Thứ Tư, ngày 14 tháng 9 năm 2011

Chân dung các thuyền trưởng tàu không số

-Chân dung các thuyền trưởng tàu không số
Đường Hồ Chí Minh trên biển đã trở thành con đường huyền thoại, duy nhất có trong lịch sử chiến tranh nhân loại. Nhân kỷ niệm 50 năm truyền thống của tuyến đường đặc biệt này, chúng tôi xin gửi đến bạn đọc những hồ sơ, tư liệu, ghi chép về chân dung những “thuyền trưởng huyền thoại" của "con đường huyền thoại” này.
Kỳ 1: Thuyền trưởng tàu không số đầu tiên
QĐND - Cho đến nay, đã có nhiều bài báo, phóng sự tài liệu về đồng chí Lê Văn Một, người thuyền trưởng của chiếc “tàu không số” đầu tiên mang tên Phương Đông 1. Nhưng cuộc đời cách mạng của ông còn có nhiều bí mật, bất ngờ khiến chúng ta đi từ ngạc nhiên đến khâm phục.
Bắt đầu từ “con đường xuyên Tây”
Lê Văn Một sinh năm 1921, thuộc dòng dõi gia tộc thủ khoa yêu nước Nguyễn Hữu Huân đất Tiền Giang. Từ lúc lọt lòng, ông có tên Pháp là Abel René.  Abel René là con thứ  11 trong một gia đình giáo học quốc tịch Pháp có 13 anh em. Cha là Đốc học Lê Văn Giỏi nổi tiếng đất Mỹ Tho (Tiền Giang). Cậu bé Abel René từ nhỏ đã tỏ ra thông minh, sáng dạ, chăm chỉ học tập, được bố mẹ cho học ở nhiều trường như Trường Tiểu học Mỹ Tho, Trường Lê Bá Cang - Sài Gòn... rồi ra Hà Nội học ở Trường Thăng Long.

Đến tuổi trưởng thành, Abel René vào lính thủy, làm “nghĩa vụ” với mẫu quốc Pháp, là hoa tiêu trên tàu Lamotte Picquet - tuần dương hạm lớn nhất Đông Dương.
Cách mạng Tháng Tám 1945 là một bước ngoặt mới đến với Abel René. Luồng gió mới thổi vào đời ông. Abel René bừng tỉnh: La france ce n’est pas ma Ptrie! (Nước Pháp không phải là quốc mẫu của tôi!). Ông cùng bạn bè tìm đường theo cách mạng kháng chiến. Abel René đổi tên thành Lê Văn Một.
Thuyền trưởng Lê Văn Một. (Ảnh do gia đình cung cấp)
Tháng 12-1946, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ. Lực lượng vũ trang Nam Bộ “thuốc súng kém, chân đi không” đành phải lùi dần về Đồng Tháp Mười và rừng U Minh. Ban sưu tầm vũ khí ở nước ngoài được thành lập. Lê Văn Một và 12 người nữa được đồng chí Năm Phúc (tức nhà lão thành cách mạng Dương Quang Đông) chọn vào lực lượng vận tải vũ khí, lên đường sang Băng Cốc (Thái Lan) bằng ghe buồm để tìm mua vũ khí và tổ chức con đường xuyên Tây, vận chuyển vũ khí từ Thái Lan về Nam Bộ.
Lê Văn Một được giao trọng trách mang theo 25kg vàng, bỏ trong ruột tượng, ngày đêm cột chặt quanh mình. Số vàng này là kỳ tích của “Tuần lễ vàng” vì lòng yêu nước của nhân dân quyên góp để mua vũ khí.
Chuyến đầu tiên, Lê Văn Một tổ chức 10 xe bò, 10 voi và lực lượng 70 người, vận chuyển bằng đường bộ qua Cam-pu-chia về nước. Súng theo voi, đạn đeo lưng người. Trải qua 16 ngày vượt núi, qua sông, địch luôn luôn ngăn đường, chặn lối, đơn vị vừa hành quân vừa tác chiến 11 trận trên đất Cam-pu-chia. Đầu tháng 1-1948, đoàn về đến Nam Bộ với 11 người hy sinh và mất tích. Thấy vận chuyển đường bộ gian khổ, hiệu quả thấp, Lê Văn Một tính cách  chuyển sang vận chuyển bằng đường biển. Tuy nhiên, gian khổ, hy sinh vẫn không hề nhỏ. Có lần đoàn vận tải do “cặp đôi” Lê Văn Một - Bông Văn Dĩa chỉ huy gặp gió bão, phải ghé vào đảo  Phú Quốc để tránh. Gần một tháng nằm tại đây, cả đoàn phải đào củ chuối rừng ăn cầm hơi... Cứ như vậy, suốt mấy năm liền, đi đi, về về trên Vịnh Thái Lan, đơn vị đã vận chuyển được hàng trăm tấn vũ khí, hàng hóa về Nam Bộ. Những chiến công thầm lặng đó đã tạo tiền đề cho ý tưởng vĩ đại mở con đường Hồ Chí Minh trên Biển Đông.
... Đến mở đường huyền thoại Hồ Chí Minh trên biển
Năm 1960, phong trào cách mạng ở miền Nam phát triển mạnh mẽ, mở đầu là phong trào Đồng Khởi ở Bến Tre rồi lan rộng khắp các tỉnh Nam Bộ.  Nhu cầu vũ  khí cho chiến trường miền Nam rất lớn. Con đường Trường Sơn đang hình thành. Trước tình hình đó, Trung ương Đảng đã chỉ thị cho các tỉnh ven biển Nam Bộ chuẩn bị bến bãi và đưa thuyền ra Bắc để nhận vũ khí, đồng thời nghiên cứu con đường vận chuyển chiến lược trên biển để sử dụng lâu dài. Từ cuối năm 1961, đầu năm 1962, lần lượt 6 thuyền gỗ của các tỉnh Bến Tre, Cà Mau, Bà Rịa, Trà Vinh (trong đó thuyền gỗ Cà Mau do Bông Văn Dĩa phụ trách) đã ra đến miền Bắc an toàn. Con đường vận chuyển trên biển Đông khẳng định là “có thể đưa vũ khí vào được”.
Lê Văn Một lúc đó đang tập kết ngoài Bắc, làm Cảng trưởng cảng Cẩm Phả, được điều chuyển ngay về Đoàn 759 - Bộ Quốc phòng (tiền thân của Lữ đoàn 125 Hải quân) chuẩn bị làm nhiệm vụ đặc biệt này, nhiệm vụ mở đường đưa vũ khí từ Bắc vào Nam trên những “con tàu không số”. Phải nói rằng cấp trên đã khéo chọn, khéo sắp xếp một “cặp bài trùng”, Lê Văn Một - Thuyền trưởng, Bông Văn Dĩa - Chính trị viên, cùng chung chuyến mở đường, cũng như họ đã từng kề vai sát cánh trên Vịnh Thái Lan thời chống Pháp đưa vũ khí về Nam Bộ. Họ đã biết tính nết nhau, tôn trọng nhau, đoàn kết yêu thương nhau, chèo lái “con tàu không số” đầu tiên vượt biển Đông mở đường tiếp viện quan trọng đưa vũ khí vào miền Nam đánh Mỹ. 
Ngày 11-10-1961, tại Bến K15, Đồ Sơn, Hải Phòng (Bến K15 vừa được Bộ Văn hóa - Thể thao và Du lịch xếp hạng Di tích cấp quốc gia), con tàu gỗ Phương Đông 1 lặng lẽ nhổ neo ra khơi, hướng về phía Nam, chở 30 tấn vũ khí, mang  theo cả niềm tin, tình thương của Đảng, của Bác Hồ, của nhân dân miền Bắc tới đồng bào miền Nam. Chuyến đi mở đường đã thành công. Một lần nữa hai người chỉ huy Lê Văn Một - Bông Văn Dĩa lại ghi tên mình vào trang sử vẻ vang của dân tộc.
“Người đi lo một, người chờ tin lo mười”
Phó thủ tướng Phạm Hùng ngày đó đã căn dặn 12 thành viên con tàu gỗ Phương Đông 1 trước giờ xuất phát: “Đây là chuyến đi đầu tiên, nên cực kỳ quan trọng, một việc hệ trọng và lâu dài, do vậy nếu gặp địch phải khôn khéo, mưu trí, trường hợp xấu phải hủy hàng, hủy tàu để giữ bí mật con đường, các đồng chí nên nhớ, người đi lo một, người ở lại chờ tin, lo mười...”.
Ông Sáu Lai, một trong hai người còn lại của tàu Phương Đông 1, hiện sống tại Cần Thơ, kể lại: “Có lần gặp tàu địch bám theo hướng chạy của ta, chúng nã pháo dữ dội. Anh em nhanh trí xổ cả buồm lái và mũi cho thuyền căng gió lướt trên ngọn sóng. Chỉ huy tàu phát lệnh chiến đấu. Toàn tàu xác định, khi cần dùng tốc độ vượt lên, để tàu địch phía sau, rồi cho nổ bom phá áp tàu giặc, dùng tiểu liên, lựu đạn đánh địch, người lái thì cứ cho tàu chạy thoát. Nếu không thoát thì cho nổ 3 trái bom còn lại, quyết không để tàu và vũ khí rơi vào tay giặc. Một và Dĩa dự kiến, nếu địch bắt cả tàu thì lợi dụng trời tối cắt dây cho anh em bơi vào bờ, còn Một và Dĩa ở lại dùng bom thủ tiêu tàu. Một nói với Dĩa: Nếu phải thủ tiêu để một mình tôi thôi! Anh cùng anh em may ra còn sống sót về Trung ương báo cáo...”.
Có lúc, gặp giông bão, tàu nhỏ, chở đầy hàng rất nguy hiểm, không vào bờ, dễ “chết ở ngoài khơi”, vào bờ dễ “làm mồi cho giặc”, Thuyền trưởng Một và Chính trị viên Dĩa phải tính toán cân nhắc đến mức căng thẳng.
Người đi trên biển thì như vậy, người ở nhà chờ tin thì sao? Trung tướng Đồng Văn Cống, nguyên Cục phó Cục Tác chiến, người trực tiếp theo dõi diễn biến của “con tàu không số” đầu tiên, kể lại: “Theo kế hoạch dự kiến đi 5 ngày thì đến. Sáng nào đến giờ giao ban Đại tướng Võ Nguyên Giáp cũng hỏi: “Thế nào rồi? Có tin tức gì không?”... Tôi sốt ruột lắc đầu, rồi ngày thứ sáu, thứ bảy, thứ tám cũng không tin tức gì! Sáng ngày 19-10-1962, tức ngày thứ chín, Quân ủy Trung ương đang giao ban. Tôi bước vào. Đại tướng ngẩng đầu nhìn tôi đăm đăm. Lần này tôi gật đầu, mặt tươi sáng. Đại tướng đứng dậy ôm chầm lấy tôi, Đại tướng khóc. Mừng quá, không sao kể xiết...”.
Chuyến đi thắng lợi, tàu Phương Đông 1 đã cập bến Vàm Lũng - Cà Mau an toàn sau 9 ngày lênh đênh trên Biển Đông.
Một năm sau, Lê Văn Một lại được cử  làm thuyền trưởng tàu gỗ 41, đưa vũ khí vào miền Đông Nam Bộ, mở bến Lộc An (Bà Rịa - Vũng Tàu) ngay trước đồn Phước Hải, đêm 3-10-1963. Đây là một chuyến đi gian khổ bởi tàu bị mắc cạn ngay trước đồn địch. Lê Văn Một đã ứng xử rất linh hoạt, thông minh, bảo đảm đưa hàng tới bến an toàn. Hai chuyến đi này đều ghi những dấu ấn đặc biệt trong hành trình vận chuyển vũ khí bằng đường biển của những “con tàu không số”. Đây là những chuyến mở đường, vào bến mới, đầy khó khăn và thử thách. Bằng kinh nghiệm đi biển, bản lĩnh dày dạn, đặc biệt là tinh thần quả cảm “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”, Thuyền trưởng Lê Văn Một đã xử trí rất thông minh nhiều tình huống phức tạp trong hiểm nguy và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Lê Văn Một mất năm 1982. Chiến công của ông đã được ghi trong Lịch sử Hải quân nhân dân Việt Nam, được đánh giá cao trong tập chuyên khảo mang tên “Đường Hồ Chí Minh trên biển Bà Rịa - Vũng Tàu” do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Hà Nội xuất bản năm 1993. Ba năm sau ngày ông mất, Bảo tàng Hồ Chí Minh phối hợp với gia đình tổ chức cuộc họp mặt, đánh giá công lao đóng góp của ông trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước, đặc biệt là thành tích đóng góp cho việc mở đường, vào những bến mới trên con đường Hồ Chí Minh trên biển. Ông được Nhà nước công nhận liệt sĩ và  truy tặng Huân chương Độc lập hạng ba vì những đóng góp của ông vào sự nghiệp cách mạng của Đảng và của dân tộc.
