A Chinese fishing boat (blue), flanked by a Japan Coast Guard vessel, is moored at Ishigaki port on the southern Japanese island of Ishigaki September 8, 2010.
Credit: Reuters/Kyodo
China hits back at Japan after boat captain returns
(Reuters) - China on Saturday demanded Japan apologize for holding a Chinese boat captain, showing few outward signs of softening in a dispute between the two Asian economic powers after Japan gave ground and released him.
The fishing trawler captain, Zhan Qixiong, flew out of Japan on a chartered plane that took him to the coastal Chinese city of Fuzhou, but Beijing's response suggested it still harbored some rancor.
The release followed the detention of four Japanese nationals on suspicion of violating Chinese law regarding the protection of military facilities, though Japanese Chief Cabinet Secretary Yoshito Sengoku has denied a link between the two incidents.
China's Foreign Ministry said Beijing was angry at the detention of the captain, arrested by Japan over two weeks ago after his trawler collided with two Japanese patrol boats in waters near islands that both sides claim.
"This was an action that gravely violated Chinese sovereignty and the human rights of a Chinese citizen, and the Chinese government strongly protests," said a ministry statement issued after Zhan flew back to China.
China said its claim to the islands -- which it calls the Diaoyu and Japan calls the Senkaku -- was "indisputable."
"It is unlawful and invalid for Japan to detain and investigate the boat captain and to take any legal measures against him," said the statement said, which was issued on the Ministry's website (www.mfa.gov.cn).
"Japan must offer China an apology and compensation over this incident." It did not specify what compensation it wanted.
China's statement also said, however, that the two countries should solve their disputes through dialogue. Japanese Prime Minister Naoto Kan also said it was time for Asia's two biggest economies to put relations back on a steady footing.
"I believe it is necessary for Japan and China to handle matters calmly," he said in New York, where he attended the U.N. General Assembly.
The dispute has underscored the brittleness of ties long troubled by Chinese memories of Japanese wartime occupation and territorial disputes over parts of the East China Sea that could hold rich reserves of gas.
Some Japanese newspapers decried Zhan's release as a backdown that would encourage Chinese assertiveness.
"There is a possibility that it has left an impression that Japan will cave in when pressured," a leading daily, Asahi Shimbun, said in an editorial.
Sun Cheng, an expert on relations between the two countries at the China University of Political Science and Law in Beijing, said it would take time for relations to improve.
"China will want to keep up its case over the Diaoyu islands. Whether Japan actually apologies or gives compensation is not so much the point as making it clear that China won't compromise on sovereignty," he said.
A Japanese national resources and energy agency official said it was highly possible that China had started drilling in a gas field in another disputed part of the East China Sea, Kyodo news agency reported late on Friday. But the report also cited a Foreign Ministry official as saying there was no confirmation.
Before the captain's release, China canceled diplomatic meetings and student visits. Tokyo had said it feared a prolonged dispute could hurt ties between the world's second and third largest economies, now swapping places as China overtakes Japan to the No.2 spot.
Japan's sluggish economy has become increasingly reliant on China's dynamism for growth. China became Japan's biggest trading partner last year.
China also wanted to ensure that the lingering tensions did not badly damage trade ties, said Sun, the Chinese professor.
"It's not just Japan that needs China. China also needs Japan's markets, technology, investment," he said. "But this (dispute) will hurt relations for while yet."
China Is Said to Halt Trade in Rare-Earth Minerals With Japan
Bắc Kinh sẽ bỏ dàn hỏa tiễn nhắm vào Đài Loan
- Mỹ và Iran cùng “diễn vở” trước Đại hội đồng LHQ (VnMedia). – Hoa Kỳ rời khỏi phòng họp vì bài diễn văn của TT Iran (VOA)
- ‘Trung Quốc sẽ không cúi đầu trước Mỹ’ (Đất Việt).
Nhật Bản thả thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc - Bee
24/09/2010 14:25:50- Nhật Bản ngày 24/9 đã quyết định thả thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc, ông Chiêm Kỳ Hùng. Sau hàng chục ngày bị bắt giữ, thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc, ông Chiêm Kỳ Hùng ngày 24/9 đã được phía Nhật Bản trả tự do. 
Trong một diễn biến liên quan, Bộ Ngoại giao Nhật Bản đã đề nghị phía Trung Quốc cho tiếp xúc với bốn công dân Nhật Bản bị Trung Quốc bắt giữ tại tỉnh Hà Bắc. Trước đó, Trung Quốc đã bắt giữ những người này với lý do họ đã xâm nhập bất hợp pháp khu quân sự và ghi hình trái phép các cơ sở quân sự tại tỉnh Hà Bắc.
Đại sứ quán Nhật Bản tại Trung Quốc cho biết bốn công dân bị Trung Quốc bắt giữ là Yoshiro Sasaki, 44 tuổi, nhân viên phòng kinh doanh quốc tế của Công ty xây dựng Fujita có trụ sở tại Nhật Bản; Hiroki Hashimoto, 39 tuổi, nhân viên phòng bán hàng. Hai người còn lại làm cho chi nhánh của công ty này tại Trung Quốc là Sadamu Takahashi, 57 tuổi và Junichi Iguchi, 59 tuổi. Phía Công ty Fujita cho biết chưa liên lạc được với các nhân viên này.-Nhật Bản quyết định thả thuyền trưởng Trung Quốc Thanh Niên (TNO) Các công tố viên Nhật Bản hôm nay (24.9) đã quyết định thả thuyền trưởng Trung Quốc Chiêm Kỳ Hùng, vốn bị Tokyo bắt giữ do liên quan tới vụ đụng tàu gần quần đảo tranh chấp giữa hai bên cách đây hai tuần, theo hãng tin AP. ...Nhật Bản tuyên bố thả thuyền trưởng tàu cá Trung QuốcDân Trí-- Nhật Bản có quyết định thả thuyền trưởng Trung Quốc (Tuổi trẻ). – Nhật – Trung và câu chuyện ứng xử (TBKTSG). – Nhật Bản thả thuyền trưởng Trung Quốc — (BBC).--- Thêm vụ việc mới gây căng thẳng ngoại giao Trung – Nhật (VnMedia). – Trung Quốc: Bắt 4 người Nhật bị nghi quay lén mục tiêu quân sự (CATPHCM). – Trung Quốc bắt bốn người Nhật — (BBC).-Trung Quốc bác tin ngừng xuất khẩu kim loại hiếm sang NhậtDân Trí
Thủ tướng Trung Quốc lên tiếng về vụ va chạm tàu với NhậtDân Trí-VOA Tiếng Việt -Đài Tiếng Nói Việt Nam -Đài Á Châu Tự Do- Nhật Bản thả thuyền trưởng tàu cá Trung Quốc Đất Việt-Căng thẳng trong quan hệ Tokyo – Bắc Kinh đang có dấu hiệu hạ nhiệt khi các công tố viên Nhật Bản vừa quyết định thả thuyền trưởng tàu cá liên quan đến vụ va chạm tại vùng biển tranh chấp.
Japan to release Chinese boat captain Financial Times
Taiwan welcomes Chinese premier's statement on missile removal DPA
Japan frees Chinese fishing boat captain who caused diplomatic row DPA
Tokyo - Japan on Friday decided to release a Chinese fishing boat captain whose arrest near disputed islands sparked a diplomatic dispute, a news report said.
Prosecutors in the southern city of Naha made the decision, Japan's Kyodo News agency said.
China repeatedly demanded the 'immediate and unconditional' release of the 41-year-old sailor who was arrested on September 7.
The man was taken into custody after his boat collided twice with Japan Coast Guard vessels.
The incident took place near islands known as Senkaku in Japan, Diaoyu in China and Tiaoyutai in Taiwan.
The islands, together with the oil-rich surrounding area, are claimed by all three governments.
Giống và khác nhau giữa tranh chấp biển đảo Nhật-Trung và biển Đông Đất Việt
Căng thẳng Trung-Nhật sẽ đi về đâu? Đất Việt-Quan hệ giữa hai cường quốc Đông Á ngày càng bị kéo căng. Liệu nó có đổ vỡ hay không và mỗi nước sẽ có hành động gì trong thời gian tới là câu hỏi đang được nhiều người quan tâm.-Japan frets about economic fallout from China row TOKYO (Reuters) - Japan warned on Friday that a deepening row with China could hurt both of Asia's two biggest economies and sought to draw a line between a feud over disputed islets in the East China Sea and the detainment of four of its nationals on suspicion of entering a Chinese military zone.-Hong Kong activists to challenge block on trip to disputed islands DPA
US and South Korea to hold new naval exercises DPA-Mỹ, Hàn Quốc tập trận trong tuần tới Đất Việt Hải quân Mỹ và Hàn Quốc sẽ triển khai cuộc tập trận chống tàu ngầm vào tuần tới, giới chức quân đội Mỹ cho hay.
'Myanmar không theo đuổi vũ khí hạt nhân' Đất Việt
Nga chưa ‘tuyệt tình’ với Iran Đất Việt
Lệnh cấm bán vũ khí cho Iran của Tổng thống Nga Medvedev hoàn toàn không ảnh hưởng đến thỏa thuận hợp tác giữa Moscow và Tehran trong việc xây dựng nhà máy điện hạt nhân Bushehr.
Phái đoàn Mỹ tại LHQ bỏ ra ngoài khi tổng thống Iran phát biểu
Một trong những vấn để nổi bật, thu hút sự quan tâm của thế giới hiện nay là vấn đề Trật tự thế giới mới. Sự sụp đổ của chế độ Xã hội Chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu 20 năm trước đây đã phá vỡ trật tự hai cực, kéo theo sự đảo lộn lớn trên mọi phương diện của thế giới
Châu Á: Lầu Năm Góc hồi sinh và mở rộng khối quân sự chiến tranh lạnh
Việc không có một đối thủ đáng kể thực sự, cho dù là thật sự hoặc tưởng tượng, chưa bao giờ là một trở ngại cho việc mở rộng quân sự của Mỹ trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương và quả thực kể cả phần còn lại của thế giới. Trong thực tế, việc thiếu một thách thức (lực lượng quân sự) đáng tin cậy sẽ cho phép sự đẩy nhanh tốc độ mở rộng này. Chưa có bao giờ nhiều hơn so với bây giờ.
Nguồn: Rick Rozoff, Eurasia Review
ViAn, X-Cafe chuyển ngữ 22.09.2010
Vào năm (1949) trước khi chiến tranh Triều Tiên bắt đầu Hoa Kỳ đã thành lập Tổ chức Hiệp ước Bắc Đại Tây Dương - NATO - ở Tây và Nam Âu để ngăn chận và đối đầu với Liên Xô và các đồng minh Đông Âu của nó. NATO đã mở cửa cho Lầu Năm Góc để duy trì, mở rộng và nâng cấp, và truy cập được đến những căn cứ quân sự, mới ở châu Âu từ Anh đến Thổ Nhĩ Kỳ, từ Italy đến Na Uy, từ Tây Đức đến Hy Lạp.
Trong cuộc chiến tranh Triều Tiên và sau khi kết thúc cuộc chiến đó vào năm 1953 (với Hy Lạp và Thổ Nhĩ Kỳ đã được thu nạp vào NATO), Mỹ nhân rộng mô hình NATO với những mức độ khác nhau trong cả khu vực châu Á-Thái Bình Dương.
Hiệp ước An ninh Australia, New Zealand, United States (ANZUS) đã được thiết lập vào năm 1951 khi quân đội từ cả ba quốc gia này đang chiến đấu ở Triều Tiên. Quân đội Úc và New Zealand cũng sẽ chiến đấu dưới sự chỉ huy của Mỹ trong cuộc Chiến tranh Việt Nam theo các nghĩa vụ của Hiệp ước ANZUS.
Năm 1954, Mỹ và các đồng sáng lập NATO như Anh và Pháp, sáng tạo ra Tổ chức Hiệp ước Đông Nam Á (SEATO) với Australia, New Zealand, Pakistan, Philippines và Thái Lan là những thành viên chính thức, còn Nam Hàn và Nam Việt Nam là đối tác đối thoại.
Với sự khuyến khích và hỗ trợ của Hoa Kỳ , trong năm tiếp theo, nước Anh giám sát việc sáng tạo ra Tổ chức Hiệp ước Trung Đông (METO), cũng gọi là Tổ chức Hiệp ước Baghdad, trong đó bao gồm Iran, Iraq, Thổ Nhĩ Kỳ và Pakistan. Vào năm 1958, các nước thuộc METO / Baghdad Pact đã hỗ trợ kế hoạch triển khai (quân sự) của Mỹ gồm 14.000 quân lính tới Lebanon - LiBăng dưới cái gọi là Học thuyết Eisenhower.
Sau cuộc cách mạng chống quân chủ tại Iraq vào năm trước, đã dẫn tới việc quốc gia đó đã rời bỏ khối này vào năm 1959, METO được đổi tên thành Tổ chức Hiệp ước Trung (Đông) (CENTO): Bởi vỉ không thể có hiệp ước Baghdad mà không có chính Baghdad, nơi mà trụ sở chính của nó đã được đặt. (Nửa thế kỷ sau, thủ đô này của Iraq là căn cứ của quân lực Hoa Kỳ - tổng hành dinh tại Iraq.)
