, đã kết thúc thời kỳ phát triển theo chiều rộng với nhiều thành tựu to lớn có tính bước ngoặt, thay đổi bộ mặt đất nước và được thế giới ghi nhận.
Mặt khác cũng phải tỉnh táo nhận thấy, so ta với chính ta trước kia, những thành tựu đạt được trong 25 năm qua là rất to lớn; nhưng nếu so với chặng đường 25 năm đầu tiên trên con đường trở thành NIC (nước mới công nghiệp hóa) của Hàn Quốc, Brazil... nước ta phát triển như thế là chậm, so với những thách thức hiện tại và phía trước nước ta phải đối mặt lại càng chậm. Nên có cái nhìn nhiều chiều như vậy để định liệu công việc của mình, và nhờ đó có thể "đỡ" rơi vào cái bệnh "mẹ hát con khen hay"!
Việt Nam bước vào thập kỷ 2020 đúng vào lúc kinh tế thế giới - trước hết là những nền kinh tế lớn mà đầu tầu là kinh tế Mỹ - đang tìm cách ra khỏi cuộc khủng hoảng mang tính hệ thống hiện nay để tìm đường chuyển sang một thời kỳ phát triển mới. Trong khi đó Trung Quốc đang dấn bước vào thập kỷ 2020 với mọi nỗ lực quyết liệt nhất để đi nhanh hơn nữa trên con đường trở thành siêu cường vào giữa thế kỷ này; giới nghiên cứu trên thế giới hầu như chia sẻ nhận định chung: Thập kỷ 2010 đánh dấu bước ngoặt mang tính thời đại của Trung Quốc trên con đường đi tới siêu cường, thập kỷ 2020 hiện tượng Trung Quốc sẽ còn nóng bỏng hơn nữa trên trường quốc tế. [i]
Thế giới đang thay đổi lớn

Cục diện thế giới đang có thay đổi lớn cả về kinh tế và chính trị, không náo nhiệt như khi chiến tranh Lạnh kết thúc, song hầu như tác động sâu sắc hơn nhiều đến mọi quốc gia. Thậm chí tại nhiều nước cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay tác động trực tiếp đến từng gia đình.
Cuộc đại khủng khoảng kinh tế thế giới đang diễn ra là vô tiền khoáng hậu. Sau một năm ròng rã (09-2008 tới 09-2009) đánh vật với cuộc khủng hoảng này, các nền kinh tế lớn đã phải bỏ ra tổng cộng ước khoảng trên 10 nghìn tỷ USD (tương đương với 2/3 GDP của cả nước Mỹ và với 1/6 GDP toàn thế giới), đồng thời phải tiến hành nhiều liệu pháp đau đớn mang tính điều chỉnh vĩ mô và hệ thống để cứu chữa. Hiện nay cuộc khủng hoảng này được xem là đã chạm đáy, nhưng lối ra có lẽ vẫn chưa xác định được.
Khủng hoảng kinh tế
Chưa ai dám nói bao giờ và như thế nào kinh tế thế giới sẽ phục hồi và lấy lại được sự phát triển năng động đã có như trong một hai thập kỷ vừa qua. Tuy nhiên, có khá nhiều người trong giới nghiên cứu chia sẻ ý kiến:
1- Kinh tế thế giới hiện nay vừa phải khắc phục sự đổ vỡ của nền kinh tế bong bóng của hệ thống tài chính tiền tệ thế giới, đồng thời về nhiều mặt đang phải đối phó với một cuộc khủng hoảng thừa rất sâu sắc có những thuộc tính cơ cấu[ii] còn nhiều vấn đề nan giải chưa lường hết được; một khi kinh tế thế giới ra khỏi cuộc khủng hoảng này, nó có lẽ sẽ không thể giữ nguyên cấu trúc, hình dạng và sự vận hành như trước nữa - nói cụ thể hơn: trong và sau cuộc khủng hoảng này của kinh tế thế giới, các quốc gia sẽ không thể giữ nguyên cách làm ăn như lâu nay (kể từ khi chiến tranh lạnh kết thúc)...
2- Cơ cấu sản phẩm trong mỗi quốc gia sẽ dần dần có những thay đổi lớn theo hướng quan tâm hơn nữa đến sự bền vững của thị trường nội địa mỗi nước và của môi trường, nghĩa là sẽ xuất hiện những điều chỉnh vĩ mô.
3- Hệ thống tài chính tiền tệ thế giới đang có những xáo trộn lớn, buộc phải cải tổ cơ bản để hạn chế những rủi ro - đặc biệt là trên 2 vấn đề: (1)sự suy yếu ngày càng nhanh chóng của đồng USD và (2) vai trò đang nổi lên đầy tính lũng đoạn của đồng Nhân dân tệ (Trung Quốc);
4- Phải tăng cường hơn nữa vai trò điều tiết của nhà nước để hỗ trợ "bàn tay vô hình" của thị trường; khung khổ WTO tuy vẫn được duy trì, nhưng chắc chắn sẽ có nhiều cọ sát mới gay gắt hơn.
5- Phải sớm có các chính sách và biện pháp thân thiện hơn với môi trường tự nhiên để giảm thiểu các đại họa. Nhiều nước đã phải hướng mạnh tới nền kinh tế có hàm lượng carbon thấp...
6- Phải thay đổi nhiều điều quan trọng trong tư duy kinh tế; một số học giả nổi tiếng như Krugman, Stiglitz, Fukuyama, thượng nghị sỹ Max Baucus... cho là kinh tế học hiện đại có nhiều điểm lỗi thời.; (thậm chí cá biệt còn có người gọi khoa kinh tế học hiện nay là "kinh tế học của đổ vỡ", coi Alan Greenspan - nguyên chủ tịch FED - là một trong những tội phạm chính của khủng hoảng kinh tế thế giới hiện nay!)
Có thể kết luận: Hai hiện tượng nổi bật nhất trong thời kỳ hậu chiến tranh Lạnh là:
Một là, những thất bại của 2 khóa tổng thống George Bush trong chiến lược toàn cầu (chủ yếu vì tham vọng quá lớn trong chiến lược toàn cầu và do sự phá sản của chủ nghĩa tân tự do mới trong kinh tế) cùng với cuộc khủng khoảng hiện nay bùng nổ từ Mỹ - được đánh dấu bằng sự sụp đổ của ngân hàng Lehman Brothers ngày 14-09-2008, rồi lan tỏa thành quy mô thế giới.
Hai là, vai trò ngày càng nổi lên của các cường quốc khác - trước hết là Trung Quốc, rồi đến Nga, Ấn Độ.
Hai hiện tượng quan trọng nhất này đánh dấu sự kết thúc cục diện quốc tế hậu chiến tranh lạnh, chuyển thế giới ngày càng đi vào xu thế đa cực với một siêu đa cường.
Siêu cường Mỹ suy yếu
Chiến tranh Iraq và chiến tranh chống khủng bố - trước hết là chống Al-Qaeda - Taliban - không đem lại kết quả như Mỹ đề ra, thậm chí chưa thấy ánh sáng cuối đường hầm, cùng với tình trạng từ năm 2008 Mỹ lâm vào khủng hoảng kinh tế nặng nề nhất trong lịch sử quốc gia này, đã dẫn tới Mỹ phải điều chỉnh căn bản chiến lược toàn cầu của mình.
Sự điều chỉnh này của Mỹ thực chất là sự thoái lui một bước quan trọng so với thời George Bush trong chiến lược toàn cầu, nguyên nhân chủ yếu do lực bất tòng tâm. Mỹ hiện nay vẫn còn là siêu cường số 1, song vai trò và ảnh hưởng của nó giảm sút đáng kể so với thời kỳ hậu chiến tranh lạnh.
Tổng thống Obama và Ngoại trưởng Clinton trong chuyến công du châu Á.
Hiện tượng Obama thắng cử không đơn thuần chỉ là một thắng lợi độc nhất vô nhị cho đến nay của thể chế dân chủ Mỹ và trên thế giới. Sâu xa hơn thế, hiện tượng Obama nói lên tầm vóc điều chỉnh chiến lược chưa từng có kể từ sau chiến tranh thế giới II mà Mỹ phải chấp nhận. Hiện tượng Obama cũng đồng thời cho thấy Mỹ quyết tâm thay đổi và có thể thay đổi được - và chính điều này cho phép Mỹ sẽ tiếp tục duy trì được - dù không còn mạnh như trước - vị trí siêu cường số 1 trên bàn cờ của một thế giới đang tiến vào cục diện một siêu đa cực. Hiện tượng Obama còn đánh dấu một thời kỳ thay đổi sâu sắc đang diễn ra sôi động ở tất cả các nước phát triển trong thề giới phương Tây - mới đây nhất là sự kiện ngày 30-08-2009 đảng Dân Chủ ở Nhật thắng cử và lên cầm quyền, chấm dứt thời kỳ đảng Dân chủ Tự do ngự trị chính quyền Nhật hơn nửa thế kỷ.
Nét nổi bật của sự điều chỉnh chiến lược của nước Mỹ thời Obama là: Mỹ quyết rút khỏi Iraq để tập trung vào các vấn đề như mặt trận chống Al-Qaeda - Taliban tại Afghanistan, vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran, vấn đề vũ khí hạt nhân của Bắc Triều Tiên... Ngày 17-9-2009 Mỹ đi thêm một nước cờ chiến lược nữa là quyết định rút bỏ kế hoạch lá chắn tên lửa Châu Âu để tăng thêm hòa hoãn với Nga (đã được Nga hưởng ứng) và tập trung cố gắng tìm kiếm các khả năng xử lý vấn đề vũ khí hạt nhân của Iran. Bước đi này còn nhằm phân hóa bớt các thế lực gây sức ép khác đối với Mỹ. Quan hệ Mỹ - Nga ấm hẳn lên cho thấy tầm vóc của quyết định 17-09-2009. Những cải cách trong đối nội của nước Mỹ đang diễn ra càng làm rõ những thay đổi trong chiến lược đối ngoại của nước này.
Từ tình hình trên, có thể thấy phát biểu của Tổng thống Obama tại phiên họp Đại hội đồng Liên Hiệp quốc ngày 23-0-2009 ''...đã đến lúc thế giới chuyển sang một hướng mới. Chúng ta phải dấn thân vào một thời đại tiếp cận mới dựa trên quyền lợi chung và cùng tôn trọng nhau...'' không đơn thuần là một lời nói ngoại giao, mà hàm ý rõ ràng kêu gọi cộng đồng các quốc gia trên thế giới nỗ lực cho một cách sống chung mới.
Liên quan đến Đông Nam Á, đặc biệt là Biển Đông, nhiều lần các nhà quân sự Mỹ tuyên bố (ngay từ cuối thời George Bush): Mỹ đứng ngoài việc tranh chấp biển đảo ở khu vực này, miễn là giữ được thông thương tự do trên eo biển Malacca, các quyền lợi của Mỹ ở khu vực này được bảo đảm, và không được đụng chạm đến Đài Loan. Có thể hiểu đây sẽ là ranh giới cuối cùng Mỹ sẽ có thể chấp nhận một khi tình hình đòi hỏi bắt buộc phải như vậy[iv].