Năm tháng sẽ qua đi, nhưng chiến công anh hùng của tập thể tàu Phương Đông 1 mà người chèo lái con tàu đó là Thuyền trưởng Lê Văn Một và Chính trị viên Bông Văn Dĩa, những con người đã dũng cảm đi tiên phong, “khai sơn phá thạch” một con đường, sẵn sàng hy sinh vì nhiệm vụ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, mở đường vận tải chiến lược mang tên Bác Hồ kính yêu sẽ mãi đi vào lịch sử đấu tranh anh dũng kiên cường của dân tộc ta, trở thành huyền thoại mãi mãi không bao giờ nhạt phai trong tâm trí chúng ta, làm rạng rỡ thêm truyền thống anh hùng của Hải quân nhân dân Việt Nam.
Kỳ 2: Thuyền trưởng tàu sắt đầu tiên-Chân dung các thuyền trưởng tàu không số
  - Đại tá Trần Văn Tú – cán bộ Ban liên lạc truyền thống “Đường Hồ Chí Minh trên biển” giới thiệu với chúng tôi một cách trân trọng và cảm phục về một người thuyền trưởng đã tham gia chở vũ khí vào miền Nam từ những ngày đầu trên con đường biển mang tên Bác. Người đã chỉ huy chuyến tàu sắt đầu tiên, có 10 chuyến đi thành công, một con số thật đáng nể phục trong những năm tháng khó khăn, ác liệt bởi sự phong tỏa gắt gao của kẻ thù. Theo lời giới thiệu, chúng tôi tìm đến phường Đằng Hải, quận Hải An, thành phố Hải Phòng gặp ông. Ông là Nguyễn Ngọc Ảnh, Thuyền trưởng của những con tàu không số năm xưa.
Làng Lũng những ngày đầu tháng Tám, đúng tiết ngâu, mưa bay lất phất. Những hạt mưa gợi lại bao ký ức xa xưa, trong không gian thoáng đãng còn phảng phất hương thơm của làng hoa lâu đời. Ông ngồi đó, đối diện với tôi, ở tuổi 80, ông không được khỏe lắm, ngoại trừ đôi mắt sáng và minh mẫn.
Ông là đồng hương của Nguyễn Phan Vinh, Nguyễn Tương và Nguyễn Văn Hiệu những người con ưu tú đất Quảng Nam anh hùng đã ra đi cùng những huyền thoại về Đoàn tàu không số vượt sóng gió ra khơi trong những đêm đen, bão gió, đưa vũ khí về miền Nam. Đó cũng là những ngày tháng có ý nghĩa nhất trong cuộc đời ông. Ông tự hào về điều đó. 10 chuyến đi là 10 chuyến an toàn, 10 chuyến thành công.
Nguyễn Ngọc Ảnh tập kết ra Bắc năm 1954, làm cán bộ trong ngành đường sắt, tuyến đường Hà Nội - Lào Cai; sau đó chuyển về Nhà máy dệt Nam Định, rồi học lớp Sơ cấp Hàng hải và được điều về làm Thuyền trưởng tàu đánh cá của Xí nghiệp đánh cá Hạ Long. Trước yêu cầu vận chuyển đường biển chi viện cho chiến trường miền Nam, đầu năm 1962 ông và một số anh em trong Xí nghiệp đã nhập ngũ vào Đoàn 759 - tiền thân Đoàn 125 sau này.
Một chiếc tàu sắt của đoàn tàu không số trên đường chở vũ khí vào Nam (Ảnh thu được từ tài liệu của Mỹ-ngụy).
Chuyến đầu tiên ông tham gia chở vũ khí vào miền Nam là chuyến tàu sắt, do Xưởng đóng tàu III đóng. Đây là lần đầu tiên thử nghiệm con tàu do ta đóng và cũng là lần thử nghiệm cho một tuyến đi mới của đơn vị.
- Khi nhận con tàu sắt còn nguyên mùi sơn mới, anh em rất phấn khởi, nhưng không khỏi lo lắng vì chưa kịp tìm hiểu kỹ các tính năng của tàu đã nhận lệnh lên đường. Trước đó, năm 1962 ta đã sử dụng các tàu gỗ gắn máy chở vũ khí vào miền Nam, loại tàu này chỉ đi sát bờ, không ra biển xa được. An toàn đấy nhưng hiệu quả vận chuyển thấp. Trước yêu cầu phát triển của cách mạng miền Nam, phải có những con tàu vận chuyển tốt hơn, trọng tải lớn hơn và đi biển trong mọi thời tiết. Con tàu này có trọng tải 50 tấn, lắp máy của Cộng hòa Dân chủ Đức - loại máy tốt nhất lúc bấy giờ. Tàu chịu được sóng cấp 7, cấp 8, mớn nước nông, có thể ra vào dễ dàng các kênh rạch ở Đồng bằng Nam Bộ.
Ngày 17-3-1963, từ bến K20-Hải Phòng chúng tôi lên đường. Đồng chí Đạt - Phân đội trưởng tàu tuần tiễu được điều sang làm Thuyền trưởng, tôi là Thuyền phó, đồng chí Nguyễn Văn Tiến nguyên là thành viên của đội tàu Bến Tre ra Bắc hai năm trước làm Chính trị viên.
Buổi chiều mùa đông hôm đó trời u ám, mây vần vũ xám xịt, sóng gió cấp 7, cấp 8. Tàu ra khơi. Phải đi vào những ngày sóng như vậy, nguy hiểm đấy, nhưng mới an toàn vì ít chạm tàu địch.
Ông Ảnh ít cười khi nói chuyện, có một nỗi buồn nào đó phảng phất trong đôi mắt mở to đau đáu kia. Sự suy tư hay những ký ức xưa hiện về trong buổi trò chuyện này? Lặng im một lát, ông kể tiếp:
- Trong đêm tối mịt mùng, càng ra khơi sóng mỗi lúc càng to. Gió thổi ràn rạt. Mặt biển tím sẫm. Thiết bị quan sát chỉ có 1 la bàn lái chính, 1 la bàn chuẩn ở trên cao để quan sát trăng sao, núi non. Chủ yếu là dựa vào kinh nghiệm đi biển. Tàu đi về hướng đảo Hải Nam, vượt qua Đông Nam quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa… hướng về phía Nam. Qua mấy ngày đêm vật lộn với sóng gió, tuy rất mệt nhưng ban chỉ huy tàu vừa phải bảo đảm công tác chỉ huy, vừa phải quan sát chi tiết những vị trí, nhận dạng trên đường, làm tiền đề cho những chuyến sau. Sóng gió quần dữ, anh em thủy thủ mệt nhoài vì say sóng. Bụng đói, thèm một chút cháo nóng mà nồi cháo cứ đổ nước vào, mỗi lần tàu nghiêng lại hất tung cả bếp, cả cháo ra. Phải đi biển mới biết nấu ăn trên tàu khi sóng lớn cực đến mức nào, không kiên nhẫn chắc không làm nổi. Anh Trần Lộc, người Quảng Nam, có sáng kiến nắm chặt hai quai nồi và nhấc lên mỗi khi tàu lắc mạnh. Vậy mà mấy tiếng sau cũng được nồi cháo cầm hơi... Vượt qua đảo Cù Lao Thu, tàu hướng thẳng vào cửa Ba Động. Khi bắt được tín hiệu, chuẩn bị vào bến thì bất ngờ được tin báo địch tổ chức càn quét, vây hãm khu vực này, chúng tôi chuyển hướng sang bến Bát Sát, nay là cửa Hàm Luông (Trà Vinh).
Cảnh quay tàu không số bị địch phát hiện, tấn công trong phim "Đường Hồ Chí Minh trên biển - Đoàn tàu không số" (đạo diễn Xuân Cường).
Vòng vèo mãi theo con thuyền nhỏ dẫn đường lặng lẽ, mập mờ phía trước, chúng tôi cho tàu vòng xuống bến, đó là đêm 23 rạng ngày 24-3-1963. Đang chạy, bỗng tàu khựng lại! Tàu bị sục cạn. Mọi cố gắng của chúng tôi đều bất thành. Chi bộ hội ý chớp nhoáng quyết định cho anh em sơ tán, mang cả súng 12,7mm, CKC, AK lên rừng đước đề phòng nếu quân địch đến thì chiến đấu. Tôi cùng máy trưởng Kiên và đồng chí Nuôi ở lại trên tàu, tùy tình huống xử trí. Khoảng 11 giờ, có tiếng máy bay tới gần, ngó nghiêng. Bình tĩnh, chúng tôi lấy cờ ba que treo lên như những tàu đánh cá của dân miền Nam, phía trên khoang tàu rải mấy tấm lưới ra phơi. Máy bay địch vẫn quần đi quần lại nhưng không phát hiện thêm điều gì. Đến chiều tối, nước bắt đầu lên, người trong bến đón chúng tôi vào bờ. Tại đây, dân quân và bộ đội địa phương đã bố trí lực lượng đón và tiếp nhận vũ khí an toàn.
Tôi nhớ bữa đó, do tàu bị sục cạn, cánh chân vịt bị cong vênh không chạy được. Một xưởng sửa chữa cơ động dựng lên. Chúng tôi lấy gỗ đóng dưới tàu. Khi nước xuống, con tàu nằm cao trên đà. Anh Kiên người Trà Vinh - thợ máy tàu - có sáng kiến dùng đèn khò xì vào cánh chân vịt cho mềm, dùng búa gõ, nắn cho thẳng. Hì hụi hơn một tuần thì gò xong 4 cánh chân vịt. Nghỉ ngơi lại sức chúng tôi trở về miền Bắc. Chuyến về êm xuôi, lợi gió, lợi nước, tàu chạy nhanh và cập bến Đồ Sơn an toàn.
Sau chuyến đi đầu thắng lợi, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương tổ chức gặp gỡ và liên hoan chúc mừng chúng tôi. Phó thủ tướng Phạm Hùng và Thượng tướng Trần Văn Trà cùng dự liên hoan. Anh em rất phấn khởi vì được Phó thủ tướng khen ngợi và tặng quà.
Từ kinh nghiệm của chuyến đi đầu, các chuyến sau chúng tôi thường cho tàu cập bến Láng Nước (tỉnh Cà Mau), bến này sâu lại có nhiều rừng đước nên cập tàu thuận lợi và an toàn hơn. Suốt 6 năm làm nhiệm vụ, tôi đã đi 10 chuyến thành công. Riêng chuyến thứ 5 tàu của chúng tôi đụng phải khu trục hạm của Mỹ, do chủ động phát hiện từ xa, nên đã nhanh trí kịp thời chuyển hướng và chuyển hàng tới bến an toàn...
Giờ đây, với ông, tổ ấm là ngôi nhà nhỏ rợp bóng cây ở làng Lũng - làng hoa, với đủ màu sắc của vùng đất nổi tiếng trồng hoa thành phố, nơi ông bà sống sum vầy cùng các con cháu đã trưởng thành. Ở đó là sự yên bình, đầm ấm, ở đó là những khoảng lặng cần thiết để ngẫm ngợi về những ngày gian khó, ác liệt nhưng hào hùng của những người lính vận tải biển. Vẫn đôi mắt sáng mở to, ông ngồi lặng nhìn ra vườn táo xanh mướt mát kia với ánh nhìn tưởng chừng như lơ đãng mà vẫn ẩn dấu ưu tư. Dường như, ông vẫn thấy bóng dáng còn tàu nhỏ bé năm xưa qua làn mưa ngâu bay lất phất, vẫn thấy gương mặt thân yêu của đồng đội và hy vọng vào ngày gặp mặt...
Ra về, lòng tôi cứ vấn vương mãi hình ảnh về ông, về đôi mắt sáng, tinh tường, mưu trí, dũng cảm của người thuyền trưởng năm xưa đã tham gia chỉ huy chuyến tàu sắt đầu tiên, đã đi 10 chuyến thành công, đưa vũ khí về giải phóng quê hương, góp phần làm nên trang sử huyền thoại của con đường biển mang tên Bác Hồ kính yêu...
---------------
Kỳ 3: Từ du kích trở thành thuyền trưởng Chân dung các thuyền trưởng tàu không số (Kỳ 3)
 - Từ một du kích trưởng thành thành một thuyền trưởng “tàu không số” dày dạn kinh nghiệm với hàng chục chuyến chở vũ khí vào miền Nam đánh Mỹ. Mỗi chuyến đi là một câu chuyện, một kỷ niệm, nhưng theo ông hồi ức đáng nhớ nhất là “chuyến đón tàu Phương Đông 1 của Chính trị viên Bông Văn Dĩa, Thuyền trưởng Lê Văn Một, ngày 16-10-1962 tại Vàm Lũng-Cà Mau...”. Ông là Nguyễn Xuân Thơm, hiện sống tại 15/7A Đoàn Như Hài, phường 12, quận 4, TP Hồ Chí Minh.