METO/CENTO, cũng như SEATO trước nó, được rập mô hình theo sau NATO và phục vụ cùng một mục đích như cái ban đầu (NATO): Để bao vây Liên Xô và các đồng minh của nó, và ngay từ đầu như cái tên được đặt, nó cho phép Lầu Năm Góc xâm nhập mạn sườn phía nam của Liên Xô như khi NATO đã làm một cuộc mở rộng về phía tây của nó. CENTO được giải thể vào năm 1979 sau cuộc cách mạng tại Iran và sự rút quân ra khỏi quốc gia đó.
Tất cả thành viên và các đối tác Châu Á-Thái Bình Dương SEATO, ngoại trừ Pakistan, - Australia, New Zealand, Philippines, Nam Hàn, Thái Lan và Nam Việt Nam - đều cung cấp quân đội cho Hoa Kỳ trong cuộc chiến tranh Việt Nam, nhưng Pakistan đã rút lui vào năm 1973 bởi vì SEATO đã không hỗ trợ cho nó trong cuộc chiến tranh năm 1971 với Ấn Độ. Pháp nối gót theo sau vào năm 1975, tức ba năm sau khi việc tái lập quan hệ giữa Mỹ-Trung Quốc được chính thức hóa trở lại bởi Richard Nixon và Mao Trạch Đông ở Bắc Kinh vào năm 1972, và rồi khối SEATO đã bị giải tán hai năm sau đó (1977).
Với việc Trung Quốc và các đồng minh khu vực và toàn cầu của Mỹ chống lại Liên Xô, khối SEATO không còn đáp ứng cho mục đích nào nữa cả.
ANZUS bị suy yếu vào năm 1984 khi một chính phủ mới ở New Zealand cấm tất cả các tàu bè có khả năng chạy bằng hạt nhân và có trang bị vũ khí hạt nhân cập vào các hải cảng của nó. Hai năm sau Lầu Năm Góc đã ngưng những đảm bảo an ninh cho New Zealand theo Hiệp ước ANZUS, mặc dù Úc đã duy trì các nghĩa vụ của mình cho cả Mỹ và New Zealand.
Với sự kết thúc của Chiến tranh Lạnh và sự tan vỡ của Liên bang Xô viết, một thế hệ trước đây đã loại bỏ bất kỳ nhân tố căn bản nào có thể hình dung được cho việc tiếp tục những khối quân sự thời Chiến tranh lạnh, nhưng thay vì vậy, lúc đó NATO đã lại mở rộng từ 16 lên đến 28 thành viên đầy đủ và cũng đã tăng thêm được bốn mươi đạo quân mới dưới nhiều chương trình hợp tác. Các thành viên NATO và các đối tác hiện nay chiếm hơn một phần ba các quốc gia trên thế giới.
Lấy ví dụ, Khối Bắc Đại Tây Dương, bao gồm Algeria, Ai Cập, Israel, Jordan, Mauritania, Morocco và Tunisia trong chương trình Đối thoại Địa Trung Hải của khối này; Bahrain, Kuwait, Oman, Qatar, Saudi Arabia và United Arab Emirates trong Sáng kiến Hợp tác Istanbul của nó; Australia , Nhật Bản, New Zealand và Nam Hàn như là những Quốc gia liên hệ với NATO; còn Afghanistan và Pakistan được gộp theo Ủy ban ba bên Liên minh lãnh đạo , trong đó đã nhóm họp lại ở Kabul vào tháng trước. Lực lượng quân đội của NATO và Mỹ tại Afghanistan hiện nay là 150.000 quân.
Tất cả tám nước cộng hòa thuộc Liên Xô cũ ở Nam Caucasus và Trung Á là thành viên của Đối tác NATO cho chương trình chuyển tiếp hòa bình. Armenia, Azerbaijan, Georgia và Kazakhstan cũng có Kế hoạch hành động quan hệ đối tác cá nhân và Georgia còn có một Chương trình quốc gia hàng năm được kế hoạch một cách đặc biệt .
NATO đã mở rộng vào những lãnh thổ trước đây và hiện thời và đã tích hợp các thành viên trong quá khứ lẫn hiện tại của SEATO, CENTO và ANZUS.
Những gì cũng đã được tiến hành trong tám năm qua là việc củng cố những gì được ám chỉ đến như là một NATO của châu Á, mà cuối cùng sẽ bao gồm hầu hết tất cả các thành viên của CENTO, SEATO và ANZUS và cũng như hàng chục quốc gia khác.
Úc có đạo quân đóng góp lớn nhất đối với bất kỳ quốc gia không phải là thành viên (NATO) - 1.550 quân - phục vụ dưới quyền chỉ huy của NATO tại Afghanistan và New Zealand cũng vậy, có hơn 200 quân cùng với một số quân nữa đang trên đường tới. Các quốc gia khác tại châu Á-Thái Bình Dương đã cung cấp quân cho NATO cho cuộc chiến Afghanistan là Nam Hàn, Singapore, Mông Cổ và Malaysia.
Mỹ đang sử dụng một lực lượng viễn chinh thế kỷ 21 - một NATO toàn cầu - như là khối quân sự toàn cõi của mình.
Nó cũng đang phát triển những mối quan hệ quân sự song phương gần gũi hơn với mọi quốc gia ở châu Á ngoại trừ Trung Quốc, Bắc Hàn, Myanmar, Bhutan, Iran và Syria.
Trong suốt tháng vừa qua (tháng 8), đã có riêng một nửa quân lực và chiến hạm của Mỹ tham gia tập trận quân sự trong và ngoài khơi bờ biển của Campuchia, Mông Cổ, Kazakhstan, Nam Hàn, Việt Nam và Nepal.
Trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương rộng lớn hơn này, Mỹ đã chỉ huy cuộc tập trận hai năm một lần, lớn nhất-hơn bao giờ hết Rim of the Pacific (RIMPAC), cuộc tập trận hải quân đa quốc gia lớn nhất thế giới, từ 23 tháng Sáu đến ngày 1 tháng Tám, với 22.000 quân được ước tính, 34 chiến hạm, năm chiếc tiềm thủy đỉnh và trên 100 chiến đấu cơ đã tham gia.
Cuộc diễn tập quân sự RIMPAC đã khởi sự trong thời kỳ Chiến tranh lạnh (1971) và ban đầu bao gồm ba quốc gia: Hoa Kỳ, Úc và Canada.
Cuộc tập trận năm nay, 20 năm sau khi kết thúc Chiến tranh Lạnh, được đóng góp chính gấp năm lần bởi nhiều quốc gia tham gia như: Hoa Kỳ và các đồng minh NATO Canada, Pháp và Hà Lan. Những quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương như Úc, Indonesia, Nhật Bản, Malaysia, Singapore, Nam Hàn, Thái Lan, Tonga, và các quốc gia Nam Mỹ nhhư Chile, Colombia và Peru. Ngoài ra, Brazil, Ấn Độ, New Zealand và Uruguay được mời để gửi các nhóm làm quan sát viên.
Con số gấp năm lần của số các quốc gia tham gia vào cuộc tập trận RIMPAC cho thấy mức độ mà Lầu Năm Góc đang tích hợp các đối tác quân sự song phương vào sự hình thành khu vực rộng lớn hơn và cuối cùng vào một mạng lưới toàn cầu, không có nơi nào nhiều hơn như thế so với cuộc chiến ở Afghanistan. Phần lớn các quốc gia Châu Á-Thái Bình Dương trong cuộc tập trận RIMPAC năm nay - Việt Nam, Malaysia, Singapore, Nam Hàn và Tonga (mà các tài liệu báo cáo gần đây cho biết, sẽ cung cấp hàng trăm thủy quân lục chiến) - đã được giao quân để phục vụ dưới quyền chỉ huy của Lực lượng Hổ trợ An ninh Quốc tế của NATO ở các quốc gia Nam Á.
Cuộc tập trận Khaan Quest tháng rồi tại Mông Cổ, cuộc tập trận mới nhất trong một loạt những gì cho đến gần đây đã là các vấn đề song phương giữa Mỹ và Mông Cổ, ngoài Hoa Kỳ và quốc gia sở tại, bao gồm quân đội đến từ Canada, Pháp, Đức, Ấn Độ, Nhật Bản, Singapore và Nam Hàn.
Cuộc tập trận thực địa và điều động lệnh Angkor Sentinal 2010 trong 19 ngày tại Campuchia kết thúc vào ngày 30 tháng 7 đã được chỉ huy bởi Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ và U.S. Army Pacific, bao gồm tất cả hơn 1.000 quân, kể cả quân đóng góp từ Anh, Pháp, Đức, Italy, Australia, Ấn Độ, Indonesia, Nhật Bản và Philippines.
Hoa Kỳ hiện đang tiến hành cuộc tập trận 10 ngày Lá chắn Dũng cảm - Valiant Shield quy mô lớn, trên và vùng lân cận căn cứ đảo Guam, trung tâm mới cho hoạt động của Lầu Năm Góc trong khu vực châu Á-Thái Bình Dương, với một hàng không mẩu hạm, chiến hạm đổ bộ và một phi đội viễn chinh của lực lượng Không quân. Vào ngày 01 tháng 9, một chiếc phi cơ không người lái Global Hawk đã bay từ California đến Andersen Air Force Base trên căn cứ Guam.
Lầu Năm Góc đang lên kế hoạch một chương trình 278 triệu đô la để mở rộng thử nghiệm hỏa tiển đánh chặn trên đảo Kauai - Hawaii cho loại hỏa tiển Standard Missile-3 bệ phóng trên chiến hạm (và sắp tới là phiên bản cùng loại đặt bệ phóng trên đất liền tại khu vực biển Baltic và Biển Đen ) và hệ thống phòng thủ khu vực tầm cao đầu cuối chống hỏa tiển đạn đạo. Chiến lược của Washington cho một hệ thống lá chắn hỏa tiển toàn cầu, đa tầng, đã bao gồm sẳn sự tham gia của Australia, Nhật Bản, Nam Hàn và Đài Loan ở khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, cùng với Ấn Độ sẽ sớm được thêm vào.
Trong một sự hồi sinh của biểu tượng ANZUS đối với sự tái kích hoạt liên minh quân sự thời Chiến tranh Lạnh của Mỹ, Trợ lý Ngoại trưởng vùng Đông Á và Thái Bình Dương, Kurt Campbell gần đây tiết lộ rằng Hoa Kỳ và New Zealand sẽ sớm tiếp tục huấn luyện quân sự và tập trận chung sau một cuộc đình chỉ 26 năm của cả hai.
Hoạt động Quân sự Mỹ tại vùng Đông Bắc và Đông Nam Á đã làm tăng mối căng thẳng với Trung Quốc lên tới một cường độ cao chưa từng thấy kể từ thập niên đầu tiên của Chiến tranh Lạnh.
Vào tháng Bảy mới vừa qua, Mỹ và Nam Hàn đã tổ chức những cuộc tập trận có mật danh là Tinh thần Vô địch - Invincible Spirit trong vùng biển Nhật Bản với 8.000 quân, 20 chiến hạm và tiềm thủy đỉnh - dẫn đầu là chiếc siêu hàng không mẩu hạm hạt nhân USS George Washington - và 200 chiến đấu cơ, bao gồm cả những chiếc F-22 Raptors của Mỹ.
Tháng trước, siêu hàng không mẩu hạm USS George Washington và khu trục hạm trang bị hỏa tiển điều khiển USS John S. McCain đã chỉ huy cuộc tập trận hải quân chung lần đầu tiên với Việt Nam, trong vùng biển Nam Trung hoa (biển Đông.)
Ngay sau khi vừa kết thúc những cuộc diễn tập đó, Mỹ và Nam Hàn đã bắt đầu cuộc tập trận 11 ngày tại quốc gia thứ hai (Nam Hàn), đây là cuộc tập trận mới nhất của loạt tập trận hàng năm mang tên Bảo Vệ Tự Do Ulchi - Ulchi Freedom Guardian, cuộc tập trận này nổi bật với 27.000 quân nhân Mỹ và 500.000 quân nhân từ Nam Hàn.
Chiếc siêu hàng không mẩu hạm USS George Washington dẫn đầu đến biển Hoàng Hải cho nhiều cuộc tập trận quân sự với Nam Hàn, bao gồm những cuộc tập trận chống tàu ngầm, trong những vùng biển gần với những vùng tranh chấp mà Trung Quốc tự nhận như là một phần của vùng kinh tế đặc quyền của mình, Các cuộc tập trận này đã được lên kế hoạch từ ngày 05- đến 09 Tháng 9, nhưng bị hoãn lại vì một cơn bão nhiệt đới. Tuần trước, phát ngôn viên Lầu Năm Góc Geoff Morrell khẳng định rằng "Hàng không mẩu hạm USS George Washington thực sự sẽ thực hiện tập trận trong vùng biển Hoàng Hải."
