Chủ Nhật, ngày 15 tháng 11 năm 2015

Tưởng Năng Tiến – Đường Phía Bắc

-Tưởng Năng Tiến – Đường Phía Bắc

Lúc còn tại thế, có lúc, ông Phạm Văn Đồng đã phải đối diện với một câu hỏi khó:
 “Xin thủ tướng cho biết ý kiến về sự kiện thuyền nhân hồi 1975, nhất là hồi 1978, 1979… Về nguyên nhân và trách nhiệm trong những sự kiện ấy, với những hiện tượng bán bãi thu vàng và khá nhiều tầu, thuyền bị hải tặc bão tố và chìm trong đại dương… Là người đứng đầu chính phủ, một trong những người lãnh đạo cao nhất của đảng cộng sản, thủ tướng nhìn nhận ra sao trách nhiệm của mình trong cuộc di dân rộng lớn và bi thảm ấy?” (Bùi Tín, "Hai Câu Hỏi Cần Trả Lời Rõ Ràng Trước Khi Thế Kỷ 20 Khép Lại," Cánh Én, Feb.1999:05).

TT Phạm Văn Đồng, tất nhiên, không “nhìn nhận trách nhiệm” gì ráo trọi.  Và đây là thái độ chung của giới hữu trách ở Việt Nam – theo như nhận xét của ông Ngô Nhân Dụng:”Khi thấy dân tố cáo bất cứ cái gì, phải chối ngay, phải lấp liếm, bịa đặt, bưng bít, bằng bất cứ cách nào, không bao giờ nhận lỗi. Ông nhà báo này nói tầm bậy tầm bạ như vậy mà ... trúng phóc. Khi được phóng viên báo Nhân Dân, số ra ngày 31 tháng 8 năm 1987, hỏi về cuộc “di dân  rộng lớn và bi thảm ấy,Trung Tướng Nguyễn Đình Ước (Viện Trưởng Viện Lịch Sử Quân Sự Việt Nam) đẩy cây như chớp:
 “ Đó là chuyện có thật ... Đã có một bộ phận người Việt Nam bỏ đất nước ra đi. Không ít người đã thiệt mạng trên biển do bị chìm thuyền, bị bọn đưa người vượt biên trái phép lừa gạt giết chết. Đó đúng là một thảm cảnh nhưng là hệ quả do những chính sách chống phá Việt Nam từ bên ngoài.
Mới đây, ông Dương Trung Quốc  mô tả đó là một “vết thương lịch sử” nhưng (sau một lúc quanh co) ông kết luận rằng là nó sắp ... lành đến nơi rồi: Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử.
Cái “hoàn cảnh lịch sử” này ra sao là điều mà ông Tổng Thư Ký Hội Khoa Học Lịch Sử Việt Nam không muốn nói đến. Ông Trương Tấn Sang cũng vậy:

“Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn khẳng định người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, luôn mong muốn và làm hết sức mình để hỗ trợ đồng bào đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, ổn định cuộc sống, phát triển kinh tế, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc, hòa nhập vào cộng đồng dân cư trên đất nước cư trú...”


