Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

Gân Gà Tây Tạng của Trung Quốc (Nguyễn Xuân Nghĩa)

-Gân Gà Tây Tạng của Trung Quốc
Nguyễn Xuân Nghĩa & Đinh Quang Anh Thái - Giờ Giải Ảo ngày 201003115

Tây Tạng - Nhìn từ Trung Quốc mà lo....

Hoàng đế Tây Tạng bên hai bà vợ là Công chúa nhà Đường và Công chúa Nepal

ĐQAThái: Đây là chương trình Giờ Giải Ảo với ông Nguyễn Xuân Nghĩa trên làn sóng của đài phát thanh NVR 1190 AM vào mỗi tối Thứ Ba, được truyền thanh cho thính giả toàn cầu trên mạng lưới Kxmx.com và trang nhà của nhật báo Người Việt. Xin kính chào ông Nghĩa.

Thưa ông, như hàng năm kể từ năm 1959 đến nay, cứ đến ngày 10 tháng Ba là dân Tây Tạng tại khắp nơi lại có những sinh koạt kỷ niệm ngày khởi nghĩa của Tây Tạng tại thủ đô Lhasa vào tháng Ba năm 1959. Trong dịp này, hôm Thứ Năm tuần trước, đức Đạt Lai Lạt Ma báo động là Trung Cộng đang ra sức tiêu diệt Phật giáo tại Tây Tạng. Nhưng dịp này, ngài cũng nói thêm về chủ trương có tính cách "trung đạo" của mình là Tây Tạng không đòi độc lập mà chỉ muốn được quyền tự trị và nếu một giải pháp hoà bình cho Tây Tạng có thể đạt được với Chính quyền Bắc Kinh thì chính phủ lưu vong Tây Tạng sẽ tự giải tán, nghĩa là dân Tây Tạng sẽ bầu lên một cơ chế khác để quản lý đời sống của họ trong hoàn cảnh tự trị...

Thưa ông, xứ Tây Tạng đang là một quốc gia độc lập thì bị Trung Quốc tấn công năm 1950 rồi chiếm đóng năm 1959 như ông đã trình bày kỳ trước. Nay đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ xin cho dân Tây Tạng được quyền tự trị trong hệ thống cai trị của Bắc Kinh và còn sẵn sàng giải tán chính phủ lưu vong đang hoạt động tại Dharamsala của Ấn Độ, hầu bảo toàn được văn hoá và Phật giáo. Chúng ta thấy rằng vị lãnh đạo tôn giáo và chính trị này quả là đã nhượng bộ đến tối đa.

Vì vậy, tiếp theo chương trình tuần trước, xin đề nghị là chúng ta sẽ tìm hiểu tiếp về Tây Tạng và tìm hiều từ ngọn nguồn ban đầu. Xin ông trình bày cho ngọn nguồn đó nhất là sau khi ông đã than phiền về tình trạng Bắc thuộc tư tưởng của Việt Nam chúng ta sau khi đã giành lại độc lập. Trước hết, đâu là những đặc tính của một dân tộc huyền bí sống trong một khu vực hiểm trở trên đỉnh Hy Mã Lạp Sơn mà người ta gọi là Tây Tạng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa anh, chỉ nội cái tên gọi cũng giúp mình khám phá ra nhiều chi tiết lý thú về nền văn minh Trung Hoa. Chữ "Tạng" viết với bộ "thảo" theo tiếng Hán có nhiều nghĩa qua hai cách đọc. Một là "tàng", có nghĩa là cất giấu, như tàng trữ hoặc hành tàng; hai là "tạng", có nghĩa là nơi cất chứa đồ đạc hay kho tàng, mà cũng là tên của dân tộc Tây Tạng, hoặc là kinh Phật, như ba tạng kinh là Kinh tạng, Luật tạng và Luận tạng, mà người Phật tử đều biết. Trung Quốc hay chơi chữ khi phiên âm tên gọi "Tây Tạng", nhưng giải thích là "Tây Tàng", hàm ý kho tàng của Hán tộc tại phía Tây!

- Thực ra, Tây Tạng là lối gọi từ đời nhà Thanh do xuất xứ là tên đất U Tsang của xứ này. Chứ ngày xưa, Trung Hoa gọi xứ này là Thổ Phồn qua cách phiên âm từ chữ "Tuban" hay "Tubbat" - vốn là chữ Ba Tư, phiên dịch một từ Turkic, có nghĩa là đỉnh cao. Dân ta mà đọc truyện võ hiệp Kim Dung thì nhớ đến chữ Thổ Phồn này. Cũng chữ Tubbat ấy lại được Âu hoá ra Tibet như thế giới dùng ngày nay. Trong khi ấy, dân Tây Tạng gọi xứ sở của họ là "Bod". Bây giờ, khi định nghĩa thế nào - hay những đâu - là Tây Tạng, ta đụng vào nội dung chính trị với hàm ý ngả theo quan điểm của Trung Quốc hay của dân Tây Tạng. Một thí dụ cho dễ hiểu là tên nước ta.