Ông kể, cuộc đời trai trẻ của mình đã gắn trọn với con đường vận chuyển trên Biển Đông, chở vũ khí cho miền Nam đánh Mỹ. Ông đã tham gia 16 chuyến vượt biển, 10 chuyến thành công, đã từng chỉ huy Tàu HQ-673 chở các lực lượng đặc công đi giải phóng quần đảo Trường Sa, nhưng thực sự câu chuyện “đón chiếc tàu Phương Đông 1 của bác Một, bác Dĩa” làm ông nhớ mãi, không sao quên được.
Nguyễn Xuân Thơm sinh ra và lớn lên ở xã Tân Tiến, huyện Đầm Dơi, tỉnh Cà Mau. Từ nhỏ đã được chứng kiến sự độc tài, thối nát của chế độ gia đình họ Ngô. Luật 10/59 của Ngô Đình Diệm đã lê máy chém đi khắp miền Nam gây ra bao nhiêu tội ác dã man với đồng bào. Quê hương, xóm làng bị chìm ngập trong cái gọi là “khu trù mật”. Căm thù giặc Mỹ, Nguyễn Xuân Thơm đã đi theo cách mạng, vào vùng giải phóng, gia nhập đội dân quân du kích Ấp 7 ở quê hương, sau đó ông được chuyển về trung đội du kích xã làm nhiệm vụ canh gác, bảo vệ căn cứ cách mạng, tính mạng và tài sản nhân dân.
Ông Nguyễn Xuân Thơm (bên trái) cùng đồng đội.
Ông kể, ngày đó cơ sở vật chất cách mạng còn nghèo nàn lắm. Để chống lại các cuộc càn quét của giặc hay phá tan các “khu trù mật” mở rộng vùng giải phóng, đơn vị ông chỉ có trang bị vũ khí thô sơ như súng kíp, lựu đạn, mìn tự tạo, vũ khí đạp lôi làm bằng chai đựng nước, và một loại vũ khí không thể thiếu được đó là chông hầm và chông bàn (đây là loại vũ khí được coi là lợi hại nhất)... Ngoài ra còn có hai khẩu súng trường, ba súng kíp tự làm bằng ống xe đạp cộng với một số lựu đạn lấy được của giặc và lựu đạn mỏ vịt tự làm.
- Vũ khí thô sơ, thiếu thốn. Vậy mà hai năm trời đơn vị phải chiến đấu với hàng chục trận càn của địch, đối đầu với hàng trăm tên địch được trang bị nhiều vũ khí hiện đại, cùng nhân dân nổi dậy phá ấp chiến lược, san bằng khu trù mật, thủ tiêu chính quyền ngụy, lập lại chính quyền cách mạng, xây dựng quê hương làng xóm thân yêu của mình! Ông kể với giọng đầy sôi nổi, tự hào, gương mặt ánh lên niềm vui rạng rỡ.
Khoảng giữa năm 1962, ông và một người đồng chí được chuyển công tác về đơn vị mới mà “hoàn toàn chưa biết gì về đặc điểm và tính chất hoạt động của nó”. Về sau mới biết đó là đơn vị TN-3175, thuộc quân khu miền Tây Nam Bộ, trực thuộc Trung ương Cục miền Nam. Tại đây anh em luôn được sự đùm bọc của nhân dân xóm “ấp Máng Gào” thuộc xã Viên An-căn cứ cách mạng hồi kháng chiến chống Pháp, mang truyền thống của cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ 1940 và cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai của anh hùng Phan Ngọc Hiển năm xưa, giờ còn gây tiếng vang khắp vùng. Nơi đây đã trở thành căn cứ cách mạng kháng chiến. Nhiều đồng chí khác từ các xã: Khánh Bình Tây, Khánh Bình Đông, Khánh Lâm thuộc huyện Trần Văn Thời... cũng được điều về đơn vị. Mọi người sống vui vẻ, chan hòa như anh em một nhà, hằng ngày được học tập chính trị, phổ biến nắm bắt tình hình nhiệm vụ mới. Sau mười ngày học tập đơn vị phân công mỗi người một nhiệm vụ khác nhau.
- Tôi được phân về trung đội vũ trang bảo vệ căn cứ và cơ quan, còn các bộ phận khác đều có nhiệm vụ riêng. Sau đó chúng tôi được Trung ương giao nhiệm vụ chuẩn bị mua ghe tàu, lắp máy trang bị ngụy trang, lo giấy tờ hợp pháp trong vùng địch. Sau ba tháng tích cực chuẩn bị, lo lót chính quyền ngụy, chúng tôi đã có ghe, đầy đủ các loại giấy tờ hợp pháp như giấy đăng ký ghe, thuyền, giấy ngư phủ, giấy hành nghề của hợp tác xã đánh cá của ngụy. Tất cả đã sẵn sàng. Ông Thơm kể.
Một ngày đầu tháng 10-1962, đơn vị nhận được lệnh sẵn sàng ghe, thuyền để đón nhận vũ khí từ miền Bắc vào. Kể sao hết niềm vui sướng của anh em bến bãi trước tin vui này. Mọi người phấn khởi, hối hả làm việc quên cả ngày đêm, kiểm tra ghe, lưới, sửa chữa máy móc, ngư cụ... Vậy là đồng bào miền Nam sẽ có vũ khí hiện đại để chống lại các cuộc càn quét, tấn công tận sào huyệt tiêu diệt kẻ thù, mở rộng vùng giải phóng. Từ hôm đó, 4 anh em gồm: Tư Lưới - người được giao nhiệm vụ phụ trách bến, Chín Thuân, Dũng (Miên) và ông Thơm hằng đêm đưa ghe ra biển giả vờ đánh bắt cá để nắm tình hình. Ban ngày, anh em lại thu lưới vô rừng ẩn giấu.
- Những ngày ấy căng thẳng đến ngộp thở. Ông Thơm bùi ngùi nhớ lại. Chúng tôi ngày không dám ngủ, nơm nớp hồi hộp chờ đêm xuống là ra biển ngay. “Ngư trường” của chúng tôi cách bờ từ 3 đến 10 cây số, anh em thay nhau trực canh, mắt luôn nhìn ra biển, hướng đến những dấu hiệu nhỏ nhất, kể cả một ánh chớp lạ trên mặt biển đen bầm thẫm mênh mông. 10 ngày đêm chỉ với mỗi việc giả vờ thả lưới, rồi lại kéo lên, trong một khu vực. Mỗi khi thuyền trôi khỏi “ngư trường”, anh em lại điều khiển ghe ngược dòng, về vị trí cũ, rồi lại thả lưới. Cứ thế! Công việc thật vất vả! Tấm lưới đâu có nhỏ bé chi! Dài tới 200-300 mét. Kéo lên, thả xuống! Ai đấy đều mệt nhoài! Nhưng cứ nghĩ tàu sắp chở vũ khí về, mọi mệt mỏi tiêu luôn! Nhưng cũng chính sự “làm việc tích cực đó” đã che mắt, đánh lạc hướng bọn địch!
Ông Nguyễn Xuân Thơm cùng người nhà bên mộ Anh hùng LLVT nhân dân Bông Văn Dĩa.
Kể đến đây ông cười giòn giã, ánh lên niềm vui sướng khiến chúng tôi cũng phải bật cười mà nước mắt cứ chực trào khi hình dung cảnh kéo lưới “nghi binh” suốt 10 đêm mịt mùng của 4 chàng “lực điền” mà “chẳng bắt được con cá nào...”.  Đến ngày thứ 11, khoảng 6 giờ sáng ngày 16-10-1962, mọi người nhìn thấy một chiếc tàu rất to thấp thoáng, xa xa ngoài cửa Vàm Lũng, sóng nước bọt trắng xóa.
- Treo cờ tín hiệu lên! Tư Lưới vui mừng ra lệnh. Đèn pin đâu? Sáu Thơm khẩn trương đánh tín hiệu đèn pin! Không khí trên ghe sôi động hẳn. Hồi hộp, tôi lấy chiếc đèn pin, có bịt giấy đỏ để hở một lỗ nhỏ, đánh liền ba chớp dài. Ngoài kia, con tàu vẫn lừ lừ chạy theo hướng sát mép bờ, trên đỉnh có treo cờ và rồi, hai chớp đèn pin nháy dài đánh tín hiệu trả lời.
- Đúng rồi! Đúng tàu ta rồi! Chúng tôi reo to, ôm chầm lấy nhau sung sướng! Hoan hô! Tàu ông Dĩa đã về! Chúng tôi tiếp tục đánh tín hiệu đèn pin, ra lệnh: “Anh đi theo tôi!” Chiếc tàu lù lù, lừng lững đi vào hướng bến, tới rạch Chùm Gọng.
Chuyến vận chuyển vũ khí đầu tiên vào miền Nam đã thành công. Mọi người nghẹn ngào, ùa đến, tay bắt mặt mừng, ôm hôn thắm thiết thuyền trưởng Lê Văn Một, chính trị viên Bông Văn Dĩa, thợ máy Năm Sao, Sáu Lai, Năm Kỷ... những người con anh hùng của đồng bào miền Nam, đã vượt qua vòng vây phong tỏa của giặc thù, qua phong ba bão tố chở vũ khí cho đồng bào miền Nam đánh Mỹ. Niềm hạnh phúc thật lớn lao! Hàng chục chiếc ghe, xuồng lập tức ghé tới bốc hàng. Những thùng vũ khí còn nguyên mùi sơn mới, mùi khét dầu mỡ, nhanh chóng được vận chuyển cất giấu ở nơi khác. Suốt 3 ngày đêm vất vả mới vận chuyển hết số hàng và vũ khí tàu Phương Đông 1 chở về.
Vậy là con đường biển nối liền hậu phương lớn với tiền tuyến lớn không còn là dự định, là mong ước mà đã trở thành hiện thực. Chuyến đầu tiên thắng lợi làm tiền đề cho những chuyến đi tiếp đó thành công. Chúng tôi đã liên tục đón thêm 3 chuyến tàu nữa tại đây. Đồng chí Tư Đức - người phụ trách bến vui mừng khôn xiết, xúc động nói với các cán bộ, thuyền viên: “Các đồng chí không chỉ đưa vũ khí vào cho chúng tôi, mà còn mang cả tình thương của Đảng, của Bác, của đồng bào miền Bắc với miền Nam ruột thịt; tiếp sức để miền Nam chiến đấu giải phóng quê hương”.
Một năm sau, tôi ra Bắc nhận nhiệm vụ mới và đã trải qua nhiều chuyến đi, nhiều trận chiến đấu, tôi đã trưởng thành, từ một chiến sĩ trở thành thuyền trưởng của Đoàn tàu Không số anh hùng và huyền thoại trên Biển Đông.
-----------
Kỳ 4: Nguyễn Phan Vinh, bản hùng ca bất tử Chân dung các thuyền trưởng tàu không số (Kỳ 4)
 21 tuổi nhập ngũ, 35 tuổi hy sinh, đó là những dòng tiểu sử ngắn ngủi, bình dị của Trung úy, Thuyền trưởng tàu Hải quân Nguyễn Phan Vinh (1933-1968). Năm 1970, anh đã được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Một hòn đảo thuộc quần đảo Trường Sa đã được mang tên anh, đảo Phan Vinh.
Gia đình người anh hùng
Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, chúng ta đã có một con đường xẻ dọc Trường Sơn mà hễ nhắc đến là lại liên tưởng tới những sự tích thần kỳ. Song, ngoài con đường ấy, còn có một con đường khác nữa, đó là con đường vận chuyển vũ khí từ Bắc vào Nam trên Biển Đông với một nét độc đáo, sáng tạo như thần thoại, với biết bao kỳ tích cảm động về lòng dũng cảm, sự hy sinh quên mình của những người chiến sĩ Đoàn tàu không số và tình cảm gắn bó keo sơn với quân dân các bến đỗ ở miền Nam. Đó là con đường huyền thoại: Đường Hồ Chí Minh trên biển và tên tuổi Nguyễn Phan Vinh gắn liền với tên con đường ấy.
Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Phan Vinh. Ảnh tư liệu.
Nguyễn Phan Vinh là người con ưu tú của mảnh đất Điện Nam, Điện Bàn, Quảng Nam (cũ) sinh ra trong một gia đình cách mạng. Tháng 3-1968, anh hy sinh ở Hòn Hèo thì cuối năm ấy, cha của anh, người du kích tên là Nguyễn Đức Mẫn cũng hy sinh trong một trận chống càn tại quê nhà. Mẹ anh mất trước đó 5 năm, (năm 1963) vì bị địch bắt, đánh đập, tra khảo dã man.