Nguồn ảnh: baocalitoday.com
Dưới mắt nhìn của những người cầm quyền ở Việt Nam thì mấy triệu thuyền nhân cứ y như một đám người từ trên trời rớt xuống, tứ tán khắp năm Châu. Đảng và Nhà Nước đã gom cái tập thể này lại và biến họ thành một cục bột mì, muốn nắn bóp nó ra sao – tùy thích.
Có lúc Nhà Nước mô tả những kẻ ra đi là một lũ người“bất hảo, cặn bã của xã hội, ma cô, đĩ điếm, trộm cướp, trây lười lao động, ngại khó ngại khổ, phản bội tổ quốc, chạy theo bơ thừa sữa cặn… ”  Không hiểu đám thuyền nhân đã hành nghề ma cô, đĩ điếm và tổ chức trộm cướp ra sao –  nơi đất lạ quê người – nhưng số lượng bơ thừa sữa cặn mà họ đều đặn gửi về cố hương đã cứu toàn dân, cũng như toàn Đảng, thoát chết (đói) nhiều phen.
Từ đó, Đảng ta đổi giọng: những kẻ  phản bội tổ quốc không những đều được “khoan hồng” mà còn được “tôn vinh” như những sứ giả Lạc Hồng,” và (bỗng) trở thành “một bộ phận  không thể tách rời của cộng đồng dân tộc,  hay “là cấu nối phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị giữa nhân dân ta với nhân dân các nước trên thế giới...” –  theo như (nguyên văn) lời của ông Chủ Tịch Nước vừa phát biểu vào hôm 15 tháng 1 năm 2012, tại Hà Nội.
Thiệt khoẻ!
Thế còn chính những thuyền nhân thì họ nghĩ sao? Theo nhận xét của giáo sư Nguyễn văn Tuấn thì dường như đây là một đám đông thầm lặng, không nghe ai lên tiếng nói năng gì hết trơn hết trọi: ”Đúng là một cuộc di tản qui mô lớn chưa bao giờ có trong lịch sử Việt Nam. Nhưng không có ai của Nhà nước chính thức ghi nhận sự kiện này. Tôi chưa bao giờ nghe / đọc một người từ miền Bắc nhắc đến sự kiện này.
Nói nào ngay thì có nhưng rất ít. Lý do giản dị chỉ vì những nạn nhân của những biến cố kinh hoàng, vượt ngoài sức chịu đựng bình thường của con người, thường không mấy ai muốn nhắc đến những kinh nghiệm hãi hùng mà họ đã phải trải qua. Đây là hội chứng PTSD (Post Traumatic Stress Disorder) theo như ghi nhận của DSM - IV - TR (Diagnostic and Statistical Manual of Mental Disorder, Fourth Edition. Text Revision. Washington, DC, American Psychiatric Association, 2000 cẩm nang hiện dụng của khoa Tâm Thần Học).
  Hiện tại, trên bàn viết của chúng tôi chỉ có hai cuốn sách thuộc loại này:
-         Góc Bể Bên Trời  của Võ Hoàng có lẽ là tác phẩm đầu tiên, viết về chuyện vượt biên, tạp chí Nhân Văn (California) xuất bản năm 1984. Tác giả vốn là một ngư dân ở Rạch Giá đã ghi lại một cuộc vượt biển “phụ,” một đoạn đường đi “thêm” từ vịnh Thái Lan đến tận Úc Châu trên một chiếc thuyền con mong manh, thiếu thốn tất cả những phương tiện, những điều kiện cần thiết tối thiểu cho một hải trình dài dặc, và có trăm ngàn thứ gian nguy – của chính ông và bè bạn.
-          Buồn Vui Đời Thuyền Nhân của Lâm Hoàng Mạnh, Tiếng Quê Hương (Virginia) xuất bản năm 2011. Đây là tập hồi ký dầy hơn ba trăm trang của một y sĩ kiêm văn sĩ, ghi lại hết sức sống động và chi tiết cuộc trốn chạy của những người Việt gốc Hoa từ bến Tam Bạc (Hải Phòng) qua Hồng Kông, và điểm đến cuối cùng là Anh Quốc. 
Trang sổ tay hôm nay chúng tôi xin dành để giới thiệu một tác phẩm mới ( Đường Phía Bắc) của nhà văn Lê Đại Lãng, tuần báo Trẻ ( Texas) xuất bản đầu năm 2012, viết về “hành trình của những người hướng Bắc sinh và sống từ cầu Hiền Lương đến nàng Tô Thị.” Tác giả là một thuyền nhân đi từ phía Nam nhưng có một thời gian dài làm việc thiện nguyện trong những trại tị nạn, ở Hồng Kông. Ông cũng là tác giả của tập bút ký Nước Mắt Trong Tim  do tạp chí Người Dân (California) xuất bản năm 1990, và tiểu luận Vietnamese-English Bilingualism: Patterns of Code-Switching – Routledge Studies in Asian Linguistics – xuất bản năm 2003, ký tên thật là tiến sĩ Hồ Đắc Túc.
Trong phần lời tựa của Đường Phía Bắc (*) Lê Đại Lãng tâm sự:
Tôi viết lại những mẩu chuyện nho nhỏ mà các bạn  đã kể cho tôi nghe như một người nghèo thiếu  áo, chắp lại những mẩu áo đủ màu đủ cỡ, lành có rách có, đậm có nhạt có,  để ráp thành một cái áo vụng về xấu xí mặc cho qua rét mướt mùa đông.  Dù  cho công tôi chắp vá mà thành, nhưng chất liệu vẫn là các bạn, nếu có chỗ nào (nói cho le) là hư cấu thì cũng xin coi là cái cúc  áo đơm vào để gài kín ngực. Bỏ cái cúc ra, áo vẫn hoàn áo, vải gấm hay vải thô vẫn là của các bạn.  Vốn liếng và chất liệu đã làm nên cuốn sách này là từ đời sống của các bạn tôi… và những hạt mưa dầm.
“Những mẫu chuyện nho nhỏ” của người đi từ phía Bắc và những kẻ đi từ phía Nam, gần như, chả khác gì nhau. Đều là những chuyện nát lòng, và những mảnh đời tơi tả, của những kẻ bị đẩy đến bước đường cùng không còn lựa chọn nào khác nên phải (đành đoạn) rời bỏ quê hương âm xầm ra biển – như một cách lao đời vào cái chết để tìm sự sống.