Đô đốc Robert Willard, Tư lệnh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ, bộ tư lệnh lớn nhất của các bộ Tư lệnh Chiến đấu Thống nhất của Lầu Năm Góc, đã ở Nam Hàn vào cuối tháng Bảy, tại Philippines vào giữa tháng Tám và tại Nhật Bản trong tuần sau. Trọng tâm của những chuyến viếng thăm của ông là Trung Quốc.
Tuần trước Đô đốc Willard đã dành hai ngày tại Ấn Độ, một quốc gia mà cho đến bây giờ vẫn ở bên ngoài các khối quân sự khu vực và rằng với 1,1 tỷ công dân của mình, quốc gia này có một dân số lớn hơn tất cả số dân của các quốc gia SEATO, ANZUS và CENTO kết hợp lại, kể cả bao gồm Mỹ, Anh và Pháp. Kể từ khi Bộ trưởng Quốc phòng Donald Rumsfeld và người đối tác Ấn Độ của ông, Pranab Mukherjee đã ký Khuôn khổ Mới cho Quan hệ Quốc phòng Mỹ-Ấn vào năm 2005, Lầu Năm Góc đã tăng cường quan hệ với một trong hai quốc gia lớn nhất châu Á .
Trong khi ở New Delhi, Đô đốc Willard đã gặp Bộ trưởng Quốc phòng Pradeep Kumar, Ngoại trưởng Nirupama Rao, Cố vấn An ninh Quốc gia Shiv Shankar Menon và Thống chế Không quân P. V Naik, Đô đốc Nirmal Verma và Tướng V. K Singh, những nhân vật lãnh đạo tương ứng của lực lượng không quân, hải quân và quân đội Ấn Độ. Cuối tháng này, Bộ trưởng Quốc phòng Ấn Độ A. K Antony và Hải quân Đô đốc Verma sẽ đến Washington, DC, và Đô đốc Verma cũng sẽ viếng thăm tổng hành dinh Bộ Tư lệnh Thái Bình Dương Hoa Kỳ tại Hawaii.
Ấn Độ dưới thời Jawaharlal Nehru cũng là một sáng lập viên của Phong trào không liên kết năm 1961. Trong suốt 40 năm của Chiến tranh Lạnh, nó chưa bao giờ gia nhập một khối quân sự nào.
Tuy nhiên, bây giờ, nó đang được tuyển mộ bởi Washington, vừa như là một đồng minh quân sự chiến lược song phương và vừa như là một đối tác lớn nhất và quyết định nhất - trong một liên minh quân sự châu Á-Thái Bình Dương do Hoa Kỳ tổ chức, mà nó có vẻ nhỏ bé so với những nỗ lực trước đó của Lầu Năm Góc theo hướng đó từ năm 1951 trở đi.
Việc không có một đối thủ đáng kể thực sự, cho dù là thật sự hoặc tưởng tượng, chưa bao giờ là một trở ngại cho việc mở rộng quân sự của Mỹ trên khắp khu vực châu Á-Thái Bình Dương và quả thực kể cả phần còn lại của thế giới. Trong thực tế, việc thiếu một thách thức (lực lượng quân sự) đáng tin cậy sẽ cho phép sự đẩy nhanh tốc độ mở rộng này. Chưa có bao giờ nhiều hơn so với bây giờ.
Bộ Quốc phòng Mỹ đối diện nguy cơ bị tấn công 'khủng khiếp' Đất Việt
Trung Quốc: Is China Strong or Weak? (Project Syndicate 22-9-10) -- Bài nên dịch của Jeffrey Wasserstrom. ["China’s leaders thus continue to depend on a form of nationalism structured around tales of victimhood. They now base their legitimacy on the notion that the Party, which rose to power as the nation fought foreign domination, is uniquely qualified to keep China from being bullied in a hostile international arena, and that only they can provide the stable environment needed for growth." Có giống nước nào khác nữa không?]
Trung Quốc: China has a longer learning curve than I had anticipated (FP 23-9-10) -- Dan Drezner: "Is China stirring up more trouble than it can handle?" Summary of recent articles...
TT Philippines: ASEAN sẽ đoàn kết trong tranh chấp Biển Đông-Tổng thống Philippines tuyên bố rằng các nước ASEAN sẽ đoàn kết thành một khối thống nhất, do thái độ của Trung Quốc đối với những vấn đề tranh chấp ở khu vực Biển Đông.-Mỹ và Asean bàn về Biển Đông BBC-Bình luận trước cuộc gặp ngày thứ Sáu 24/9 của Tổng thống Obama và các lãnh đạo Asean về chủ đề quốc tế hóa Biển Đông.-- TQ tìm cách đối trọng sức mạnh hải quân của Mỹ ở Thái Bình Dương (VOA). – Ông Ôn Gia Bảo: Lợi ích chung quan trọng hơn những bất đồng Mỹ-Trung.-‘Trung Quốc sẽ không cúi đầu trước Mỹ’ Đất Việt-Bắc Kinh sẽ không nhượng bộ trước sức ép từ Washington, Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo nhấn mạnh khi đang có mặt tại New York để tham dự phiên họp của đại hội đồng Liên Hiệp Quốc.
Vietnam-US Relations: Past, Present, and Future Vietnam-US rapprochement in the past thirty-five years mostly took place after Vietnam overcame its own reluctance to move forward. Serious talks on normalizing diplomatic relations between the two countries began when Vietnam decided to withdraw troops from Cambodia in 1989. Normalization of trade became possible after Vietnamese leaders signed a bilateral trade agreement with the United States in 2000. This decision opened the door for Vietnam to join the World Trade Organization and gain Permanent...
Bà Hillary Clinton kêu gọi Tokyo đối thoại với Bắc Kinh-Cũng liên quan đến mối bất đồng hiện nay giữa Hoa Lục và Nhật Bản, hôm thứ năm Ngoại trưởng Hoa kỳ, Bà Hillary Clinton kêu gọi Tokyo đối thoại với Bắc Kinh để có thể nhanh chóng giải quyết vấn đề Nhật hiện còn bắt giữ viên thuyền trưởng của chiếc tàu đánh cá Trung Quốc.-TT Ôn Gia Bảo: TQ không đe dọa quốc gia nào-Tuyên bố trước khi diễn ra kỳ họp của Đại Hội đồng Liên Hiệp Quốc tại New York hôm thứ năm, Thủ tướng Ôn Gia Bảo khẳng định Trung Quốc không hề đe dọa bất cứ một quốc gia nào khác, nhưng sẽ không nhún nhường trong mọi tranh chấp liên quan đến quyền lợi quốc gia.
Trung Quốc - Nhật: Upping the Ante in China-Japan Clash (CFR 22-9-10) -- VERY GOOD analysis by Sheila Smith. Sự kiện này càng ngày càng có vẻ quan trọng (xem phân tích của Sheila Smith trong bài này: "the U.S.-Japan security alliance continues to be the prism through which any impending crisis is viewed"), nhưng báo chí Việt Nam không có bài nào cho ra hồn. Bộ Ngoại giao, Bộ Chính trị... có ai theo dõi chuyện này không, hay đang bận "đấu tranh" giành ghế trước Đại hộị XI?
Trung Quốc thẩm vấn bốn người Nhật Bản VietNamNet-Trung Quốc đang điều tra bốn người Nhật Bản tình nghi do đi vào một khu quân sự và quay phim trái phép các mục tiêu quân sự, Tân Hoa xã đưa tin.-Arrests step up China’s dispute with Japan Financial Times-Beijing is investigating four Japanese citizens it has accused of “illegally” filming a military site in China in what is likely to be seen as an escalation of a dispute that has quickly engulfed east Asia’s two competing powers-China Says 4 Japanese Suspected Of Illegal FilmingBEIJING/TOKYO (Reuters) - China is investigating four Japanese suspected of entering a military zone and illegally videotaping military targets, Xinhua news agency said, in the latest row to threaten ties between Asia's two biggest economies.-China detains four Japanese in military zone DPA-- TQ cáo buộc 4 người Nhật bị họ bắt thu hình địa điểm quân sự (VOA). - Bắc Kinh bác bỏ tin ngưng xuất khẩu kim loại hiếm sang Nhật — (RFI). – Trung Quốc gây căng thẳng tại Hoa Đông để trắc nghiệm Nhật Bản — “Thái độ của Bắc Kinh bị các nước Á châu xem là biểu lộ tham vọng của giới cầm quyền Trung Quốc muốn lấn chiếm đất đai biển đảo của các nước láng giềng.”
- Iran chỉ trích Nga về quyết định cấm bán phi đạn cho Tehran (VOA)-Ahmadinejad Tells U.N. Most Blame U.S. Government For 9 / 11UNITED NATIONS (Reuters) - Iranian President Mahmoud Ahmadinejad told the United Nations Thursday most people believe the U.S. government was behind the attacks of September 11, 2001, prompting the U.S. delegation to leave the hall in protest.--'Có thể chính Mỹ đạo diễn vụ 11/9' Đất Việt-Phái đoàn Mỹ tại Liên Hiệp Quốc rời phòng họp Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc khi Tổng thống Iran Mahmoud Ahmadinejad tuyên bố, có khả năng Chính phủ Mỹ đứng sau vụ 11/9 làm hàng nghìn người thiệt mạng.-- Tổng thống Iran nêu 3 giả thiết lạ về vụ 11/9 (VNN). Giả thiết thứ tư: Israel.
-- Bàn thảo về ngư dân ở Biển Đông “ trong Diễn đàn nhân dân Asean lần thứ 6, diễn ra từ 23 đến 26/9. ” (Đất Việt).- Châu Á ngày càng lo ngại trước việc Trung Quốc khẳng định chủ quyền — (RFI) Trâu bò húc nhau ruồi muỗi chết, đó là mối lo ngại ngày càng lớn của các nước nhỏ tại châu Á khi thấy Trung Quốc đụng độ với Nhật Bản và Hoa Kỳ trên vấn đề chủ quyền lãnh thổ. Theo ông Severino, cựu tổng thư ký ASEAN, Đông Nam Á cũng không muốn Trung Quốc và Nhật hay Trung Quốc và Mỹ đi đến xung đột.
Clinton urges quick solution to China-Japan row-NEW YORK (Reuters) - Secretary of State Hillary Clinton urged Japan and China on Thursday to quickly resolve their escalating maritime dispute before it has a long-term impact on the region, a U.S. official said on Thursday.-Amid Tension, China Blocks Vital Exports to Japan-Escalating a dispute over Japan’s detention of a Chinese fishing trawler captain, China halted exports of some crucial rare earth elements.-Nhà hoạt động Hồng Kông đưa thuyền ra Điếu Ngư đảo BBC-TRUNG QUỐC - NHẬT BẢN: Bắc Kinh bác bỏ tin ngưng xuất khẩu kim loại hiếm sang Nhật-Hôm nay, một quan chức Trung Quốc bác bỏ tin Bắc Kinh cấm xuất khẩu kim loại hiếm cho Nhật Bản nhằm trả đũa Tokyo còn giữ thuyền trưởng tàu cá của Trung Quốc từ hôm 7/9. Hôm qua, báo New York Times, trích dẫn nhiều nguồn tin xin được dấu tên, xác định lệnh cấm vận nói trên có hiệu lực cho đến cuối tháng.
Singapore- Malaysia sẽ xây đường hầm dưới biển
TQ diễn tập chống khủng bố BBC-- Nga - Trung tập trận bắn đạn thật chống khủng bố (Tuổi trẻ).-
- Not the Time to Go Wobbly: Press U.S. Advantage on South China Sea (The Heritage Foundation)
- China warns Philippines over Spratly Islands military base (Australia Network News)
ĐÁNH GIÁ CHÍNH SÁCH CỦA ẤN ĐỘ TRƯỚC SỰ NỔI LÊN CỦA TRUNG QUỐC anhbasam
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM Tài liệu tham khảo đặc biệt Thứ hai, ngày 20/09/2010 TTXVN (Luân Đôn 12/9)
Trung Quốc và Ấn Độ là hai cường quốc đang nổi ở cùng một bán cầu của Trái Đất. Họ chia sẻ nhiều điểm tương đồng, nhưng lại thiếu sự tin tưởng dành cho nhau. Nhiều người Ấn Độ lo ngại về sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Họ lo ngại tiềm lực quân sự ngày càng lớn và quan hệ ngày càng thắt chặt của Trung Quốc với các nước láng giềng sát Ấn Độ. Phản ứng của Niu Đêli là thúc đẩy nền kinh tế trong nước và bắt tay chặt hơn với các nước có chung nỗi lo về sự nổi lên của Bắc Kinh, trong đó có Mỹ. Tạp chí Trung tâm Cải cách châu Âu số ra mới đây đăng bài phân tích của Charles Grant, giám đốc trung tâm, về các chính sách đối phó này của Ấn Độ. Dưới đây là nội dung bài viết.
Ngoài 4.000 km biên giới, Ấn Độ và Trung Quốc còn có nhiều điểm chung khác. Về mặt kinh tế, đây là hai quốc gia tăng trưởng nhanh nhất trong nhóm các nền kinh tế đang nổi. Cả hai đều tập trung vào phát triển kinh tế trong nước và vì vậy không muốn gánh vác trách nhiệm trong nhiều vấn đề quốc tế. Tuy nhiên, họ cũng hiểu rằng với sức mạnh đang lên họ buộc phải tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu.