Năm bà ra đi cũng là năm người con trai thứ hai, Nguyễn Đức Lân ngã xuống trên chiến trường Quảng Nam. Người duy nhất còn lại trong gia đình là anh Nguyễn Đức Xử. Một người bạn của tôi trong đợt đi làm phim về “Tàu không số” kể chuyện đã được nghe anh Xử nói về người em trai của mình: “Phan Vinh tuy là con út trong gia đình, nhưng ngay từ nhỏ đã là người cứng cỏi, quyết đoán, và đặc biệt là giàu lý tưởng”.
Có lẽ chính từ cái cứng cỏi, quyết đoán và giàu lý tưởng cách mạng đó đã làm nên một Phan Vinh với chiến công oanh liệt trên vùng biển Hòn Hèo.
Tàu 235 - bản anh hùng ca bất tử trên vùng biển Hòn Hèo
Hòn Hèo là tên chung chỉ vùng biển và dãy núi chạy qua hai xã Ninh Phước, Ninh Vân thuộc tỉnh Khánh Hòa. Hòn Hèo cách Nha Trang khoảng hơn 10km đường biển. Nơi đây, Thuyền trưởng Nguyễn Phan Vinh và đồng đội đã hy sinh cùng Tàu 235 vào năm 1968.
Thời kỳ đó, kẻ địch đã tìm mọi cách ngăn chặn con đường vận chuyển trên biển mà chúng gọi là con đường “cực kỳ nguy hiểm” này. Không quân, Hải quân Mỹ và quân ngụy Sài Gòn tung lực lượng khá mạnh để chăng lưới bủa vây trên mặt biển đón bắt những con tàu cảm tử chở vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Trên biển, chúng chia từng tổ bố trí tàu chiến ngăn chặn và lắp đặt ra-đa quét sóng đêm ngày. Trên trời và trong đất liền cả đêm lẫn ngày, chúng cho lính và máy bay trinh sát, tuần tra, canh phòng.
Ông Long An, một trong 5 người sống sót đã kể lại chuyến đi của Tàu 235.
- 11 giờ 30 phút ngày 27-2-1968, Tàu 235 xuất phát chở hơn 14 tấn vũ khí vào bến Hòn Hèo. Đây là bến hết sức khó vào, luồng hẹp, nhiều đá ngầm. Một tài liệu của Pháp viết rằng, tàu muốn ra vào Hòn Hèo phải có những tay thuyền trưởng lão luyện, với trên dưới 20 năm tuổi nghề.
Trung úy Nguyễn Phan Vinh tuy chưa có tuổi nghề cao nhưng được tin cậy chỉ huy con tàu này. Tàu có 21 cán bộ, chiến sĩ; Chính trị viên: Nguyễn Tương, Thuyền phó 1: Đoàn Văn Nhi, Thuyền phó 2: Võ Tá Tu, máy trưởng: Trương Văn Mùi. Tôi là thợ máy trên Tàu 235.
Trước giờ nhổ neo, chiến sĩ Ngô Văn Dầu bị viêm phổi phải vào viện nên đội hình còn lại 20 người. Chúng tôi đi hai ngày đêm trên vùng biển quốc tế. Tối 29-2, tàu đến ngang vùng biển Nha Trang và chuyển hướng vào bờ. Phát hiện ra tàu ta, địch lập tức huy động 3 tàu chiến: Ngọc Hồi, 12, 617 và 4 tàu khác của Duyên đoàn 25 đến vùng biển Nha Trang với ý định bắt sống...
Biết đã bị lộ, Thuyền trưởng Phan Vinh khôn khéo điều khiển Tàu 235 luồn lách qua đội hình tàu địch và đến được bến Ninh Phước lúc 0 giờ 30 phút ngày 1-3-1968. Anh quyết định thực hiện phương án 2, cho thả hàng xuống nước để quân dân ở bến mò vớt sau. Các kiện hàng được bao gói đặc biệt lần lượt lăn xuống biển. Lúc đó, chừng 1 giờ 30 phút, 3 tàu loại lớn và 4 tàu loại nhỏ của địch khép chặt vòng vây ở phía sau, phía trước là núi.
Phan Vinh cho tàu chạy ven bờ xuôi xuống bến Ninh Vân chừng độ mươi hải lý, nhằm mục đích giữ bí mật không để lộ vị trí thả vũ khí. Tàu địch lập tức đuổi theo, nã đạn dữ dội rồi bật đèn pha và gọi máy bay đến thả pháo sáng, bắn rốc-két. Trong lửa đạn, Nguyễn Phan Vinh bình tĩnh chỉ huy anh em chiến đấu và điều khiển tàu chạy sát bờ. Các thủy thủ Thật, Phong liên tiếp dùng DKZ và 14 ly 5 bắn về phía tàu địch, một chiếc bốc cháy khiến chúng không dám vào gần.
Cuộc chiến đấu mỗi lúc một ác liệt. Hỏa lực của địch liên tục bắn vào tàu ta. 5 cán bộ, chiến sĩ trên tàu đã hy sinh, 2 người bị thương nặng, 7 người bị thương nhẹ. Thuyền trưởng Phan Vinh cũng bị mảnh đạn xượt qua đầu. Anh tự băng bó và vẫn đứng trong buồng lái động viên mọi người chiến đấu. Anh có ý định phá vòng vây bởi ngoài khơi dễ cơ động, nếu cần thì áp sát tàu địch và cho nổ tàu tiêu diệt bọn chúng. Nhưng rất không may, lúc đó máy tàu hỏng nặng. Ý định phá vòng vây không thành.
Anh chỉ huy cho tàu di chuyển vào sát bờ. Lúc đó chừng 2 giờ 20 phút, tàu cách bờ hơn 100m, anh tổ chức đưa người đã hy sinh và bị thương vào bờ, sau đó ra lệnh chuẩn bị điểm hỏa cho nổ tàu. Anh Vinh, Thứ và tôi cài kíp nổ ở khoang máy, các vị trí khác do Khung, Thật, Mai đảm nhiệm. Kiểm tra xong lần cuối, chúng tôi nhảy xuống nước bơi vào bờ. Tôi được giao nhiệm vụ nếu tàu không nổ phải quay lại kiểm tra các kíp nổ.
20 phút sau, lúc 2 giờ 40 phút, ngày 1-3, một cột lửa bùng lên, kế đó là tiếng nổ dữ dội, chấn động tới Nha Trang. Sức công phá của khối thuốc nổ khiến Tàu 235 đứt đôi, một nửa chìm xuống biển, một nửa văng lên lưng chừng núi Bà Nam, xã Ninh Vân. Sau những phút giây bàng hoàng, địch gọi máy bay đến bắn phá ven biển, nhằm dọn đường cho bộ binh bao vây, bắt sống các thủy thủ Tàu 235. Số thủy thủ rút lên bờ còn lại 9 người. Địch lập tức đổ quân lùng sục.
Thuyền trưởng Vinh và thợ máy Thứ chốt ở đó, kiên cường chống trả, đánh lui nhiều đợt tấn công của địch, và cuối cùng, lực kiệt, vết thương ngày một nặng, súng không còn đạn, các anh đã hy sinh. Số thủy thủ của Tàu 235 còn lại 7 người, đó là Thuyền phó Nhi và 6 thủy thủ: Mai, Thật, Phong, Khung, Tuyến và tôi. Tất cả đều thương tích đầy mình. Anh em cố gắng dìu nhau di chuyển khắp vùng núi đá Hòn Hèo.
Mười ngày phơi dưới nắng, không lương thực, không nước uống, chúng tôi kiệt sức. Ngày thứ 11, Khung đi tìm nước uống, rồi không trở về. Sau này mới hay, Khung bị địch bắt. Ngày thứ 12, chúng tôi liên lạc được với du kích ở bến. Mọi người quay lại đón anh Nhi đang nằm trong rừng. Nhưng anh không còn ở đó nữa, chỉ thấy mảnh áo rách và cuốn băng cá nhân, máu đã khô...
Về sự kiện này, tạp chí Lướt sóng của Hải quân ngụy Sài Gòn viết: “Mười hai chiến hạm và hàng chục hải thuyền của Hoa Kỳ cùng quân lực Việt Nam cộng hòa có phi cơ yểm trợ, đụng độ ác liệt với một tiểu đoàn Việt Cộng (thực chất chỉ có 20 thủy thủ) gan góc và thiện chiến trên con tàu chở vũ khí từ Bắc Việt thâm nhập và tiếp tế cho Mặt trận Giải phóng. Họ đã nổ súng đến viên đạn cuối cùng, đến người cuối cùng và hy sinh với con tàu bằng khối lượng hàng tấn bộc phá do chính tay họ tự hủy, không để lại một dấu vết”...
Kể đến đây, ông Long An lặng đi, đôi mắt đỏ hoe. Đưa tay gạt những giọt nước mắt, ông nói tiếp:
- Phan Vinh là một thuyền trưởng giỏi, anh đã có 11 chuyến vận chuyển vũ khí thành công, dũng cảm, quyết đoán, sống chân thành, được anh em quý mến. Tôi chỉ tiếc chẳng giữ được chút kỷ vật nào của người thuyền trưởng anh hùng ấy.
Những dòng thư đầy ắp niềm tin và lý tưởng cách mạng
Điều mà ông Long An day dứt phần nào đã được giải tỏa bởi tại Bảo tàng Hải quân hiện còn lưu giữ những bức thư của Phan Vinh gửi người bạn thân là Trần Phong (đồng chí Trần Phong - nguyên Quyền đoàn trưởng Đoàn 125 Hải quân). Trần Phong và Phan Vinh là đôi bạn thân. Họ cùng quê, cùng tập kết ra Bắc, cùng học ở Trung Quốc và cùng về Quân chủng Hải quân làm thuyền trưởng. Những lá thư anh viết khi đang ở tại căn cứ trên nước bạn, chuẩn bị cho những chuyến đi.
Lá thư Trần Phong nhận ngày 26-10-1967, có đoạn:
“Chúng ta phải là những con lạc đà trên bãi sa mạc, mỗi bước đi, mỗi vết chân của chúng ta vì sự nghiệp của Đảng, chúng ta phải là những chiếc cầu chì, vui vẻ và lạc quan mà nhận lấy công tác ở những nơi nguy hiểm nhất. Và khi cần thiết, ta hy sinh sinh mạng mình cho Đảng, cho nhân dân. Thời gian, thời gian sẽ ủng hộ chúng ta...".
Lá thư gửi tháng 1-1968, trước khi anh hy sinh một tháng, có đoạn: “Phong thân! Mình không ngờ đến nơi đây. Mùa hè đã qua mà nóng ghê, nhưng đâu có nóng bằng cõi lòng người chiến sĩ. Mọi việc ở đây diễn ra bình thường, rất mong ngày “thượng lộ”, ấy thế mà cứ ăn chực nằm chờ mãi, kể cũng ê. Còn những gì tiếp theo nữa thì để lịch sử trả lời. Hẹn gặp Phong vào một ngày vinh quang, điều đó khẳng định... Phong hãy giúp mình biên thư cho anh Xử. Khi nào có dịp mình sẽ biên thư sau, hoặc sẽ có dịp gặp. Mình không muốn biên thư vì mình nghĩ rằng mọi riêng tư lúc này sẽ làm con người ta khó bước tới. Tình cảm đó có lẽ để dành cho sau chiến tranh. Bây giờ thì mình chỉ có một tình cảm duy nhất là hãy bước tới và xông vào cuộc cách mạng vĩ đại, con người hoàn toàn không sợ ràng buộc bởi những mối dây nào khác. Tạm gác lại những tình cảm riêng tư để dồn cho điều duy nhất đó là bước tới và xông vào cuộc cách mạng vĩ đại, với niềm tin vững chắc vào thắng lợi”.
Phan Vinh và thế hệ thanh niên của đất nước đã đi vào chiến trận với tinh thần lạc quan bởi họ luôn nung nấu một lý tưởng cao đẹp, một niềm tin chắc chắn rằng, sự hy sinh vì nghĩa của mình sẽ được nối tiếp, và sẽ thành công. Trong số các anh, có người không còn nữa, nhưng niềm tin và lý tưởng mà các anh tâm nguyện còn sống mãi.
-----------
Kỳ 5: Đồng Xuân Chế: "Biển gọi tôi suốt cuộc đời" Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Kỳ 5)
- Làng biển Nam Sơn (Nghi Sơn, Tĩnh Gia, Thanh Hóa) những ngày đầu năm 2011. Từ tinh mơ mờ đất, cha con ông Đồng Xuân Chế đã vác lưới ra biển. Ông đi đến đâu là đánh thức bà con đến đấy bởi giọng nói hào sảng. Đã bước sang tuổi 75 nhưng ông vẫn còn nhanh nhẹn lắm. Tay ông vẫn thoăn thoắt thả lưới, bắt chẻo, câu mực..., vẫn lăn lộn với sóng gió để mang về cho vợ con miếng cơm manh áo.