Nguồn ảnh: refugees.org
Người ta ước đoán chừng vài trăm ngàn thuyền nhân đã vùi thây trong lòng biển cả (**). Những kẻ thoát chết đến được bến bờ không nhất thiết đã là những người may mắn. Đường Phía Bắc là tác phẩm viết về họ, những kẻ trong các trại cấm ở Hồng Kông sau giờ khắc định mệnh “0 giờ ngày 16 tháng 6 năm 1988” giờ khắc mà nhiều trại tị nạn ở Đông Nam Á đã đột ngột biến thành những trại tù, qua ngòi bút của Lê Đại Lãng:
Những dãy nhà lợp tôn dài hai mươi chín mét, rộng sáu mét trống trải không có giường nhét đủ ba trăm mạng người. Hải băng qua những đường rãnh lềnh bềnh rác lẫn với phân người, theo trưởng buồng lách chân giữa một lối đi hẹp giữa buồng, hai bên thùng bọng la liệt, kẻ nằm người ngồi tràn lan trên nền đất rin rỉn nước.
Và đây là vài mẩu đối thoại của những con người sống trong trong vòng rào của những trại cấm này:
-         Tiên sư con cái nhà ai mà cứ ỉa tòe loe ra đấy. Bẩn đéo chịu nổi.
Giọng một bà trả đũa:
-         Con cái nhà bà đấy. Nó muốn ỉa đâu thì nó ỉa, bà thách thằng chó nào đụng tới nó coi nào.
Gã đàn ông bị chạm tự ái, cáu:
-         a thì có nhà cầu, cứ tươm cả ra đấy thì cái nhà này biến thành lăng bác cả à!
Tiếng cười rúc rích thú vị. chị đàn bà đổi hướng:
-         Có giỏi thì đứng ở Ba Đình nói câu ấy. Qua đây nói ai nghe nào. Lũ hèn…!
Thằng bé cắt lời mẹ, ré lên đòi chùi đít. Bà mẹ bảo: “Cứ chờ đấy, chừng nào nước mở hẵn rửa”.
Thằng bé dang dang hai chân đi về giường. Có tiếng la dẫy nẩy: “Coi chừng nó ngồi lên giường là khốn đấy. Địch mẹ, biết thề này ông thèm vào”.
Ở trong những trại tị nạn này, trẻ con Việt Nam không biết nói tiếng “không.”
Chúng thay bằng tiếng khác:
-         Tao đéo thèm chơi với mày nữa
-         Tao đéo vào
-         Mầy có cái đó không?
-         Đéo có.

Những mảnh đời méo mó qua những mẫu đối thoại thô tục (thượng dẫn) của những may mắn sống sót đến được bến bờ, cùng với oan hồn của hàng triệu sinh linh dưới đáy biển sâu không thể nói lấp liếm cho qua chuyện (Tôi không nghĩ kiều bào còn lấn cấn nhiều về chế độ chính trị, có lẽ chỉ còn ở một thế hệ nào đó do hoàn cảnh lịch sử) theo cái kiểu xuê xoa của ông Dương Trung Quốc. Cũng không thể yêu cầu những quốc gia láng giềng đục bỏ những bia tưởng niệm thuyền nhân là kể như huề –  như cách hành xử của ông Trần Đức Lương.


Nguồn ảnh: http://www.nguoi-viet.com
Hoạ cộng sản sẽ qua, và sắp qua. Ngoài chuyện Thu Vàng Bán Bãi Vuợt Biên, còn nhiều “vụ động trời” khác nữa – như C.C.R. Đ, Nhân Văn, Xét Lại, Thảm Sát Mậu Thân, Đổi Tiền, Cải Tạo Công Thương Nghiệp, Mười Ngày Học Tập, Khai Thác Bauxit, Vinashin … – cần phải được ghi nhận, và xét xử minh bạch, trong tương lai gần.

Vấn đề không phải là để t
ầm thù hay báo oán. Điều này hoàn toàn không cần thiết, và hoàn toàn đi ngược lại với truyền thống văn hoá bao dung dân tộc Việt . Tuy nhiên, quá khứ cần phải được thanh thoả để chúng ta an tâm hơn khi hướng đến tương lai.

Tưởng Năng Tiến

(*)  Đường Phía Bắc, giá sách U.S.A 15.00 dollars, có thể đặt mua theo địa chỉ sau:
Toà soạn báo Trẻ
 3202 N. Shiloh Rd., Garland, TX 75044.