Mặt khác Mỹ khuyến khích giải quyết tranh chấp trên Biển Đông trên diễn đàn đa phương giữa các nước liên quan ở Đông Nam Á. Trong cuộc điều trần về Biển Đông tháng 7-2009, Thượng viện Mỹ đã bầy tỏ mối quan ngại sâu sắc của Mỹ về tình hình Trung Quốc ngày càng lấn át về kinh tế và quân sự ở khu vực này. Cuộc điều trần này cho thấy Mỹ chủ trương phải có thái độ chủ động hơn đối với các nước trong khu vực Biển Đông, "...từ quan hệ về chính sách đến đối thoại về chiến lược, lên tới tầm mức hoạt động quân sự, bằng cách gia tăng khả năng quân sự cho các nước đối tác. Trong khi đó Hoa Kỳ cũng tăng cường hoạt động ngoại giao quân sự với Trung Quốc, gia tăng đối thoại để tránh nguy cơ tính toán sai lầm gây xung đột bất ngờ"[v].
Trong khi đó, tại cuộc họp ASEAN - Mỹ 24-07-2009 ngoại trưởng Clinton khẳng định Mỹ tiếp tục tăng cường quan hệ với ASEAN[vi].
Trung Quốc trên đường hướng tới siêu cường
Sự lớn mạnh của Trung quốc với tính cách là "công xưởng của thế giới" đang thúc đẩy khát vọng của Trung Quốc đi nhanh trên con đường trở thành siêu cường, dự kiến là vào khoảng năm 2050, mặc dù kinh tế và nội trị Trung Quốc còn rất nhiều vấn đề nhạy cảm, thậm chí rất nhạy cảm.
Với nguồn tài nguyên Trung Quốc bằng mọi cách đem về từ khắp nơi trên thế giới, trước hết là từ châu Phi và châu Mỹ Latinh, Úc.., Trung Quốc hiện nay đứng đầu thế giới trong sản xuất nhiều nguyên liệu cơ bản như sắt, thép, đồng, nhôm, ciment..; là cường quốc thứ nhất trong xuất khẩu tầu biển, là cường quốc thứ hai sau Mỹ trong xuất khẩu ô-tô, trong vòng một vài năm tới GDP kinh tế Trung Quốc dự kiến sẽ vượt Nhật[vii]...
Tận thu tài nguyên dưới chiêu bài viện trợ
Báo chí thế giới thừa nhận Trung Quốc thành công vượt xa chủ nghĩa thực dân mới của phương Tây tại châu Phi, Mỹ Latinh và một số nơi khác trên thế giới (trong đó có Đông Nam Á...). Những khoản viện trợ lớn của chính phủ Trung Quốc dành cho các quốc gia này với danh nghĩa "không can thiệp vào công việc nội bộ của các nước nhận viện trợ". Trên thực tế là Trung Quốc quan hệ trực tiếp và ủng hộ giới thống trị ở những quốc gia này, bất luận bản chất những chế độ này như thế nào.
Phương thức hợp tác song phương như vậy của Trung Quốc tại những quốc gia này đang mang lại nhiều kết quả lớn cho Trung Quốc (tuy nhiên gần đây một số nước châu Phi đã phản ứng chống lại sự tham lam thái quá của Trung Quốc).
Hơn thế nữa, hiện tượng Trung Quốc trở thành đối tác kinh tế ngày càng quan trọng với Iran, Iraq, với các nước và lực lượng "cánh tả" (chống Mỹ) ở châu Mỹ Latinh - nơi được coi là sân sau của Mỹ - đang làm cho Mỹ và phương Tây lo lắng.
Với nguồn dự trữ ngoại tệ lớn nhất thế giới (2100 tỷ USD) Trung Quốc đang tìm cách thay đổi hệ thống tiền tệ thế giới. Trước mắt Trung Quốc chưa thể tìm cách "hạ bệ" đồng USD (hiện nay vẫn còn chiếm tới 60% tổng giao dịch tiền tệ và thương mại trên thế giới). Song với tư cách là chủ nợ lớn nhất của Mỹ, đang nắm giữ khoảng 60% trái phiếu và những giấy tờ có giá khác của Mỹ, Trung Quốc đòi hỏi đồng nhân dân tệ cũng phải được coi là phương tiện thanh toán quốc tế. Đòi hỏi này bị bác bỏ tại cuộc họp G20 (London 02-04-2009) với lý do đồng nhân dân tệ chưa phải là đồng tiền chuyển đổi tự do.
Trung Quốc chuyển sang chiến thuật mới là đòi nâng cao vai trò của Trung Quốc tham gia vào "quyền rút vốn đặc biệt" (SDR - một đơn vị được coi như là tiền của IMF) để làm yếu và tiến tới thay thế dần đồng USD.
Đồng thời Trung Quốc áp dụng các biện pháp đòi các nước có quan hệ buôn bán với Trung Quốc trực tiếp dùng đồng nhân dân tệ làm phương tiện thanh toán trong quan hệ song phương, một số nước đã chấp thuận. Có thể nói đây là một bước mới bổ sung quan trọng cho việc mở rộng quyền lực và ảnh hưởng của Trung Quốc trên thế giới - đặc biệt là quyền lực mềm.
Trong số hàng nghìn tập đoàn kinh tế của Trung Quốc đã có nhiều tập đoàn lọt vào danh sách các nhóm TNCs top 100, TNCs top 50 của thế giới, trong đó phải kể đến tập đoàn dầu khí PetroChina có số vốn vượt 1000 tỷ USD và trở thành TNC đứng đầu thế giới về quy mô vốn[viii].
Tình hình vừa trình bầy trên cho thấy nội dung thực chất chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc.
Tham vọng siêu cường quân sự
Thế giới, nhất là các nước láng giềng của Trung Quốc, ngày càng lo ngại trước hiện tượng Trung Quốc cũng đang trên đường trở thành siêu cường quân sự - đặc biệt là các nước trong khu vực châu Á - Thái Bình Dương.
Bình luận trên nhật báo Giải phóng quân Nhân dân (Trung Quốc) ngày 12-03-2009, Hoàng Thôn Luận viết:
"...Quyền lợi quốc gia của Trung Quốc vượt xa ra ngoài biên cương lãnh thổ, vùng trời, vùng biển của Trung Quốc, bao gồm cả các vùng đại dương bao la nơi các tầu chở dầu của Trung Quốc qua lại, cũng như không gian vũ trụ... Quyền lợi quốc gia Trung Quốc mở rộng đến đâu, sứ mệnh của lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) được mở rộng đến đấy!.. Đứng trước nhiệm vụ lịch sử mới, lực lượng vũ trang của chúng ta (Trung Quốc) không chỉ bảo vệ biên giới lãnh thổ, mà còn phải bảo vệ biên giới quyền lợi quốc gia của chúng ta." [ix]
Ngân sách quốc phòng hàng năm của Trung Quốc hai thập kỷ nay thường xuyên tăng 2 con số (từ 10 đến 17%/năm). Số liệu thống kê chính thức của Trung Quốc cho biết chi tiêu quốc phòng của nước này năm 2007 ước khoảng 70 tỷ USD. Song theo đánh giá của Bộ Quốc phòng Mỹ, của RAND - cơ quan nghiên cứu của Mỹ, và của RAW (Research and Analysis Wing) - cơ quan nghiên cứu của Ấn Độ, thực chi cho ngân sách quốc phòng của Trung Quốc năm 2007 ước khoảng 138 - 156 tỷ USD, đứng vào hàng thứ 2 trên thế giới - nghĩa là ước khoảng 1/4 - 1/3 ngân sách quốc phòng của Mỹ, vượt Nga, gấp 5 lần của nước Anh, và bỏ xa Ấn Độ... Ngày 21-09-2009 Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc Lương Quang Liệt tuyên bố nước này có hầu hết mọi hệ thống vũ khí hiện đại của các nước phương Tây.
Trung Quốc đang trở thành cường quốc vũ trụ. Hiện nay Trung Quốc đang đẩy mạnh xây dựng hải quân nước xanh (hoạt động tầm đại dương với một số hàng không mẫu hạm đang mua của Nga hoặc tự đóng lấy). Trong chuyến đi thăm Trung Quốc đầu năm 2009 của đô đốc Mỹ Timothy Keating, phía Trung Quốc đặt thẳng vấn đề để Trung Quốc quản Thái Bình Dương từ đảo Hawaii về phía Tây, phía Mỹ sẽ quản Thái Bình Dương từ Hawaii về phía Đông. Keating đã đáp lại: "No, Thanks!"[x]. Riêng trên Biển Đông, hải quân Trung Quốc giữ vị thế áp đảo, với mục tiêu là "cái lưỡi bò".
Trên nhiều phương diện, hiện tượng Trung quốc trên đường trở thành siêu cường đang là vấn đề nóng bỏng và rất phức tạp của cả thế giới. Giáo sư Thôi Lý Nhũ, chủ tịch Viện Nghiên cứu quan hệ quốc tế đương đại (CICIR - Bắc Kinh), một viện nghiên cứu chiến lược của Trung Quốc tầm cỡ quốc tế, đầu năm nay phát biểu thẳng thắn trước giới học giả nước ngoài: "Mười năm qua Trung Quốc đã phát triển từ một vị thế tương đối thấp lên một vị thế tương đối mạnh, vì vậy những xung đột giữa Trung Quốc với thế giới bên ngoài không đặc biệt quyết liệt lắm (not particularly vehement). Tuy nhiên, trong vòng mười năm tới, Trung Quốc sẽ đi tiếp từ vị thế tương đối mạnh hiện nay lên một vị thế còn mạnh hơn nữa. Ảnh hưởng của Trung Quốc đối với thế giới sẽ còn lớn hơn nữa - và nỗi lo của thế giới về Trung Quốc cũng sẽ tăng theo..."
Trên thế giới, kể cả Mỹ, không ai đặt vấn đề đối đầu với Trung Quốc. Nhưng tất cả các quốc gia đều phải cùng nhau hay riêng lẻ nỗ lực tìm cách ứng xử và đối xử thích hợp nhất với hiện tượng Trung Quốc trong thế kỷ 21 này sao cho phù hợp với xu thế tiến bộ chung của loài người. Đó còn là phương thức hữu hiệu nhất, khuyến khích hay bắt buộc Trung Quốc cũng phải thích nghi với trào lưu chung của thế giới.
Quan hệ Mỹ - Trung định hình thế giới
Cũng không thể bỏ qua một thực tế khác là trong quan hệ song phương Mỹ - Trung hiện nay, phía Mỹ cũng chủ động đẩy mạnh xu thế hòa hoãn.