- Năm 1804, vua Gia Long muốn đặt quốc hiệu là Nam Việt mà nhà Mãn Thanh không chịu và đòi ta đổi là Việt Nam vì sợ tên Nam Việt đó lên tới thời Triệu Đà của nhà Tần và gồm cả hai tỉnh Lưỡng Quảng của Tầu! Sau đó, đời Minh Mạng mới đổi thành Đại Nam, dù nhà Thanh không chịu nhưng quá suy yếu nên chẳng làm được gì. Tên nước ta đã trở thành Đại Nam từ năm 1839 cho đến năm 1945, thì sau khi giành lại độc lập - dù chỉ tạm bợ - chính phủ Trần Trọng Kim lại đổi ngược thành Đế quốc Việt Nam và Cộng sản cũng dùng lại tên Việt Nam đó. Cũng là điều đáng tiếc!

- Trong chương trình kỳ này, tôi đề nghị là nên dựa trên định nghĩa Tây Tạng căn cứ trên lịch sử của họ và vì thời giờ có hạn tôi sẽ cố gắng gói ghém vào một số điểm chính mà thôi.

ĐQAThái: Mình không ngờ là cách gọi tên cũng rắc rối vậy! Bây giờ, ta cố lướt qua lịch sử và địa dư Tây Tạng để hiểu xem Trung Quốc tiếp xúc với xứ này từ hồi nào mà nay lại nói Tây Tạng là thuộc về Trung Quốc?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Dân tộc Tây Tạng xuất hiện đã lâu và có lịch sử cũng lâu đời gần bằng dân ta, được ghi chép lại thì cũng hơn 2.300 năm. Lần đầu Tây Tạng tiếp xúc với Trung Quốc là vào đầu thế kỷ thứ bảy, khi họ thành cường quốc thống nhất và đem quân tấn công nhà  Đại Đường!

- Đó là dưới thời vua Tùng Tán Can Bố hay Songzen Gampo, là bậc hùng tài đã đánh thắng dân Thổ Cốc Hồn và qua năm 638 đem quân tấn công vào các châu quận nhà Đường để đòi lấy một công chúa Trung Hoa. Thời ấy, Hoàng đế Trung Quốc là Đường Thái Tông Lý Thế Dân, dù cũng là vua tài giỏi, mà đành nhượng bộ và gả công chúa Văn Thành để được hoà bình. Sau này, lịch sử Trung Quốc mới nói phét, thành ngữ Tầu gọi là "thổi da trâu".

ĐQAThái: Dân Tầu gọi tật nói phét là "thổi da trâu"! Và họ nói phét như thế nào về chuyện công chúa Văn Thành của nhà Đường mà sau trở thành Hoàng hậu Tây Tạng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Mãi đến giờ này, là qua thế kỷ 21, Trung Quốc còn lanh quanh giải thích vụ đó theo ba cách. 

- Thứ nhất, họ viết rằng nhà Đường chỉ gả một cung phi giả làm công chúa mà vua Thổ Phồn ngờ nghệch không biết! Nghĩa là vừa khinh người vừa gian trá, vì việc gì phải gả, dù là cung phi hay công chúa? Thứ hai, họ viết rằng Văn Thành công chúa chỉ là cháu chứ không phải là con gái Đường Thái Tông. Nghĩa là vẫn hèn nhưng bèn chữa thẹn.

- Cách diễn giải thứ ba thì cao điệu hơn, rằng chính Văn Thành công chúa này đã cảm hoá bọn Thổ Phồn man rợ và dạy cho chúng nhiều điều, như Phật giáo, kỹ nghệ luyện kim, canh cửi, v.v... Nghĩa là chuyện con gái Đường Thái Tông lấy Hoàng đế Tùng Tán Can Bố của Tây Tạng là có thật, nhưng là lấy để cảm hóa bọn man di mọi rợ! 

ĐQAThái: Câu chuyện thật ly kỳ về lần tiếp xúc đầu tiên. Bây giờ, xin ông nói về lần tiếp xúc thứ nhì.

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Lần tiếp xúc thứ hai là vụ tấn công kinh đô Trường An năm 763.

- Khi nhà Đại Đường gặp "loạn An-Sử", là An Lộc Sơn và Sử Tư Minh từ năm 755 đến 763 dưới thời Đường Huyền Tông mà ta quen gọi là Đường Minh Hoàng, thì vua Trisong Detsen của Tây Tạng - Trung Hoa phiên âm thành Xích Tùng Đức Tán - đã đưa quân vào kinh đô Trường An và có góp phần dựng lên Thiên tử mới cho nhà Đường là Đường Đại Tông Lý Dự! Tức là Tây Tạng chọn người lên làm Hoàng đế Trung Quốc! Chứ không phải Bắc Kinh phù phép chọn đức Ban Thiền Lạt Ma cho Tây Tạng như sau này.