(**) Death Tolls and Casualty Statistics Vietnam - Vietnamese Boat People


  • Jacqueline Desbarats and Karl Jackson ("Vietnam 1975-1982: The Cruel Peace", in The Washington Quarterly, Fall 1985) estimated that there had been around 65,000 executions. This number is repeated in the Sept. 1985 Dept. of State Bulletin article on Vietnam.
  • Orange County Register (29 April 2001): 1 million sent to camps and 165,000 died.
  • Northwest Asian Weekly (5 July 1996): 150,000-175,000 camp prisoners unaccounted for.
  • Estimates for the number of Boat People who died:
    • Elizabeth Becker (When the War Was Over, 1986) cites the UN High Commissioner on Refugees: 250,000 boat people died at sea; 929,600 reached asylum
    • The 20 July 1986 San Diego Union-Tribune cites the UN Refugee Commission: 200,000 to 250,000 boat people had died at sea since 1975.
    • The 3 Aug. 1979 Washington Post cites the Australian immigration minister's estimate that 200,000 refugees had died at sea since 1975.
      • Also: "Some estimates have said that around half of those who set out do not survive."
    • The 1991 Information Please Almanac cites unspecified "US Officials" that 100,000 boat people died fleeing Vietnam.
    • Encarta estimates that 0.5M fled, and 10-15% died, for a death toll of 50-75,000.
    • Nayan Chanda, Brother Enemy (1986): ¼M Chinese refugees in two years, 30,000 to 40,000 of whom died at sea. (These numbers also repeated by Marilyn Young, The Vietnam Wars: 1945-1990 (1991))
  • Rummel
    • Vietnamese democide: 1,040,000 (1975-87)
      • Executions: 100,000
      • Camp Deaths: 95,000
      • Forced Labor: 48,000
      • Democides in Cambodia: 460,000
      • Democides in Laos: 87,000
      • Vietnamese Boat People: 500,000 deaths (50% not blamed on the Vietnamese government)

-Tú Hoa: Thuyền nhân Việt Nam-
Thuyền nhân Việt Nam là một sự kiện chấn động chưa từng có trong lịch sử nước nhà  và chỉ xảy ra sau ngày  30 tháng Tư năm 1975  khi hàng triệu người Việt Nam đã ồ ạt dùng  thuyền nan, thuyền gỗ mong manh  đi xuyên biển Đông để xin tỵ nạn Cộng Sản tại các xứ Tự Do Dân Chủ không Cộng Sản bất chấp sống chết hiểm nguy.
Đảng Cộng Sản VN đang chuẩn bị một ngân quỹ lớn để bắn pháo bông ăn mừng ngày chiến thắng 30 tháng 4. Không biết bao nhiêu người Việt Nam thiếu hiểu biết mà ăn mừng chiến thắng này và bao nhiêu người Việt có lương tâm tri nghĩa sẽ cảm nhận sự cay đắng khi thấy sự nhẫn tâm của Đảng Cộng Sản cầm quyền đang vui đùa hân hoan hớn hở trên nổi đau thân phận và sinh mạng của cả dân tộc.