Đối thoại chiến lược và kinh tế Mỹ - Trung (khai mạc phiên đầu tiên tại Washington 27-09-2009) đã thực sự trở thành diễn đàn G2. Tại diễn đàn này Obama nói "Mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ định hình cho thế kỷ 21. Sự liên hệ này làm cho nó quan trọng như bất cứ sự liên hệ song phương khác trên thế giới. Và điều này phải thực sự củng cố sự hợp tác của chúng ta. Đây là trách nhiệm mà hai bên phải gánh vác." Trong điện chúc mừng phiên họp đầu tiên của diễn đàn này, Hồ Cẩm Đào viết: "Cả Trung Quốc và Mỹ gánh vác trên vai trách nhiệm quan trọng về những vấn đề trọng đại liên quan đến hòa bình và sự phát triển của nhân loại." [xi].
Mỹ - Trung bắt tay. Ảnh: Chinadaily.
Chắc chắn rồi đây lúc hòa hoãn, lúc căng thẳng, song phía Mỹ sẽ vẫn có các bước đi tiếp mở rộng quan hệ với Trung Quốc trên mọi lĩnh vực, bên nào cũng có thừa khôn ngoan giành cái lợi về cho mình.
Trên thế giới đã có nhiều ý kiến các quốc gia sẽ phải ứng xử thế nào một khi xu thế hai cực Mỹ - Trung chi phối thế giới. Như vậy, tại Đông Nam Á có thể thấy chính sách đa dạng của Mỹ nói trên đối với khu vực Biển Đông sẽ còn tùy thuộc đáng kể vào chính thái độ các nước ASEAN (đối với Mỹ và Trung Quốc), đồng thời chịu sự chi phối sâu sắc của quan hệ Mỹ - Trung.
(Còn nữa)
Mời các bạn đón đọc phần 2: Việt Nam nên đóng vai nào trong thế giới mới?
Việt Nam nên đóng vai nào trong thế giới mới
Điều chắc chắn là Trung Quốc cần thế giới nếu không hơn thì cũng không kém các cường quốc khác. Vì thế, Việt Nam nên có một vai trong cái thế giới mà Trung Quốc cần ấy.

LTS: Trong phần trước, nhà nghiên cứu, nguyên Đại sứ Nguyễn Trung phân tích những thay đổi lớn định hình diện mạo thế giới thập kỷ mới: siêu cường Mỹ suy yếu và Trung Quốc trên đường trở thành siêu cường.
Ở phần này, tác giả sẽ bàn tiếp về ứng xử đối ngoại cần có của Việt Nam, trong đó phân tích sâu vào quan hệ Việt - Trung mà theo ông sẽ là vấn đề đối ngoại quan trọng nhất và khó xử lý nhất đối với nước ta trong thập kỷ tới.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tiếp tục tranh luận và làm sáng tỏ thêm. Mời độc giả cùng tranh luận.
Chủ động dấn thân
Có thể nói hiện nay Việt Nam đạt được vị thế quốc tế cao nhất trong lịch sử của mình với tư cách là một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Việt Nam ngày nay là đối tác chiến lược của nhiều nước, đầu tư nước ngoài và kim ngạch ngoại thương tăng trưởng năng động. Chính sách đối ngoại hòa bình - hợp tác - hữu nghị của Việt Nam cùng với cục diện thế giới hiện nay mang lại cho Việt Nam vị thế này.
Tuy nhiên, cần nhận rõ một sự thật khác, đó là vị trí của Việt Nam trong chính sách đối ngoại của nhiều nước đối tác, nhất là các nước đối tác quan trọng, nói chung là tương đối thấp so với khả năng Việt Nam có thể đạt được. Nguyên nhân chính không phải là nước ta nghèo mà chủ yếu vì:
Về một số phương diện nhất định nước ta vẫn chưa bước ra khỏi phong cách đối ngoại thời kháng chiến - phong cách tranh thủ sự ủng hộ của cộng đồng thế giới là chính, mà chưa chủ động và tích cực dấn thân tham gia vào những vấn đề chung của cộng đồng thế giới, mà cuộc sống lại luôn luôn đòi hỏi có cho có nhận chứ không thể một chiều chỉ nhận.
Tuy ta có thiện chí hợp tác - dù song phương hay đa phương, nhưng do khả năng của ta, do nhiều vấn đề của ta, nhìn chung, sự hợp tác chưa đạt mức tiềm năng cho phép. Thậm chí, có lúc ta có nhiều thua thiệt, chưa đúng với mức các đối tác mong đợi. Trong 25 năm qua, chúng ta đã bỏ lỡ một số thời cơ và cơ hội rất đáng tiếc.
Nền ngoại giao Việt Nam hiện nay do ảnh hưởng của ý thức hệ nên tiếp tục có những hẫng hụt nhất định trong nhận thức những diễn biến mới trên thế giới - đây còn là vấn đề của tri thức, trí tuệ và mưu lược - do đó chưa xác lập được cho mình bản lĩnh mới để khai thác hay chủ động ứng phó với sự vận động của xu thế thế giới.
Những nhược điểm trình bày trên đang hạn chế sức mạnh ngoại giao nước ta và ảnh hưởng đến sức mạnh của nước ta nói chung, nhất là trong việc tập hợp đồng minh để bảo vệ lợi ích quốc gia và để tiếp tục phát huy vị thế mới của đất nước.
Tránh rơi vào vòng tay của bất kì nước lớn nào
Do sự vận động của tình hình thế giới, đặc biệt là do các mối tương quan mới giữa các cường quốc - bao gồm cả hiện tượng Trung Quốc đang trên đường trở thành siêu cường, xuất hiện tại nhiều nước các châu lục khác nhau trên thế giới mối lo Việt Nam có thể rơi vào vòng tay của Trung Quốc.
Đặc biệt là các cường quốc phương Tây, kể cả Mỹ, đều không muốn có một Việt Nam yếu, chịu lệ thuộc vào Trung Quốc. Những nước này, kể cả Mỹ, hiểu rõ ý thức độc lập tự chủ của Việt Nam và vì thế không có ảo tưởng lôi kéo Việt Nam đi vào con đường ngoại giao của những đối trọng.
Có thể hiểu, xu thế chính của những nước này là muốn có một Việt Nam mạnh đúng với vị thế đang có trong khu vực, giữ vững được độc lập tự chủ của mình. Bởi lẽ, Việt Nam ngày nay không phải là "đối tượng" của những cường quốc này. Việt Nam ngày nay không có có xung đột lợi ích với họ. Quan trọng hơn, một Việt Nam mạnh, độc lập tự chủ và có vị thế như thế sẽ có lợi nhất cho họ trên bàn cờ thế giới hiện tại...
Cần nói rõ điểm này để không cường điệu hóa đến mức nhầm lẫn các sự việc được coi là "can thiệp vào nội bộ Việt Nam để diễn biến hòa bình dưới chiêu bài dân chủ và nhân quyền".
Hiển nhiên giữa chế độ chính trị nước ta và chế độ chính trị của các nước phương Tây có nhiều giá trị khác nhau, đặc biệt là chung quanh vấn đề dân chủ và nhân quyền.
Các nước phương Tây vì lợi ích của chính mình có chủ trương khai thác vấn đề dân chủ và nhân quyền để phát huy ảnh hưởng của họ vào các nước khác, kể cả vào Trung Quốc. Có quốc gia nào, nhất là các nước lớn, lại không muốn phát huy ảnh hưởng của mình để khai thác, để tác động vào những điểm yếu của các nước có liên quan?
Xin đừng quên, cuộc sống và quy luật tiến hóa của xã hội loài người cũng như trong quan hệ giữa các quốc gia trên trái đất này xưa nay và mãi mãi sẽ có những "diễn biến", "diễn biến hòa bình" vào nhau như vậy.
Trong sự "diễn biến" vào nhau này, quy luật muôn đời vẫn là: người thắng luôn là kẻ có khả năng thích nghi và vượt trội cao hơn đối tượng của mình.
Có thực lực mới làm bạn bình đẳng được với người
Cần nhấn mạnh đường lối ngoại giao muốn làm bạn với người của nước ta là đúng đắn. Tuy nhiên, lẽ đời nghiệt ngã: chỉ có thiện chí "chay" - nghĩa là chẳng có thực lực hay ảnh hưởng gì làm nền tảng - thì trước sau, "chay" vẫn hoàn "chay"! Vì vậy, không thể bỏ qua một chuỗi câu hỏi tiếp theo và rất nhiều việc phải làm, để cho đường lối làm bạn này trở thành hiện thực:
- Ta muốn làm bạn với người, nhưng người có muốn làm bạn với ta không? - đấy là hai chuyện khác nhau.
- Làm thế nào để ta có thể là bạn được của người? người cũng muốn nhận ta làm bạn? - Còn thứ "làm bạn" do người ban phát cho thì chẳng hay ho gì
- Làm thế nào để người cần phải làm bạn với ta?
- Làm thế nào để người nếu không muốn làm bạn với ta thì cũng không chống được ta?
- Làm thế nào để người nếu không muốn làm bạn với ta thì cũng phải tôn trọng ta?
- Làm thế nào để người không thể phản ta hay bán rẻ ta?
- Làm thế nào để người nếu chưa phải là bạn của ta hoặc chưa muốn thì cũng không chống ta?
- Làm gì và làm thế nào để nước ta không bị lôi vào trò chơi "đối trọng", lúc là "cái mộc" cho người này, lúc là "lá chắn" cho kẻ khác..?
- Làm thế nào để ngày càng thêm bạn, bớt thù?
- Vân... vân...
Tóm lại, có thể nói, ngoại giao Việt Nam vô cùng giàu có những bài học như vậy. Lo câu chuyện làm bạn, trước hết là lo cho mình có lực, có trí tuệ, có tư cách, có tính cách, có ảnh hưởng lan tỏa, có khí phách, có mưu lược, và có bản lĩnh thực hiện đường lối đối ngoại làm bạn.
Cũng có thể nói dứt khoát, đường lối đối ngoại làm bạn của Việt Nam phải bắt nguồn từ nội trị lành mạnh và đầy sức sống của quốc gia. Chẳng có ý thức hệ nào thay đổi được quy luật này của cuộc sống.
Việt Nam đang có vị thế đối ngoại cao chưa từng có trong lịch sử của mình để phục vụ sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, mở rộng ảnh hưởng của mình đối với thế giới bên ngoài. Song vấn đề hàng đầu của ngoại giao Việt Nam ngày nay vẫn là nhận biết chuẩn xác thế giới và giác ngộ triệt để lợi ích quốc gia với tất cả tinh thần độc lập tự chủ.
Quan hệ Việt - Trung: vấn đề quan trọng nhất của đối ngoại Việt Nam
Trong thập kỉ mới, quan hệ với Trung Quốc là vấn đề quan trọng nhất và cũng khó xử lí nhất trong đối ngoại của Việt Nam. Vì thế, phần tiếp theo sẽ đi sâu phân tích về mối quan hệ này.