- Trong hơn một thế kỷ sau đó, khi nhà Đường lụn bại dần và Trung Quốc tan rã vào thời Ngũ Đại Thập Quốc - cũng là thời Ngô Quyền của dân ta quật khởi và giành lại độc lập - thì Tây Tạng đã là cường quốc bá chủ cả khu vực Trung Á và Tây Á. Họ thực tế kiểm soát con đường tơ lụa vắt ngang hai lục địa Âu-Á. Chuyện ấy, ngày nay Trung Quồc lờ đi trong các tài liệu lịch sử của họ! Và Tây phương mù loà hoặc muốn làm ăn với Trung Quốc thì cũng lờ theo. Nhưng sự kiện không chối cãi vì vẫn còn dấu vết là năm 822 nhà Đường phải ký kết hòa ước với Tây Tạng, hoà ước này được ghi trên bia đá, ngày nay vẫn còn!


ĐQAThái: Như vậy thì đã có một thời mà Tây Tạng là một cường quốc quân sự làm Trung Quốc bị ngả nghiêng. Thế vì sao ngày nay sự thể lại đảo điên khiến Tây Tạng đang bị chiếm đóng và trở thành lãnh thổ của Trung Quốc?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi phải nhắc lại dù khái quát lịch sử quan hệ giữa hai nước Tây Tạng và Trung Quốc để ta thấy mối lo sợ và tài khoa trương của Trung Quốc. Trong lịch sử, chỉ có nhà Lý của ta đã có lần tấn công vào lãnh thổ Trung Quốc rồi lại rút, chứ các sắc tộc khác còn tiến xa hơn, thậm chí cai trị cả Trung Nguyên trong nhiều thế kỷ. Các vị vua đời Lý và Trần hoặc Lê Lợi và Nguyễn Huệ của ta thì không hề sợ Trung Quốc. Các đời vua khác từ nhà Lê thì không được như vậy vì tinh thần tự Hán hóa của các Nho thần, là chuyện mình không nên quên. Trở lại chuyện Tây Tạng, ta cần ghi nhận hai sự kiện lớn.

- Thứ nhất, trên cực điểm quyền lực vào thế kỷ thứ bảy, vua Tùng Tán Can Bố của Tây Tạng lại sùng chuộng văn hoá, khoa học và tôn giáo từ các nước lân cận và cố tiếp nhận giáo lý nhà Phật trực tiếp từ Ấn Độ hoặc gián tiếp từ Trung Hoa. Tây Tạng thành cường quốc từ đó nhưng là cường quốc Phật giáo. Sự kiện thứ hai là nếu Phật giáo có cảm hoá dân Tây Tạng khiến dân tộc thiện chiến và thực sự là rất hiếu chiến lại trở thành hiếu hòa thì cũng do ảnh hưởng Phật giáo lên hàng tăng lữ và quý tộc. Nhưng xung đột chính trị và tôn giáo đã xảy ra khiến xứ này bị phân hoá dần trong nội bộ. Chất keo sơn nối kết dân Tây Tạng với nhau là Phật giáo thì cũng là yếu tố tinh thần khiến họ từ bỏ con đường chiến tranh.

ĐQAThái: Nếu hiểu không lầm thì Tây Tạng đã từng là cường quốc, tự thuần hóa theo đạo Phật, rồi tranh chấp nội bộ có làm xứ này bị phân hoá. Có phải vậy không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa đúng như vậy, và phải nói thêm rằng cục diện Châu Á cũng đổi thay với sự xuất hiện của một đại cường mới là Mông Cổ. Các Đại hãn Mông Cổ đã khuất phục Trung Hoa và lập ra nhà Nguyên trong hai thế kỷ từ 13 đến 15. Nhưng, về sau chính các Đại hãn Mông Cổ cũng được các vị Lạt ma Tây Tạng cảm hóa. Họ ngợi ca chư tăng Tây Tạng là "quốc sư" hay "Đại bảo Pháp vương". Danh hiệu Đạt Lai Lạt Ma như ta nói đời nay là do một Đại hãn Mông Cồ đặt ra từ năm 1576 và có nghĩa là "Trí huệ như Biển cả". Nếu nhìn theo chiều dài lịch sử, thì sau khi rút khỏi Trung Nguyên, dân Mông Cổ bách chiến bách thắng lại thành hiếu hoà một phần là do ảnh hưởng văn hoá và Phật giáo của Tây Tạng. Nhiều Hoàng đế đời Minh cũng sùng chuộng và kính trọng các Lạt ma Tây Tạng không khác gì các Đại hãn Mông Cổ trước đó.


ĐQAThái: Thế Trung Quốc trở lại Tây Tạng là từ thời nào để chiếm đóng như ngày nay?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Chúng ta nên mường tượng ra hoàn cảnh nay ta gọi là "chiến lược" như thế này: Trước Hán tộc, thì dân Mông Cổ liên kết và bảo vệ dân Tây Tạng vì lý do tâm phục, vì yếu tố tôn giáo. Khi dân Mãn Châu bành trướng và diệt được nhà Minh của Hán tộc để lập ra nhà Đại Thanh từ năm 1644 thì ban đầu họ coi Mông Cổ là đồng minh. Khi cần khống chế hoặc giải giới các bộ tộc Mông Cổ thì họ mượn uy tín của các Lạt ma Tây Tạng mà họ gọi là "Thánh tăng" hay "Kim cương Đại sĩ", thí dụ như mãi đến cuối thế kỷ 18, Từ Hy Thái hậu nhà Thanh vẫn còn tôn vị Đạt Lai Lạt Ma đương thời là "Tây Thiên Tự Tại Phật". Và chữ "Phật sống Tây Tạng" như ta hay nói đời nay chính là xuất phát từ chữ "Hoạt Phật" đã có từ đời Thanh.