Hai nền kinh tế Trung – Ấn mang tính bổ sung cho nhau: Trung Quốc ngày càng đóng vai trò là một công xưởng của thế giới, trong khi Ấn Độ có thế mạnh về công nghệ thông tin và nhiều lĩnh vực dịch vụ kinh doanh. Thương mại hàng hóa hai chiều tăng từ khoảng 2 tỷ USD năm 2000 lên hơn 4 tỷ USD trong năm 2009 và có thể đạt 60 tỷ USD năm nay. Ấn Độ và Trung Quốc đều mong muốn cán cân kinh tế thế giới chuyển dịch từ Tây sang Đông. Cả hai đều tham gia các “nhóm nước” mới được đặt tên như BRIC (gồm Braxin, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc), BASIC (nhóm BRIC nhưng không có Nga và thêm Nam Phi) và nhóm G-20.
Tuy nhiên, mối quan hệ Trung – Ấn cũng có nhiều điểm bất tương đồng. Người Trung Quốc bình thản trước sự nổi lên của Ấn Độ. Không có ai ở Bắc Kinh xem Ấn Độ là một đối thủ hoặc mối đe dọa nguy hiểm. Hầu hết các quan chức và học giả Trung Quốc từng làm việc với người Ấn Độ nói rằng quan hệ Trung – Ấn đang rất tốt. Trong khi đó, người Ấn Độ lo lắng hơn nhiều về sự nổi lên của người láng giềng. Cụ thể, các tổ chức về ngoại giao và quốc phòng ở Niu Đêli có xu hướng coi Trung Quốc là một mối đe dọa. Việc Trung Quốc từ chối ủng hộ Ấn Độ và Hội đồng Bảo An Liên hợp quốc khiến Niu Đêli khó chịu. Sự hỗ trợ về quân sự mà Bắc Kinh dành cho Pakixtan cũng gây tâm lý tương tự.
Năm 2008 và 2009, không khí ngoại giao giữa Bắc Kinh và Niu Đêli trở nên căng thẳng do Trung Quốc có quan điểm cứng rắn về vấn đề lãnh thổ đối với bang Arunachal Pradesh phía Đông Bắc Ấn Độ. Chính sách ngoại giao của Trung Quốc cứng rắn không chỉ với Ấn Độ, mà cả với Mỹ, châu Âu và Đông Nam Á. Có một vài nhân tố đằng sau thái độ cứng rắn của các nhà lãnh đạo Bắc Kinh, như sự kiêu ngạo về tăng trưởng kinh tế ngoạn mục, sự lên mặt trước sai lầm chính sách của các nước phương Tây sau cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và sự lo lắng trước những bất ổn ở Tây Tạng và Tân Cương.
Năm 2010, Trung Quốc hạ giọng hơn so với nhiều nước khác, bao gồm cả Ấn Độ. Sợi dây quan hệ giữa Bắc Kinh và Niu Đêli chùng xuống. Tuy nhiên, nhiều chính trị gia Ấn Độ vẫn lo ngại hậu họa của sức mạnh đang lên của Trung Quốc. Một số không tin mối quan hệ Trung – Ấn có thể lâu bền.
Quan hệ Trung – Ấn chắc chắn sẽ là một trong những mối quan hệ song phương quan trọng nhất trong thế kỷ 21. Vì lý do đó mà châu Âu dõi theo mối quan hệ này một cách sát sao, cho dù họ không có vai trò đặc biệt nào trong đó. Chẳng hạn, cả Ấn Độ lẫn Trung Quốc đều không muốn EU đóng vai trò trung gian trong các tranh chấp lãnh thổ. Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều không coi EU là một nhân tố địa chính trị quan trọng, mặc dù trao đổi thương mại của cả hai với EU đều lớn hơn giữa họ với nhau. Trong vòng 12 tháng tính đến tháng 3/2010, thương mại hàng hóa hai chiều giữa EU với Ấn Độ đạt 77 tỷ USD, và giữa EU với Trung Quốc đạt 414 tỷ USD.
Tranh chấp biên giới và cạnh tranh hạt nhân
Sự căng thẳng trong mối quan hệ Trung – Ấn bắt nguồn nhiều nhất từ biên giới chung giữa hai nước. Sau khi giành ưu thế trong cuộc chiến năm 1962, Trung Quốc chiếm một số phần của dãy Himalaya trước đó thuộc sở hữu của Ấn Độ. Trung Quốc cũng đòi chủ quyển bang Arunachal Pradesh với lý lẽ là bang này từng thuộc về Tây Tạng. Cách đây vài năm, Trung Quốc bắt đầu gọi bang này bằng cái tên Nam Tây Tạng, đồng thời từ chối cấp visa cho các quan chức Ấn Độ sinh ra ở đây, nói rằng họ là công dân Trung Quốc nên không cần visa. Năm 2009, Trung Quốc phản đối dữ dội khi Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh, và sau đó là Đạtlai Lạtma, nhà lãnh đạo tinh thần của người Tây Tạng, tới thăm bang Arunachal Pradesh.
Bất cứ thứ gì liên quan đến Đạtlai Lạtma đều khiến Bắc Kinh khó chịu. Trung Quốc không đồng ý việc Ấn Độ đón tiếp không chỉ Đạtlai Lạtma mà cả 150.000 người tị nạn Tây Tạng. Năm 2009, Trung Quốc trì hoãn cho Ấn Độ vay một khoản thông qua Ngân hàng Phát triển châu Á, do một phần trong đó sẽ được đầu tư vào Arunachal Pradesh, đồng thời còn cản trở cả khoản vay thông qua Ngân hàng Thế giới. Quân đội Ấn Độ phàn nàn rằng binh sỹ Trung Quốc thường xuyên thâm nhập biên giới. Ấn Độ phản ứng kiên quyết trước sức ép của Trung Quốc, và đã đưa một vài sư đoàn và xe bọc thép tới bang Arunachal Pradesh. Báo chí Ấn Độ đưa một loạt tin chỉ trích Trung Quốc, Bắc Kinh cũng đáp trả tương tự.
Người Ấn Độ không dám chắc tại sao Trung Quốc lại có một thái độ cứng rắn về vấn đề Arunachal Pradesh đến vậy, nhưng họ nghi ngờ Bắc Kinh khó chịu về mối quan hệ ngày càng mật thiết giữa Niu Đêli và Oasinhton. Biểu tượng chính trị của mối quan hệ mật thiết này là thỏa thuận hạt nhân hai nước ký kết năm 2005. Thỏa thuận này cho phép dỡ bỏ nhiều lệnh trừng phạt của Mỹ và quốc tế đối với Ấn Độ sau khi nước này thử vũ khí nguyên tử vào năm 1998. Giờ đây ngành năng lượng hạt nhân dân sự của Ấn Độ có thể tiếp cận công nghệ nước ngoài và các nguồn cung cấp urani. Thỏa thuận trên cũng gián tiếp tiếp tay cho chương trình phát triển vũ khí hạt nhân của Ấn Độ.
Thỏa thuận hạt nhân Mỹ – Ấn gây phiền lòng không chỉ Trung Quốc mà cả đồng minh thân cận của Bắc Kinh là Pakixtan. Thỏa thuận này không thể có hiệu lực nếu nhóm nước làm chủ công nghệ hạt nhân, hay còn gọi là Nhóm Cung cấp Hạt nhân (NSG), không dỡ bỏ lệnh cấm với Ấn Độ. Ban đầu Trung Quốc muốn phủ quyết phê chuẩn của NSG, nhưng sau đó do sức ép của Mỹ, cuối cùng Bắc Kinh đã chấp thuận. Giờ đây Trung Quốc đáp trả bằng cách cung cấp cho Pakixtan hai lò phản ứng hạt nhân, đi ngược lại quy định của NSG và chọc tức cả Ấn Độ và Mỹ.
Quan hệ giảm nhiệt
Căng thẳng trong mối quan hệ Trung – Ấn chùng xuống trong thời gian chuẩn bị diễn ra hội nghị thượng đỉnh về biến đổi khí hậu tại Côpenhaghen tháng 12/2009. Tại hội nghị, hai Thủ tướng Manmohan Singh và Ôn Gia Bảo cùng đứng về một phía phản đối các chính phủ phương Tây và một số nước nghèo đòi hỏi họ đưa ra cam kết giảm khí thải CO2. Năm nay, cả hai chính phủ đều có nỗ lực cải thiện mối quan hệ song phương bằng cách giao cho Đới Bính Quốc, quan chức ngoại giao cao cấp nhất của Trung Quốc và Shiv Shankar Menon, cố vấn an ninh quốc gia của Ấn Độ, nhiệm vụ giải quyết tranh chấp biên giới. Quân đội hai bên đồng ý một số biện pháp xây dựng lòng tin tại một số khu vực tranh chấp, nhờ vậy các vụ xâm nhập và đối đầu không leo thang. Hai bên đang tổ chức nhiều lễ hội văn hóa và hội thảo song phương giữa các tổ chức nghiên cứu và nhà báo nhân dịp 60 năm Ấn Độ công nhận nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Tháng 4 vừa qua, một đường dây nóng đã được thiết lập giữa văn phòng hai thủ tướng.
Sự giảm nhiệt trong mối quan hệ song phương phù hợp với chủ trương cải thiện quan hệ với Trung Quốc của một nhóm chính trị gia và quan chức cấp cao của Ấn Độ. Họ cho rằng hai nước có nhiều điểm chung về quyền lợi. Về vấn đề biến đổi khí hậu, cả hai đều không muốn bị ràng buộc bởi những cam kết ảnh hưởng tới tăng trưởng kinh tế sắp tới. Trung Quốc là nước thải nhiều khí CO2 nhất thế giới và Ấn Độ đứng thứ 4 về mặt này. Than đá chiếm 80% sản lượng điện ở Trung Quốc và 70% ở Ấn Độ.
Hai nước cũng có quan điểm tương tự đối với các mối quan hệ quốc tế. Cả Trung Quốc và Ấn Độ đều tin tưởng vào chủ quyền quốc gia không giới hạn và hết sức nghi ngờ khái niệm “trách nhiệm bảo vệ”: Ấn Độ không muốn người khác can thiệp vào vấn đề Casơmia, trong khi Trung Quốc cũng nghĩ như vậy về Tây Tạng và Tân Cương. Cùng với Nga và hầu hết các nền kinh tế đang nổi khác, họ phản đối khái niệm “chủ nghĩa can thiệp tự do”. Mặc dù là một nền dân chủ (khác với Trung Quốc), Ấn Độ hiếm khi cho phép thực tế này ảnh hưởng tới chính sách ngoại giao của mình (giống Trung Quốc). Vì vậy, Ấn Độ không chỉ trích vấn đề vi phạm nhân quyền của chế độ độc tài quân sự của Mianma, do lo ngại làm vậy sẽ khiến Trung Quốc cũng sẽ có quan điểm tương tự với các vấn đề liên quan đến Ấn Độ.
Ấn Độ và Trung Quốc cũng muốn hợp tác trong một số vấn đề cụ thể. Chẳng hạn về vấn đề Ápganixtan, cả hai đều lo ngại sự bất ổn sẽ nảy sinh nếu phương Tây rút quân khỏi đó. Ấn Độ lo ngại một Ápganixtan do Taliban kiểm soát sẽ bị Pakixtan điều khiển và tạo ra một nguồn khủng bố đối với Niu Đêli. Trung Quốc thì lo ngại về an ninh đối với các mỏ khoáng sản nước này đầu tư ở Ápganixtan. Bắc Kinh cũng lo ngại khả năng Taliban Hồi giáo không chỉ kích động thêm bất ổn ở Tân Cương mà còn gây mất an ninh ở khu vực Trung Á.
Những lo ngại của Ấn Độ
Bên ngoài, các nhà lãnh đạo Ấn Độ nói những lời ấm áp về Trung Quốc, nhưng bên trong nhiều quan chức ngoại giao Ấn Độ bày tỏ sự quan ngại sâu sắc. Chẳng hạn, họ phàn nàn về bản chất bất thường trong chính sách ngoại giao của Trung Quốc: xu hướng lúc nóng, lúc lạnh. Quan điểm của các nhân vật cấp cao trong Đảng Bharatiya Janata đối lập, lấy chủ nghĩa dân tộc Hindu làm nền tảng, cũng giống như quan điểm của các nhà lãnh đạo Đảng Quốc đại cầm quyền. Mối lo ngại của Ấn Độ bao gồm:
- Sức mạnh quân sự gia tăng của Trung Quốc, đặc biệt là sự hiện diện của hải quân nước này trên Ấn Độ Dương. Trong những năm gần đây, ngân sách quốc phòng của Trung Quốc tăng hơn 10% năm, trong khi ngân sách quốc phòng của Ấn Độ tăng với tốc độ chậm hơn nhiều. Trung Quốc duy trì ít nhất là 3 tàu chiến ngoài khơi Xômali trong vòng 2 năm qua để tham gia nỗ lực quốc tế chống cướp biển, điều này cho thấy một sức mạnh hậu cần đáng nể. Hiện Trung Quốc có hơn 60 tàu ngầm, đồng thời đang xây dựng các cảng thương mại dọc theo bờ biển Ấn Độ Dương ở Mianma, Pakixtan, Xri Lanca và nhiều nơi khác. Một số chuyên gia Ấn Độ lo ngại các cảng này có thể có công năng quân sự. Người Trung Quốc nói rằng họ cần có mặt ở Ấn Độ Dương để đảm bảo an ninh cho các tuyến vận chuyển dầu mỏ và vật liệu thô nhập khẩu. Ở Tây Tạng, Trung Quốc đã xây dựng đường bộ, đường sắt và sân bay, có thể sử dụng như bàn đạp để tấn công Ấn Độ. Người Ấn Độ chậm chân hơn trong việc nâng cấp hạ tầng bên này biên giới. Các quan chức cấp cao Bộ Quốc phòng Ấn Độ nói rằng lý do chính khiến họ sở hữu vũ khí hạt nhân là Trung Quốc chứ không phải Pakixtan.