Trung Quốc trên con đường trở thành siêu cường rất khó mở rộng không gian sinh tồn đi lên hướng Bắc, sang phía Đông hay về phía Tây. Cứ nhìn bản đồ địa dư và bản đồ địa chính trị thì thấy rõ điều này. Trong lịch sử đã có vụ Ussuri với Liên Xô cũ năm 1969. Đầu năm 2009 này, Timothy Keating đã từ chối đề nghị của Trung Quốc về chia đôi Thái Bình Dương. Nhật Bản trước sau không chịu chấp nhận đòi hỏi của Trung Quốc về biển đảo. Biên giới Ấn - Trung hiện nay đang căng thẳng...
Hướng mở thuận lợi nhất cho Trung Quốc đang vươn mình thành siêu cường chỉ còn lại hướng Nam, làm bàn đạp cho yêu cầu của Trung Quốc nâng cao khả năng vươn ra Thái Bình Dương và vị thế siêu cường của mình trong tương lai.
Sự vận động của cục diện thế giới và sự phát triển tự thân của Trung Quốc tạo nên tình huống như vậy, chẳng có đạo đức, thiện chí hay cuồng vọng nào có thể thay đổi được.
Không phải ngẫu nhiên, các Đại hội của Đảng Cộng Sản Trung Quốc từ năm 1949 đến nay không lúc nào không tìm cách xoa dịu nỗi lo của thế giới, luôn luôn giương cao ngọn cờ chống bá quyền. Gần đây nhất Trung Quốc bỏ cả cách nói trỗi dậy hòa bình, và ngày nay càng nói nhiều đến win-win (cùng thắng).
Trong khi đó, sách báo Trung Quốc gần như không có thời kỳ nào, kể cả hiện tại, ngớt nói công khai suy nghĩ của Trung Quốc về không gian sinh tồn, điển hình có lẽ là bài nói của tướng Trì Hạo Điền - nguyên bộ trưởng Bộ Quốc phòng, tại Hội nghị các tướng lĩnh Trung Quốc bàn về chiến lược chiến tranh tương lai, tổ chức năm 2005 (được công bố trên Tạp chí "Các vấn đề chiến lược", Ấn Độ, 15/4/2009).
Người Việt Nam ta cũng chẳng có cách gì bê đất nước mình đi chỗ khác để tránh mọi điều phiền toái. Vậy chỉ còn cách đứng tại chỗ, suy nghĩ, làm những việc phải làm.
Khoảng cách của tuyên ngôn và thực tế
Hội nghị cấp cao Việt - Trung tại Thành Đô năm 1990 đã mở đầu thời kỳ quan hệ bình thường Việt- Trung hiện nay. Đến nay là 2 thập kỷ, quan hệ hai nước xen kẽ những đoạn đường lúc hợp tác, lúc căng thẳng, nơi này nơi khác vẫn còn sự cố đáng tiếc.
Thách thức với Việt Nam trong thập kỉ mới là tiếp tục đảm bảo chính sách đối ngoại đa phương và ngăn khả năng bị kéo vào quỹ đạo của một trong các cường quốc lớn.- GS Carl Thayer, Học viện Quốc phòng Australia.
Đáng chú ý, sau khi hoàn tất cắm mốc biên giới trên bộ Việt - Trung đầu năm 2009, tình hình lại rộ lên vấn đề Biển Đông.
Mới đây, đúng một ngày sau khi Thủ tướng Nguyến Tấn Dũng đi thăm Tứ Xuyên, Hội nghề cá nước ta phải ra tuyên bố ngày 16-10-2009 phản đối Trung Quốc ngược đãi và cướp bóc 200 ngư dân ta vào lánh nạn cơn bão Ketsana 26-09-2009 tại đảo Trụ Cẩu - Hoàng Sa thuộc ta. Ngày 21-10-2009 người phát ngôn Bộ ngoại giao ta phải trao tiếp công hàm phản đối cho đại sứ Trung Quốc.
Đặc biệt là những hoạt động ngược lại với 16 chữ như thế của Trung Quốc trong các năm 2008 và 2009 diễn ra nhiều hơn và nghiêm trọng hơn so với trước, mặc dù phía Việt Nam hết sức kiềm chế - như người phát ngôn Bộ Ngoại giao ta vẫn nói.
Ngoài việc gây sức ép các hãng BP và EXON phải hủy các hợp đồng thăm dò dầu khí đang làm với ta, Trung Quốc tiếp tục nêu yêu sách "lưỡi bò" trên Biển Đông, tuyên bố vùng cấm đánh cá từ 16-05-2009 đến 1-08-2009 kinh độ 170 Đông xuống tận vỹ tuyến 12; có lúc đưa tầu quân sự đánh đuổi tầu cá của ta trong vùng biển của ta chỉ cách bờ 65 hải lý... khiến hàng nghìn ngư dân của ta thất nghiệp, khốn đốn...
Những hiện tượng "nóng" "lạnh" như thế xen kẽ nhau thường xuyên. Trong khi đó, chính giới hai nước không thiếu các chữ vàng lời đẹp nói về quan hệ hai nước. Khoảng cách giữa lời nói và thực tế như vậy nói lên điều gì?
Xin lưu ý, trong bối cục của tình hình thế giới những năm 1980, Trung Quốc đã dùng vũ lực thường xuyên uy hiếp Trường Sa, - đặc biệt là cuộc tấn công của hải quân Trung Quốc đánh chiếm thêm các bãi cát ngầm và một số đảo ở Trường Sa ngày 14-03-1988; không thể không đặt ra câu hỏi: Trung Quốc dự định và có thể sẽ làm gì nữa trong bối cảnh thế giới hiện nay?
Trong bài đăng trên Hoàn Cầu Thời báo, ngày 18/03/09, tác giả Đới Hy, đại tá không quân Trung Quốc và nhà bình luận có tiếng, kêu gọi thiết lập căn cứ quân sự tại Trường Sa: "Song song với việc phát triển nguồn tài nguyên Nam Hải (Biển Đông), cần thiết lập căn cứ quân sự trên quần đảo Nam Sa (Trường Sa), với các cơ sở dành cho máy bay, trực thăng và các loại hình tác chiến khác. Hải phận và không phận rộng lớn ở đây sẽ trở thành địa điểm huấn luyện quân sự... không chỉ bảo vệ phát triển kinh tế của toàn Nam Hải (Biển Đông) mà còn thúc đẩy hiện đại hóa quân đội."
Trong quan hệ kinh tế hai nước có rất nhiều vấn đề phức tạp. Đáng chú ý là nước ta hiện nay đã đạt được trình độ phát triển nhất định, mà hầu như tất cả các công trình do Trung Quốc thực hiện đều dưới dạng chìa khóa trao tay (EPC - với công nghệ chắc chắn là hạng hai hạng ba gì đó, cùng với thiết bị và vật tư gần như 100% là của Trung Quốc, đưa hàng vạn người Trung Quốc không có tay nghề vào làm việc không có giấy phép, ...)
Phần lớn đầu tư của Trung Quốc vào ta là khai thác khoáng sản và chuẩn bị địa bàn hoạt động mới ở nước ta cho công nghiệp của Trung Quốc - gần đây nhất là khu công nghiệp An Dương - Hải Phòng do Thâm Quyến xúc tiến.
Trong khi đó, ngoại thương ta nhập siêu từ Trung Quốc mỗi năm 10 - 13 tỷ USD, khoảng 80 - 90% kim ngạch xuất khẩu của ta sang Trung Quốc là nguyên liệu. Tình hình này cộng với hàng Trung Quốc nhập lậu không thể ngăn cản được thực sự bất lợi cho đất nước. Duy trì tình trạng này trong tương lai, đầu tư của Trung Quốc và kim ngạch ngoại thương hai nước càng lớn, nước ta phải đối mặt với mối nguy và sự lệ thuộc càng lớn. Tăng cường quan hệ kinh tế Việt - Trung có ý nghĩa rất quan trọng, song mở rộng hợp tác kinh tế với các tỉnh Trung Quốc mà không cải thiện được tình hình nêu trên sẽ càng bất lợi.
Còn không ít các vấn đề phức tạp khác nữa của quyền lực mềm...
Toàn bộ thực tế nói trên sẽ chi phối sâu sắc tình hình phát triển và an ninh của nước ta trong thập kỷ 20 của thế kỷ này.
Tìm vai trong thế giới Trung Quốc cần
Lịch sử tranh chấp giữa các siêu cường mà nước ta đã nếm trải thời chiến tranh lạnh sẽ không lặp lại. Nhưng mối quan hệ tay đôi và sự tranh chấp hay tranh giành ảnh hưởng như vậy giữa hai nước lớn này thời nào cũng dễ đẩy các nước nhỏ lâm vào cảnh "trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết". Khác chăng trong thời đại toàn cầu hóa và hội nhập ngày nay, các nước nhỏ có bản lĩnh và thông minh có nhiều cơ hội và phương tiện mới hơn so với trước để xử lý những vấn đề "dễ gây chấn thương" (vulnerability) mình phải hứng chịu.
Hiển nhiên chỉ có trí tuệ và sự giác ngộ tuyệt đối lợi ích quốc gia trong cục diện mới của thế giới mới có thể giúp các nước nhỏ có lối thoát. Việt Nam trong quá khứ đã trải nghiệm những bài học đắt giá, liệu sẽ vận dụng được nó cho hiện tại và tương lai?
Lịch sử Việt Nam chưa bao giờ có chính sách đối đầu với Trung Quốc. Ngày nay, cả thế giới, kể cả Mỹ, không nước nào chọn chính sách đối đầu với Trung Quốc. Việt Nam càng không có lí do để làm việc này.
Kể từ khi ra đời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, ngày nay là Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam, nước ta đã từng sống trong thời kì quan hệ Việt - Trung đúng với nghĩa: "vừa là đồng chí, vừa là anh em", "núi liền núi, sông liền sông, môi hở răng lạnh..."
Không hoài cổ, nhưng không thể không đặt ra câu hỏi: Cái gì tốt đẹp đã đạt được trong quá khứ, tại sao không đạt được trong tương lai?
Câu trả lời về phía Trung Quốc, để cho Trung Quốc trả lời.
Câu trả lời về phía chúng ta, tự chúng ta phải trả lời. Câu trả lời ấy dân tộc Việt Nam ta cần bắt đầu từ lòng tự trọng và ý chí thoát ra khỏi tình trạng tụt hậu rồi mới đến các việc phải làm khác. Điều chắc chắn là Trung Quốc cần thế giới nếu không hơn thì cũng không kém các cường quốc khác. Tự thân Trung Quốc cũng nói lên điều này. Vì thế, Việt Nam nên có một vai trong cái thế giới mà Trung Quốc cần ấy.