I. Bao nhiêu Thuyền Nhân Việt Nam đến được trại tỵ nạn?
Thật không ngờ , theo Cao Ủy Tỵ Nạn Liện Hiệp Quốc (UNHCR) dù tỉ lệ vượt thoát thành công đến được các trại tỵ nạn không quá 35 %, tổng số thuyền nhân Việt Nam ở các trại tỵ nạn dành cho thuyền nhân lên đến hơn 700 ngàn người theo con số chính thực được ghi nhận trên toàn cõi Đông Nam Á.Trong hai mươi năm (1975-1995), chi tiết tổng số thuyền nhân cho mỗi giai đoạn năm năm sẽ là như sau:
Thuyền nhân VN
Thuyền nhân VN
Cộng với con số hơn 42 ngàn người đi vượt biên bằng đường bộ sang Thái Lan thì tổng số người Việt Nam xin đào thoát xin tỵ nạn Cộng Sản lên đến 800 ngàn người.
Thống kê Tổng số Thuyền Nhân Việt Nam
Thống kê Tổng số Thuyền Nhân Việt Nam
Nếu tỉ lệ thành công đến được bến bờ tự do của thuyển nhân Việt Nam là 50% thì có nghĩa là có khoảng 800 ngàn người Việt đã bỏ mình trên đường đào thoát, trong khi Cao Ủy Tỵ Nạn Liện Hiệp Quốc (UNHCR) khẳng định là chỉ khoảng 35% số thuyền nhân là vượt thoát thành công thì tỉ lệ tử vong sẽ là bao nhiêu?
Ngay cả thú vật cũng chẳng bao giờ ăn mừng trên sự chết chóc của đồng loại thì chẳng lẽ nào nay 90 triệu người dân Việt Nam lại tệ hơn cả thú vật, hoan hỷ ăn mừng chiến thắng với pháo bông do Cộng Sản bắn lên -một chiến thắng đẩy đưa toàn dân tộc lao ra biển Đông xin tỵ nạn, chết chóc lên đến hơn cả triệu người?
Chỉ riêng thảm họa hải tặc hãm hiếp đè nặng lên nổi nhọc nhằn của thuyền nhân Việt Nam, số liệu điều tra của UNHCR, chỉ trong ba năm 1981 đến 1983 về nạn hải tặc của Thái Lan không thôi đã như sau:
Bản Thống Kê 2: Nạn nhân hải tặc Thái Lan 1981-1983
thongke-2
Xin được ghi chú là bản thống kê trên chỉ đề cập đến số người bị giết và mất tích trực tiếp bởi hải tặc Thái Lan, còn số người thuyền nhân Việt Nam bị chết vì đói, vì chìm tàu hay tự tử sau khi bị hải tặc tấn công không được tính tới.
Như vậy, tổng số người bị giết và mất tích do hải tặc Thái Lan trong ba năm 1981 đến 1983, theo số liệu của UNHCR đưa ra sẽ là như sau : 571+ 155 + 43 + 443+ 153 = 1365 người.
Trong khi Liên Hiệp Quốc và các tổ chức NGOs bất vụ lợi (NGO: Non Government Organizations: các tổ chức phi chính phủ) đã phải lên tiếng và nhảy vào can thiệp trước thảm họa hải tặc từ Thái Lan cũng như từ nhiều nơi khác đối với Thuyền Nhân Việt Nam vì lý do nhân đạo thì Cộng Sản Hà Nội không một chút tỏ ra thuơng xót cho chính dân tộc mình ngoài việc rủa xả căm hờn bọn người “phản quốc, chết là tự chuốc lấy!“ .
Sau Đệ Nhị Thế Chiến, sự kiện Thuyền Nhân Việt Nam là sự kiện lịch sử lớn thứ hai liên quan đến mọi quốc gia trong vùng Đông Nam Á. Trại tỵ nạn dành cho thuyền nhân Việt Nam mọc khắp các quốc gia trong vùng gần suốt 20 năm và là một mối nhục quốc thể quá lớn cho một dân tộc nổi tiếng quốc gia bảo thủ, bám đất giữ làng, đánh chết không đi.
Không có cộng sản, người dân Việt Nam với cá tính bám đất giữ làng không ra đi bỏ xứ kinh khiếp đến thế!
Hai mươi năm chiến tranh khốc liệt, không có một người dân Việt Nam Cộng Hòa nào bỏ xứ đi vượt biên nhưng họ đã ra đi ào ạt sau chiến thắng 30 tháng Tư, lấy sanh mạng của mình để bầu phiếu cho giá trị của tự do dân chủ của chính thể Việt Nam Cộng Hòa mà nhẽ ra thuộc về họ nhưng đã bị tướt đoạt.
II . Lộ Trình Vượt Biên Và Xin Định Cư của Thuyền Nhân Việt Nam:
Bản Đồ Hải Lộ của Thuyền Nhân Việt Nam -UNHCR
thongke-3
Chưa có những nghiên cứu cụ thể tuyến đường vượt biển nào có xác xuất thành công cao nhất cho Thuyền Nhân Việt Nam vì hầu như tuyến đường nào cũng là chết chóc hiễm nguy và cướp bóc.
Dựa vào bản thống kê 1, trong suốt 20 năm 1975-1995 , thì tuyến đường Mã Lai đứng đầu số Thuyền Nhân Việt Nam vượt biển thành công với gần một phần tư triệu người. Thật bất ngờ, Hồng Kông lại đứng thứ nhì với hơn 195 ngàn Thuyền Nhân. Indonesia, một quốc gia hết sức thầm lặng đã chứa hơn 121 ngàn thuyền nhân trong hai mười năm trên cả Thái Lan bốn ngàn người.
Nhà cầm quyền Hà Nội cũng không thống kê số tàu Vượt Biên mà bộ đội biên phòng đã bắn vỡ tàu cho chết. Báo SGGP ghi nhận là có gần hơn 108 người chết tại cầu Chữ Y Sài Gòn.