- Tuy nhiên, quan hệ giữa Tây Tạng và Mãn Thanh cũng có lúc thăng trầm vì nội loạn trong triều đình Tây Tạng, vì xung đột với các bộ tộc lân cận hoặc vì tham vọng của Hoàng đế Đại Thanh. Khi nhà Thanh xâm lăng Tây Tạng vào năm 1910 thì là lúc họ đã lụn bại và sụp đổ và Tây Tạng giành lại độc lập là từ năm 1911 đó. Lần duy nhất mà Trung Quốc trực tiếp chiếm Tây Tạng là dưới thời cộng sản của Mao Trạch Đông. Lãnh đạo Bắc Kinh ngày nay nói rằng Tây Tạng thuộc về Trung Quốc là vì họ viện dẫn lịch sử của các nhà Nguyên Mông và nhà Đại Thanh, là các dị tộc, nhìn từ giác độ của Hán tộc. Sự thật thì không đơn giản như thế.

ĐQAThái: Nếu nhìn theo một yếu tố duy tâm thì trong lịch sử quan hệ giữa hai nước, Trung Quốc và Tây Tạng có bị chi phối bởi Phật giáo. Ngày nay, ách đô hộ của Trung Quốc trên đất Tây Tạng có thể hà khắc hơn là do bản chất vô thần của lãnh đạo Bắc Kinh, điều ấy có đúng không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa tôi nghĩ rằng có phần đúng, nhưng chỉ một phần mà thôi.

- Yếu tố chính của sự khác biệt giữa thời nay và thời xưa là lãnh đạo Trung Quốc đã trở thành thực tiễn và gian hùng hơn các Hoàng đế Trung Hoa kênh kiệu mà nhiều khi bất lực của thời xưa. Và chúng ta cũng phải lồng vào bên trong một yếu tố xưa kia không có, đó là Tây phương, gồm có hai nước Anh và Mỹ. Đấy cũng là cái nghiệp của dân Tây Tạng. Đôi khi cũng giúp ta hiểu ra vì sao mà sau Ấn Độ là nơi lưu vong kể từ năm 1959, hai quốc gia được dân Tây Tạng chú ý và tranh thủ đầu tiên chính là Anh và Mỹ


ĐQAThái: Câu chuyện càng thêm ly kỳ vì yếu tố Tây phương là nước Anh và Hoa Kỳ mà ông nói tới. Mình có thể giản lược trình bày sự kiện đó được không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tây Tạng bị hai tầng áp bức là sự nhẫn tâm của Trung Quốc và sự nhu nhược ích kỷ của Tây phương.

- Xứ Tây Tạng bắt đầu tiếp xúc với Tây phương và bị Trung Quốc thống trị vì tinh thần hiếu hoà bất bạo động của mình. Nhưng cái mất của dân Tây Tạng cũng là cái được của đạo Phật. Nhìn theo quan điểm Phật tử thì ta có thể suy ra tinh thần từ bi và vô úy trong lý luận chính trị của đức Đạt Lai Lạt Ma, nôm na là vì Bồ tát hạnh mà chịu khổ cho chúng sinh. Nhìn theo địa dư chính trị thì Tây Tạng bị hoạn nan vì sự gian manh của Đế quốc Anh, lúc đó đang làm chủ tiểu lục địa Nam Á gồm Ấn Độ, Pakistan và Bangladesh, và muốn chinh phục Tây Tạng từ năm 1904 nhưng nói với bên ngoài là Tây Tạng thuộc về Trung Quốc, lý do là để Đế quốc Nga khỏi nhòm ngó. Sau đó Tây Tạng mới trôi vào vòng thống trị của Đế quốc Trung Hoa hiện đại khi nước Anh lụn bại.

ĐQAThái: Ông vừa nhắc đến nước Nga trong chuyện Tây Tạng, vì sao lại như vậy?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Về địa dư chính trị, để tranh giành ảnh hưởng với Đế quốc Nga, khi muốn chi phối Tây Tạng từ năm 1904 thì người Anh công nhận nền độc lập của Tây Tạng mà vẫn nói với thế giới rằng Tây Tạng là một phần lãnh thổ của Trung Quốc. Từ đấy mới có huyền thoại Tây Tạng là của Trung Quốc. Mục tiêu của Đế quốc Anh là ngăn ngừa sự can thiệp của Nga vào đất Tây Tạng trong việc hai cường quốc tranh giành ảnh hưởng tại Trung Á, gọi là "The Great Game". Anh cũng muốn thoả mãn tự ái hay tật nói phét của Trung Quốc hầu bảo vệ được Hong Kong và các tô giới mà họ lấy của Trung Quốc. Hoa Kỳ cũng chẳng khá hơn nước Anh. 