25 năm vận hành nền kinh tế theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng, chúng ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuê và đất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng - Nguyễn Trung
LTS: Trong phần trước, nhà nghiên cứu Nguyễn Trung bàn về ứng xử đối ngoại cần có của Việt Nam trong thập kỷ mới, trong đó bàn sâu về quan hệ Việt - Trung. Từ đó, ông đi đến kết luận: để VN có vai trong thế giới mà các nước lớn, trong đó có Trung Quốc cần, dân tộc VN cần phải tìm cách thoát khỏi tình trạng tụt hậu về kinh tế.

Ở phần này, Nguyễn Trung phân tích những thách thức của mô hình phát triển hiện tại.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tiếp tục tranh luận và làm sáng tỏ thêm.
Phần trước:
25 năm chưa thấy rõ hình hài công nghiệp hoá
Trong 25 năm kể từ khi tiến hành Đổi Mới, kinh tế nước ta vận hành theo mô hình tăng trưởng theo chiều rộng: chủ yếu dựa vào khai thác lợi thế so sánh về giá lao động rẻ (trình độ tay nghề thấp, ít hàm lượng kỹ thuật, thậm chí một bộ phận đáng kể là lao động cơ bắp); khai thác tài nguyên thiên nhiên, (3)đẩy mạnh đầu tư từ các nguồn trong nước và nước ngoài cho phát triển một nền kinh tế sử dụng nhiều lao động giá rẻ và tiêu thụ nhiều tài nguyên thiên nhiên, (4)sử dụng lãng phí đất đai và không thân thiện với môi trường.
Nhìn chung trong suốt thời kỳ này nước ta đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối cao, song chất lượng tăng trưởng kinh tế thấp so với công sức bỏ ra và so với những cái giá phải trả. Đại hội X đã phê phán tình trạng yếu kém của mô hình phát triển theo chiều rộng.
Mối lo lớn nhất là sau ¼ thế kỷ tăng trưởng và phát triển kể từ khi đổi mới, nước ta cho đến nay vẫn chỉ là người cung cấp lao động rẻ, nông phẩm thô, nguyên liệu thô hoặc sơ chế thấp, sản phẩm gia công, sản phẩm chế tạo với hàm lượng công nghệ thấp, đất đai và thị trường nội địa trở thành nơi thu hút FDI chủ yếu cho công nghiệp có hàm lượng công nghệ thấp và gây nhiều gánh nặng cho môi trường tự nhiên và xã hội...
Trong thập kỷ tới, sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước nhất thiết đòi hỏi phải có tầm nhìn thấu đáo cục diện thế giới - với lý tưởng lợi ích dân tộc và lợi ích quốc gia là duy nhất và trên hết, để có đủ trí tuệ và bản lĩnh tạo ra cho đất nước bên trong là sự đồng thuận không gì phá vỡ được, bên ngoài là một bối cảnh hòa bình tối ưu cho phép.
Với chiến lược phát triển dựa vào 4 yếu tố như vậy, thế mạnh lớn nhất và nguồn lực nội tại lớn nhất của đất nước là con người Việt Nam không được phát huy. Trên thực tế nước ta đang đứng trước nguy cơ trở thành một nước đi làm thuêđất nước cho thuê với cả nghĩa đen và nghĩa bóng.
Với GDP tính theo đầu người hiện nay đạt khoảng 1000 USD - tăng khoảng 10 lần so với khi bước vào đổi mới, nước ta mới ra khỏi nhóm nước đang phát triển có thu nhập thấp. Hiện tại nền kinh tế nước ta phát triển ở mức thấp trên các phương diện: trình độ lao động, hàm lượng công nghệ, năng lực kinh doanh, năng lực quản lý đất nước, hiệu quả kinh tế, sự phát triển của con người, của văn hóa, xã hội và của toàn bộ hệ thống chính trị...
Nhìn chung sau 25 năm vẫn chưa thấy hình hài của một nền kinh tế công nghiệp hóa, càng chưa thể hình dung một quốc gia công nghiệp Việt Nam trong vòng một hai thập kỷ tới sẽ ra sao. Điều này có nghĩa vào năm 2020, thời điểm hoàn thành mục tiêu trở thành nước công nghiệp hóa, nước ta sẽ vẫn còn đứng cách rất xa các chỉ tiêu của một nước được coi là hoàn thành giai đoạn công nghiệp hóa.
Một quốc gia hoàn thành thời kỳ công nghiệp hóa còn phải được nhìn nhận theo các tiêu chí của một xã hội công nghiệp. Trên phương diện này, phải nói nước ta còn khá lạc hậu so với một nước công nghiệp hóa và so với thế giới chung quanh về nhiều mặt: dân trí, tính công khai minh bạch, xã hội dân sự, năng lực, tính trách nhiệm và tính tin cậy được (accountability) của bộ máy nhà nước, đặt Hiến pháp và pháp luật lên trên hết, khả năng đề kháng hay khắc phục những tha hóa mới về nhiều mặt nhiễm phải trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, đặc biệt nghiêm trọng là tình trạng lạc hậu và đi sai hướng của hệ thống giáo dục với những hệ quả lâu dài và khó lường cho tương lai...
Nói một cách hình ảnh: Đến năm 2010, sau ¼ thế kỷ đổi mới, nước ta có lẽ mới chỉ đi được khoảng 1/3 hay một nửa đầu của toàn bộ chặng đường công nghiệp hóa mà thôi.
Từ nay đến năm 2020 có cách nào "đi" hay "bay" nốt 2/3 hay một nửa chặng đường còn lại không? Dứt khoát không! Thậm chí "đi" hay "bay" tiếp tục như hiện nay, sẽ rất khó có một nước Việt Nam công nghiệp hóa trong vòng ba bốn thập kỷ tới, hoặc không bao giờ!
Không để bị ru ngủ mãi
Sau 25 năm công nghiệp hóa, nước ta có một nền kinh tế còn nhiều đặc tính manh mún, bóc ngắn cắn dài, tranh thủ được cái gì thì làm cái nấy, và nhìn chung là ngày càng có những mất cân đối lớn, ngày càng đi sâu vào một cơ cấu kinh tế lạc hậu và ô nhiễm môi trường nặng nề! Hơn nữa tính mất cân đối, tính lạc hậu này và tình trạng ô nhiễm môi trường đã tới ranh giới chịu đựng cuối cùng.
Xin đơn cử một vài ví dụ:
o Xuất khẩu than, dầu, gạo và nhiều sản phẩm khác đã tới đỉnh của khả năng cho phép, không thể vượt qua được, thậm chí tiếp tục duy trì những cái "đỉnh" này có thể dẫn tới thảm họa.
o Ô nhiễm môi trường và sử dụng đất đai lãng phí đã tới mức nguy hiểm, trong khi dân số tiếp tục tăng, ruộng đất ngày càng khan hiếm.
o Cơ cấu kinh tế lạc hậu và nhiều chính sách kinh tế - xã hội hiện nay chẳng những có thể lọai bỏ cơ may mà "cơ cấu dân số vàng" của chúng ta (tỷ lệ người trong tuổi lao động chiếm quá nửa hoặc gần gấp đôi số người sống phụ thuộc) có thể đem lại cho đất nước. Thậm chí "cơ cấu dân số vàng" này có thể biến thành mối đe dọa lớn vì nạn thất nghiệp và sự xuống cấp của xã hội đang trở nên nghiêm trọng.
o Hiện nay vì những yếu kém về nhiều mặt trong thu hút FDI, nước ta hàng năm phải tìm cách xuất khẩu một lượng lao động lớn, đang trở thành địa điểm cho nước ngoài thuê để làm ra các sản phẩm tiêu hao nhiều tài nguyên, năng lượng và gây ô nhiễm moi trường. Nói gắn gọn, nước ta về nhiều mặt thực chất đang là nước đi làm thuê và là đất nước cho thuê.
o Nhập siêu và thâm hụt ngân sách cứ tiếp tục như hiện này sẽ hứa hẹn những đổ vỡ lớn trong tầm tay.
o Càng nhiều đô thị hiện đại mọc lên do đầu tư nước ngoài, nhưng sự phát triển những mặt khác nếu không phát triển đồng bộ (nhất là luật pháp, năng lực hành chính, các chính sách kinh tế, các ngành dịch vụ, nguồn nhân lực, các ngành cung ứng...) thì sẽ hoặc là thất bại lớn, hoặc biến thành các dự án treo, thành đầu cơ đất đai và tạo ra nhiều nguy cơ khác nữa.
Xin đừng để những lời khen vàng ngọc của nước ngoài về "tính năng động", về "triển vọng tốt đẹp" của kinh tế Việt Nam, về "khả năng hấp dẫn" của thị trường Việt Nam, "Việt Nam là nền kinh tế đang lên", về vân vân... ru ngủ chúng ta.
Cứ cho những lời khen ấy là thực bụng, thì cũng đừng quên họ nhìn Việt Nam về nhiều mặt đang là thị trường tốt nhất để đưa tới những thứ họ đang muốn loại bỏ ở nước họ hoặc những thứ các nơi đang thừa ế và muốn tống khứ. Các dự án đóng tàu, dự án thép và xi-măng khổng lồ là những ví dụ tiêu biểu, chưa nói đến hàng trăm sân golf...
Càng phát triển, càng ách tắc
Tóm lại, tình hình phát triển kinh tế 25 năm qua cho thấy mô hình phát triển kinh tế theo chiều rộng đã đi trọn vòng đời của nó. Điều này thể hiện tập trung nhất ở chỉ số lạm phát và chỉ số ICOR của nền kinh tế nước ta trong những năm gần đây liên tục tăng cao và thuộc loại cao nhất ở châu Á, đồng thời lạm phát vượt xa mức tăng trưởng.
Nói nôm na đấy là hiện tượng: Tiền của công sức bỏ ra ngày càng nhiều, hiệu quả kinh tế thu được có tỷ lệ ngày càng thấp. Kéo dài tình trạng này sẽ kiệt sức.

