Tháng 9, CPI "xé rào" (Toquoc)-Đúng như nhận định của các chuyên gia vào cuối tháng trước, (CPI) tháng 9 đã “xé rào”.--- Lạm phát tăng nhanh trong tháng Chín: Vietnam Annual Inflation Quickens In September (RTT News)
- Trần Đức Nguyên, cựu thành viên Ban nghiên cứu của Thủ tướng Khải (đã được TT Dũng giải tán), Viện Nghiên cứu Phát triển (đã tự giải tán): Không thể bỏ qua thực tế (Tuần VN/TBKTSG) Nền kinh tế nước ta trong quá trình đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu lớn, chính là bắt nguồn từ sự giải thoát một bước tư duy khỏi những giáo điều từng được coi là nguyên lý của chủ nghĩa Mác-Lênin về kinh tế xã hội chủ nghĩa như xoá bỏ tư hữu, phủ nhận kinh tế thị trường, ưu tiên công nghiệp nặng một cách máy móc...
- Nên đưa thiệt hại từ giao thông, ô nhiễm vào GDP (PLTP).
- Một cửa điện tử vẫn chưa “diệt” được “cửa sau” (Tuần VN/ICT)
- DN có vốn đầu tư nước ngoài : Cảnh giác khi thuê đại lý thủ tục hải quan (Diễn đàn DN). – Kế hoạch xuất khẩu dệt may 2010 : Ba trở ngại lớn.
- Vietnam Must Address Concern Dong May Slide, IMF’s Benedict Bingham Says (Bloomberg)
- Bà thống đốc tiếp thị khoai tây (Tuổi trẻ).
- Trật tự nào cho thế giới? (VOV).Suy thoái kinh tế hay suy thoái địa chính trị? Tác giả: Đình Ngân (theo syndicate)
(VNR500) - Thông tin Trung Quốc vượt Nhật trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới không hề quá bất ngờ với nhiều người. Đây là kết quả địa chính trị lớn sau cuộc Đại suy thoái đầu thế kỷ 21 này - cuộc khủng hoảng đem đến cả niềm hy vọng kinh tế và nỗi sợ hãi về chính trị.
Bài viết dưới đây của GS. Harold James - GS sử học và quan hệ quốc tế tại Đại học Princeton và Viện đại học châu Âu, Florence.
Trước hết, tin tốt lành về khía cạnh kinh tế. Cách ứng phó của Trung Quốc đối với cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới này vẫn là động cơ chính lý giải tại sao những rắc rối tài chính bắt nguồn từ cuộc thác loạn cho vay dưới chuẩn của Mỹ không phá hủy toàn bộ nền kinh tế toàn cầu và dẫn tới lặp lại Đại suy thoái năm 1930.
Trong một phân tích nổi tiếng về Đại suy thoái, sử gia kinh tế Charles Kindleberger lý giải, suy thoái khởi sinh từ thất bại của các nước lãnh đạo thế giới. Anh là siêu cường của thế kỷ 19, nhưng vị thế chủ nợ đã bị xói mòn nghiêm trọng do chi phí tốn kém của cuộc chiến tranh thế giới thứ nhất.
Mỹ cũng vượt lên sau cuộc chiến, trở thành chủ nợ lớn nhất thế giới, nhưng lại trở nên dễ tổn thương gấp đôi. Hệ thống tài chính của nước này thiếu ổn định và dễ gây hoảng loạn, còn hệ thống chính trị còn chưa đủ trưởng thành, dễ ngả theo chủ nghĩa dân túy và vị kỷ, đối xử phân biệt với người nhập cư.
Khi diễn ra Đại suy thoái, theo Kindleberger, Mỹ lẽ ra nên tạo thị trường mở đối với hàng hóa nước ngoài. Nhưng thay vào đó, Luật thuế quan Smoot-Hawley (ký ngày 17/6/1930) đã đóng cửa thị trường Mỹ, vô tình khuyến khích những nước khác leo thang các biện pháp trả đũa thương mại.