Ông bảo: "Biển gọi tôi suốt cuộc đời". Có lẽ thế mà tuổi già đã không ngăn cản được bước chân ông. Các con ông cũng muốn bố nghỉ ngơi nhưng ông thì không muốn. Bởi một ngày không làm việc với ông thật xa xỉ.
Sau một ngày đầu năm đi biển lấy may, ông trở về trong tâm trạng phấn khởi nên vừa gặp chúng tôi, ông đã hồ hởi bắt chuyện.
- 35 năm trước, khi mới rời quân ngũ trở về làng, tôi đã được dân làng tín nhiệm bầu là Chủ nhiệm hợp tác xã liên hiệp nghề cá.
Thuyền trưởng Đồng Xuân Chế. Ảnh Trịnh Dũng.
Thời chiến tranh, quê tôi là túi đạn bom của giặc Mỹ, làng mạc bị tàn phá, cuộc sống gặp rất nhiều khó khăn, ngư cụ khai thác cá biển thiếu thốn đủ bề... Trước tình hình đó, tôi đã cùng với chi ủy, chi bộ ra sức động viên nhân dân khắc phục khó khăn đẩy mạnh sản xuất, nâng cao đời sống. Rồi tôi bàn với anh em bạn hữu động viên dân làng, hãy bám biển mà sống, bỏ biển, bỏ làng là có tội với Đảng và Chính phủ. Nhân dân lắng nghe, họ chủ động đóng thuyền, vá lưới ra biển đánh cá. Chẳng bao lâu, cuộc sống nhân dân được cải thiện đáng kể. Lúc này, xã có chủ trương cho 30 lao động trong thôn đi học cơ khí và khai thác cá biển để về phục vụ sản xuất. Sau khi chúng tôi đi học về đã trực tiếp hướng dẫn bà con cách đánh bắt, sử dụng ngư lưới cụ và các phương tiên thông tin đi biển. Chúng tôi bắt tay vào đánh bắt, các đoàn tàu đi biển thu về từng khoang cá đầy. Nhân dân phấn khởi, làng biển lúc nào cũng rộn vang tiếng cười.
Ông cho chúng tôi xem những tấm huân huy chương đã nhuốm màu thời gian, nói như khoe: “Đây là những tài sản quý giá nhất của đời tôi. Mỗi lần nhìn nó, tôi thấy đồng đội mình đang ở đó, thấy những cung đường biển đầy sóng và gió mà một thời chúng tôi đã vượt qua”.
Rồi như chạm vào mạch nguồn cảm xúc, ông kể:
… Tháng 9-1970, tôi được điều động về Tàu 54-Tiểu đoàn 1, Trung đoàn 125 làm thuyền phó 1, nhận lệnh chở 70 tấn vũ khí đi Rạch Gốc (Cà Mau). Chuyến đi này khung cán bộ có anh Hai Đặng là thuyền trưởng, anh Hai Hiệu là Chính trị viên, tôi và anh Chử Thái Bình làm thuyền phó.
Chúng tôi xuất phát tại cảng K35 Hải Phòng. Để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ, tàu đã thẳng hướng sang đảo Hải Nam (Trung Quốc), đi dọc phía Đông quần đảo Trường Sa tiếp giáp Phi-líp-pin. Khi đang ở vùng biển Phi-líp-pin thì cơn bão số 8 xuất hiện, tàu nằm trong tâm bão, một cơn bão mạnh cấp 12. Con tàu nhỏ nhoi oằn mình giữa cơn cuồng phong của biển cả. Hòm đạn súng B41, đạn ĐKZ cố định trên mặt boong đều bị bật tung, liệng đi liệng lại trên mặt boong, 2 bộ phận giảm lắc của tàu bị sóng đánh gãy nên tàu rất tròng trành.
Do bão nên việc xác định vị trí tàu bằng thiên văn không thể tiến hành được, buộc chúng tôi phải dùng phương pháp tính nhích dần để xác định vị trí tàu. Để chống chọi với bão lớn, phần đông cán bộ, chiến sĩ đã ngậm sâm làm việc, qua mấy chục giờ mọi người gần như kiệt sức. Hơn một ngày một đêm chiến đấu vật lộn với bão tố, tưởng chừng có lúc bão đã nhấn chìm con tàu nhỏ bé xuống đáy đại dương. Nhưng cũng do có bão lớn nên kẻ thù đã nới lỏng kiểm soát trên biển, vì vậy chúng tôi đã vượt qua vòng kiểm soát của địch.
Chúng tôi chuyển hướng về phía bến nhưng vì thời tiết quá phức tạp không xác định được vị trí tàu, chúng tôi phải chuyển sang xác định vị trí tàu bằng phương pháp nhích dần. Dự tính 3 giờ sáng thì tàu vào bến, song 4 giờ đến 5 giờ, 6 giờ, tàu vẫn chưa phát hiện được bến. Đến 7 giờ sáng thì tàu phơi lưng ở ven bờ Cà Mau. Tình huống nguy hiểm ngoài dự kiến do người ở bến đón dẫn đường chúng tôi chờ quá thời gian hiệp đồng đã rút đi, tàu nằm chềnh ềnh ở ven bờ, nếu địch phát hiện được thì vô cùng nguy hiểm. Không có người dẫn đường, chúng tôi đã nhanh chóng tự tìm rạch để vào. Đang cơ động vào bến, bỗng có máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu gần đó cất cánh đi tuần ven biển, toàn tàu sẵn sàng chiến đấu. Nếu địch phát hiện được tàu ta thì đây sẽ là tình huống vô cùng nguy hiểm. Nhưng thật may, địch không phát hiện ra chúng tôi. Hơn một tiếng sau, chúng tôi nhanh chóng đưa tàu vào bến an toàn và tiến hành ngụy trang. Mọi người ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm và phấn khởi vì đã đưa được vũ khí vào tận tay đồng bào, chiến sĩ miền Nam.
Kể đến đây, giọng ông phấn chấn hẳn: Một tuần ở bến bốc xong vũ khí, chúng tôi được lệnh trở về miền Bắc. Tình huống bất ngờ nguy hiểm khác lại đến, đó là vào lúc 19 giờ, tàu được lệnh gỡ ngụy trang, một thuyền máy đuôi tôm B10 của bến chuyển cho chúng tôi một ít hàng. Đang chuyển hàng thì bỗng dưng thuyền máy bị bốc cháy, đạn nổ, tỏa ra một quầng lửa sáng rực. Nghe tiếng đạn nổ và vùng lửa sáng, máy bay địch gần đó đã nhanh chóng cất cánh lùng sục. Lưỡng lự không xử lý nhanh lúc này tàu sẽ trở thành mồi cho đạn bom của giặc. Ban chỉ huy chúng tôi hội ý chớp nhoáng và quyết định cho tàu khẩn trương rời khỏi khu vực nguy hiểm. Nổ máy tăng tốc độ vừa ra khỏi rạch thì máy bay địch ở sân bay Bạc Liêu bám theo sát chúng tôi, ngoài biển thấy đèn tàu địch thấp thoáng, hình như địch đã phát hiện ra chúng tôi và đang đón lõng để bắt sống hoặc tiêu diệt tàu. Chúng tôi báo động toàn tàu sẵn sàng chiến đấu và khôn khéo cho tàu bám bờ đi theo hướng Ghềnh Hào để lợi dụng tuyến bờ che lấp tránh ra đa của địch phát hiện. Khoảng 1 giờ 30 phút sau, quả nhiên địch bị mất mục tiêu, máy bay không bám theo, ngoài biển cũng không thấy tàu và đèn thấp thoáng nữa, chúng tôi nhanh chóng chuyển hướng cho tàu đi về hướng Đông Đông Bắc, 6 giờ sáng thì ra đến hải phận quốc tế. 7 giờ sáng chúng tôi lại thấy một tàu lạ bám theo cả ngày và sau đó đêm thì một chiếc máy bay thay tàu bám theo. Chúng tôi bình tĩnh tiếp tục hành trình coi như không có gì xảy ra cho tới tận Hòn Đông (Trung Quốc) chúng mới rời bỏ tàu ta.
Đây thực sự là một chuyến đi đầy khó khăn, gian khổ, tàu đã phải vượt qua bão tố và sự truy cản của kẻ địch để chở hàng chi viện cho chiến trường miền Nam. Chuyến đi hơn một tháng đã vắt kiệt sức. Tôi và anh Bình thuyền phó phải đi nằm viện chữa bệnh. Sau khi ra viện tôi nhận quyết định của Đoàn điều động về tàu 56 ở Tiểu đoàn 2 nhận nhiệm vụ mới và sau đó đổi số tàu thành 649-Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 125.
Trung tuần tháng 8-1971, Tàu 649 nhận nhiệm vụ chở 70 tấn vũ khí vào chiến trường miền Nam. Trên tàu, ngoài 18 cán bộ, chiến sĩ còn có 3 đồng chí của Đoàn 126 Đặc công. Đầu tháng 11 tàu xuất phát, đi xuyên qua phía Nam đảo Hải Nam để tạo yếu tố bí mật, bất ngờ đánh lừa Hạm đội 7 của Mỹ, chúng tôi đã lựa chọn cách đi trên các bãi cạn của quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Trong chuyến đi này biển lặng nhưng căng thẳng nhất là phải đi lách trên các bãi đá ngầm Hoàng Sa, Trường Sa nên yêu cầu xác định vị trí tàu bằng thiên văn và lái tàu phải thật chuẩn xác, chỉ cần sơ suất một chút là tàu có thể cưỡi lên đá ngầm. Vượt qua nhiều bãi đá ngầm, bãi cạn san hô và ra khỏi quần đảo Trường Sa, xuống phía Nam tàu lách về phía vùng biển Phi-líp-pin.
Đến cuối tháng 11-1971, vào gần đến nơi theo kế hoạch, ban chỉ huy tàu họp bàn nhận định: Đây là thời cơ tốt cần nhanh chóng cơ động vào bến ngay trong đêm thứ bảy, vì lúc đó địch thường hay mất cảnh giác. Nếu đi theo kế hoạch cũ thì sang tối chủ nhật mới vào bến và thả hàng được. Cấp trên nhất trí theo phương án của chi ủy và chỉ huy tàu. 23 giờ chúng tôi đến vùng biển Thái Lan và chuyển hướng về đảo Cô Công (Cam-pu-chia). Chúng tôi bắt liên lạc thả vũ khí, nhưng bến lại trả lời sai tín hiệu. Thời gian thả hàng đã quá gấp, không thể chờ đợi thêm được nữa. Chúng tôi cử đồng chí Phan Đình Nhu và đồng chí Nhật, cùng 2 đồng chí đặc công người nhái tập kích bắt sống người đánh tín hiệu trả lời của bến. Hóa ra đúng là người của ta. Chúng tôi cấp tốc về bến thả hàng, lúc đó là 0 giờ 10 phút, tàu phân công 9 đồng chí trực chiến đấu, còn lại 9 đồng chí bốc vũ khí từ dưới hầm hàng có độ cao 4m và thả xuống biển. Tàu không thả neo, chúng tôi thả hàng thành 2 đống với tốc độ của tinh thần thần tốc. Chỉ với 9 người và trong 3 giờ 10 phút chúng tôi đã đưa lên mặt boong và thả xuống bến 70 tấn vũ khí, trung bình mỗi đồng chí bốc gần 8 tấn vũ khí. Sau khi chúng tôi hoàn thành nhiệm vụ trở về, đồng chí Lê Duẩn đã đánh giá: “Đây là sức mạnh diệu kỳ”.
Suốt cuộc đời quân ngũ, ông Chế luôn cố gắng phấn đấu hoàn thành các nhiệm vụ được giao. Bản thân ông được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương và được tặng ảnh Bác Hồ. Giờ đây, cuộc đời ông đã bắt đầu được hưởng những quả ngọt cuối mùa. Ông khoe với tôi: "Cháu à. Bác thông báo một tin vui đây. Ban liên lạc Cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tỉnh Thanh Hóa vừa họp và đề nghị Quân chủng Hải quân xây dựng nhà tình nghĩa cho bác đấy. Bác cũng vừa nhận được chế độ trợ cấp hằng tháng đối với người phục vụ trong quân ngũ trên 15 năm. 
-----------
 - Có biết bao câu chuyện cảm động về tình cảm, tấm lòng của quân dân miền Nam nơi bến bãi với cán bộ, chiến sĩ Đoàn tàu không số làm nhiệm vụ chở vũ khí chi viện cho chiến trường. Chuyện về nắm đất Vũng Rô - hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng Hải quân do Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh trao tặng là một trong những câu chuyện đó.