Tăng trưởng GDP Tỷ lệ lạm phát Chỉ số ICOR
2006 8,17% 7,7% 5,0
2007 8,48 12,6 5,2
2008 6,23 19,89 (22,97)* 6,9
2009** 5,2 9,4

Nguồn: Tổng cục Thống kê *IMF & EIU **Dự báo
Càng phát triển, nền kinh tế càng tích tụ nhiều ách tắc hay mất cân đối mới. Những hiện tượng ách tắc này được đặt dưới cái tên gọi chung là những thắt cổ chai. Đó là những mất cân đối ngày càng gay gắt:
  • giữa khả năng đáp ứng của kết cấu hạ tầng và đòi hỏi phát triển của nền kinh tế; giữa sự phát triển yếu kém nguồn nhân lực và đòi hỏi của phát triển kinh tế - xã hội;
  • giữa khả năng quản trị quốc gia và đòi hỏi phát triển của đất nước trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập, tình trạng quan liêu và nạn tham nhũng, khả năng yếu kém trong thực thi pháp luật...;
  • đặc biệt là tình trạng nhập siêu và tình trạng thâm hụt ngân sách nghiêm trọng: Nhập siêu từ năm 2000 ngày càng lớn và được coi là ở mức báo động. Kể từ năm 1995 đến 2005, nhập siêu của Việt Nam luôn ở mức dưới 5 tỷ USD và ước khoảng 10% GDP; song đã tăng vọt lên trên 12 tỷ USD vào năm 2007 (gấp 2,4 lần so với năm 2006) và đến hết tháng 9/2008, tổng mức nhập siêu đã lên tới con số 15,8 tỷ USD (ước khoảng trên 20% GDP/năm)... Nếu phân tích các quốc gia ta nhập siêu, sẽ thấy bức tranh trầm trọng hơn (chủ yếu từ Trung Quốc và các nước châu Á - là các quốc gia có công nghệ thấp). Thâm hụt ngân sách từ năm 2000 trung bình là 5-6% GDP/năm, riêng năm 2009 dự kiến là 8% GDP/năm.
  • giữa một bên là năng lực và chất lượng trong việc hoạch định chính sách, chiến lược, quy hoạch phát triển.., và một bên là đòi hỏi phát triển mọi mặt đất nước.
Hệ quả lớn nhất của tình trạng càng phát triển càng tích tụ ngày càng nhiều ách tắc và mất cân đối lớn là hầu như cản trở mọi chiến lược hay chủ trương phát triển có tính dài hạn.
Mới dừng ở công nghiệp hóa "gặp gì làm nấy"
Nội dung công nghiệp hóa trên thực tế đã tiến hành 25 năm qua chủ yếu được xác định qua các chỉ số tăng trưởng đặt ra cho các kế hoạch 5 năm theo các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), thiếu hẳn việc xác định nội dung cụ thể công nghiệp hóa về một số ngành và sản phẩm kinh tế mà quá trình công nghiệp hóa phải từng bước giành được cho các thị trường ngách hoặc thị trường mới. Nói một cách khác đấy là cách hoạch định công cuộc công nghiệp hóa về mặt số lượng.
Việt Nam thiếu hẳn chiến lược, kế hoạch và các quy hoạch cụ thể phát triển kết cấu hạ tầng đi song song hoặc đi trước một bước mở đường cho sự tiến triển của công nghiệp hóa với nội dung khai thác thị trường ngách và chiếm thị trường mới.
Chúng ta cũng thiếu hẳn chiến lược phát triển nguồn nhân lực mà sự nghiệp công nghiệp hóa/ hiện đại hóa đất nước đòi hỏi, thậm chí có thể nói hệ thống giáo dục và chính sách phát triển nguồn nhân lực hiện nay là hoàn toàn bất cập, trực tiếp gia tăng sự tụt hậu của đất nước và để lại nhiều hệ quả lâu dài.
Ta chỉ đề ra yêu cầu chuyển đổi cơ cấu kinh tế và các chỉ số số lượng cần đạt được cho tỷ trọng các khu vực kinh tế (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ), song trong thực tế thiếu rất nhiều chính sách vĩ mô hỗ trợ quá trình chuyển đổi này, những chính sách vĩ mô hiện có không đáp ứng được đòi hỏi này. Các Đại hội đều phê phán là cơ cấu kinh tế chuyển đổi rất chậm, nhưng đến nay chưa có kế sách gì đảo ngược tình hình này.
Đặc biệt nghiêm trọng là các Đại hội Đảng đều thừa nhận cải cách chính trị không đi kịp với đòi hỏi của phát triển kinh tế và xã hội, do đó chẳng những không thúc đẩy mạnh mẽ quá trình công nghiệp hóa, không phát huy được cái mạnh và những thuận lợi của đất nước. Thậm chí, nó làm cho quá trình này chậm lại. Trong quá trình thực hiện, các kế hoạch 5 năm thường bị thiên lệch, biến tướng khá xa.
Nói ngắn gọn, cho đến nay mới chỉ có chủ trương hay mong muốn công nghiệp hóa với cái đích phải đạt được vào năm 2020; nghĩa là thiếu hẳn một chiến lược phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa đồng bộ, xuyên xuốt và có hiệu quả cho mục tiêu trở thành một nước công nghiệp hóa.
Tất cả những điều vừa trình bày toát lên một sự thật: Nước ta sau 25 năm trên thực tế vẫn chưa có một chiến lược công nghiệp hóa đúng với cái tên gọi của nó. Quá trình công nghiệp hóa cho đến nay diễn ra hầu như dưới dạng một chuỗi các kế hoạch 5 năm cộng lại, và rất khó nói rằng những kế hoạch 5 năm này được thiết kế theo một quan điểm chiến lược công nghiệp hóa xuyên xuốt.
Thực tế đã diễn ra chủ yếu là: tranh thủ làm được gì làm nấy, gặp gì làm nấy, không ít tình trạng chồng chéo, trùng lặp, giẫm đạp lên nhau - tỉnh anh có xi măng lò đứng, tỉnh tôi cũng có; tỉnh anh có nhà máy mía đường, tỉnh tôi không kém tỉnh anh; tỉnh anh có khu công nghiệp, tỉnh tôi cũng không thua...

Quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua chủ yếu do sự lôi kéo, sức đẩy và sự dẫn dắt tự thân của cuộc sống và tác động của đầu tư và dòng vốn từ bên ngoài, nhiều hơn là do sự thúc đẩy theo một hướng chiến lược được xác lập của hệ thống chính trị và do sự giác ngộ với tầm nhìn sắc bén của những người lãnh đạo.
Cần nói ngay, phát triển như thế đang tạo ra nguy cơ lệ thuộc (chứ không phải phụ thuộc lẫn nhau, cũng không phải "win-win") ngày càng nguy hiểm
Đổi mới thể chế chưa theo kịp đổi mới kinh tế
Hơn nữa, nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua chưa đặt ra vấn đề phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của nước ta là con người Việt Nam.
Các Đại hội Đảng nhấn mạnh coi con người là trung tâm, song lại hiểu vấn đề này chủ yếu theo những khía cạnh phát triển giáo dục, văn hóa, xã hội. Trên thực tế triển khai, chưa thể nói con người đã trở thành trung tâm của mọi chính sách phát triển kinh tế xã hội. Càng chưa thể nói con người là đối tượng trung tâm được phục vụ của mọi nỗ lực của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước.

Xin nhấn mạnh: quan điểm coi con người là trung tâm như vậy và quan điểm phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người cho sự nghiệp công nghiệp hóa là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau.
Có lẽ sự thiếu vắng một chiến lược công nghiệp hóa dựa trên phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất này của đất nước là một trong các tác nhân chính khiến cho quá trình và nội dung công nghiệp hóa 25 năm qua nặng về chạy theo số lượng, chứ không phải là chất lượng.

Sự thiếu vắng quan điểm chiến lược cực kỳ hệ trọng này đã xô đẩy quá trình công nghiệp hóa chủ yếu chạy theo số lượng rất khó cưỡng lại; qua đó công nghiệp hóa rơi vào tình trạng bước trước không chuẩn bị được bao nhiêu cho bước tiếp theo, càng phát triển cơ cấu kinh tế càng khó chuyển dịch. Tình trạng này đồng thời cũng tăng thêm sự hụt hẫng và trì trệ trong đổi mới thể chế chính trị - xã hội theo yêu cầu phát huy thế mạnh và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.
"Lời nguyền tài nguyên"
Càng phát triển, quá trình công nghiệp hóa 25 năm qua có khuynh hướng càng đi sâu vào kinh tế thượng nguồn: khai thác khoáng sản và các tài nguyên thiên nhiên khác, phát triển sản phẩm thô, giá trị gia tăng rất thấp, duy trì công nghệ lạc hậu, cái giá phải trả cho hủy hoại môi trường tự nhiên và môi trường xã hội rất cao...
Đặc biệt là trong các "nền kinh tế GDP tỉnh", hầu như tất cả các tỉnh có khoáng sản và tài nguyên thiên nhiên thì đều coi đấy là thế mạnh của mình và ra sức khai thác bừa bãi; có nơi Thủ tướng đã phải ra lệnh đình chỉ.
Phát triển kinh tế thượng nguồn là điều khó tránh khỏi ban đầu đối với một nước nghèo và lạc hậu. Song sai lầm là ở chỗ muốn lấy phát triển kinh tế thượng nguồn làm cú hích và nguồn tích tụ vốn cho công nghiệp hóa, thậm chí coi kinh tế thượng nguồn là một nội dung quan trọng của công nghiệp hóa, tại nhiều vùng trong nước đã và đang xảy ra phát triển kinh tế thượng nguồn với bất kỳ giá nào.
Cũng phải nói rõ thêm, nhiều tỉnh bí quá không biết làm gì thì bóc rừng và bóc khoáng sản để lãnh đạo tỉnh "thi đua" trong việc tạo thành tích thay đổi tỷ trọng cơ cấu trong "nền kinh tế GDP tỉnh" của mình, nhân dân tại chỗ chịu thêm nhiều thiệt hại và nhà nước hầu như không được lợi gì song trên mặt nhiều báo cáo lại được coi đây là thành tích!
Hạch toán chung của phát triển kinh tế thượng nguồn theo kiểu như vậy trong 25 năm qua là lợi bất cập hại, cái giá phải trả cho phát triển quá đắt so với mức tiến bộ đạt được, tiếp tục ghìm giữ đất nước trong vòng lạc hậu cả về kinh tế, chính trị, xã hội. Chính điều này góp phần giải thích tại sao 25 năm ban đầu của nước ta đi chậm hơn 25 năm đầu của các NICs như Hàn Quốc và Đài Loan, thậm chí đang thúc đẩy đất nước rẽ vào ngả đường trở thành một Philippines mới!
Trên thế giới người ta gọi hiện tượng này là căn bệnh Hà Lan hay là "lời nguyền của tài nguyên", giải thích căn nguyên hàng chục năm qua lấy xuất khẩu tài nguyên làm nguồn thu nhập quan trọng song hiện nay vẫn ở trong vòng lạc hậu - đấy chính là căn bệnh kinh tế Hà Lan đã mắc phải năm 1977, khi quá chú trọng xuất khẩu khí thiên nhiên và qua đó làm trì trệ và suy sụp nhiều ngành kinh tế khác, Hà Lan buộc phải thay đổi chiến lược phát triển của mình để tìm lối thoát.

Hãy thử xem xét một số vấn đề:

Các xí nghiệp xi-măng, luyện thép đã có, đang xây dựng, hoặc đã được cấp phép xây dựng sẽ dẫn tới tình hình nước ta vào năm 2020 thừa khoảng một chục triệu tấn xi măng/năm và khoảng 20 triệu tấn thép/năm trong tình trạng đất nước ngày càng thiếu năng lượng gay gắt. Phải chăng mục tiêu công nghiệp hóa của nước ta như vậy là để trở thành cường quốc xi-măng và thép trong thế kỷ 21 này?