Các thể chế tài chính Mỹ lẽ ra nên tiếp tục cho những người đi vay khốn cùng vay tiền, ngăn chặn kịp thời vòng xoáy ở đó tín dụng eo hẹp khiến giá cả sụt giảm và làm trầm trọng thêm vấn đề giảm phát toàn cầu. Thế nhưng, các ngân hàng Mỹ, vốn vẫn bị cho là gây ra cuộc bùng nổ vay mượn toàn cầu trước khi quả bóng xì hơi, lại sợ hãi và yếu đuối đến mức gần như làm ngừng hẳn dòng lưu thông tín dụng của Mỹ.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, là nhân vật đứng đầu phụ trách phát triển kế hoạch Marshall, Kindleberger, kêu gọi áp dụng những bài học này: Mỹ nên mở cửa thị trường và dòng vốn để hỗ trợ các nước khác.

Nhưng thế kỷ 21 giờ đã đầy khác biệt. Có vẻ như các nhà lãnh đạo Trung Quốc chính là những học sinh xuất sắc trong khóa học của Kindleberger.
Trong suốt cuộc khủng hoảng, nền kinh tế Trung Quốc vẫn tăng trưởng ấn tượng, một phần là kết quả của gói kích thích kinh tế khổng lồ. Khi ai đó muốn một ví dụ về tính hiệu quả của chiến lược chống chu kỳ của Keynes, trên phương diện quốc tế cũng như trong nước, họ không cần phải nhìn đâu xa ngoài gói kích thích bốn nghìn tỷ nhân dân tệ của Trung Quốc trong năm 2008-2009.
Ngoài giai đoạn kéo dài sáu tháng sau sự sụp đổ của Lehman Brothers tháng 9/2008, khi tài chính thương mại tưởng như đã ngừng hẳn và thế giới tiến gần tới tình huống Đại suy thoái, Trung Quốc và các thị trường mới nổi khác đã giúp những nền kinh tế công nghiệp định hướng xuất khẩu phục hồi.
Sức mạnh bất ngờ của nền kinh tế Đức, với tăng trưởng cao nhất trong 15 năm qua, không phải chỉ với sản phẩm đầu tư, sản phẩm kỹ thuật, và công cụ máy móc, mà còn cả những hàng hóa xa xỉ. Các nhà sản xuất xe hơi sang trọng của Đức đang vận hành với 100% công suất.
Trung Quốc cũng đã làm theo những bài học tài chính của Kindleberger. Có lúc, cảm giác như một cuộc khủng hoảng lan truyền, do nỗi lo nợ nần quá mức của chính phủ chi phối, sẽ phá hủy khối mong manh (về chính trị) mà các nước châu Âu đã thận trọng xây dựng trong trong cả 50 năm.
Bước ngoặt xảy đến đối với đồng euro mùa xuân này khi những nước nắm dự trữ ngoại tế lớn có tín hiệu muốn mua vào đồng euro để dự trữ thay thế cho đồng đôla Mỹ đang ngày càng có vấn đề và đồng yen nhiều tổn thương không kém.
Trung Quốc đã bắt đầu mua trái phiếu chính phủ của Liên minh châu Âu, và một số nhân vật có tiếng của Trung Quốc thậm chí còn tới hẳn Hy Lạp để mua tài sản "hạ giá".
Không phải chỉ châu Âu được hưởng lợi từ việc Trung Quốc sẵn sàng đảm nhận vai trò của "người cho vay cuối cùng". Sự năng động mới đây của các nền kinh tế châu Phi cũng là hệ quả tất yếu từ "công cuộc" tìm kiếm nguồn nguyên liệu thô của Trung Quốc.