- Trung Quốc thiết lập mối quan hệ hữu hảo với nhiều nước láng giềng của Ấn Độ, như Bănglađét, Mianma, Nêpan, Pakixtan và Xri Lanca. Một số chiến lược gia Ấn Độ lo ngại bị bao vây bởi những nước bị cuốn vào quỹ đạo của Trung Quốc. Tại Nêpan, Trung Quốc có quan hệ tốt với những người theo chủ nghĩa Maoít đang nắm quyền tại đất nước bất ổn này. Trung Quốc là một sức mạnh vượt trội ở Mianma, nơi Bắc Kinh đang xây dựng các đường ống dẫn dầu khí từ Vịnh Bengan tới tỉnh Vân Nam, Trung Quốc đã đầu tư rất lớn vào Xri Lanca, xây dựng cầu cảng, đường sá, nhà máy điện và sân bay. Năm ngoái, Trung Quốc là nhà tài trợ lớn nhất cho Xri Lanca với 1,2 tỷ USD viện trợ. Bắc kinh cũng là nhà cung cấp vũ khí lớn nhất cho nước này. Trung Quốc và Pakixtan là một liên minh lâu đời và không bao giờ chỉ trích nhau. Người Ấn Độ tin rằng Bắc Kinh trợ giúp Ixlamabát trực tiếp với chương trình vũ khí hạt nhân.
- Trung Quốc thành công hơn Ấn Độ trong ngoại giao tìm kiếm tài nguyên thiên nhiên. Cả hai đều lo lắng phải phụ thuộc vào các nguồn nhiên liệu thô nhập khẩu. Ấn Độ vẫn cạnh tranh với Trung Quốc trong việc tìm kiếm tài nguyên ở Trung Á, Mỹ Latinh và quan trọng nhất là ở châu Phi. Trung Quốc thường giành hợp đồng bằng cách trả giá cao hơn thị trường, chẳng hạn như các vụ ở Cadắcxtan, Uganda và Êcuađo. Năm 2009, các công ty Trung Quốc bỏ ra 32 tỷ USD mua lại các mỏ năng lượng và tài nguyên ở nước ngoài, so với 2,1 tỷ USD của Tập đoàn Dầu khí Ấn Độ.
- Tuy nhiên, ở một số nơi như Xuđăng và Xyri, các công ty của Trung Quốc và Ấn Độ hợp tác cùng khai thác dầu mỏ. Một số quan chức cấp cao của Ấn Độ không quan tâm về việc Trung Quốc vượt Ấn Độ trong ngoại giao tài nguyên. Họ tin rằng thị trường cung cấp đủ cho Ấn Độ nhu cầu dầu khí nước này cần. Họ cũng tự hào về thành công của nhiều công ty tư nhân Ấn Độ ở châu Phi, Mỹ Latinh và Đông Nam Á, trong các lĩnh vực như viễn thông, dược phẩm và đào tạo phần mềm và thuê gia công tư bên ngoài.
- Quan hệ thương mại Trung – Ấn đang phát triển, nhưng không cân bằng. Trung Quốc đạt thặng dư thương mại tới 16 tỷ USD năm 2009. Ấn Độ xuất khẩu chủ yếu là vật liệu thô, như quặng sắt, trong khi nhập khẩu hàng chế tạo từ Trung Quốc. Người Ấn Độ tin rằng đồng nhân dân tệ bị định giá thấp của Trung Quốc góp phần tạo ra thâm hụt, và đó là một lý do họ không nhiệt tình với thỏa thuận tự do thương mại song phương do Trung Quốc đề xuất. Ấn Độ phàn nàn về việc Trung Quốc hạn chế nhập khẩu phim Bollywood, dịch vụ IT, dược phẩm và nước ngọt, cũng như các rào cản phi hạn ngạch ảnh hưởng xấu tới các công ty Ấn Độ.
Phản ứng của Ấn Độ
Phản ứng của Chính phủ Ấn Độ trước sự nổi lên của Trung Quốc không đơn giản chỉ là thứ và bắt chước người láng giềng khổng lồ. Trong khi Trung Quốc bắt đầu cư xử trên một số mặt như một cường quốc toàn cầu, chính sách ngoại giao của Ấn Độ ít tham vọng hơn ở những nơi như châu Phi và Mỹ Latinh. Ấn Độ cũng không chạy đua xây dựng tiềm lực vũ trang như Trung Quốc. Họ hiểu rằng không thể giành phần thắng trong cuộc đua này, mặc dù Niu Đêli vẫn tăng cường sức mạnh quân sự để nếu Trung Quốc có muốn tấn công cũng phải nghĩ cho kỹ. Ấn Độ hiểu rằng mình sẽ còn yếu hơn Trung Quốc trong một thời gian dài.
Vì vậy, trước mắt Ấn Độ sẽ tránh xảy ra chạm trán nghiêm trọng. Về lâu dài Niu Đêli theo đuổi chiến lược hai mũi. Mũi thứ nhất là củng cố sức mạnh bên trong bằng thúc đẩy kinh tế (bao gồm cả thúc đẩy quan hệ kinh tế với Trung Quốc) và giải quyết hai vấn đề khủng bố và ly khai. Mục đích là buộc Trung Quốc phải tôn trọng một người hàng xóm lớn mạnh. Mũi thứ hai là phát triển một loạt liên minh và hợp tác nhằm giảm nguy cơ từ Trung Quốc. Ấn Độ không muốn là một phần của chiến lược khống chế Trung Quốc của Mỹ và một phần của phe các nước chống Mỹ theo bản năng. Tuy nhiên, hầu hết giới chóp bu chính trị xem mối quan hệ với Mỹ là một chính sách quan trọng chống lại Trung Quốc.
Ấn Độ không làm cho Tổng thống Mỹ Obama hài lòng: Cựu Tổng thống Bush dành cho Ấn Độ một sự ưu ái đặc biệt, Obama thì không. Ấn Độ lo ngại cuộc chiến ở Ápganixtan sẽ khiến Obama chuyển ưu đãi từ Ấn Độ sang Pakixtan. Và nhiều quan chức chóp bu của Mỹ dường như lo ngại Trung Quốc hơn là Ấn Độ. Ấn Độ muốn Mỹ tiếp tục là một thế lực ở châu Á và đồng USD duy trì vai trò toàn cầu của nó.
Ấn Độ cũng đang xây dựng một mạng lưới quan hệ với các nước khác có cùng nỗi lo trước sự nổi lên của Trung Quốc. Quân đội Ấn Độ có quan hệ hữu hảo với các đối tác Việt Nam, Xinhgapo, Philippin và Inđônêxia. Tình cảm với Nhật Bản, một nhà đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng ở Ấn Độ, cũng ngày càng thân mật. Ấn Độ đã tập trận hải quân với Nhật Bản và Mỹ. Một số chiến lược gia ở Niu Đêli công khai đề cập tới việc hồi sinh “sáng kiến 4 bên”. Ra đời năm 2007, nhóm này, bao gồm Mỹ, Ấn Độ, Nhật Bản và Ôxtrâylia, bàn luận về an ninh khu vực cũng như tiến hành tập trận ở Vịnh Bengan. Nhưng cách đây vài năm khi Trung Quốc phàn nàn thì Ôxtrâylia đã rút khỏi và nhóm này trở nên rệu rã.
Chiến lược của Mỹ đối phó với Trung Quốc có thể được mô tả bằng cụm từ “can dự và kiềm chế” – can dự vào Trung Quốc, tăng cường quan hệ đặc biệt là về kinh tế; nhưng lại kiềm chế nguy cơ quan hệ này trái gió trở chiều bằng cách xây dựng liên minh với các đối tác khiến Trung Quốc lo lắng. Trong tương lai gần chiến lược của Ấn Độ cũng sẽ rất giống với Mỹ.
Liệu Ấn Độ sẽ thành công?
Kể từ khi Ấn Độ và Trung Quốc trở thành hai ngôi sao nổi lên trên cùng một bầu trời, giữa họ đương nhiên có sự va chạm. Nhiều nhà lãnh đạo Ấn Độ lo lắng khi chứng kiến một số nước Đông Nam Á bị cuốn vào vòng ảnh hưởng của Trung Quốc, gần gũi đến mức họ sẽ chống lại Ấn Độ về một vấn đề quan trọng nào đó.
Ấn Độ sẽ tránh được tình huống này. Quốc gia này lớn tới mức không thể bị bắt nạt. Và đa số chính sách đối phó với sự nổi lên của Trung Quốc của Chính phủ Ấn Độ là có tác dụng. Tuy nhiên, có một số điểm Ấn Độ phải lưu ý. Thứ nhất, Ấn Độ cần có thêm nhiều chuyên gia về Trung Quốc. Ít trường đại học hoặc viện nghiên cứu Ấn Độ tập trung vào Trung Quốc. Các cơ quan báo chí của Ấn Độ hầu như không có đại diện ở Bắc Kinh, trong khi rất nhiều phóng viên có mặt ở Luân Đôn. Mặc dù Ấn Độ lo ngại Trung Quốc hơn là điều ngược lại, song Trung Quốc lại có nhiều chuyên gia về Ấn Độ hơn. Thứ hai, các nhà lãnh đạo Ấn Độ ngày càng khó duy trì ổn định an ninh trong nước. Tình trạng bất ổn ở bang Casơmia nơi người Hồi giáo chiếm đa số, vẫn tiếp diễn cho dù bớt nghiêm trọng. Chính phủ Ấn Độ cũng không thể xoa dịu phong trào nổi dậy “Naxalite” đang ảnh hưởng tới nhiều vùng ở miền Trung và Đông nước này. Các cuộc nổi dậy của phe Mao-ít trong 7 thắng đầu năm 2010 đã khiến khoảng 800 người thiệt mạng. Ngọn lửa hun đúc cho phong trào này là đời sống kinh tế xã hội kham khổ ở các khu vực bộ lạc, trong khi Chính phủ Ấn Độ cáo buộc phe Mao-ít ở Neepan tiếp tay. Dù vậy, phong trào “Naxalite” không phải là mối họa sinh tử đối với bang này: Sự bất mãn của họ chủ yếu gắn với tầng lớp nghèo khổ nhất, nên sự lan rộng của nó có giới hạn.
Vấn đề thứ ba và có thể là quan trọng nhất đó là Ấn Độ không phải là một người bạn thân thiết với các nước láng giềng sát biên giới. Một chiến lược gia ở Niu Đêli viết: “Chúng ta có thể nhất mực coi Trung Quốc là một vấn đề, nhưng vấn đề đó bắt nguồn từ Niu Đêli chứ không phải Bắc Kinh. Chừng nào Ấn Độ không nhận thấy và thực hiện các chính sách thúc đẩy hợp tác kinh tế với các nước láng giềng, sự xâm nhập của kinh tế Trung Quốc vào Nam Á sẽ tiếp tục bành trướng”.
Nền kinh tế Nam Á thiếu sự hội nhập được thể hiện rất rõ: Chỉ 5% xuất khẩu của khu vực là thương mại nội khối. Cơ sở hạ tầng yếu kém khiên chi phí vận chuyển cao, thủ tục hải quan phiền hà, các chính phủ có thái độ thù địch, các rào cản phi thuế quan và thuế quan cao cản trở thương mại. Hiệp hội Hợp tác Khu vực Nam Á (SAARC) hoạt động thiếu hiệu quả. Ấn Độ cần đóng vai trò tiên phong trong việc dỡ bỏ các rào cản thương mại, và với tư cách là nền kinh tế khổng lồ cần áp dụng tiến độ giảm thuế quan nhanh hơn các nước khác. Về mặt chính trị, Thủ tướng Manmohan Singh đang nỗ lực thực hiện một số bước đi đúng hướng. Ông đã xây dựng quan hệ hữu hảo với Sheikh Hasina, Thủ tướng Bănglađét, và thậm chí đã làm hết sức để làm tan băng quan hệ với Ixlamabát (mặc dù các thế lực ở cả Ấn Độ và Pakixtan đều tìm cách cản trở điều này). Chính phủ Ấn Độ cũng đã thiết lập quan hệ tốt đẹp với các nước Manđivơ và Môritani ở Ấn Độ Dương.