Nếu điều này xảy ra, chắc chắn là một thảm họa cho đất nước - trước hết vì cảnh quan môi trường tự nhiên của đất nước sẽ bị "mặt trăng hóa" nhiều vùng, kinh tế nước ta sẽ đổ vỡ, vì bị xi-măng và thép không có khả năng cạnh tranh của chúng ta đè bẹp..
Vào năm 2015 trở đi, nước ta sẽ thiếu năng lượng trầm trọng và phải nhập khẩu, trong khi đó xuất khẩu than và dầu của nước ta xuốt 25 năm qua hầu như bỏ qua tương lai của đất nước! Phát triển thủy điện đã vượt qua cái ngưỡng cho phép.
Trong khi đó nhà nước lại thiếu hẳn việc nghiêm khắc rà xoát, đánh giá lại chính sách năng lượng quốc gia hiện nay, thiếu hẳn những nỗ lực xử lý nghiêm khắc và khắc phục tình trạng lãng phí và thất thoát năng lượng quá lớn đang diễn ra hàng chục năm nay.
Nếu đánh giá nghiêm túc chi phí/lợi ích (cost/benefit), bao gồm cả những việc như chi phí cho khắc phục những tác động ngoại vi của việc khai thác than, hoàn trả môi trưởng tự nhiên nơi khai thác, sự thất thoát hàng chục triệu tấn than lậu/năm, sự tàn phá môi trường tự nhiên trong vùng, đánh giá cái được và cái mất so với đòi hỏi của chiến lược năng lượng quốc gia, vân... vân... khó có thể coi việc khai thác mỗi năm khối lượng càng lớn than ở Quảng Ninh là môt thành tựu kinh tế.
Đúng hơn nên coi đó là một thất bại kinh tế lớn và một sai lầm về chiến lược năng lượng - không phải do chủ trương khai thác than, mà do năng lực quản lý và hiệu quả kinh tế yếu kém; đặc biệt quan trọng là do thiếu hẳn một chiến lược năng lượng quốc gia được xác định với những luận chứng vững chắc làm cơ sở cho việc khai thác. Thậm chí còn có thể coi việc khai thác than Quảng Ninh trong khi đất nước ngày càng khan hiếm năng lượng là một trong các ví dụ rõ nét nhất của tình trạng "bóc ngắn cắn dài", các thế hệ tương lai phải trả giá! Trong cả nước còn có nhiều công trình khai thác titan, khai thác đồng, khai thác các khoáng sản khác để xuất khẩu nguyên liệu với hệ quả xấu tương tự
Rừng phòng hộ và rừng tự nhiên ngày càng bị trọc hóa và chỉ còn lại rất ít; đặc biệt là rừng đầu nguồn đã rất ít mà còn đang tiếp tục bị xâm phạm nghiêm trọng. Lũ lụt ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn và khó khắc phục hơn. Đất đai bị xói mòn và sa mạc hóa cùng với tình trạng chất lượng thổ nhưỡng ngày càng xuống cấp đang gia tăng với tốc độ rất đáng lo ngại.
Xin hãy đến tận nơi các khu khai thác này, dù là titan ở dọc bờ biển miền Trung, dù là những cánh rừng nham nhở do khai thác quặng sắt ở Lào Cai để xuất khẩu sang Trung Quốc, các vùng khai thác vàng bừa bãi ở Bắc Kạn, Quảng Nam, Bình Thuận... - mà chủ yếu là khai thác lậu, những dòng sông chết, những con sông bị đổi dòng và đôi bờ sụt lở do bán cát, những cánh đồng hoang do các dự án treo... để nhìn tận mắt thực trạng này.
Xin hãy đối chiếu thực tế nêu trên với quan điểm ghi trong nghị quyết Đại hội X: "Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế như lọc hóa dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hóa chất, xi-măng, khai thác bô-xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng và một số sản phẩm cơ khí chế tạo" (Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc khóa X, trang 197-198).
Học từ sai lầm của những nước đi trước
Việt Nam là nước đi sau, có rất nhiều cái bất lợi và cái lợi phải xử lý thỏa đáng - điều này có nghĩa phải tìm ra con đường riêng của mình để không phải lặp lại những sai lầm của các nước đi trước, tránh các nguy cơ trở thành "bãi thải công nghiệp" của các nước khác, đồng thời tìm ra cho mình con đường thuận lợi hơn.
Thị trường thường chật cứng đối với nước đi sau - vì vậy phải khai thác lợi thế nước đi sau trong việc chiếm lĩnh các thị trường ngách (các "niches"), mà muốn thế phải có các chính sách kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và chính sách đối ngoại cho phép liên kết, chiếm lĩnh những khâu nào đó của các chuỗi cung - ứng trên thị trường thế giới để có khả năng khai thác tốt nhất các thị trường ngách. Công nghiệp hóa vì vậy cần có trọng tâm là chú trọng, tranh thủ khai thác các thị trường ngách, đồng thời tìm đường chiếm lĩnh thị trường mới;.
Hiển nhiên 25 năm qua những đòi hỏi này không được đặt ra hoặc không được đặt ra một cách đúng tầm để phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa của nước ta.

Xây chế độ chính trị đồng nghĩa với Tổ quốc

Chế độ chính trị của đất nước phải như thế nào để người dân gắn kết sống chết với nó bằng tất cả nhiệt huyết yêu nước của mình. Xây dựng một chế độ chính trị đồng nghĩa với tổ quốc là điều nhất thiết phải hướng tới.
LTS: Trong phần trước, Nguyễn Trung bàn về những khuyết tật của mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều rộng, dẫn tới nguy cơ Việt Nam trở thành đất nước làm thuê và cho thuê. Từ đó, ông kết luận: Chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu là mệnh lệnh sống còn bởi vì mọi yếu tố cho phát triển theo chiều rộng đã tới giới hạn chịu đựng cuối cùng.
Ở phần này, Nguyễn Trung đưa ra những khuyến nghị về chuyển đổi mô hình phát triển theo chiều sâu. Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, trong đó có những vấn đề cần được tranh luận, làm sáng tỏ thêm. Mời độc giả cùng tranh luận.
Phần trước:
Không phải là con người công cụ!
Với tất cả những yếu tố đã phân tích trong phần trước, việc chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu là đòi hỏi tất yếu. Việc chuyển giai đoạn phát triển một cách có ý thức như vậy là một nhiệm vụ cực kỳ khó khăn và gian khổ. Hơn lúc nào hết phải huy động trí tuệ cả nước, kinh nghiệm của thế giới, sự quyết tâm một lòng một dạ của toàn dân, và sự tận tụy, trung thành tuyệt đối của hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước đối với lợi ích quốc gia để có thể thực hiện thành công nhiệm vụ sinh tử này với cái giá phải trả thấp nhất.
Dưới đây chỉ nêu lên một vài gợi ý ban đầu và rất sơ lược.
Một là, nói chuyển sang giai đoạn phát triển theo chiều sâu, trước hết là nói đến phát triển chủ yếu dựa trên cơ sở phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người, là phát triển rất chú trọng đến chất lượng.
Đặt vấn đề như vậy, có nghĩa là thay đổi căn bản quan điểm hiện có về chiến lược phát triển.
Con người được nói tới ở đây vừa là chủ của chính bản thân mình, là chủ của đất nước, vừa chính mình trực tiếp là lực lượng sản xuất quyết định nhất. Câu hỏi đặt ra ngay tức khắc là thể chế luật pháp nào, hệ thống giáo dục nào, khung khổ xã hội nào, và những chính sách phát triển kinh tế - chính trị - xã hội nào cần phải có để có thể tạo ra được và tiếp tục phát triển được con người như thế.
Bao trùm lên tất cả là phải duy dưỡng và xây dựng những giá trị nào làm nền tảng đạo đức, tinh thần và tâm hồn của con người với tính cách như thế - con người của hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, chứ không phải là con người công cụ.
Câu trả lời nếu tìm được, trước hết sẽ có nghĩa phải sẵn sàng và chấp nhận triệt để nhiều thay đổi căn bản trong thể chế chính trị và trong hệ thống quản lý đất nước, cũng như trong tìm tòi và thiết kế các chính sách phát triển đất nước.
Câu trả lời nếu tìm được, thì những công việc phải làm do nó đề ra không thể là những công việc một sớm một chiều, mà phải là một quá trình cải cách và phát triển liên tục, lâu dài, có các bước trước - sau và đồng bộ.

Cho đến nay, có không ít các nghị quyết của Đảng nói về phát triển con người, đề ra được rất nhiều vấn đề quan trọng không thể thiếu được, song hình như vẫn chưa đụng tới được cái gốc: con người vừa là chủ bản thân và là chủ của đất nước, vừa là lực lượng sản xuất quyết định nhất, là con người hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, không phải là con người công cụ.
Phải chăng chính vì lẽ này các nghị quyết như thế không thực thi được bao nhiêu?
Nói bao nhiêu cũng không xuể về chủ đề con người này, song nhất thiết cần nhấn mạnh chế độ chính trị của đất nước phải như thế nào để người dân gắn kết sống chết với nó bằng tất cả nhiệt huyết yêu nước của mình.
Xây dựng một chế độ chính trị đồng nghĩa với tổ quốc là điều nhất thiết phải hướng tới. Không có điều kiện này, ước mơ sẽ trở thành một nước công nghiệp hóa theo hướng hiện đại đủ sức ganh đua với thiên hạ mãi mãi sẽ chỉ là ước mơ.
Khoa học và chân lý phải có tiếng nói quyết định
Đặt vấn đề như nêu trên là khởi điểm và đồng thời cũng là nền tảng để đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ của thời đại ngày nay trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp.
Quan điểm này không mới, chiếm vị trí quan trọng trong rất nhiều nghị quyết và chính sách của Đảng và Nhà nước. Suốt 25 năm qua công sức và ngân sách bỏ ra cho mục tiêu này không ít. Song kết quả cuối là chỉ đạt được hàm lượng khoa học và công nghệ thấp trong sản phẩm làm ra, trong chất lượng các chủ trương chính sách, trong luật pháp, trong quy hoạch phát triển, trong các quyết định chiến lược, quyết sách.., cũng như trong bộ máy làm việc của toàn bộ hệ thống chính trị nói chung và của hệ thống nhà nước nói riêng...
Kết quả cuối cùng còn là sự lãng phí rất to lớn về tiền của, công sức và thời gian. Tham nhũng trong đầu tư cho khoa học và công nghệ không thể nói là nhỏ, càng không nhỏ đối với một nước nghèo như nước ta.