Có khoảng năm ngàn người bị bắn chìm tàu mà chết tại cửa ngõ đồn Vàm Láng, Gò Công theo ước tính của cựu tù nhân vượt biên, dân cư và bộ đội biên phòng Cộng Sản ở đây. Đương nhiên, con số chính thức về tội ác của Cộng Sản Hà Nội khi bắn chết thuyền nhân bao giờ cũng cao hơn và sẽ bị lấp liếm cho đến khi có các cuộc điều tra kỹ lưỡng từ các tổ chức thỉnh nguyện hay các sử gia nghiên cứu.
Từ trại tỵ nạn, Thuyền Nhân Việt Nam tùy hoàn cảnh cá nhân mà có chọn lựa định cư. Sau đây là bản thống kê tổng số thuyền nhân Việt Nam định cư ở các nước theo số liệu của UNHCR :
Bản Thống Kê 3: Quốc Gia định Cư của thuyền Nhân Việt Nam 1975-1995
a
Hành động nhận các thuyền nhân của các quốc gia trên không những là thể hiện tinh thần nhân đạo của dân tộc họ mà còn khẳng định quan điểm chống lại thảm họa Cộng Sản của các quốc gia này.
Điều đau lòng là đã có 109 ngàn thuyền nhân Việt Nam xuất thân từ miền Bắc Việt Nam, theo gót đồng bào miền Nam đi vượt biên xin tỵ nạn Cộng Sản đã bị từ chối quy chế tị nạn và bắt buộc phải hồi huơng. Cộng Sản đã làm cho ai ai cũng lầm tưởng là cứ hễ người dân miền Bắc, người nào cũng là Cộng Sản, có dây mơ rể má với cộng sản và cần phải chối bỏ quy chế tị nạn.
Thực tế, những thuyền nhân từ miền Bắc Việt Nam cũng điều chịu cùng cảnh ngộ sống chết trên biển cả để đến được bến bờ tự do như bao nhiêu thuyền nhân khác. Họ phải có quyền được tỵ nạn như những thuyền nhân khác.
Điều này lại càng làm thấy rõ Cộng Sản chỉ đem đến sự khinh bỉ của thế giới đối với dân tộc Việt Nam ta, mà những người miền Bắc chống Cộng Sản đang phải gánh tiếng oán này một cách nặng nề nhất.
Sau khi định cư ổn định ở các quốc gia liệt kê trên, các Thuyền Nhân Việt Nam đã làm đủ mọi nghề, trở nên thành đạt và gởi tiền về cứu đói thân nhân mình, vốn rách nát te tua, góp phần vực dậy kinh tế nước nhà và đặc biệt, chính các Thuyền Nhân đã nỗ lực bảo lãnh thân nhân mình thoát khỏi thảm họa Cộng Sản, sang sanh sống ở các quốc gia tư do để có một tương lai tốt đẹp hơn.
Hà Nội từng gọi Thuyền Nhân Việt Nam là “phản quốc”, những người mà bộ đội biên phòng Cộng Sản bắn thẳng tay không thuơng tiếc, bỏ tù không thuơng tiếc; nay Cộng Sản Hà Nội gọi Thuyền Nhân Việt Nam là “Việt Kiều Yêu Nước” một cách hết sức trơ trẽn!
III. KẾT
Thống kê của Cao Ủy Tỵ Nạn Liện Hiệp Quốc (UNHCR) đã cho thấy hơn 700 ngàn người Thuyền Nhân Việt Nam đã đến được bến bờ tự do định cư rất nhiều ở Hoa Kỳ với hơn 400 ngàn người cũng như đã có hơn 100 ngàn người phải hồi huơng cưỡng bức với lý do là nguyên quán miền Bắc, không đủ điều kiện định cư.
Con số 700 ngàn Thuyền Nhân Việt Nam đến được bến bờ Tự Do đồng nghĩa với hơn cả triệu Thuyền Nhân bỏ mình trên biển cả nếu tỷ lệ vượt thoát thành công không quá 35% như UNHCR loan báo. Báo cáo của UNHCR cũng cho thấy thảm họa cướp biển làm gia tăng mất mát, khổ đau và nhục nhã lên thân phận của một dân tộc đang gáng chịu thảm họa Cộng Sản.
Ngày nay, dân tộc Việt Nam sẵn sàng bắn vào những ai thoát qua biên giới Việt Trung xin tỵ nạn để lấy lòng Bắc Kinh và bắn pháo bông để ăn mừng chiến thắng đã xua đuổi chính dân tộc mình, đồng loại của mình ra biển Đông ti nạn. Đó là sự khác biệt giữa một dân tộc toàn là NGƯỜI như các quốc gia đã nhận cả ngàn Thuyền Nhân Việt Nam đi định cư vì lòng nhân đạo và khác vọng Tự Do và một dân tộc TỆ HƠN THÚ VẬT vô tri vô nghĩa vô nhân sẵn sàng hoan hỷ trước chiến thắng đẩy cả dân tộc mình vào khổ đau phải lao ra biển Đông tìm đường tỵ nạn, chết chóc lên đến cả triệu người.
Cho dù có lấp liếm, sự kiện THUYỀN NHÂN VIỆT NAM vẫn là một sự kiện lịch sử vô cùng quan trọng đối với Việt Nam và cho cả vùng Đông Nam Á. Đây là một sự kiện lịch sử mà cần phải đưa vào chương trình dạy trong trường học cũng như cần phải điều nghiên kỹ lưỡng như các sự kiện lịch sử quan trọng khác từ cổ đến kim của dân tộc Việt Nam.
Mọi tầng lớp dân tộc hiện nay của Việt Nam và thế hệ mai sau cần phải hiểu rõ sự kiện Thuyền Nhân như là một quốc nhục để củng cố lại tinh thần tự hào dân tộc tính của mình, ráng phấn đấu xây dựng Việt Nam thành một mảnh đất -Tư Do Dân Chủ không Cộng Sản và thịnh vượng để khỏi phải xảy ra thêm một lần nữa thảm cảnh toàn thể dân tộc phải lao ra biển cầu xin lòng nhân đạo của nhân loại cứu giúp.
© Tú Hoa
© Đàn Chim Việt 