Nhưng cũng có vấn đề trong lý luận của Kindleberger. Đóng góp của Trung Quốc vào nền kinh tế thế giới chỉ được cảm nhận xa rất xa bên ngoài Trung Quốc. Theo nghĩa đó, có sự tương đồng với câu chuyện của Mỹ, khi sự lãnh đạo của nước này được cảm nhận tích cực ở châu Âu hơn là ở Canada, Mexico, hay Trung Mỹ. Từ đầu thế kỷ 20, người Mexico đã bắt đầu thấy lo ngại trước sức mạnh Mỹ.
Nhưng Mỹ đã dần gây dựng được lòng tin thông qua các thể chế đa phương. Châu Âu cũng dễ dàng hòa giải với láng giềng sau chiến tranh thế giới thứ hai, một phần vì tình trạng tồi tệ sau sự thống trị của phát xít Đức khiến người ta chỉ bàn về quá khứ trên khía cạnh đạo đức thay vì chính trị quyền lực.
Ngược lại với sự tham gia của Mỹ vào chủ nghĩa đa phương, hay cách tìm kiếm hòa giải của châu Âu thông qua vô số các thể chế chung, chính trị quyền lực vẫn là một phần di sản thế kỷ 20 của châu Á. Thách thức thực tế của các nhà lãnh đạo Trung Quốc là phải làm sao để phát triển một quan điểm thống nhất về thế giới mà không làm các bên khác phải lo sợ.
“Độc nhất vô nhị” cách Trung Quốc đầu tư nước ngoài
Hầu hết các nhà đầu tư Trung Quốc đều không có bất kỳ lợi thế nào về mặt công nghệ và quản lý.
Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài (ODI) của Trung Quốc tăng mạnh trong những năm gần đây. Năm 2009, tổng ODI của Trung Quốc (vào gần 180 quốc gia) đạt 48 tỷ USD, đưa nước này lên đứng thứ sáu về cung cấp ODI toàn cầu. Theo Bắc Kinh, ODI của Trung Quốc có thể vượt ngưỡng 100 tỷ USD vào năm 2013, với tổng vốn ODI qua các năm lên tới 500 tỷ USD.
Trong khi ODI của Trung Quốc tăng trưởng nhanh chóng, thống nhất với vai trò ngày một lớn của nước này trong nền kinh tế toàn cầu, quy mô vốn đầu tư vẫn là hiện tượng độc nhất khi đem so sánh với kinh nghiệm quốc tế trước đây. Tất cả các đối tượng lớn "được" nhận ODI của Trung Quốc, như Mỹ, Anh, Nhật Bản, Đức và Pháp, đều là những nền kinh tế phát triển: giàu về thu nhập, dồi dào về vốn, hiện đại về công nghệ và quản lý. Ngược lại, Trung Quốc chỉ xếp khoảng thứ 100 thế giới về GDP đầu người, theo số liệu của IMF.
Nhà kinh tế học người Nhật nổi tiếng Kiyoshi Kojima từng đưa ra cách phân biệt mô hình Mỹ và mô hình Nhật Bản dựa trên ODI. Theo Kojima, mục đính chính Mỹ thực hiện ODI là tìm kiếm khả năng tiếp cận thị trường nước ngoài, còn với Nhật, ODI là để tận dụng chi phí sản xuất rẻ hơn ở nước ngoài. Nhưng cả hai loại này đều có một điểm chung: nước đầu tư có những lợi thế rõ ràng về công nghệ và quản lý.

ODI của Trung Quốc thể hiện một số điểm rất khác biệt, chủ yếu tập trung vào ba lĩnh vực chính: (1) ngành dịch vụ: phần lớn khoản đầu tư đều nhằm tạo thuận lợi cho xuất khẩu, (2) ngành tài nguyên: mục tiêu dài hạn của Trung Quốc là đảm bảo ổn định nguồn cung tài nguyên; và thứ (3) ngành chế tạo công nghệ cao: Trung Quốc muốn tiếp thu công nghệ và kỹ năng quản lý thông qua đầu tư.