Ấn Độ nên học tập Trung Quốc trong cách giữ quan hệ tốt với láng giềng. Trong những năm gần đây, Trung Quốc đã giải quyết được nhiều tranh chấp biên giới với tất cả các nước láng giềng (trừ Ấn Độ), trao cho họ nhiều ưu đãi về thương mại và rót nhiều khoản đầu tư lớn về hạ tầng nhằm thúc đẩy thương mại (như xây dựng đường sá ở Nêpan và đường ống dẫn dầu ở Tuốcmênixtan).
Một quan chức chính phủ nói: “Phản ứng tối ưu nhất chống lại sự nổi lên của Trung Quốc chính là sự nổi lên của Ấn Độ”. Ấn Độ đang nổi lên nhờ tốc độ tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, dự kiến đạt khoảng 8% năm nay. Tất nhiên, một sự khác biệt lớn giữa Trung Quốc và Ấn Độ là hệ thống chính trị. Tuy nhiên, các quan chức Trung Quốc không ghen tị thế với chế độ dân chủ của Ấn Độ. Trên thực tế, một lý do khiến Trung Quốc coi thường Ấn Độ là Trung Quốc cho rằng hệ thống chính trị phi tập trung và hay bất ổn định đã cản trở tăng trưởng kinh tế. Nếu Thủ tướng Singh có thể thúc đẩy các cuộc cải cách cơ cấu kinh tế như mong muốn, bất chấp sự phản đối trong đảng của ông, tăng trưởng kinh tế của Ấn Độ có thể theo kịp Trung Quốc, và điều này sẽ chứng tỏ các quan chức coi thường Ấn Độ ở Bắc Kinh là sai lầm.
Trong bất cứ tình huống nào, sự nổi lên của Ấn Độ đòi hỏi không chỉ sự tăng trưởng kinh tế mạnh mẽ, mà còn cả một chính sách ngoại giao thông minh hơn. Ấn Độ đã làm tốt trong việc xây dựng quan hệ tốt với Mỹ, Nhật Bản và nhiều nước Đông Nam Á. Nhưng Ấn Độ cần cải thiện chính sách đối với các nước láng giềng gần gũi./.
THÁCH THỨC ĐỐI VỚI TRẬT TỰ AN NINH BIỂN CỦA CHÂU Á anhbasam
THÔNG TẤN XÃ VIỆT NAM-Tài liệu tham khảo đặc biệt-Thứ năm, ngày 23/09/2010-TTXVN (Xitsni 17/9)
Trong bài phân tích đăng trên tờ “Người Ôxtrâylia” số ra ngày 15/9, nhà nghiên cứu Rory Medcalf, Giám đốc Chương trình An ninh Quốc tế thuộc Viện Chính sách Quốc tế Lowy có trụ sở tại Xitsni, nhận định những căng thẳng giữa Trung Quốc và Nhật Bản là một điều nhắc nhở đáng lo ngại rằng trật tự an ninh biển của châu Á đang trong trạng thái căng thẳng nguy hiểm.
Đầu tháng 9/2010, Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản đã bắt giữ thuyền trưởng của một tàu đánh cá Trung Quốc sau khi tàu này hai lần va chạm với các tàu tuần tiễu trong vùng biển đang tranh chấp do Tôkyô kiểm soát. Nhật Bản đã chọn thời điểm đó để có một lập trường muộn màng trước điều mà Tôkyô coi là một kiểu “hành vi côn đồ” của Trung Quốc trên biển. Tháng 4/2010, một lực lượng hải quân lớn của Trung Quốc đã tiến vào vùng biển gần Nhật Bản và một máy bay lên thẳng của Trung Quốc đã bám sát các tàu của Nhật Bản ở khoảng cách chỉ có 90m. Trung Quốc cũng kiên quyết cảnh báo về những hậu quả nếu Nhật Bản truy tố viên thuyền trưởng nói trên theo luật pháp của nước này. Bắc Kinh đã hoãn các cuộc đàm phán về các trữ lượng khí đốt đang tranh chấp ở biển Hoa Đông.
Vụ tranh cãi này có thể liên quan đến chủ quyền đối với quần đảo không có người ở tên Senkaku hoặc Điếu Ngư theo cách gọi của Trung Quốc. Đây là vụ việc mới nhất trong một loạt những xáo trộn trên các vùng biển của châu Á trong năm nay, trong đó, cán cân sức mạnh và lợi ích đang thay đổi giữa các cường quốc hải quân của khu vực cho thấy những nguy cơ ngày càng tăng của việc tính toán sai và thậm chí xung đột.
Không có gì ngạc nhiên khi những tương tác an ninh chủ chốt của châu Á lại ở trên biển, căn cứ vào sự phụ thuộc lớn và ngày càng tăng của khu vực ven biển này vào thương mại bằng đường biển, nhất là đối với việc nhập khẩu năng lượng. Điều đang gây báo động là mức độ nguy cơ mới mà một số cường quốc, đặc biệt là Trung Quốc, dường như sẵn sàng chấp nhận trong khu vực Ấn Độ – Thái Bình Dương.
Rắc rối đầu tiên trên biển trong năm nay xảy ra ở ngoài khơi bán đảo Triều Tiên đang bị chia cắt. Tháng 3/2010, một ngư lôi của Bắc Triều Tiên đã làm đắm tàu chiến Cheonan của Hàn Quốc, khiến 46 thủy thủ thiệt mạng, nhưng Bắc Kinh đã từ chối lên án vụ việc này. Khi Mỹ và Hàn Quốc đáp lại bằng cuộc tập trận hải quân lớn. Bắc Kinh phản đối và cuộc tập trận này đã được chuyển tới vùng biển xa Trung Quốc. Bắc Kinh sau đó đã tự tổ chức diễn tập bắn đạn thật.
Giờ đây Oasinhton và Xơun đang lên kế hoạch tổ chức các cuộc diễn tập mới, có thể đưa một tàu sân bay của Mỹ tới Hoàng Hải bất chấp những phản đối của Trung Quốc. Trong một động thái riêng rẽ, các lực lượng Mỹ, Hàn Quốc và Ôxtrâylia có kế hoạch tổ chức một buổi biểu diễn lại trên quy mô nhỏ những cuộc đổ bộ lịch sử ở Incheon vốn làm thay đổi cục diện Chiến tranh Triều Tiên năm 1950. Hoạt động kỷ niệm này được lên kế hoạch từ lâu với ý nghĩa rằng Hàn Quốc vẫn luôn có bạn trong bối cảnh có những khiêu khích liên tiếp từ miền Bắc.
Phần lớn căng thẳng khu vực rộng lớn hơn liên quan đến Trung Quốc. Bắc Kinh đang theo đuổi những đợt triển khai mang tính quyết đoán và ngoại giao không thỏa hiệp tại một số chiến trường trên biển. Bắc Kinh đã tuyên bố toàn bộ biển Nam Trung Hoa (biển Đông) là khu vực “lợi ích cốt lõi” của mình, ngang với Tây Tạng và Đài Loan. Gần đây, một tàu ngầm của Trung Quốc được cho là đã cắm cờ dưới đáy biển. Điều này cho thấy Trung Quốc sẵn sàng đương đầu với các nước, như Việt Nam, trong các vùng biển tranh chấp.
Tại Ấn Độ Dương, tiềm năng đối đầu giữa Bắc Kinh và Niu Đêli đang dần dần tăng lên. Tuy nhiên, cũng có một số phối hợp đáng hoan nghênh giữa các lực lượng đặc nhiệm hải quân của Trung Quốc và vài nước khác trong việc tuần tra chống cướp biển Xômali . Niu Đêli, năm 2008 bối rối trước tốc độ Bắc Kinh triển khai tại Ấn Độ Dương mà lâu nay vốn được Ấn Độ coi là khu vực của mình, đã đề xuất hợp tác an ninh biển ở mức độ hạn chế với Trung Quốc. Thế nhưng, ý tưởng này có thể trở thành nạn nhân của những bất đồng rộng lớn hơn giữa hai người khổng lồ đang nổi lên, trong đó có những tranh cãi gần đây về biển giới trên bộ.
Nói chung, việc Trung Quốc hiện đại hóa hải quân là một phản ứng có thể hiểu được của một cường quốc thương mại lớn trước lo lắng về những nguồn cung cấp năng lượng dễ bị tổn thương. Sẽ là không thể tưởng tượng được khi Trung Quốc vĩnh viễn chuyển giao an ninh đường biển cho Mỹ. Hiện nay, khi Trung Quốc là một cường quốc hải quân cùng với công cuộc hiện đại hóa và sự táo bạo chưa từng có, điều đang gây lo lắng là những cơ chế ngoại giao cho liên lạc và ngăn chặn xung đột trên biển vẫn yếu đến mức dường như là không có. Điều này có hại cho Trung Quốc cũng như những nước khác nữa.
Những tuyến đường biển ngày càng đông đúc của khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương thậm chí còn thiếu quy tắc cơ bản đã giúp giữ cho Chiến tranh Lạnh không leo thang. Vào đầu những năm 1970, Mỹ và Liên Xô (cũ) đã lập ra một thỏa thuận chi tiết và những nguyên tắc hoạt động nhằm ngăn chặn những vụ việc trên biển leo thang thành chiến tranh. Ngày nay, không có thỏa thuận nào như vậy tồn tại giữa Trung Quốc và các cường quốc khác.
Trong khi Bắc Kinh, Niu Đêli và Tôkyô cuối cùng cũng thảo luận về việc thành lập những đường dây nóng ở cấp lãnh đạo nhằm giúp đương đầu với những căng thẳng về an ninh của họ, vẫn còn nhiều điều chưa rõ về việc những đường dây nóng này có thể hoạt động như thế nào trên thực tiễn. Bắc Kinh và Tôkyô cho đến nay thậm chí vẫn chưa thể nhất trí liệu đường dây nóng quân sự theo như đề xuất của họ sẽ mang lại cảnh báo về những cuộc tập trận quốc phòng hoặc đóng vai trò quản lý khủng hoảng trên thực tế hay không.
Đầu năm nay, Trung Quốc viện dẫn việc Mỹ bán vũ khí cho Đài Loan làm lý do đình chỉ các cuộc đối thoại quân sự với Mỹ, điều mà cả hai cường quốc cần có để giảm thiểu những va chạm bất ngờ trên biển. Trong khi Bắc Kinh và Tôkyô có các cuộc khẩu chiến về các ngư dân và vùng đảo tranh chấp, các quan chức Trung Quốc và Mỹ đang gặp nhau để hướng mối quan hệ đang lung lay của mình trở lại đúng hướng và ám chỉ rằng các cuộc đàm phán quốc phòng cuối cùng cũng có thể được khôi phục.
Hiện nay, các cường quốc biển của châu Á không giao thiệp với nhau một cách thỏa đáng về việc giữ hòa bình trên biển, đúng vào thời điểm khi những nguy cơ đối đầu trong các vùng biển của khu vực đang tăng lên. Khi những nước nhỏ hơn hoặc các diễn đàn ngoại giao khu vực ít có cơ hội có nhiều tiếng nói, sự ổn định trong khu vực rộng lớn hơn của Ôxtrâylia phụ thuộc và kẻ mạnh và kẻ táo bạo./.
MIANMA TRONG “CANH BẠC” GIỮA TRUNG QUỐC VÀ ẤN ĐỘ anhbasam
THỐNG TẤN XÃ VIỆT NAM
Tài liệu tham khảo đặc biệt
Thứ năm, ngày 23/09/2010
TTXVN (Xitsni 19/9)
Tổ hợp truyền thông ABC và tạp chí “Nhà ngoại giao” của Ôxtrâylia gần đây bình luận rằng việc nhà lãnh đạo Chính quyền quân sự Mianma, Thống tướng Than Shwe liên tiếp có các chuyến thăm tới hai nước láng giềng Trung Quốc và Ấn Độ một mặt cho thấy hai cường quốc châu Á này đang lợi dụng Mianma làm bàn đạp cạnh tranh ảnh hưởng gay gắt tại khu vực Nam Á, nhưng mặt khác cho thấy giới cầm quyền Mianma đang tranh thủ sự ủng hộ nhất định của hai nước này nhằm tạo lợi thế trong cuộc đối đầu với sức ép của các nước phương Tây. Dưới đây là tổng hợp một số nhận định, đánh giá xung quanh động thái lợi dụng lẫn nhau của ba nước này:
Nhà lãnh đạo Chính quyền quân sự Mianma, Thống tướng Than Shwe đã có chuyến công du chính thức tới Trung Quốc chỉ một tuần sau sự kiện lần đầu tiên một chiến hạm Trung Quốc ghé thăm cảng của Mianma. Ông Than Shwe đã có cuộc tiếp xúc với Chủ tịch Trung Quốc Hồ Cẩm Đào và Thủ tướng Ôn Gia Bảo. Sự kiện này rất được các nước láng giềng của Trung Quốc quan tâm theo dõi. Giới phân tích đặt câu hỏi liệu Mianma có ủng hộ để Trung Quốc khẳng định ảnh hưởng của mình tại Nam Á và Mianma có trở thành bàn đạp cho quyển lực của Trung Quốc tại khu vực này hay không?