**************




--Trục Xuất Nguyễn Thuyền Nhân

Người bị chích thuốc mê. Người bị nắm tay nắm chân khiêng lên máy bay, vừa đi vừa giẫy như con cá móc câu.
3 giờ 30, thứ sáu 8 tháng 11, 1991

Trời nhiều mây. Nắng rất nhạt. Dưới bến phà, bên cầu tàu, hai chiếc tàu đậu sẵn. Một chiếc tàu màu xám của hải quân - loại chở tù, tường sắt kín mít, vài khung cửa sổ kính dầy - đậu sát cầu tàu.

Một chiếc phà màu trắng, chở 100 phóng viên quốc tế, đậu cách tàu hải quân 100 thước. Phóng viên nhìn đồng hồ. Phóng viên chỉnh lại vị trí máy quay phim và máy chụp. Hai chiếc trực thăng bay quần trên đầu. Một chiếc chở vài phóng viên. Một chiếc chở nhân viên an ninh chính phủ.



Dường như bi kịch sắp mở màn; phóng viên là khán giả, chính phủ là đạo diễn, và 59 thuyền nhân là diễn viên; cầu tàu là sân khấu, bến phà và bầu trời nhiều mây là hậu cảnh; nắng nhạt là ánh sáng.

Khán giả thường ao ước màn kịch diễn ra thật bi hùng, thỏa mãn trí tưởng tượng và óc tò mò, càng máu đổ thịt rơi thì càng lâm ly bi đát và càng có nhiều chuyện ly kỳ để kể cho người không có mặt tại chỗ.

Đạo diễn thường ao ước mọi sự diễn ra theo bài bản dự trù, diễn viên càng tuân phục bao nhiêu càng đạt bấy nhiêu. Sợ nhất là diễn viên “cương” bậy, tự tiện diễn theo ý mình, làm hư màn kịch và làm mất mặt đạo diễn. Màn kịch chỉ diễn một lần, không sửa được.

Ngặt một điều, 59 thuyền nhân chiều nay không phải là diễn viên, trong khi phóng viên có đủ tính chất của khán giả và chính phủ có đủ tính chất của nhà đạo diễn.

Màn kịch cứ vẫn diễn ra. Phóng viên la ó cổ võ thuyền nhân chống cự, dù thuyền nhân không biết phóng viên sẽ có mặt và đang làm khán giả chứng kiến đời mình.

Chính phủ bặm môi hồi hộp cầu mong thuyền nhân ngoan ngoãn, dù thuyền nhân không muốn bước xuống xe thùng, không muốn đi trên cầu tàu, không muốn đi vào tàu hải quân để rồi sau đó biến mất.

Một nhân viên an ninh áo vàng ôm một bé gái đưa xuống tàu. Vòng tay ôm nào cũng vừa là âu yếm, cũng vừa là khống chế.

Hai nữ nhân viên an ninh áo thung đen xốc nách người thiếu nữ bàn chân không muốn đi. Người thiếu nữ nước mắt đã cạn, chỉ thấy trên khuôn mặt nét đớn đau uất ức hằn lên theo cơn co giật chống cự vô vọng. Nét tột cùng khoái lạc và tột cùng khốn nạn đều giống nhau.

Người đàn bà mặt sưng lên vì khóc, vừa đi vừa kêu than thống thiết. Nửa đường, người đàn bà gục xuống rã rời. Hai nữ nhân viên áo đen xốc nách kéo lê. Cái chết nào cũng bắt đầu khi con người gục xuống, trong khi người sống vẫn đứng thẳng.