Rõ ràng, kiểu đầu tư đặc biệt này không nhằm dịch chuyển sản xuất ra nước ngoài - mà nhằm đẩy mạnh sản xuất trong nước. Và hầu hết các nhà đầu tư đều không có bất kỳ lợi thế về mặt công nghệ và quản lý.
Có thể còn quá sớm để kết luận về kiểu ODI đậm chất riêng của Trung Quốc, nhưng có thể thấy rõ ba điểm. Thứ nhất, đầu tư hàng loạt mà không hề có lợi thế công nghệ chỉ chứng tỏ tham vọng, chứ không phải triển vọng thành công, của các doanh nghiệp Trung Quốc. Thứ hai, ODI của Trung Quốc thể hiện qua lượng vốn sẵn có khổng lồ, khoảng 2,5 nghìn tỷ dự trữ ngoại tệ. Thứ ba, các nhà đầu tư Trung Quốc phải chịu tỷ lệ rủi ro đầu tư cao hơn vì trong hầu hết các trường hợp, doanh nghiệp Trung Quốc phải làm quen với môi trường hoàn toàn mới.
Các công ty Trung Quốc đã làm ăn với thị trường nước ngoài nhiều năm qua, nhưng đa số chỉ đều là hoạt động mua bán. Hiểu biết của họ về bối cảnh xã hội, chính trị và kinh tế ở nước ngoài hết sức hạn chế. Hậu quả là, các công ty Trung Quốc đang phải trả giá đắt cho điểm yếu này.
Một công ty nhà nước Trung Quốc tôi biết dự định đầu tư lớn vào Mỹ. Bởi vì đây là ngành nhạy cảm, nên họ thỏa thuận đòi hỏi phải được chính phủ thông qua. Công ty này đã thuê một luật sư thương mại rất nổi tiếng ở Los Angeles. Rủi thay, vị luật sư này, cũng ở cùng nước Mỹ thôi, nhưng lại không hiểu gì về chính trị ở Washington và không có kỹ năng vận động hành lang. Thỏa thuận đổ vỡ nhanh chóng.
Một công ty nhà nước khác mua lại mỏ than ở Australia và tự quảng cáo là công ty khai thác than lớn nhất thế giới. Điều này thật trớ trêu lại không giúp cải thiện hình ảnh của công ty, bởi công chúng Australia nhìn chung đều có quan điểm tiêu cực về các công ty khai thác than vì những hiểm họa về môi trường các công ty này có thể gây ra.
Các thống kê cho thấy, ngoài các "thiên đường" thuế như quần đảo Virgin của Anh, ODI của Trung Quốc còn tập trung vào cả những nước có hệ thống luật pháp chưa phát triển và tham nhũng trầm trọng. Điều này có thể vì các thị trường được quản lý tốt có rào cản thâm nhập cao hơn với đầu Trung Quốc. Nhưng cũng có thể vì nhiều nhà đầu tư Trung Quốc đã quen với cách làm "lót tay" nên thấy những môi trường như thế dễ hoạt động hơn. Đôi khi "phương án" này còn được thực hiện với bộ trưởng và thậm chí cả tổng thống. Điều này cực kỳ nguy hiểm. Một khi người ta đã ác cảm rằng ODI của Trung Quốc mang theo tham nhũng sẽ rất khó để doanh nghiệp Trung Quốc có thể mở rộng trong tương lai.
Hiện tại, các công ty nhà nước đóng góp tới 63% ODI của Trung Quốc. Nếu nhìn lại kinh nghiệm hồi bắt đầu cải cách kinh tế, hầu hết ODI đều bắt nguồn từ các doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Hồng Kông, Đài Loan. Các doanh nghiệp vừa và nhỏ thuộc những ngành cần nhiều nhân công đều cần phải "di chuyển". Họ cũng có lợi thế về công nghệ, quản lý và tiếp thị. Vậy tại sao họ lại tụt lại phía sau, về mặt ODI?