Trong cuộc họp tại Niu Đêli mới đây, Thủ tướng Ấn Độ Manmohan Singh cho rằng Trung Quốc đang cố gắng mở rộng tầm ảnh hưởng của mình tại khu vực Nam Á. Ông cũng khẳng định tham vọng có được chỗ đứng vững chắc tại Nam Á của Trung Quốc là một thực tế mà Ấn Độ nên coi chừng và cần sẵn sàng ứng phó.
Tuyên bố trên của ông Singh được đưa ra trong bối cảnh cả Ấn Độ và Trung Quốc đang nỗ lực kiểm soát những nguồn tài nguyên cũng như khẳng định vai trò chính trị của mình trong khu vực.
Trung Quốc đang gia tăng ảnh hưởng ở Nam Á. Trong vài năm gần đây, Trung Quốc đã mở rộng thêm 4 căn cứ tại các quốc gia có chung biên giới với Ấn Độ gồm Pakixtan, Bănglađét, Xri Lanca và Mianma. Trong khi các quốc gia này vốn được Ấn Độ nhắm tới như là những đối tác thương mại và sân sau chiến lược của mình.
Theo Tiến sĩ P.K. Gosh, thuộc Tổ chức Quan sát và Nghiên cứu tại Niu Đêli, có hai lý do cho việc Trung Quốc gia tăng ảnh hưởng của mình tại Nam Á. Thứ nhất, Trung Quốc phụ thuộc rất nhiều vào nguồn năng lượng được chuyên chở bằng những con tàu đến từ Tây Á. Thứ hai, nước này đang sở hữu nhiều nguồn năng lượng tại các quốc gia Châu Phi như Nigiêria và nhiều quốc gia khác. Giờ đây, Ấn Độ cũng đã có khả năng tranh giành việc sở hữu những nguồn tài nguyên ấy.
Như vậy, Trung Quốc muốn tạo thế đứng chính trị tại Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương. Nước này có tham vọng trở thành một “vệ sĩ” chỉ phối vận tải đường biển và giao thông trên biển ở khu vực Nam Á.
Ông Russel Smith, Giám đốc phụ trách phòng thủ và an ninh của IHS Janes, một tổ chức chuyên tư vấn về các vấn đề chiến lược, cũng đồng tình với nhận định của Tiến sĩ Gosh. Tuy nhiên, ông cho rằng Trung Quốc không có ý định sử dụng vũ lực ở khu này. Hải quân Trung Quốc có mặt tại Ấn Độ Dương chỉ để luyện tập và tích lũy kinh nghiệm tác chiến.
Về khả năng sức mạnh quân sự của Trung Quốc, Tiến sĩ Gosh cho rằng hiện nay hải quân Trung Quốc chưa có lực lượng chiến đấu tầm xa ngoài khơi hải phận của nước này. Tuy nhiên, họ đang không ngừng xây dựng lực lượng của mình đủ khả năng để đối phó với các tình huống bất ngờ trên biển. Hải quân Trung Quốc có khả năng tác chiến với sự phối hợp của cả máy bay chiến đấu và các tên lửa đối hạm.
Ông Gosh lưu ý rằng ý đồ của Trung Quốc trong các mối quan hệ hợp tác là điều mà các nước đang phát triển trong khu vực phải chú ý khi chấp nhận sự hỗ trợ của Trung Quốc.
Theo đánh giá, việc Ấn Độ trải thảm đỏ đón tiếp nhà lãnh đạo Mianma là nhằm gây đối trọng với ảnh hưởng của Trung Quốc. Dường như trong quan hệ với người khổng lồ láng giềng Trung Quốc và Mianma, Ấn Độ đang nắm bắt lợi dụng cả hai “con tin” để đòi “tiền chuộc”.
Trong quan hệ quốc tế, các nước thường hy sinh các nguyên tắc vì các mục tiêu địa chính trị, bất chấp hậu quả như thế nào. Thực tế cho thấy không có bằng chứng nào rõ ràng hơn là với trường hợp của Ấn Độ, quốc gia dường như không đếm xỉa đến sự o bế dân chủ ở nước láng giềng phía Đông là Mianma khi tìm mọi cách hâm nóng quan hệ với các nhà lãnh đạo quân sự nước này.
Chỉ mới vài năm trước đây, Ấn Độ đã nêu vấn đề giam giữ trái phép thủ lĩnh Liên đoàn Quốc gia vì dân chủ (NLD) Aung San Suu Kyi, người đã bị quản thúc tại gia trong 20 năm qua sau khi được đại đa số nhân dân Mianma bầu làm người làm đạo đất nước. Ví dụ, vào đầu năm 2008, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Ấn Độ đã xác nhận việc nước này đã khuyến cáo Chính quyền quân sự Mianma rằng đã đến lúc cần phải khẩn cấp thi hành những cải cách chính trị và tiến trình này “phải dựa trên cơ sở rộng rãi nhằm gộp tất cả các thành phần, phe phái trong xã hội, trong đó có bà Aung San Suu Kyi”.
Nhưng chỉ hai năm sau đó, áp lực kiểu này dường như đã bị loại bỏ khi Ấn Độ, quốc gia được coi là nền dân chủ lớn nhất thế giới, đã quên đi vị trí của mình và tăng cường quan hệ sâu sắc với ban lãnh đạo quân sự Mianma. Sự năng động của mối quan hệ mới này được thể hiện đầy đủ nhất trong chuyến thăm Ấn Độ của Thống tướng Than Shwe hồi tháng Tám vừa qua và ông đã có cuộc hội đàm với Thủ tướng Manmohan Singh. Trong chuyến thăm này, hai nhà lãnh đạo đã ra tuyên bố chung và công bố một số thỏa thuận, trong đó có 5 hiệp ước về hợp tác chống khủng bố và các khoản vay ưu đãi của Ấn Độ dành cho Mianma, trong đó có khoản vay 60 triệu USD đầu tư vào dự án xây dựng đường giao thông và 10 triệu USD để mua máy móc.
Những thỏa thuận này bề ngoài là nhằm lôi kéo chính quyền tại một quốc gia mà tổ chức Freedom House trong năm nay đã đánh giá là một trong 9 nước hạn chế tự do nhất trên thế giới. Trên thực tế, tổ chức này vào năm 2009 đã kêu gọi đích danh Ấn Độ gây sức ép lên phiên tòa xét xử bà Suu Kyi với cáo buộc bà vi phạm các điều khoản quy định về quản thúc tại gia. Giám đốc điều hành của Freedom House, Jennifer Windsor lập luận: “Với tư cách là một nền dân chủ lớn nhất thế giới và là một nhà lãnh đạo của khu vực, Ấn Độ có trách nhiệm phải bảo vệ bà Suu Kyi và ít nhất là tìm cách gây ảnh hưởng đến các động thái của chính quyền quân sự Mianma”.
Tuy nhiên, việc Ấn Độ trải thảm đỏ đón chào Thống tướng Than Shwe hàm chứa một ý nghĩa lớn hơn là việc dỗ dành để Mianma có một thái độ tốt hơn. Động thái này là nhằm đối phó với ảnh hưởng của Trung Quốc tại Mianma và với tư tưởng này trong đầu, chuyến thăm của ông Than Shwe đã làm rõ một điều – Chính quyền quân sự đang khai thác nỗi lo ngại lẫn nhau của cả Trung Quốc và Ấn Độ để mặc cả đòi hỏi những nhượng bộ.
Chính quyền quân sự nên xấu hổ với sự quan tâm mà nước này nhận được từ phía hai nước láng giềng khổng lồ, vốn qua đó cho phép họ chế giễu các quốc gia phương Tây đang kêu gọi nước này xem xét lại cách ứng xử.
Trong khi Ấn Độ đang bận rộn với việc chi hàng triệu USD để nâng cấp các tuyến đường giao thông vận tải với Mianma, thì các công ty của Trung Quốc cũng đang rót hàng tỷ USD vào các dự án cơ sở hạ tầng của nước này, trong đó có việc Tập đoàn dầu khí Quốc gia Trung Quốc (CNPC) ký thỏa thuận mua khí đốt khai thác tại mỏ Shwe vào tháng 12/2008. Theo Tổ chức theo dõi nhân quyền, CNPC cũng đã bắt đầu xây dựng hai tuyến đường ống lớn để chuyển tải năng lượng qua Mianma tới Trung Quốc, được coi là một trong những dự án phát triển cơ sở hạ tầng lớn nhất mà tập đoàn này triển khai tại Mianma. Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng được coi là nhà cung cấp vũ khí chủ yếu cho quốc gia hà khắc này.
Với việc các nhà lãnh đạo Trung Quốc rõ ràng cho thấy ít có xu hướng gây sức ép lên Chính quyền quân sự Mianma, ví dụ như Bắc Kinh là thành viên của “Nhóm những người bạn của Mianma” trực thuộc Liên hợp quốc, Ấn Độ cũng quyết định hành động theo cách trên với việc gạt các ý tưởng về dân chủ sang một bên. Không quan tâm đến việc quyển tự do bày tỏ quan điểm bị chà đạp hay Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tính theo đầu người ở mức xấu hổ 469 USD/ năm. Ấn Độ đã xúc tiến các dự án phát triển lớn, trong đó có dự án xây dựng cảng Sittwe và một dự án trên sông Kaladan.
Một điều rắc rối là trong khi Chính phủ Ấn Độ nông nhiệt ca ngợi ông Than Shwe trong chuyến thăm 5 ngày này, có rất ít sự quan tâm (nếu có) của báo chí Ấn Độ đối với lời kêu gọi trả tự do cho bà Suu Kyi, vấn đề trước đây từng được đưa tin rất nhiều. Trong vấn đề này, báo chí dường như phản ánh một nhận thức rộng rãi tại Ấn Độ là một nền dân chủ bị đàn áp tại quốc gia láng giềng không quan trọng bằng việc nỗ lực cạnh tranh với một đối thủ đang trỗi dậy.
Nhưng vấn đề là cái giá nào mà Ấn Độ sẽ phải trả xét ở khía cạnh uy tín trong tương lai đối với những thủ đoạn chính trị và chiến lược mà nước này đang áp dụng hiện nay? Trong bối cảnh có rất ít người sẵn lòng chất vấn Chính quyền Niu Đêli về vấn đề này, dư luận không còn sự lựa chọn nào khác là chờ đợi xem điều gì sẽ xảy ra trong thời gian tới./.
Tổng thống Philippines sẽ đến thăm Việt Nam vào tháng tới vì biển Đông? Đất Việt
Nga giao cho Indonesia ba trực thăng tấn công 'khủng' Mi-35M Hind Đất Việt-Theo hợp đồng trị giá một tỷ USD (gồm 10 trực thăng vận tải Mi-17, 5 chiếc Mi-35M, 6 máy bay Sukhoi và hai tàu ngầm lớp Kilo) ký với Indonesia hồi tháng 9/2007, Moscow hôm nay giao cho Jakarta ba trực thăng tấn công Mi-35M Hind.-Mỹ hài lòng vì Nga không bán S-300 cho Iran Đất Việt-Điện Kremlin chính thức hủy hợp đồng bán hệ thống phòng không tên lửa S-300 cho Iran, khiến cho Nhà Trắng rất hài lòng.
-Vũ khí Mỹ chuẩn bị 'đổ bộ' vào Hàn Quốc Đất Việt--Hàn Quốc tuyên bố mua thêm vũ khí của Mỹ để củng cố khả năng quân sự và ngăn chặn hành động khiêu khích của Triều Tiên.
Amid Tension, China Blocks Crucial Exports to Japan-Escalating a dispute over Japan’s detention of a Chinese fishing trawler captain, China halted exports to Japan of some crucial rare earth elements.-China denies banning rare earths exports to Japan-BEIJING (Reuters) - A Chinese trade official on Thursday denied a New York Times report that China had banned exports of rare earths to Japan following the arrest of a Chinese trawler captain near disputed islands.-Anti-Japan Sentiment Gains Strength in China TIME-As tensions between China and Japan continue to escalate this week, both sidescan take solace knowing that things could be much worse. They have been in the past--Hong Kong activists stopped from sailing to disputed islands DPA-Trung Quốc bắt đầu trả đũa Nhật vì bắt giữ thuyền trưởng? Đất Việt-Trung Quốc ngừng xuất khẩu đất hiếm sang Nhật sau khi nước này giam giữ thuyền trưởng tàu ngư chính của họ từ đầu tháng, tờ New York Times đưa tin.-Hong Kong activists fail in second bid for disputed islands (Roundup) DPA-
- Lý do Trung, Nhật cứng rắn (Đất Việt). – Trung Quốc bác đề xuất đàm phán của Nhật (VTV). – Biển Hoa Đông lại dậy sóng (VTC). – Trung Quốc và Mỹ có lợi ích chung lớn hơn bất đồng (VOV). – Trung Quốc bắt đầu trả đũa Nhật vì bắt giữ thuyền trưởng? (Đất Việt). – Từ va chạm nhỏ trên biển đến đình trệ ngoại giao (Tuần VN)
- Mỹ kéo dài việc đóng quân ở lại Nhật trong lúc quan hệ Trung-Nhật căng thẳng (Đất Việt).