Người thanh niên bước xuống xe thùng, tay vịn vào chấn song cầu tàu không muốn đi. Mấy nhân viên áo vàng tới bên, vừa nói vừa đặt tay lên vai thúc đẩy. Thời gian kéo lê không làm cạn định mệnh, chỉ làm định mệnh hùng hổ thêm.



Trục xuất
Nguồn ảnh: teaching.quotidiana.org

Đám trẻ con thản nhiên, tay bưng mấy chiếc xô nhựa màu đỏ màu vàng bước xuống tàu nhanh nhẹn. Cái vô úy của thiền sư giống hệt cái vô úy đám trẻ con giữa cơn hoạn nạn.

Chiếc xe thùng thứ tư xuống tới nơi, trên xe chở những người trai tráng. Quân vương nào cũng là kẻ cuối cùng tới đại sảnh tiếp tân, khi bá quan đã tề tựu đông đủ.

Một chiếc tàu cảnh sát nãy giờ đậu ngoài xa chen vào giữa tàu hải quân và chiếc phà phóng viên. Cảnh gay cấn nhất trong lịch sử loài người vẫn thường diễn ra trong vòng bí mật.

Phóng viên bị che mắt la ó phản đối. Lời phản đối từ xa nào cũng chỉ lọt vào tai người phản đối.

Mọi sự vẫn diễn ra, sau sân khấu kéo màn, khi đạo diễn bất bình vì những người thanh niên không ngoan ngoãn.

Khi chiếc tàu cảnh sát trả lại tầm nhìn thì màn kịch đã hết. 59 thuyền nhân đã ngồi trong bụng con tàu hải quân. Phóng viên thất vọng. Màn kịch không đủ gay cấn. Chính phủ hài lòng. Diễn viên không phá rào.

Chiếc tàu rời bến. Tiếng thở phào nhẹ nhõm của kẻ hài lòng. Chiếc phà phóng viên chạy theo. Tiếng chửi thề của người thất vọng.

Hai chiếc tàu vạch một đường dài bọt sóng màu trắng giữa mặt biển xám đục. Những lớp sóng nhẹ xôn xao đập vào chân cầu tàu im lặng. Người nhân viên áo vàng cuối cùng đi ngược cầu tàu vào trạm gác bên trong.

Những chiếc xe thùng trống trơn chạy ngược lên đồi vào bến đậu. Bầu trời vẫn nhiều mây.
Nắng vẫn nhạt.

Chiều hôm đó hắn chạy ra phi trường. Đứng ở khoảng sân quan sát nằm tận góc phi trường rộng lớn, hắn chờ đợi.

Năm giờ chiều, một đoàn xe nhìn xa như màu đen, chạy từ từ trên phi đạo. Đoàn xe bật đèn quay màu vàng, nhìn như đoàn xe tang. Hắn đọc báo thấy người ta cho biết chiều nay năm giờ chiều 59 thuyền nhân sẽ được đưa từ tàu cảnh sát, đi dọc theo phi đạo, tới nhà chứa máy bay cũ được dọn thành phòng ngủ qua đêm và sáng mai họ sẽ được chất lên máy bay đưa về nước. Chiều nay toàn bộ phi trường im lặng, các chuyến bay lên xuống đều bị hoãn lại trong một tiếng đồng hồ.

Hắn banh cặp mắt nhìn cho rõ cảnh từ xa, mỏi đến ứa nước mắt. Ứa nước mắt nhưng vẫn không nhìn thấy gì rõ ràng. Chỉ thấy đoàn xe dừng lại. Người bu quanh, và một lúc sau đèn pha chụp hình nhá lên liên tục.

Một tiếng đồng hồ sau, mấy chiếc xe buýt màu đen, sau khi đổ hành khách xuống, chạy đi mất hút. Phi trường trở lại bình thường, máy bay lên xuống tấp nập, bốn phút một chuyến.

Sáng hôm sau hắn nằm ở nhà ngủ. Khi hắn thức dậy mở máy phát thanh nghe tin tức thì chuyến bay đã cất cánh được nửa tiếng. Tin tức nói thuyền nhân chống cự, người cởi áo quần để không ai nắm mình kéo đi. Người bị chích thuốc mê. Người bị nắm tay nắm chân khiêng lên máy bay, vừa đi vừa giẫy như con cá móc câu.

Hắn bỗng thấy bực mình vì mình dã thèm ngủ đến độ không chịu ra phi trường chứng kiến những gì xảy ra.





Bài do Thuan Phan gởi. DCVOnline biên tập và minh hoạ.
Nguồn: -Trục Xuất
Nguyễn Thuyền Nhân

Người bị chích thuốc mê. Người bị nắm tay nắm chân khiêng lên máy bay, vừa đi vừa giẫy như con cá móc câu.

Tổng số lượt xem trang