Có ba cơ quan trong chính phủ Trung Quốc kiểm soát ODI: Bộ Quản lý Ngoại hối Trung Quốc (SAFE) phê chuẩn ngoại hối, Bộ Thương mại (MOFCOM) cấp phép, và Ủy ban Phát triển quốc gia (NDRC) thẩm định lợi ích quốc gia. Như thế tức là đang có sự chồng chéo không cần thiết, và các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó có thể vượt qua được những thủ tục hành chính này.
ODI của Trung Quốc có thể tiếp tục tăng nhanh, nhưng kết quả và hậu quả đến đâu thì còn chưa rõ. Nhiều doanh nghiệp Trung Quốc còn chưa hiểu rõ tình hình chính trị và kinh tế ở nước tiếp nhận đã ầm ầm đổ vốn vào, không biết vì miếng bánh lớn hay vì tính toán nào khác nữa. Họ cần tỉnh táo khi đưa ra các quyết định, bằng không sẽ là một sự lãng phí vô cùng lớn và làm tổn hại đến hình ảnh doanh nghiệp Trung Quốc vốn vẫn bị đánh giá thấp lâu nay.
Tác giả bài viết Yiping Huang là giáo sư kinh tế học tại Trung tâm nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc Đại học Bắc Kinh và trường Kinh tế và Chính phủ thuộc Đại học Quốc gia Australia.
Công hữu đất đai và nguy cơ tham nhũng
Tác giả: GS. TSKH Đặng Hùng Võ
Công nhận sở hữu đất đai thuộc nhiều thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật là việc cần làm ngay. Đây là việc tạo được động lực cho đầu tư, giảm tham nhũng trong quản lý đất đai, tăng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế.
>> Công hữu đất đai không hợp với thời quá độ
>> "Công thổ quốc gia" hay sự "sáng tạo" kì quặc về sở hữu?
Cơ chế tạo tham nhũng
Đất đai là một yếu tố đặc biệt, không do lao động của con người tạo ra, có nguồn cung cố định và không bị hao hụt diện tích trong quá trình sử dụng. Chế độ sở hữu phù hợp sẽ nâng cao hiệu quả sử dụng đất và tạo lập được công bằng về quyền hưởng dụng đất đai.
Chế độ công hữu về đất đai ở nước ta hiện nay dưới dạng sở hữu toàn dân đã bị biến đổi ở một số điểm (đã nêu trong phần trước: Công hữu đất đai không hợp với thời quá độ) cho phù hợp với nhu cầu phát triển của kinh tế thị trường. Mặc dù vậy, vẫn còn nhiều điểm nữa đang tạo nguy cơ lớn về tham nhũng trong quản lý đất đai, đó chính là nguồn gốc làm mất động lực và mất công bằng trong sử dụng đất.
Pháp luật hiện hành có quy định 3 cơ chế để nhà đầu tư có đất: một là nhà đầu tư tự thỏa thuận với người đang sử dụng đất; hai là Nhà nước thu hồi đất theo quy hoạch để chủ động quỹ đất cho nhu cầu phát triển; ba là Nhà nước thu hồi đất theo dự án đầu tư của chủ đầu tư đã được chấp thuận.
Pháp luật hiện hành cũng có 3 cơ chế để Nhà nước cung đất cho các dự án đầu tư: một là đấu giá quyền sử dụng đất; hai là đấu thầu dự án có sử dụng đất; ba là giao đất, cho thuê đất trực tiếp cho nhà đầu tư đã được chỉ định.
Ảnh: Dothi.net |
Chắc chắn rằng cơ chế như vậy luôn tạo nên nguy cơ tham nhũng rất cao. Tham nhũng chỉ không xảy ra khi người có quyền không muốn tham nhũng.
Đó là tham nhũng về địa tô tạo thành khi cơ quan hành chính quyết định lấy đất do người này đang sử dụng để giao cho người khác sử dụng mà gắn với việc thay đổi mục đích sử dụng đất, gắn với quyết định về giá đất.