Chúng tôi gặp ông Hồ Đắc Thạnh - người thuyền trưởng Tàu không số nổi tiếng của tỉnh Phú Yên ngay tại Hải Phòng. Dường như chất lính vẫn còn đọng lại rất nhiều trong ông ở dáng dấp nhanh nhẹn, âm giọng Phú Yên dõng dạc và đôi mắt sắc sảo... đôi khi làm chúng tôi bối rối. Tôi gợi lại chuyện, hỏi thêm về nắm đất năm xưa ông đã trao tặng Bảo tàng Hải quân... Ông ồ lên: “Nhớ chứ, quên sao được...! Đó là câu chuyện cảm động, gắn với những chuyến hàng cảm tử vào Vũng Rô của chúng tôi mà...".
Ông Hồ Đắc Thạnh thuộc lớp thuyền trưởng đầu tiên của Hải quân nhân dân Việt Nam được đào tạo bài bản để phục vụ cho con đường vận chuyển chiến lược bí mật sau này. Thuở nhỏ, lúc Hồ Đắc Thạnh chuẩn bị vào lớp nhất thì Cách mạng Tháng Tám 1945 nổ ra ở thị xã Tuy Hòa. Lập tức, ông xếp bút nghiên tham gia đoàn biểu tình chống Pháp, đi diễu hành khắp phố phường. Sau một thời gian làm trinh sát cho thị đội Tuy Hòa, ông vào lực lượng bộ đội chính quy và tập kết ra Bắc trên chuyến tàu cuối cùng, chuyến tàu thứ 7 xuất phát từ cảng Quy Nhơn.
Ông Hồ Đắc Thạnh (ngoài cùng, bên phải) cùng đồng đội tại Bến k15 Đồ Sơn (Hải Phòng).
Ông kể: “Tôi đặt chân lên đất Thanh Hóa ngày 19-5-1955 và được biên chế vào Trung đoàn 90, Sư đoàn 324 đóng tại thị trấn Còng của huyện Tĩnh Gia, làm nhiệm vụ chống địch cưỡng ép giáo dân di cư vào Nam”. Sau khi cùng sư đoàn hành quân về Đô Lương (Nghệ An) và xây dựng doanh trại tại đây, Hồ Đắc Thạnh được điều về trường huấn luyện hạ sĩ quan của Sư đoàn để đào tạo. Ông nhớ rõ: “Giữa năm 1958, khi tôi đang học được nửa khóa đào tạo trung đội trưởng thì được Quân chủng Hải quân về tuyển chọn, toàn Sư đoàn chỉ có 6 đồng chí được chọn. Chúng tôi được đưa xuống Hải Phòng và theo yêu cầu của Cục Phòng thủ bờ biển (tiền thân của Bộ tư lệnh Hải quân), anh em tôi được đi tuyển quân về huấn luyện thành bộ đội hải quân”.
Tại Hải Phòng, Hồ Đắc Thạnh đã trải qua nhiều khóa huấn luyện đào tạo từ hàng hải đến phóng ngư lôi và những chiến thuật chiến đấu khác trên biển. Đầu 1960, khi Trường Sĩ quan Hải quân được thành lập tại Quảng Yên, Thuyền trưởng dự bị tàu phóng lôi Hồ Đắc Thạnh được điều về học trường này.
Trong cuộc đời chiến đấu của mình, Hồ Đắc Thạnh cũng là một trong những người bạn thân thiết của Anh hùng Tàu không số Nguyễn Phan Vinh. Kể chuyện với chúng tôi, ông Thạnh luôn tự hào mình đã có 12 chuyến chở vũ khí vào các bến ở Bến Tre, Trà Vinh, Cà Mau, Quảng Ngãi và Phú Yên. Ông bảo, lần đầu tiên đưa vũ khí vào Nam Bộ, gặp những anh chị em dân công đi len lỏi trong rừng đước, bốc dỡ vũ khí, ông cảm thấy niềm vui khó tả vì đã trực tiếp góp sức vào cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước.
Có thể nói, hạnh phúc lớn nhất, kỷ niệm sâu sắc nhất của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh là 3 chuyến chở vũ khí về quê hương. Những chuyến đi thật sâu nặng nghĩa tình. Đáng nhớ là lần ăn Tết trên con tàu không số và đó cũng là kỷ niệm liên quan đến câu chuyện về "Nắm đất Vũng Rô".
- Đó là khoảng cuối năm 1964, đầu năm 1965. Ông Thạnh nhớ lại. Có thể nói, đây là giai đoạn "hoàng kim" của con đường vận chuyển trên biển. Tàu 41 chúng tôi liên tiếp được giao nhiệm vụ vận chuyển vũ khí vào bến Vũng Rô thuộc chiến trường Khu V. Vũng Rô khi đó được coi là điểm đổ hàng lý tưởng vì đây là một vịnh nước sâu, kín gió, nằm ngay dưới chân đèo Cả. Tuy Vũng Rô không có nơi trú ẩn như các bến bãi miền Tây Nam Bộ, từ đây ra biển chỉ có một cửa, lại nằm trong tầm kiểm soát từ xa của địch, nguy hiểm luôn rình rập, nhưng Vũng Rô tạo được yếu tố bất ngờ cho công tác vận chuyển. Chuyến thứ nhất, rồi chuyến thứ hai, mọi việc đều thuận lợi, Tàu 41 đều lọt vào bến trong đêm an toàn. Hàng hóa, vũ khí được xử lý kịp thời bảo đảm tàu rời bến trước khi trời sáng.
Cũng phải kể thêm, những lần vào bến, anh em tôi luôn day dứt bởi điều kiện sinh hoạt, ăn uống của quân dân ở đây rất thiếu thốn. Do địch khống chế Quốc lộ 1A, cắt hết chi viện nên anh em thường xuyên phải ăn khoai mì và quả sung. Chính vì vậy, chuyến tàu thứ hai, ngoài 60 tấn vũ khí chúng tôi còn chở thêm 3 tấn gạo tám thơm của Bộ tư lệnh Hải quân gửi tặng dân quân Vũng Rô...
Chuyến đi thứ ba vào Vũng Rô được tiến hành đầu tháng 11-1964. Sau một chuyến hàng thành công từ Cà Mau trở về, ông Thạnh được Bộ tư lệnh Quân chủng Hải quân thông báo kế hoạch đưa vũ khí vào chiến trường Khu V, nơi chiến sự đang diễn ra ác liệt nhưng lại vô cùng thiếu thốn vũ khí. Chuyến đi này được dự báo là cam go, bởi địa điểm này rất dễ bị địch phát hiện do không có nơi trú ẩn an toàn, lại chỉ có một cửa ngõ ra Biển Đông duy nhất, đó là khoảng giữa Mũi Điện và Hòn Nưa, nếu địch dùng tàu chặn thì coi như không còn đường ra. Thêm nữa, hệ thống ra-đa Cù lao Ré và Chóp Chài gần như “quét” đầy đủ mọi ngóc ngách trên địa bàn. “Sau khi nghiên cứu kỹ hải đồ và tính toán chi tiết, Bộ tư lệnh quyết định chỉ đưa tàu vào lúc giữa đêm, tiến hành bốc dỡ vũ khí ngay và quay trở ra hải phận quốc tế vào lúc 3 giờ sáng” - ông Thạnh nhớ lại. Đó là phương án tối ưu, bởi nếu ở miền Nam, những rừng đước, rừng tràm rậm rịt chính là nơi có thể đưa tàu vào nghỉ ngơi, ở đây chỉ có biển và núi.
Bia di tích Đoàn tàu không số tại Vũng Rô.
Tàu 41 nhận lệnh cập bến Vũng Rô đúng đêm Giao thừa Tết Nguyên đán Ất Tỵ. Kể sao hết niềm vui sướng của anh em tàu và bến được nhận vũ khí vào thời khắc bước sang năm mới cùng lời chúc Tết của Bác Hồ kính yêu qua chiếc ra-đi-ô trên tàu. Mọi người tranh thủ liên hoan đón Tết. Bánh chưng, trà Thái Nguyên, bia Trúc Bạch, thuốc lá Điện Biên do anh em tàu chuẩn bị trước chuyến đi (đã được bóc hết nhãn mác để bảo đảm bí mật) được bày lên. Trong lúc đang liên hoan vui vẻ thì cô gái dân quân Nguyễn Thị Tản lặng lẽ đến bên Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh và trao cho ông một nắm đất bọc trong một cái khăn mùi xoa rất đẹp: “Em xin gửi nắm đất Phú Yên theo tàu các anh đi ra Bắc. Xin hứa với các anh, với Đảng và Bác Hồ, dù mảnh đất này bom cày, đạn xới nhiều lần nhưng chúng em vẫn giữ vững niềm tin chiến thắng vì đã có vũ khí của Đảng, của Bác từ miền Bắc chi viện”.
Thuyền trưởng Thạnh đón nhận nắm đất từ tay người con gái và chuyền nắm đất cho từng đồng đội. Khó có thể nói hết được tâm trạng anh em Tàu 41 lúc này. Mọi người càng nhận thấy trách nhiệm lớn lao của mình với mảnh đất và người dân nơi đây, với nhiệm vụ giải phóng quê hương, giải phóng miền Nam.
Đó là kỷ niệm sâu sắc nhất trong cuộc đời quân ngũ của Thuyền trưởng Hồ Đắc Thạnh. Hình ảnh xúc động đó đã theo ông trên khắp chặng đường binh nghiệp và cho tới tận bây giờ - khi ông đã trở về với đời thường tại thành phố Tuy Hòa (Phú Yên). Nắm đất của cô dân quân Nguyễn Thị Tản đã được cán bộ, thủy thủ Tàu 41 nâng niu, gìn giữ suốt chặng đường trở về miền Bắc và sau này ông Thạnh đã trao tặng cho Bảo tàng Hải quân. Hình ảnh người nữ dân quân Nguyễn Thị Tản trao nắm đất cho vị thuyền trưởng sau này đã được tái hiện bằng nghệ thuật điêu khắc tượng đồng đặt tại Nhà truyền thống Lữ đoàn 125 anh hùng.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, Thuyền trưởng Tàu không số Hồ Đắc Thạnh tiếp tục công tác trong Quân chủng Hải quân. Năm 1984, đang đảm nhiệm chức vụ Phó tham mưu trưởng Vùng 3 Hải quân thì ông xin nghỉ hưu sớm để lo toan công việc gia đình... Nhiều đồng chí, đồng đội muốn làm hồ sơ đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân cho ông nhưng ông đã cảm ơn và nói muốn dành danh hiệu đó để tặng các liệt sĩ, đồng đội đã hy sinh trên con đường huyền thoại. Ông nói: “Tôi còn sống để chứng kiến đất nước thay da đổi thịt sau 36 năm giải phóng đã là điều rất mãn nguyện rồi”.
---------------
- Theo lời hẹn trước, chúng tôi đến thăm gia đình Thuyền trưởng tàu Không số Lưu Đình Lừng vào một ngày chủ nhật đẹp trời. Trong ánh nắng ấm áp buổi sớm đầu thu, ông đón chúng tôi với nụ cười rạng rỡ, chân thành như bản tính hiếu khách của người dân miền biển Đồ Sơn. Ở tuổi xưa nay hiếm, tóc đã bạc, da đã nhăn nhưng bước đi hoạt bát, và ánh mắt tinh tường thì vẫn vẹn nguyên.
Ngôi nhà khang trang nằm sâu trong hẻm 171, phường Ngọc Hải, thị xã Đồ Sơn, tổ ấm của gia đình ông với bốn thế hệ cùng chung sống hạnh phúc. Trong căn phòng khách rộng rãi và thoáng mát, rất nhiều bức ảnh chụp những con tàu không số - khi ông và đồng đội làm nhiệm vụ vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam được phóng to, treo trang trọng trên tường. Trà xanh được rót ra mời khách. Ông cười và chỉ tay vào bức ảnh được phóng to nhất:
- Hình ảnh con tàu 42 đấy. Đây là con tàu anh hùng. Tôi đã có 10 chuyến đi trên con tàu này, và chỉ ở tàu này mà thôi - Giọng ông từ tốn vang lên rành rọt, sang sảng của người miền biển.
Câu chuyện của chúng tôi xoay quanh con tàu 42. Những ký ức sâu thẳm, tha thiết trong cuộc đời binh nghiệp của ông bừng thức, ào ào dữ dội như sóng biển khơi, nhấp nhô, ẩn hiện hình ảnh con tàu và những người thủy thủ, mưu trí, dũng cảm, vượt qua giông bão, vượt qua tuyến phòng thủ dày đặc của địch, mang cả tình thương của miền Bắc, đưa từng khẩu súng, viên đạn... tới miền Nam ruột thịt, góp sức tiêu diệt quân thù.