- China’s Disputes in Asia Buttress Influence of U.S. (The New York Times)--Washington is leaping into the middle of territorial and political disagreements between Beijing and its neighbors in East Asia and Southeast Asia.-Trung Quốc và Mỹ có lợi ích chung lớn hơn bất đồng VOV-Theo Thủ tướng Ôn Gia Bảo, hai nước cần phải áp dụng biện pháp ổn thoả, giải quyết các bất đồng và mâu thuẫn thông qua đối thoại, hợp tác và tin cậy lẫn nhau.-- Mỹ-ASEAN thúc đẩy duy trì ổn định Đông Nam Á/Biển Đông (Tổ quốc).
Đại sứ Michael Michalak: "Mỹ đã nêu rõ quan điểm về Biển Đông"
Thứ Năm, 23/09/2010 (GMT+7) - Xung quanh vấn đề Biển Đông, Mỹ đã nêu những quan điểm rất rõ ràng - Đại sứ Michael Michalak trao đổi với VietNamNet trước Hội nghị Cấp cao ASEAN - Mỹ do Tổng thống Barack Obama và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết chủ trì ngày mai (24/9) tại New York.
Mong muốn ASEAN hòa bình, an ninh
Thưa Đại sứ, đâu là những vấn đề chính trị khu vực mà Mỹ quan tâm thảo luận với các nhà lãnh đạo ASEAN tại Hội nghị Cấp cao tại New York?
![]() |
| Đại sứ Michael Michalak: Chúng tôi đang tích cực chuẩn bị chuyến thăm Hà Nội của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates. Ảnh: VNN |
Đây là hội nghị Cấp cao lần thứ hai giữa ASEAN và Mỹ. Hội nghị lần thứ nhất đã diễn ra tại Singapore và lần này được tổ chức lần đầu tiên tại Mỹ.
Tham gia thảo luận cùng các nhà lãnh đạo ASEAN, Tổng thống Obama muốn khẳng định tầm nhìn tiếp tục sự hiện diện của Mỹ ở khu vực châu Á cũng như ủng hộ ASEAN trên mọi trụ cột truyền thống như chúng ta biết, đó là chính trị - an ninh, kinh tế - thương mại và văn hóa - xã hội.
Đây là dịp để các nhà lãnh đạo ASEAN và Tổng thống đối thoại, thảo luận về sự phát triển tương lai ở ASEAN và vai trò mà Mỹ có thể đảm đương, đóng góp cho khu vực này. Như bạn biết thì chúng tôi vẫn còn khá mới mẻ với điều này và đây là lần thứ hai Tổng thống tham gia đối thoại, tiếp tục trao đổi các vấn đề tiếp theo kể từ Hội nghị ở Singapore năm ngoái.
Tôi cho rằng Tổng thống rất quan tâm đến việc hiện thực hóa cam kết đối với khu vực này cũng như mong muốn làm việc để thúc đẩy hơn nữa hội nhập của ASEAN, gia tăng sự thịnh vượng và hòa bình, an ninh khu vực.
Tổng thống Obama và Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết sẽ cùng chủ trì hội nghị kéo dài một ngày tại New York. Mỹ đánh giá như thế nào về vai trò của Việt Nam trong hợp tác khu vực giữa ASEAN và Mỹ?
Việt Nam đã làm rất tốt trong năm nay khi chủ trì hàng loạt các hội nghị quan trọng của khu vực. Tôi nghĩ ngài Thủ tướng Việt Nam xứng đáng là người có sức khỏe dẻo dai vì đã phải chủ trì rất nhiều hội nghị, dù tôi chắc chắn rằng ông phải rất mệt. Nhưng trên hết, chúng tôi rất hài lòng về những nỗ lực, hoạt động của Việt Nam trong năm nay.
Mỹ đang trông đợi Hội nghị Bộ trưởng các nước ASEAN mở rộng (AMM+) diễn ra sắp tới, không lâu sau Hội nghị Cấp cao ASEAN - Mỹ và tất nhiên là cả Cấp cao Đông Á mà Mỹ hướng sự quan tâm cũng cho thấy nỗ lực thể hiện vai trò của Việt Nam. Sắp tới sẽ diễn ra một số hội nghị khu vực quan trọng do Việt Nam chủ trì và tôi tự tin Việt Nam sẽ tiếp tục thể hiện tốt vai trò của mình.
Gặp gỡ Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ - Việt
Trước thềm Hội nghị Cấp cao, báo chí nước ngoài đã nhận định rằng Tổng thống Obama sẽ đề cập vấn đề Biển Đông trong thảo luận với các nhà lãnh đạo ASEAN. Liệu vấn đề này sẽ là một trong những vấn đề “nóng” của Hội nghị và lãnh đạo nước chủ nhà đề cập như thế nào, thưa Đại sứ?
Điều đó tùy thuộc vào ngài Tổng thống và các lãnh đạo ASEAN. Tôi chưa nhìn thấy lịch trình làm việc và mọi chi tiết chuẩn bị của Hội nghị đang được gút lại. Song chắc chắn các nhà lãnh đạo sẽ đề cập đến hàng loạt các vấn đề cùng quan tâm. Xung quanh vấn đề Biển Đông, Mỹ đã nêu những quan điểm rất rõ ràng.
![]() |
| Mỹ coi trọng đẩy mạnh hợp tác với ASEAN |
Ông có bình luận gì xung quanh vấn đề Biển Đông trở nên “nóng bỏng” kể từ sau những tuyên bố mạnh mẽ của Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Diễn đàn an ninh khu vực ở Hà Nội vừa qua, khiến Trung Quốc có những phản ứng không đồng tình, cho rằng vấn đề Biển Đông chỉ có thể giải quyết qua kênh song phương?
Tại Diễn đàn khu vực ASEAN, tôi nghĩ 15 - 16 nước tham dự đều có những tuyên bố. Mỗi nước có quan điểm riêng về vấn đề an ninh hàng hải khu vực được đưa ra thảo luận tại Diễn đàn khi đó. Ngoại trưởng Hillary Clinton đã đưa ra quan điểm của Mỹ về vấn đề này sau khi các nước ASEAN nêu quan điểm của riêng từng nước và Trung Quốc có những phản ứng của họ. Mỗi quốc gia hiển nhiên có chủ quyền và họ có quyền đưa ra những tuyên bố nêu quan điểm riêng. Chúng tôi lắng nghe điều mọi người nói, không chỉ là một quốc gia nào.
Đại sứ có thể chia sẻ thêm về hai chuyến thăm cấp cao của phía Mỹ đến Hà Nội vào tháng 10 tới?
Chúng tôi đang tích cực chuẩn bị cho chuyến thăm của Bộ trưởng Quốc phòng Robert Gates đến Hà Nội, dự Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN mở rộng (ADMM+). Bộ trưởng Gates sẽ dành thời gian tham dự Hội nghị ADMM+ và một ngày riêng cho hoạt động song phương với người đồng nhiệm Việt Nam ở trụ sở Bộ Quốc phòng. Tuy nhiên, vẫn còn quá sớm và chúng tôi đang chốt lại các chi tiết.
Tiếp đó, Ngoại trưởng Hillary Clinton sẽ trở lại Hà Nội. Mọi công tác chuẩn bị chi tiết đang được xúc tiến. Tôi hy vọng cùng với các hoạt động ở Hà Nội, Ngoại trưởng có thể đến thăm TP.HCM, nơi bà chưa thể ghé chân trong lần đến thăm trước. Tôi tự tin hai nhà lãnh đạo sẽ có chuyến thăm làm việc tại Việt Nam thành công.
Không được đề ai chà đạp lên lòng tự trọng!!! – Bài học sâu sắc từ Trung Quốc Đảo Hữu Nhật
Từ nước Việt Nam – nước vẫn được Trung Quốc coi là anh em 16 chữ vàng - bốn tốt, tôi chợt thấy cần có sự đồng cảm sâu sắc với người dân Trung Quốc từ vụ việc tàu Trung Quốc đâm phải tàu tuần tra bờ biển của Nhật Bản tại khu vực tranh chấp gần đảo Điếu Ngư.
Trước hết, hãy lắng nghe một tri thức Trung Quốc lên tiếng:
“Bà của thuyền trưởng đột tử khi hay tin cháu bị giam cầm. Tết trung thu, ngày tết đoàn viên theo truyền thống của người Trung Quốc, đang đến gần nhưng thuyền trưởng Zhan không thể về nhà để tụ họp gia đình. Đây là hành động vô nhân đạo của chính quyền Nhật Bản”1
Trong lúc rất thông cảm với bức xúc của trí thức Trung Quốc thì tôi cũng dấy lên một so sánh nhỏ:
+ Tại khu vực tranh chấp đảo Senkaku (Điếu Ngư)
·
- Nhật Bản thả các thuyền viên về trong thời hạn sau khi có đề nghị của Trung Quốc
- Thuyền đánh cá và ngư cụ được trả về nguyên trạng sau khi thu thập đầy đủ chứng cứ
- Chỉ câu lưu duy nhất thuyền trưởng, người được coi là chịu trách nhiệm chính trong sự kiện này.
+ Tại khu vực tranh chấp Đảo Hoàng Sa (Tây Sa)
-“Khi chạy vào quần đảo Hoàng Sa núp gió, đã bị một chiếc tàu quân sự Trung Quốc nổ súng bắn khiến một số ngư dân bị thương.”2
- Nhiều lần tịch thu tàu thuyền và các ngư cụ có giá trị lớn
- Giam cầm, bắt ký thừa nhận “Xâm phạm vùng biển”3 và đòi tiền chuộc lên tới 180 triệu – 200 triệu VND mới thả người. Thời gian giam cầm có thể lên tính đến hang tháng sau khi Việt Nam gửi Công hàm đến Trung Quốc.
Và tiếng nói của người vợ của ngư dân Việt Nam bị bắt giữ:” Mấy ngày nay cơm nuốt không xuống, không tối nào chợp mắt vì lo cho anh ấy. Tôi bị bệnh mấy năm nay, lo cho mấy cháu cái ăn đã khổ, tiền đâu moi ra cả trăm triệu đồng mà nộp cho họ. Mọi chuyện chừ trông chờ chính quyền giúp đỡ!”4
Chắc giáo sư Zhang cũng biết những thông tin được so sánh trên đây. Nếu không thật là một thiếu sót lớn của chính quyền Trung Quốc khi không để người dân Trung Quốc được biết, hiểu và “thông cảm” với người “anh em núi liền núi, sông liền sông” như Việt Nam.
Tôi thì rất biết ơn các đài báo Việt Nam đã cho tôi tiếp cận tin tức để bày tỏ sự thông cảm đến người dân Trung Quốc!
Tiếp đến tôi thấy nhiều điều đáng học tập từ cộng đồng mạng Trung Quốc.
Trên trang web t.sina.com.cn, anh Li Weihua khẳng định: “Người Nhật không chỉ bắt giữ thuyền trưởng Zhan Qixiong mà còn đang chà đạp lên lòng tự trọng của Bắc Kinh”.
Với tôi, anh quả là một công dân Trung Quốc mẫu mực về tinh thần dân tộc. Chúng tôi những người Việt Nam phải học tập anh rất nhiều. Chúng tôi phải đoàn kết lại và thể hiện tinh thần dân tộc cao như vậy đối với vấn đề Hoàng Sa. Không được để "họ" chà đạp lên long tự trọng của Hà Nội.
Không dừng lại ở mức độ đó, chúng tôi cũng nên học cách của người Trung Quốc khác khi anh ta kêu gọi:” Chúng ta phải tẩy chay hàng hóa Nhật Bản. Họ kiếm lợi quá nhiều từ người dân Trung Hoa song họ không biết điều khi kiên quyết làm tổn thương chúng ta”
Đúng, Nhật Bản còn chưa phát một tờ lệnh đòi tiền chuộc như Trung Quốc từng làm với Việt Nam mà người Trung Quốc này đã kêu gọi tẩy chay hang hóa Nhật.

Photo courtesy of Phapluatthanhpho
Hi vọng người dân và trí thức Trung Quốc tiếp cận được những lời bày tỏ sự thông cảm trên đây của một người dân Việt Nam! Chúc anh Zhang sớm về đoàn tụ với gia đình. Và cả hai bên Trung Quốc Nhật Bản giải quyết các bất đồng theo đúng luật và thông lệ quốc tế về lãnh hải.
Chúng tôi cũng học được bài học sâu sắc từ phía Trung Quốc. Đó là không để ai chà đạp lên lòng tự trọng của chúng tôi!
---
1. 1. http://www.baodatviet.vn/Home/thegio...112596.datviet
3. http://baoonline.vn/xa-hoi/xa-hoi/ng...ien-chuoc.html
4. http://phapluattp.vn/260858p0c1013/s...an-ra-khoi.htm