ĐQAThái: Bây giờ mới đến chuyện Mỹ!

Nguyễn Xuân Nghĩa: Và cũng ly kỳ không kém! 

- Trong Thế chiến II tại Á châu, khi thấy Nhật đưa quân vào Thái Lan và Miến Điện, Mỹ mới sợ Nhật tiến vào Hoa lục theo ngả khác nên tìm cách liên lạc với một quốc gia mà họ hoàn toàn dốt nát không biết gì là Tây Tạng. Họ tưởng lầm rằng Tưởng Giới Thạch làm chủ Tây Tạng như ông ta nói, rồi sau đó mới biết Tây Tạng là xứ độc lập với Tầu. Năm 1942, tiền thân của cơ quan CIA mới gửi hai người vào tiếp xúc với Chính quyền Tây Tạng, một trong hai người là cháu nội của văn hào Tolstoy người Nga. Họ báo cáo về thì Tổng thống Roosevelt còn chưa biết gì và miệt thị Tây Tạng một cách vô học, là giai thoại về con bò tím mà tôi có viết trên báo Người Việt trong số báo ra ngày 23 tháng Hai năm 2011 vừa qua.

- Sau đó, khi cần đối đầu với Trung Cộng, cơ quan CIA có huấn luyện một số người Tây Tạng mà không điệp viên nào của CIA lại biết tiếng Tây Tạng hoặc vào tới vùng đất hiểm trở đó và chung cuộc thì vẫn chẳng biết gì. Tới khi cần ve vãn Trung Quốc để chặn Liên Xô, CIA chấm dứt chương trình yểm trợ Tây Tạng, nhưng lại lỡ cho Trung Quốc lý cớ xuyên tạc, rằng lãnh đạo Tây Tạng là tay sai CIA!

- Ngược lại, dù biết chắc Tây Tạng không phải của mình và dân Tây Tạng không là người Tầu, lãnh đạo Bắc Kinh vẫn nhập nhằng duy trì huyền thoại là họ làm chủ Tây Tạng. Khi Mao Trạch Đông đưa quân vào Tây Tạng năm 1950 thì cũng với lý cớ "giải phóng Tây Tạng khỏi sự đô hộ của ngoại bang" và ta ngầm hiểu ngoại bang đây là đế quốc Anh rồi Mỹ. Qua năm 1959 thì họ dùng lý cớ giải phóng Tây Tạng khỏi chế độ phong kiến và thiết lập ách trực trị tại đây.

- Kết cuộc là chỉ còn sáu triệu dân Tây Tạng sinh sống trên một lãnh thổ bát ngát bằng cả Tây Âu, nay bị Trung Quốc chiếm mất phân nửa. Phân nửa kia họ gọi là Đặc khu Tự trị Tây Tạng, mà vẫn không cho dân Tây Tạng quyền tự trị. Thế giới hay Tây phương không phải vô can trước tội diệt chủng Tây Tạng trong cả hai nghĩa là đồng hoá chủng tộc và tiêu diệt văn hoá Tây Tạng. Chúng ta nên tự giải ảo và nhất là giải ảo cả dư luận Mỹ khi muốn dùng Hoa Kỳ làm đòn bẩy để giải quyết vấn đề Trung Quốc của mình! Các thế hệ trẻ đang muốn tác động vào chính trường Mỹ không nên quên những bài học này. 
 -Tây Tạng và Nỗi Sợ Hãi của Trung Quốc
Nguyễn Xuân Nghĩa & Đinh Quang Anh Thái - Giờ Giải Ảo ngày 20100308

Nỗi sợ hãi ngút ngàn - nhìn thấy từ mặt trăng





ĐQAThái: Thưa quý thính giả, đây là Giờ Giải Ảo với ông Nguyễn Xuân Nghĩa trên làn sóng 1190AM của NVR và trên mạng lưới điện toán toàn câu kxmx.com và trang nhà của nhật báo Người Việt. Xin kính chào ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Trong chương trình tuần trước, ông có nói đến việc Trung Quốc chiếm đóng Tây Tạng từ tháng Ba năm 1959. Câu hỏi đầu tiên của chúng tôi là vì sao chế độ Cộng sản Trung Quốc lại chiếm đóng Tây Tạng và từ 60 năm nay vẫn khăng khăng nói rằng Tây Tạng là một phần lãnh thổ của Trung Quốc?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Thưa anh, nếu có đủ thời giờ trong chương trình hôm nay thì trước khi nói về Tây Tạng, ta phải nhìn lại địa dư và lịch sử Trung Quốc thì mới thấy rõ vấn đề rắc rối này. Nhưng tôi e rằng sẽ lại làm thính giả ngạc nhiên khi tóm tắt lại rằng đây là hậu quả của sự sợ hãi. Trung Quốc là một nền văn minh của sự sợ hãi, một sự sợ hãi vĩ đại có thể nhìn thấy từ nguyệt cầu, từ mặt trăng. Nếu nhìn ra bối cảnh tâm lý ấy, mình sẽ hiểu rõ hơn chuyện Tây Tạng, và cả chuyện Việt Nam sau này.