- Năm 1964, tôi nhập ngũ vào Đoàn tàu Không số, là thủy thủ của Tàu 42. Đời tôi thật may mắn khi được đi trên con tàu này, được làm việc với một người chỉ huy thông minh, trí tuệ, dũng cảm như thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng.
Tàu 42 trên đường chở vũ khí vào Nam. Ảnh tư liệu.
Một thoáng buồn hiển hiện trên khuôn mặt hiền hậu, sạm nắng gió của ông khi nói về người thuyền trưởng năm xưa giờ không còn nữa. Sự xúc động như được đè nén trong ánh mắt đang nhìn xa xăm kia. Ngưng một lát, ông tiếp tục:
- Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng đi hàng hải thiên văn giỏi lắm. Anh em đã học tập được nhiều điều từ người thuyền trưởng ấy. Những lúc khó khăn, nguy hiểm mới thấy cái tài của người thuyền trưởng này. Ông điều động tàu tránh địch rất giỏi, biết lợi dụng sơ hở của địch vượt qua sự kiểm soát chặt chẽ trên biển của chúng. Trên mỗi chặng, địch xây dựng các trạm ra-đa quan sát chặt chẽ. Có lần, thuyền trưởng Cứng đã đưa tàu đi qua giao điểm vùng quét ra-đa của hai trạm. Bọn địch đều phát hiện được nhưng trạm nọ tưởng trạm kia báo cáo về sở chỉ huy, ỷ vào nhau, thế là tàu chạy thoát. Thật là tài, chi tiết này không phải ai cũng biết.
Một trong những chuyến đi mà tôi nhớ mãi đó là chuyến đi năm 1965, sau khi xảy ra sự kiện Vũng Rô.
Sự kiện Vũng Rô, ai cũng biết, con đường vận chuyển đã bị lộ. 8 tháng nằm im chờ đợi, tìm phương thức vận chuyển mới, ngày 15-10-1965, tại bến K15-Đồ Sơn (Hải Phòng), Tàu 42 được cải dạng thành tàu đánh cá nước ngoài, nhổ neo ra khơi. Tàu có 16 thủy thủ do thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng và Chính trị viên Trần Ngọc Ẩn chỉ huy, đi theo phương pháp hàng hải thiên văn, tức là đi theo các vì sao. Nhiệm vụ được giao là nghiên cứu tuyến đường vận chuyển mới, làm tiền đề cho những chuyến sau nhưng phải bảo đảm bí mật, bất ngờ. Chuyến đi này ngoài 60 tấn vũ khí tàu còn chở thêm 4 quả thủy lôi KB, mỗi quả nặng tới một tấn. Dưới tàu còn găm hàng tấn thuốc nổ, nếu bị địch phát hiện thì tất cả anh em sẽ điểm hỏa và cảm tử cùng tàu để giữ bí mật cho con đường.
Mọi đồ dùng cá nhân phải xóa hết dấu vết, tuýp đánh răng Ngọc Lan, vỏ bao thuốc lá... phải cạo hết nhãn mác. Mấy khẩu súng đằng trước, đằng sau đều được ngụy trang. Mọi người đều mang mặc trang phục dân đánh cá nước ngoài. Trông con tàu của chúng tôi chẳng khác gì một tàu câu cá song. Vậy mà anh em vẫn không khỏi lo lắng bởi đây là chuyến mở đường sau một thời gian dài ngừng vận chuyển, địch lại phong tỏa chặt chẽ con đường. Chúng xây dựng hàng loạt trạm ra-đa ngày đêm quan sát chặt chẽ vùng biển. Ngoài khơi, Hải quân Mỹ thực hiện việc ngăn chặn. Hải quân ngụy thực hiện tuần tiễu ven bờ. Để dễ bề quản lý và phân định trách nhiệm, Mỹ-ngụy chia vùng biển Việt Nam làm 9 khu vực chiến sự. Ở mỗi khu vực, hải quân Mỹ-ngụy giành quyền kiểm soát mọi tàu, thuyền qua lại, kể cả tàu buôn nước ngoài. Tình hình bến bãi, luồng lạch thay đổi ra sao, khó mà lường hết được!
 Ông Lưu Đình Lừng thắp hương tưởng nhớ đồng đội tại Bến K15 Đồ Sơn (Hải Phòng). Ảnh: Trịnh Dũng.
Từ bến K15, tàu chúng tôi vượt qua Long Châu đi về phía đảo Hải Nam. Đêm đó sóng rất lớn, gió cấp 6, cấp 7, những con sóng lớn chồm lên như muốn nhấn chìm chúng tôi xuống biển. Suốt một ngày đêm vật lộn với sóng gió, ai cũng mệt nhoài vì say sóng, đêm sau tàu đến eo biển Hải Nam. Khi qua Hòn Đông (Trung Quốc), gần tới khu vực quần đảo Trường Sa bị máy bay Mỹ phát hiện, chúng vòng đi vòng lại hai lần, theo dõi hoạt động của tàu. Thuyền trưởng cho tàu giảm tốc độ, chạy vào hướng đảo Trường Sa để câu cá. Mọi người tất bật kéo lưới, gỡ cá như dân đánh cá thực thụ. Khi máy bay đi khỏi chúng tôi liền thay biển số, chuyển hướng vào Cà Mau. Gần tới khu vực Hòn Khoai, chúng tôi phát hiện thấy vệt sáng đèn di chuyển phía trước. Tất cả vào vị trí chiến đấu. Các vị trí quan sát đều báo cáo trước mũi tàu, sau lái tàu, bên trái, bên phải đều có ánh đèn và cứ 400-500m lại có một chiếc tàu đỗ. Vậy là Tàu 42 đã lọt vào giữa vòng vây của địch. Một cuộc hội ý chớp nhoáng trong cấp ủy và quyết định: Tàu giảm tốc độ, chạy theo hướng Đông, chạy vòng theo hướng bao vây của tàu địch, khi tới gần bờ, thuyền trưởng hạ lệnh tắt đèn hành trình, quặt tay lái tăng tốc chuyển hướng vào bờ...
Những lúc thế này anh em mới thấy hết tài thao lược, mưu trí đặc biệt của thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng. Khi Tàu 42 lọt vào trong cửa Bồ Đề, nhìn xa xa thấy vài tàu địch đậu ở đó... Người trong bến cho xuồng ra đón, sau khi phát tín hiệu nhận nhau, tàu chúng tôi được đưa vào bến Rạch Kiến Vàng an toàn. Ngoài súng đạn, cũng là lần đầu tiên chúng tôi đưa được thủy lôi sừng chạm vào cho bộ đội đặc công thủy, góp phần làm nên những trận đánh rung chuyển các căn cứ Hải quân Mỹ-ngụy. Chuyến này đi, chúng tôi đã đi hơn 1.200 hải lý, cả đi lẫn về 20 ngày.
Chuyến đi mở đường thắng lợi của Tàu 42 trong tình hình địch phong tỏa ác liệt có một ý nghĩa hết sức quan trọng. Ta đã nắm được quy luật hoạt động ngoài khơi và gần bờ của địch để tìm cách ứng phó linh hoạt. Tiếp đó, ta đã tổ chức hai chuyến tiếp theo đều thắng lợi.
Sau chuyến đi này, ban chỉ huy tàu vinh dự được báo cáo kết quả chuyến đi với Quân ủy Trung ương và Bộ Quốc phòng; được Đảng và Quốc hội tặng thưởng Huân chương Quân công hạng ba và được Bác Hồ tặng mấy tút thuốc lá có ghi dòng chữ “Bác Hồ tặng”.
Với bề dày thành tích, qua 7 năm liên tục, Tàu 42 luôn hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ, giữ vững quyết tâm, anh dũng, mưu trí, linh hoạt, khắc phục vượt khó khăn trong mọi tình huống, gặp địch đã chiến đấu kiên cường, dũng cảm. Ngày 8-10-1972, Tàu 42 vinh dự được Đảng, Nhà nước ta tặng danh hiệu cao quý: “Đơn vị Anh hùng LLVT nhân dân”.
Và năm 2005, Thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng, người đã trực tiếp chỉ huy 15 chuyến đi thành công, được truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Tàu anh hùng, thuyền trưởng anh hùng. Còn vinh dự nào hơn!
Còn ông Lưu Đình Lừng, trong suốt 10 năm gắn bó với con tàu 42, ông đã đi 10 chuyến vận chuyển trên con đường biển mang tên Bác Hồ (5 chuyến thành công, 5 chuyến bị địch phát hiện phải quay về), từ một thủy thủ đã trở thành một thuyền trưởng dạn dày kinh nghiệm. Nhưng theo ông, những ngày được làm việc bên người thuyền trưởng Nguyễn Văn Cứng, được sống trong một tập thể đoàn kết, anh dũng, đó là những tháng ngày quý báu để ông học hỏi, trưởng thành và vững bước trên con đường đời sau này.
------------
Kỳ 8: Nguyễn Chánh Tâm, người anh hùng sống mãi
 - Trong chuyến chở vũ khí chi viện cho quân và dân ta tham gia Tổng tiến công nổi dậy Tết Mậu thân 1968, bốn con tàu mang số hiệu 43, 56, 235, 165 của Lữ đoàn 125 đêm 29-2, rạng ngày 1-3 đều gặp địch. Chỉ còn tàu 56 trở về. Cũng như tàu 43 và 235, tàu 165 của Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm đã chiến đấu anh dũng và đi vào huyền thoại. 18 cán bộ, thủ thủy đã ra đi, không để lại một dấu vết...
Quyết tử giữa biển khơi
Đêm 25-2, từ căn cứ A2, tàu 165 được lệnh xuất phát, chở hàng vào bến Vàm Lũng (Cà Mau). Cán bộ, thủy thủ gồm: Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm; Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương; Thuyền phó Hoàng Văn Thuyết và Nguyễn Văn Thông; Chính trị viên phó Nguyễn Văn Danh; Thợ máy Nguyễn Văn Thị, Trần Văn Dựng, Nguyễn Duy Tạo; Báo vụ: Lý Khánh Hồng và Vương Văn Diêng; Thủy thủ trưởng: Nguyễn Kính; Hàng hải: Nguyễn Văn Em và Mai Đức Long; Y tá Nguyễn Đình Văn; Thủy thủ: Trần Văn Quồi, Phạm Văn Phương, Trần Văn Bé; Cơ yếu: Vũ Hữu Nghị.
Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm.
Theo tuyến đường của những chuyến đi trước, tàu 165 đi qua Hoàng Sa, Trường Sa, hòa vào dòng tàu buôn nước ngoài ngược xuôi trên biển quốc tế, hướng về phía Nam. Thông tin giữa tàu và Sở chỉ huy và bến vẫn giữ liên lạc tốt. Ngay tại hải phận quốc tế tàu đã bị địch theo dõi. Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm bình tĩnh, mưu trí cùng anh em vượt qua vòng phong tỏa của địch. Đêm 29-2, tàu đến vùng biển Cà Mau, chuẩn bị chuyển hướng. Mọi phương án đón tàu ở bến được chuẩn bị chu đáo, kể cả trong “trường hợp xấu nhất”, bến sẵn sàng “chia lửa” với tàu.
Nhưng dự định đó đã không thành hiện thực. Trời biển Cà Mau đêm đó đã chứng kiến trận đấu quyết tử của những người lính “Tàu không số” với gần chục tàu chiến và máy bay địch. Con tàu 165 nhỏ nhoi đã hóa thân vào biển không để lại một dấu vết gì ngoài hai bức điện cuối cùng gửi về sở chỉ huy trong đêm 29-2 rạng ngày 1-3-1968. Bức điện thứ nhất đề lúc 18 giờ ngày 29-2: "Chuyển vào. Gặp máy bay trinh sát đi qua tàu-Lương (tức Chính trị viên Nguyễn Ngọc Lương). Bức điện thứ hai, ngày 1-3: "Chúng tôi gặp 8 tàu địch bao vây, quyết cảm tử!". Đó là hai lời nhắn nhủ cuối cùng trước lúc tàu 165, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và 17 thủy thủ đi vào huyền thoại.
Các anh đã chiến đấu, đã hy sinh như thế nào, đến nay cũng chưa ai biết rõ. Nhớ lần chúng tôi tới thăm cựu chiến binh Khưu Ngọc Bảy tại Thành phố Cần Thơ, ông Bảy đã bùi ngùi kể cho tôi nghe về sự kiện bi hùng này: Đêm đó, tất cả chúng tôi đã sẵn sàng, chuẩn bị đón tàu. Bỗng thấy máy bay địch lượn nhiều. Hình như chúng báo động. Trên bờ, ngóng ra biển ai cũng nơm nớp lo âu... Rồi chừng hơn một giờ sáng, phía ngoài khơi nhiều ánh lửa và đường đạn vạch lên trời... Chừng 20 phút sau, loáng lên những tia chớp và một ngọn lửa hình nấm vọt lên kèm theo tiếng nổ lớn trùm xuống biển...