Nhiều phê bình trong nước và từ nước ngoài nói khâu "R&D" ("nghiên cứu & triển khai) của nước ta rất kém. Nhận xét này đúng nhưng không đầy đủ, bởi vì nhận xét này không nói lên được nguyên nhân chính của tình trạng này là chưa có con người và thể chế phải có; thậm chí nhận xét này còn bị hiểu thiên lệch là ta làm "R&D" chưa giỏi và vì ta nghèo!
Tình trạng "hàm lượng thấp" như vừa nêu trên còn do một nguyên nhân chính trị rất quan trọng: ý chí chính trị chứ không phải khoa học và chân lý có tiếng nói quyết định.
Cải cách giáo dục và đào tạo cần bắt đầu từ chỗ không nói dối
Chuyển sang giai đoạn phát triển mới nhất thiết phải cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo.
Đòi hỏi phải cải cách hệ thống giáo dục và đào tạo hầu như được sự nhất trí rộng rãi trong cả nước. Vấn đề còn đang tranh cãi là cải cách theo hướng nào, tiêu chí nào. Đề nghị trực tiếp tham khảo ý kiến các bên hữu quan để có sự đánh giá riêng của mỗi người và cùng nhau tranh luận cho sự lựa chọn phương án tối ưu nhất cho đất nước.
Phương án cải cách định lựa chọn nhất thiết phải tuân thủ mục tiêu đào tạo, hình thành và phát huy con người hành động theo tư duy của tự do và sáng tạo, không phải là con người công cụ.
Sự nghiệp cải cách này cũng phải tiến hành từng bước và liên tục với một kế hoạch được thiết kế sao cho có thể vừa đáp ứng ngay những đòi hỏi bức xúc của phát triển và vừa phục vụ cho sự phát triển lâu dài và bền vững của đất nước. Cải cách như thế sẽ là sự nghiệp của cả thập kỷ 2020 và sau nữa, phải rất triệt để, nhưng cũng không thể nóng vội được.
Chỉ xin lưu ý, nhiệm vụ này là của cả nước chứ không thể chỉ là của riêng ngành giáo dục và đào tạo, bởi vì tính chất cải cách giáo dục và đào tạo bao gồm và liên quan trực tiếp đến nhiều lĩnh vực khác của toàn bộ đời sống đất nước. Nói một ví dụ đơn giản là không thể tiến hành cải cách này trong tình hình còn đầy rãy những hiện tượng bằng thật không ăn nhằm gì và có quá nhiều trường hợp là bị thải loại và thua bằng giả.
Thực tế tại các quốc gia cũng cho thấy không thể tiến hành cải cách này một cách đích thực nếu thể chế chính trị và xã hội của quốc gia ấy chịu khuất phục những giá trị ngược lại với những mục tiêu một nền giáo dục và đào tạo tiên tiến phải theo đuổi.
Điều xin đặc biệt nhấn mạnh là cải cách giáo dục và đào tạo thành công trong thập kỷ 2020, sẽ quyết định tương lai của đất nước trong thế kỷ 21, chứ không phải sự nghiệp công nghiệp hóa như đang làm. Thậm chí có thể nói sự nghiệp cải cách giáo dục và đào tạo cần bắt đầu từ chỗ không nói dối!
Đổi mục tiêu và cơ cấu kinh tế
Đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Đây là một quá trình đau đớn, gian khổ, nhưng tất yếu phải làm.
Những vấn đề nêu trong các điểm bên trên đã nêu ra được một số nguyên nhân, nhưng chắc chắn chưa đủ. Cần nghiên cứu công phu để tìm ra giải pháp.
Trước mắt nên bỏ cách tư duy "kinh tế GDP" tỉnh, tạm thời đặt sang một bên vấn đề tỷ trọng các khu vực kinh tế trong phạm vi tỉnh để đánh giá tỉnh đó tiến bộ hay thụt lùi, mà nên đo lường bằng kết quả thu nhập của người dân, chất lượng cuộc sống của họ, khả năng cạnh tranh đích thực của các sản phẩm của tỉnh, kết quả cạnh tranh đạt được, chuyển đổi cơ cấu đầu tư theo hướng tập trung vào các sản phẩm tỉnh có lợi thế nhất, chuẩn bị cho những sản phẩm mới tỉnh có lợi thế lớn; ở cấp quốc gia cũng phải làm như vậy.
Quan điểm và khái niệm về công nghiệp hóa như đang có cũng phải xem lại, trong đó nông nghiệp cần được hiểu và phải hướng tới là một nền nông nghiệp của tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại - đặc biệt là công nghệ sinh học và bảo tồn sinh thái; một nền nông nghiệp như thế phải chiếm một vai trò quan trọng (chứ không phải các tỷ lệ số học) trong chiến lược công nghiệp hóa như đã được xới lên ở trên.
Hoàn thiện thị trường để tăng chất lượng các tín hiệu thu được cần thiết cho các quyết sách; đồng thời cần tạo ra những hậu thuẫn (chứ không phải bao cấp) có thể cung cấp từ phía nhà nước, cộng đồng và doanh nghiệp cho việc làm ra một sản phẩm mới cũng như cho việc thải loại một sản phẩm dứt khoát phải chia tay, nhất là những hậu thuẫn cho việc thu hẹp kinh tế thượng nguồn.
Hàm lượng công nghệ được đưa vào, khả năng hướng tới nền kinh tế carbon thấp, khả năng cạnh tranh, khả năng chiếm lĩnh các thị trường "ngách", khả năng chiếm lĩnh chỗ đứng trong các chuỗi cung - ứng trên thị trường thế giới, khả năng hướng tới kinh tế trí thức... đó là các tiêu chí và cơ sở cho việc đề ra các chính sách và biện pháp chuyển dịch cơ cấu kinh tế; tất cả cần luôn luôn chú ý đến cái lợi và bất lợi của nước đi sau (khai thác lợi thế nước đi sau), tất cả luôn luôn nhằm vào cái đích dần dần tạo ra một nền kinh tế chủ yếu dựa vào phát huy lợi thế và nguồn lực lớn nhất của đất nước là con người.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải ưu tiên nâng cao khả năng cạnh tranh nhằm chiếm lĩnh và mở rộng thị trường nội địa còn rất rộng lớn của nước ta cho sản phẩm của ta, đảo ngược hẳn tình hình thị trường nội địa nước ta hiện đang bị sản phẩm nước ngoài nắm giữ phần lớn. Đòi hỏi này hoàn toàn không có gì liên quan đến tư duy "tự cung tự cấp" hoặc "thay thế nhập khẩu", bởi lẽ nước ta đã hội nhập kinh tế thế giới và thị trường nước ta là thị trường mở.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế phải đặc biệt chú ý tạo ra khả năng mở rộng thị phần và chiếm thêm các "thị trường ngách" của các nước trên thế giới trong tình hình các nước đều phải tiến hành điều chỉnh kinh tế của họ theo hướng phải quan tâm nhiều hơn nữa đến thị trường nội địa của họ. Cơ cấu các mặt hàng xuất khẩu của nước ta hiện nay vẫn đang có nhiều lợi thế lớn, song phải nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và dịch vụ mới có thể phát huy được trong tình hình mới.
Thậm chí nếu cần thiết, tạm thời chấp nhận chỉ số tăng trưởng có thể thấp trong một số năm nhất định, nếu quá trình chuyển dịch cơ cấu đem lại chất lượng tăng trưởng tốt hơn và mở đường cho sự phát triển năng động hơn tiếp theo.
Có lẽ không nên bám lấy mục tiêu hoàn thành công nghiệp hóa vào năm 2020 với bất cứ giá nào, vì điều này vừa không hiện thực, vừa trở nên không quan trọng nữa, thậm chí nếu năm 2020 trở thành cường quốc xi-măng và thép thì rất nguy hiểm. Mục tiêu chiến lược nên chọn là vào năm 2020 sẽ hoàn thành việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế nước ta theo nội dung đã trình bầy trên, để kinh tế nước ta từ 2020 sẽ bước hẳn vào thời kỳ phát triển theo chiều sâu.
Ngay khi cả nước đã thống nhất được ý chí, có quyết tâm lớn, hoạch định được các bước đi cho sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế với tinh thần như vậy, công việc phải làm cho 10 năm tới rất nhiều và diễn ra trong mọi lĩnh vực của cuộc sống đất nước, sẽ đầy khó khăn gian khổ, không có trí tuệ và nỗ lực cao nhất sẽ không hoàn thành nổi! Chắc chắn sẽ có những vấp ngã mới - nhưng đấy sẽ là những vấp ngã trên đường đi lên.
Nếu từ nay đến năm 2020 mà thực hiện được mục tiêu chuyển dịch này, thì cần phải coi đó là một thành tựu kì diệu có tính bước ngoặt như đổi mới năm 1986 - vì nó mở ra cho đất nước một giai đoạn phát triển mới.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế để đưa đất nước vào một giai đoạn phát triển mới như thế rõ ràng là một quá trình chuyển dịch tổng thể kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của đất nước để đi vào giai đoạn phát triển mới cao hơn.
---
Trọng trách trên vai Đảng
Nhìn lại, yếu tố nổi bật nhất của 25 năm đổi mới là dân chủ. Có thể nói thừa nhận đổi mới là kết quả của thừa nhận dân chủ; rồi đến thành tựu đạt được của đổi mới trước hết là nhờ dân chủ: trí tuệ và nguồn lực được cởi trói, được phát huy - từ cơ chế bao cấp chuyển sang cơ chế kinh tế thị trường.
Cũng là một sự thật, thành tựu bậc nhất ấy của đổi mới còn bị xem là một nguy cơ của diễn biến hòa bình, vì thế 25 năm qua có không ít khó khăn, đôi khi bị kìm hãm. Đi vào giai đoạn phát triển mới của đất nước, phải thẳn thắn đối mặt với sự thật này.
Tập đoàn kinh tế nhà nước yếu kém, nền "kinh tế GDP tỉnh" và "tư tưởng nhiệm kỳ" - đấy là 3 nhân tố quyện lại với nhau lũng đoạn nghiêm trọng nhất kinh tế đất nước, hệ thống chính trị và bộ máy nhà nước. Đồng thời 3 yếu tố này và tác động cộng hưởng của chúng cũng là những tác nhân trực tiếp băng hoại nhiều nhất những giá trị cần gìn giữ, là mảnh đất mầu mỡ của mọi tha hóa. Giai đoạn phát triển mới của đất nước đòi hỏi phải khắc phục được những yếu kém này.
Đất nước bước vào thập kỷ 2011 - 2020 với Đại hội XI của Đảng Cộng Sản Việt Nam, đảng cầm quyền và lãnh đạo đất nước. Tình hình, nhiệm vụ, thách thức đất nước sẽ đối mặt trong thập kỷ 20 này chắc chắn sẽ đặt lên vai Đảng trọng trách rất lớn và sự thử thách quyết liệt.

Tổng số lượt xem trang