ĐQAThái: Hình như là ông thích nêu ra những nghịch lý! Vì sao mà một quốc gia đông dân nhất địa cầu trên một lãnh thổ lớn bằng cả một lục địa mà lại là nền văn minh của sự sợ hãi? Quốc gia đó đang lấn đất lấn biển của Việt Nam thì lãnh đạo của họ có sợ hãi gì đâu?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Tôi xin trích dẫn một ngạn ngữ Pháp, rằng "chính là sự sợ hãi của ngươi mới làm ta hãi sợ!" Tôi xin giải thích như thế này về nghịch lý đó để may ra thì mình hiểu cả vấn đề Tây Tạng và Việt Nam. Có lẽ ta sẽ còn phải nói về chuyện này rất nhiều lần thì mới rõ.

- Trước hết, quả là Trung Quốc có một lãnh thổ bát ngát. Nhưng nếu xét kỹ địa dư hình thể học, ta thấy là xứ này gồm có ba phần nhìn theo ánh mặt trời từ Đông qua Tây. Và ba phần này lại có tốc độ tăng trưởng dị biệt, với khoảng cách ngày càng đào sâu hơn, là điều lãnh đạo Bắc Kinh đang bàn cãi trong kỳ họp tuần này của Quốc hội khóa 11.

- Phần thứ nhất là từ biển Thái bình tới bên trong, ta gặp trước tiên vùng duyên hải mà họ gọi là Trung Nguyên. Đây là nơi có châu thổ hai con sông lớn là Hoàng Hà, Dương Tử và cũng nên kể thêm Châu Giang tại Quảng Đông. Khu vực này có độ ẩm đủ cao khả dĩ trồng trọt được và là trung tâm quyền bính của Hán tộc. Nếu vạch một đường mà địa dư học gọi là "đẳng cao tuyến" theo hướng từ Tây Nam lên Đông Bắc, từ biên giới với Miến Điện tới Mãn Châu, thì phía Đông đường tuyến này có độ mưa hàng năm là hơn 37 phân nước, phía Tây của đường tuyến thì khô hơn và khó canh tác hơn. Vùng đất này rộng bằng hai phần ba diện tích của Úc Đại Lợi nhưng có mật độ dân số rất cao, với diện tích canh tác tính trên đầu người chỉ bằng một phần ba mức trung bình cùa toàn cầu.

- Sau phần đất thật ra rất chập hẹp ấy là phần thứ hai, cả một lục địa rộng lớn của các khu vực bị khoá trong lục địa với đất đai khô cằn và địa thế hiểm trở của rừng núi, sa mạc và thảo nguyên bát ngát. Đây là nơi mà giao thông không tiện lợi và là đất sinh sống chủ yếu của các sắc tộc thiểu số mà cũng là nơi xuất phát các đợt xâm lược từ hướng Tây, Tây Bắc và cả Tây Nam vào Trung Nguyên. Tần Vương Chính ngày xưa cũng từ đó gồm thâu lục quốc ở gần biển để thống nhất Trung Quốc dưới tên gọi là Tần Thủy Hoàng Đế. Tài giỏi và mưu lược như Khổng Minh mà bị khoá bên trong Tứ Xuyên và lục xuất Kỳ Sơn không thành thì cũng đành nhìn sao rơi Ngũ trượng nguyên! Vì nhiều đợt xâm lăng và thực tế là thống trị Trung Quốc bởi các dị tộc - mà nền văn minh Hán tộc gọi là "tứ di" với sự khinh miệt nhưng thật ra khiếp sợ - lãnh đạo Trung Quốc trong mọi thời đều chú ý đến khu vực thứ ba.

- Đó là khu vực biên trấn mà họ gọi là phiên trấn hay phiên thuộc mà Hán tộc phải kiểm soát, khống chế và xây dựng thành "vùng trái độn" để tự vệ. Nó trải rộng từ Đông sang Tây gồm có Mãn Châu, Nội Mông, Tân Cương và Cao nguyên Thanh Tạng là tỉnh Thanh Hải và lãnh thổ Tây Tạng... Khu vực địa dư hiếm yếu này vừa bảo vệ Hán tộc nhưng lại khiến Trung Quốc khó tiến ra ngoài. Con đường bành trướng duy nhất là qua hướng Nam, từ Quý Châu, Vân Nam và Lưỡng Quảng vào Bắc Việt, là chuyện ta đã thấy lần mới nhất là vào năm 1979!

ĐQAThái: Quý thính giả đang theo dõi chương trình Giờ Giải Ảo với ông Nguyễn Xuân Nghĩa.

Thưa ông Nghĩa, ông vừa trình bày khái quát về địa dư hình thể Trung Quốc để thính giả mường tượng ra thực tế địa lý và kinh tế của xứ này. Thực tế ấy chi phối lịch sử Trung Quốc thế nào mà họ lại chiếm đóng Tây Tạng?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Về lịch sử thì do hình thể ấy, Trung Quốc có phản ứng phòng thủ từ... tiền kiếp, mà biểu tượng là Vạn lý Trường thành. Tôi xin giải thích thêm về chuyện sợ hãi ấy. Sau đó mới nói về quan hệ của xứ này với Tây Tạng.