Trên thực tế, đây không chỉ còn là nguy cơ mà đã biến thành tham nhũng thực. Nhiều khảo sát quốc tế và trong nước đã chỉ ra tham nhũng trong quản lý đất đai ở nước ta đang đứng ở nhóm cao nhất. Hình thái tham nhũng này là hệ quả tất yếu của chế độ công hữu về đất đai được đặt trong một xã hội chưa đạt được điều kiện của xã hội xã hội chủ nghĩa. Đó chính là nguyên nhân làm cho quy hoạch không phù hợp, sử dụng đất không hiệu quả, hưởng dụng đất không công bằng, phát triển thiếu bền vững.
Việc cần làm ngay
Chế độ sở hữu đất đai cũng có đặc trưng riêng, gắn với đặc trưng của đất đai. Không có chế độ tư hữu hoàn toàn về đất đai và cũng không có chế độ công hữu hoàn toàn về đất đai.
Tư nhân có đất cũng không thể có toàn quyền định đoạt đối với đất đai vì đất đai có liên quan mật thiết với toàn bộ cộng đồng. Cả cộng đồng có đất cũng không thể cùng sử dụng chung mà vẫn phải giao cho từng thành tố của cộng đồng sử dụng. Chúng ta đừng lo ngại rằng hôm nay không thực hiện được công hữu về đất đai thì ngày mai khó có thể thực hiện được khi tư hữu về đất đai đã được xác lập.
Trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội, tính tư hữu trong mỗi con người từ cán bộ tới dân thường còn rất mạnh, khoảng cách lên xã hội chủ nghĩa càng gần thì tính tư hữu của con người sẽ giảm và nhường chỗ cho tính công hữu.
Đối với đất đai cũng như vậy, hôm nay tư hữu có thể còn nhiều nhưng càng gần xã hội chủ nghĩa thì tư hữu sẽ giảm đi.
Như vậy, việc công nhận sở hữu đất đai thuộc nhiều thành phần kinh tế theo quy định của pháp luật là việc cần làm ngay. Đây là việc tạo được động lực cho đầu tư, giảm tham nhũng trong quản lý đất đai, tăng hiệu quả sử dụng đất và tạo điều kiện tốt cho hội nhập kinh tế quốc tế.
Trong quá trình ĐỔI MỚI, chúng ta đã quyết định thay thế kinh tế hợp tác xã nông nghiệp bằng kinh tế hộ gia đình, thay thế cơ chế kinh tế bao cấp bằng cơ chế kinh tế thị trường, và cả hai lần thay đổi này đều tạo nên những bước ngoặt cho phát triển. Một quyết định thay đổi thứ ba rất cần thiết lúc này là thay một chế độ sở hữu toàn dân về đất đai bằng chế độ đa sở hữu về đất đai theo quy định của pháp luật. Sự thay đổi này cũng sẽ mang lại bước ngoặt mới trong phát triển.
US congressional panel backs action against Chinese currency DPA
Washington - A key panel in the House of Representatives on Friday backed legislation that allows the United States to impose import duties on China over its undervalued currency.
The vote in the Ways and Means Committee paves the way for the full House to vote on the legislation next week, in a move that could significantly raise trade tensions with China. The US Senate is considering a similar measure.
The United States has long argued that China's yuan currency is undervalued, and the Obama administration has recently stepped up criticism that the Chinese government was not heeding US concerns.
The legislation before Congress frees the Commerce Department to treat the undervalued yuan - or any other undervalued currency - as an export subsidy, allowing the US government to retaliate with its own duties on Chinese imports.
- Người đứng đầu cuộc đảo chính ở Liên Xô qua đời (VNE)
- Cuba cải cách kinh tế “Liên kết các sự kiện, rõ ràng Cuba đang khởi động một tiến trình cải cách kinh tế gần giống như Việt Nam và Trung Quốc đã làm vài thập niên trước. Tiến trình này tuy chậm chạp, rụt rè nhưng có thể hình dung trong tương lai Cuba sẽ giống như một Việt Nam ở châu Mỹ” (TBKTSG).