- Vạn lý Trường thành của họ đã được ba nước Tề, Yên và Triệu xây dựng từ thời Chiến quốc là  từ thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, từ 2.500 năm trước. Sau đó gần ba trăm năm mới được Tần Thủy Hoàng Đế nối thêm về hướng Bắc. Còn Trường thành vĩ đại mà ta thấy ngày nay thật ra được ráp nối và xây thêm vào đời Minh. Nó là một kiến trúc phòng vệ tiêu biểu cho nền văn minh của sự sợ hãi ngút ngàn có thể nhìn thấy từ mặt trăng. Lý do là từ thời Tần Hán đến thế kỷ 19, Trung Quốc từng bị các dị tộc tấn công, từ rợ Hung Nô đến các tộc Nữ Chân, Kim Liêu, Tây Hạ và cả Tây Tạng vào đời Đường. Thực tế thì dân Mông Cổ và Mãn Châu đã làm chủ Trung Quốc trong nhiều thế kỷ, dưới các triều Nguyên Mông từ thế kỷ 13 tới 15 và Đại Thanh từ thế kỷ 17 đến 19.

- Thái úy Lý Thường Kiệt của ta mà dám làm tới như tộc trưởng thiểu số Nùng Trí Cao thì có khi địa dư Việt Nam đã khác từ đời Lý, cách đây gần ngàn năm! Như lịch sử Trung Quốc cho thấy rất nhiều lần, nếu yếu thế thì Hoàng đế Trung Hoa còn có thể gả con gái cho các Thuyền vu hay Đại hãn để mua lấy hoà bình cho Trung Nguyên, là phong tục đã có từ đời Hán. Anh quân hùng tài như Đường Thái Tông Lý Thế Dân mà cũng phải gả công chúa Văn Thành cho vua Tùng Tán Can Bố làm Hoàng hậu của Tây Tạng, sau đó thì họ mới nói phét là chuyện ta sẽ kể sau này. Quang Trung của chúng ta hiểu rõ quy luật đó khi ngài đòi lấy con gái Thanh Càn Long!

ĐQAThái: Có lẽ là trong một kỳ tới mình sẽ nói thêm về chuyện Công chúa Văn Thành này của nhà Đường mà sau lại thành Hoàng hậu Tây Tạng!

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Mình sẽ còn trở lại chuyện Tây Tạng đó! Nhưng ở đây ta cần nhớ là cho dù đóng chốt rất chặt trong lục địa và trở thành cường quốc đại lục, Trung Quốc lại không ngờ là có ngày mình bị tấn công từ sau lưng, từ biển Thái bình, với sự xuất hiện và chinh phục của Đế quốc Anh vào thế kỷ 19, rồi vụ xâm lược của Nhật Bản vào thế kỷ 20. Lãnh đạo xứ này vì vậy cố gắng bế môn toả cảng, từ đời Thanh qua thời Mao, và củng cố các vùng trái độn hướng Bắc và hướng Tây. Địa dư và lịch sử mới giải thích vì sao chỉ một năm sau khi làm chủ Hoa lục, Mao Trạch Đông lập tức đưa quân chiếm đóng một phần lãnh thổ Tây Tạng, vào tháng 10 năm 1950.

- Tôi xin phép thính giả trình bày dài dòng như vậy để ta thấy rằng đây là nền văn minh của sự sợ hãi, của tật khinh người và tài nói phét. Các cụ của chúng ta bị khuất phục bởi tài nói phét của họ nên vẫn duy trì tình trạng Bắc thuộc về tư tưởng dù đã giành lại độc lập từ phương Bắc. Và sau đó, các cụ ta nói phét tiếp khi coi thường thiên hạ.

ĐQAThái: Khi thấy ra một số đặc tính truyền thống của Trung Quốc như vậy, mình có thể kết luận thế nào về những tính toán của lãnh đạo Bắc Kinh đời nay?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Trung Quốc có nền văn hoá duy chủng, là tôn sùng và bảo vệ sự thống trị của Hán tộc trên các sắc dân khác, các sắc dân ngày nay chỉ giữ chức năng trang trí cho sự sáng láng của người Hán. Đó là mục tiêu đầu tiên và không dời đổi của mọi chế độ lãnh đạo. Từ sáu năm nay, họ đã lập ra gần 300 viện Khổng học trên thế giới, riêng tại Á Châu là đã có 70 viện để thành các trung tâm tuyên truyền và kiều vận của họ. Thứ hai, ai lên lãnh đạo cũng rút tỉa bài học bẽ bàng của nhà Tống mà tăng cường kiểm soát vùng trái độn để bảo vệ khu vực sinh hoạt của Hán tộc.

- Ngay trong thời nội chiến Quốc Cộng, Mao Trạch Đông đã lập tức kiểm soát Mãn Châu và Nội Mông, rồi vừa chiếm được quyền lực, Mao khống chế ngay đất Tân Cương khi dẹp các lãnh chúa tại đó. Và một năm sau khi Cộng hoà Nhân dân Trung Quốc khai sinh, Tây Tạng bị khống chế từ năm 1950 và bị hoàn toàn chiếm đóng từ 1959.

- Yêu cầu thứ ba của lãnh đạo Trung Quốc là bảo vệ duyên hải miền Đông. Khi thấy Nhật Bản đã xâm lăng mà không thể thống trị nổi, họ không sợ một nạn đổ quân chiếm đóng mà chỉ sợ ảnh hưởng văn hoá chính trị. Mao Trạch Đông khích động tinh thần ái quốc thành phản ứng bài ngoại để ngăn ngừa ảnh hưởng đó. Nhưng cuộc cách mạng của ông cũng khiến xứ sở kiệt quệ về kinh tế nên Đặng Tiểu Bình phải xoay ngược quyết định là mở ra bên ngoài để phát triển xứ sở.

- Nghĩa là sau mấy ngàn năm quay đầu vào núi ngăn ngừa rợ Hồ tấn công Trung Nguyên, bây giờ, họ lại sợ ảnh hưởng quá mạnh của Tây phương, hay của kinh tế thị trường, xâm nhập vào từ hướng Đông, và từ không gian điện toán. Đây là mâu thuẫn then chốt ngày nay của xứ này. Ở trên đỉnh cao nhất của đại lục địa Âu-Á, Tây Tạng bị kẹt trong mâu thuẫn đó. Và Việt Nam cũng vậy khi lãnh đạo Bắc Kinh quan niệm rằng Đông Hải của chúng ta cũng phải trở thành một vùng trái độn do họ kiểm soát. Điều đáng buồn và đáng lo là lãnh đạo Hà Nội tự xưng là có tinh thần độc lập mà đang "rước voi về giầy mả tổ", trong nghĩa đen của thành ngữ này. Và dùng chữ "Trung" - trung tâm thế giới - của họ để nói về Trung Hoa thay vì chữ "Hoa" như ta đã dùng từ lâu, thí dụ như Hoa kiều, Tân Hoa xã... Truyền thông của  ta cũng lười biếng hay ngớ ngẩn mà dùng lại như vậy. Ta sẽ nói tới vụ ấy trong một kỳ khác.

ĐQAThái: Ông nhấn mạnh tới yếu tố địa dư chiến lược để giải thích việc Trung Quốc chiếm Tây Tạng nhằm xây dựng vùng trái độn để tự vệ. Nhưng xin hỏi ông rằng yếu tố kinh tế có là động lực chi phối quyết định xâm lược và chiếm đóng Tây Tạng hay không?

Nguyễn Xuân Nghĩa: - Cho đến thời Mao Trạch Đông thì kinh tế Trung Quốc chủ yếu dựa trên chế độ tự cung tự cấp và Tây Tạng chưa có giá trị kinh tế như ta hiểu ngày nay. Bây giờ, sau 30 năm mở cửa ra ngoài và đã kỹ nghệ hóa, Trung Quốc mới thấy cần nhập cảng nguyên nhiên vật liệu và cần thị trường xuất cảng nên càng bị thế giới bên ngoài chi phối, là điều chưa hề có trong lịch sử kinh tế của họ.

- Cũng vậy, sau khi chiếm đóng Tây Tạng giờ đây họ mới thấy khu vực này có nhiều tài nguyên khoáng sản khả dĩ khai thác, y hệt như các chế độ thực dân thời trước. Ngày nay, Tây Tạng là kho tài nguyên rất lớn và cũng là bãi rác rất cao để họ tồn trữ các sản phẩm phế thải, kể cả chất uranium của kỹ nghệ nguyên tử. Vì vậy, việc họ buông thả Tây Tạng là điều cực khó, khi nghĩ rằng Ấn Độ hay Hoa Kỳ có thể dùng xứ này làm địa bàn khống chế Trung Quốc. Đây là hiện tượng "tự kỷ ám thị", một sự sợ hãi sai lầm, mà vẫn chi phối tính toán của Bắc Kinh.

- Nếu như họ hết sợ - và đây là điểm then chốt - may ra họ sẽ phần nào chấp nhận quyền tự trị của dân Tây Tạng, là chủ trương của đức Đạt Lai Lạt Ma. Chúng ta nên so sánh giải pháp ôn hòa của Tây Tạng với giải pháp bạo động tại Tân Cương khi dân Duy Ngô Nhĩ theo đạo Hồi ở đây, tức là tộc Uighurs, đang muốn ly khai và dùng cả phương pháp khủng bố để đòi độc lập hầu thống nhất với đồng bào và đồng đạo của họ bên kia biên giới thành một Cộng hoà Hồi giáo Đông Thổ, East Turkestan. Trong một kỳ tới, tôi mong rằng ta sẽ có cơ hội tìm hiểu riêng về Tây Tạng, sau khi thấy ra những ám ảnh lo sợ của lãnh đạo Bắc Kinh, là nội dung trình bày kỳ này.

Tổng số lượt xem trang