Chúng tôi vẫn tin anh em còn sống và tìm đón nhiều ngày dọc ven biển. Nhưng chỉ còn hai báng súng K44, vài mảnh chiếc đài màu nâu đỏ, một đoạn cột ăng ten tàu và một mảnh áo phao... Tất cả chỉ còn vậy. Tàu 165, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và 17 thủy thủ đoàn đã vĩnh viễn ra đi. Các anh mãi mãi nằm lại vùng biển Tây Nam của Tổ quốc-vùng biển Cà Mau... không bao giờ trở lại.
Anh còn sống mãi
Với thành tích 8 chuyến đi chở hơn 600 tấn vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam trong điều kiện hết sức khó khăn, gian khổ, năm 2005, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm được Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân. Hơn 40 năm đã trôi qua, những ký ức về anh-người thuyền trưởng anh hùng, dũng cảm, người bạn thủy chung vẫn khắc ghi mãi trong lòng bạn bè và những người thân của anh.
Bà Đỗ Thị An, tuổi ngoài 90, hiện ở Ngõ Cấm, thành phố Hải Phòng khi nhắc đến tên người con rể với con cháu hiện nay vẫn rưng rưng xúc động: "Bố các cháu là người nhân hậu, sống có nghĩa, có tình, cứ mỗi lần công tác về là có quà cho mọi người, tranh thủ giúp gia đình, vợ con mọi việc lớn nhỏ... Nhớ mãi chuyến đi lần cuối của bố các cháu. Tối đó mấy bố con cứ quấn quýt mãi bên nhau. Sáng ra, Tâm dậy sớm, chắp tay: "Chào mẹ, con đi công tác, chưa biết bao giờ mới về...". Ba bà cháu tiễn bố ra ngõ, bịn rịn. "Mẹ về đi!". Tâm động viên tôi. Hai cháu Tuấn, Tú cứ ôm chặt lấy bố, mãi không rời... Ba Tâm xoa đầu hai con, nựng: "Các con ở nhà ngoan ngoãn, nghe lời bà và mẹ, vài bữa nữa ba về... Tôi cũng không thể ngờ rằng đó là lần chia tay cuối cùng!”.
Với Đại tá, Anh hùng LLVT nhân dân Nguyễn Đắc Thắng, hiện ở Thành phố Cần Thơ thì Chánh Tâm là “người bạn thân thiết, thủy chung, ngay từ ngày đầu vào bộ đội”.
Các cựu chiến binh Đoàn tàu Không số tưởng niệm đồng đội đã hy sinh tại Vàm Lũng, Cà Mau.
Đôi bạn Đắc Thắng-Chánh Tâm đều sinh năm 1935 tại Cần Thơ. 19 tuổi hai ông cùng nhập ngũ vào bộ đội và tập kết ra Bắc, sau đó được đi học lớp thuyền trưởng Hải quân. Tốt nghiệp, Đắc Thắng được điều về Đoàn 759 (tiền thân Đoàn 125 ngày nay), còn Chánh Tâm về Đoàn tàu tuần tiễu ở căn cứ 2. Sau chiến thắng trận đầu 5-8-1964, Nguyễn Chánh Tâm được điều về Đoàn tàu Không số làm thuyền trưởng tàu 165. Đôi bạn ngày xưa lại được chung một nhiệm vụ vẻ vang và tình bạn của họ ngày càng thắm thiết. “Tâm là một người bạn nhiệt tình, sống hết mình với bạn bè. Anh ấy còn là “nhịp cầu” tình yêu của tôi và Sáu Thùy, người vợ yêu quý của tôi sau này”. Ông Thắng bồi hồi nhớ lại.
Về câu chuyện tình của Thuyền trưởng Nguyễn Đắc Thắng và nữ y tá Huỳnh Biên Thùy đến nay không kể hết bao nhiêu bài báo đã viết về họ. Đó là mối tình xuyên Biển Đông. Mối tình rất "nổi tiếng" của Đoàn tàu Không số. Chuyện là, trong một chuyến chở hàng vào Cà Mau, Thuyền trưởng Đắc Thắng đã “phải lòng” cô “nuôi quân” kiêm y tá Huỳnh Biên Thùy có giọng ca cải lương ngọt ngào. Tình yêu của họ chỉ chờ ngày sum họp sau khi anh ra Bắc báo cáo tổ chức, sau đó sẽ trở lại bến làm đám cưới. Thế rồi nhiệm vụ vận chuyển bí mật, những chuyến đi mở bến mới ở miền Trung... Thuyền trưởng Đắc Thắng không còn cơ hội trở lại bến xưa để “kết tóc se duyên” với người nữ y tá. Lúc này, Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm với những chuyến đi vào Cà Mau đã trở thành sợi dây liên lạc tình cảm giữa hai người. Sáu Thùy vẫn thường xuyên nhận được “quà của người yêu” gửi vào. Khi thì cuốn sách “Ruồi Trâu”, “Thép đã tôi thế đấy”, khi là chiếc nón bài thơ xinh xắn. Sáu Thùy cũng nhờ Chánh Tâm chuyển tới người yêu những món quà đầy ý nghĩa như món tóc thề hay những chiếc khăn thêu... Tình yêu của họ vì thế vẫn được kết nối, tình cảm ngày càng thêm gắn bó. Mãi sau này, khi thành vợ chồng, cô Thùy mới biết những món quà cô vẫn đều đặn nhận được trong những ngày xa cách đó đều là của Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm mua tặng. “Anh ấy tốt lắm, mỗi chuyến trở về Bắc tàu anh ấy còn tặng lại chúng tôi rất nhiều lương khô để “dùng khi giặc càn” - cô Sáu Thùy kể lại. “Ngày nghe tin tàu nổ trên biển, ngỡ là anh Thắng, tôi đã khóc ròng ròng, rồi lập bàn thờ để tang anh. Sau này mới biết đó là anh Chánh Tâm. Tôi đã khóc rất nhiều thương tiếc anh...”.
Hơn 40 năm đã trôi qua, đất nước đã thanh bình và biển xanh đã xóa đi tất cả. "Sóng xóa đi dấu vết, biển vẫn con đường mòn...". Thuyền trưởng Nguyễn Chánh Tâm và đồng đội tàu 165 đã ra đi... không để lại một dấu vết. Nhưng dấu ấn về một con đường vận tải trên biển, con đường của những huyền thoại và những chiến công thầm lặng của những người lính biển anh hùng vẫn sống mãi với dân tộc Việt Nam.
-----------
Chân dung các thuyền trưởng đoàn tàu không số (Tiếp theo và hết)

Chân dung Thuyền trưởng Vũ Tấn Ích
-Kỳ 8: Vị thuyền trưởng 9 lần “vượt biển”
- Ở Đà Nẵng ai cũng biết cựu chiến binh Vũ Tấn Ích, bởi ông là vị thuyền trưởng 9 lần “vượt biển”. Chiến công của ông và đồng đội lênh đênh trên những con tàu không số chở vũ khí từ miền Bắc “tiếp máu” cho chiến truờng miền nam đã góp phần làm nên con đường huyền thoại – đường Hồ Chí Minh trên biển...
Cơn mưa chiều vừa dứt, thành phố Đà Nẵng đã tấp nập người, xe buổi tan tầm. Trong ngôi nhà nhỏ trên phố Nguyễn Tri Phương, ông Vũ Tấn Ích đang đùa vui cùng đứa cháu nội vừa đầy tháng tuổi tên là Vũ Phan Bảo Hiên. Niềm vui người cựu binh già hiện rõ trên ánh mắt.
- “Thưa bác! Cháu là...
- Cháu vào nhà đi! Bác nhận ra rồi! Vào đây bác cháu mình ta cùng hàn huyên nào!
Ông Ích biết tôi từ hồi tôi còn là lính thủy. Mấy lần gặp mặt cựu chiến binh Đoàn tàu không số tổ chức bên Vùng 3 Hải quân, tôi đều làm “phó nháy” nên ông khá ấn tượng và nhớ tên. Vì lẽ đó mà khi tôi đặt vấn đề là ông “duyệt” ngay. Dẫu rằng đã có nhiều nhà báo tới, nhưng ông đều tế nhị từ chối.
Bên ấm trà tỏa hương nhè nhẹ, câu chuyện ông kể giúp tôi hiểu thêm về bao chiến công huyền thoại và sự mất mát, hi sinh của cán bộ, thủy thủ trên những con tàu không số năm xưa mà ông là một trong những nhân vật tiêu biểu...
“Tôi sinh năm 1930 tại xã Bình Thới, huyện Bình Sơn (Quảng Ngãi). Tròn 18 tuổi tôi nhập ngũ, trở thành chiến sỹ Trung đoàn 108 hoạt động trên chiến trường Khu 5. Sau khi tập kết ra Bắc, tôi sang Trung Quốc học lớp đào tạo thuyền trưởng, rồi tốt nghiệp với quân hàm trung úy, giữ chức thuyền trưởng thuyền 5 (Phân đội 1, Đoàn 130 Hải quân).
Sống cảnh “ngày Bắc, đêm Nam”, trong tôi luôn canh cánh nỗi niềm mong ngày trở về chiến đấu giải phóng quê hương. Và khát khao ấy thành hiện thực khi đầu năm 1963 tôi được Bộ tư lệnh Quân chủng giao nhiệm vụ chỉ huy con tàu sắt thứ 2 của Đoàn 759 vận chuyển vũ khí vào miền Nam bằng đường biển. Chuyến đi ấy, tôi làm thuyền trưởng kiêm chính trị viên và bí thư chi bộ Đội 6. Đêm 12-4-1964, tại Quảng Ninh, 12 cán bộ chiến sĩ tàu chúng tôi đa phần là con em vùng Liên Khu 5 và Nam Bộ vinh dự được Trung tướng Trần Văn Trà, Phó Tổng tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam và Trung tá Đoàn Hồng Phước, Đoàn trưởng Đoàn 759 gặp mặt thân mật và tiễn đưa tận bến. Đêm ấy, Trung tướng Trần Văn Trà nắm chặt tay tôi căn dặn: “Đồng chí là người chỉ huy độc lập, cao nhất, quyết định xử trí mọi tình huống. Vì thế phải tỉnh táo nắm chắc phương châm chiến đấu: Bám bờ là thế trận, bám bờ là chiến thắng. Tôi chờ tin thắng lợi!”.
Sau giây phút chia tay quyến luyến, chúng tôi bơi thuyền cao su ra tiếp nhận con tàu trọng tải 100 tấn (chở gần 60 tấn vũ khí) đang neo tại Hòn Kẽm, vịnh Bãi Cháy. Để chuyến đi đảm bảo yếu tố bí mật, tất cả quân tư trang, đồ dùng cá nhân có dấu hiệu liên quan đến miền Bắc đều để lại. Chúng tôi ngụy trang tàu giống hệt như tàu ngư dân đánh bắt xa bờ. Trong khoang cũng chất đầy lưới, ngư cụ và thực phẩm dự trữ như: mực, cá khô, mắm, muối... Tuy tàu có trọng tải tương đối lớn nhưng phương tiện hàng hải khá thô sơ, ngoài hải đồ, chỉ có một ống nhòm, một la bàn, máy vô tuyến điện sóng ngắn liên lạc với trung tâm bằng tín hiệu moóc và chiếc đèn pin dùng bắt tín hiệu với đất liền.
Lần đầu tiên tôi chỉ huy tàu vượt biển vào Nam, nên chưa thông thạo luồng, lạch. Đã vậy lại ra khơi gặp sóng to, gió lớn, tàu chiến địch rình rập suốt ngày đêm, vì thế chúng tôi phải tìm phương án tối ưu nhất để đấu trí với kẻ thù. Sau gần 10 ngày ngày lênh đênh trên biển, tàu ta vào bến Bến Tre đúng theo kế hoạch. Cứ tưởng mọi việc sẽ “thuận buồm, xuôi gió”, nhưng sự cố đã xảy ra. Suốt hai đêm liền tàu không thể nào liên lạc được với bến. Trên biển, tàu địch tăng cường mật độ tuần tiễu. Trước tình hình đó, tôi chỉ huy tàu chạy ra hải phận quốc tế, đêm đến mới xuôi về hướng Nam. Sang ngày hôm sau gặp một thuyền đánh cá của ngư dân, qua trao đổi, chúng tôi biết chắc tàu mình đã đi vào vùng có quân giải phóng. Tôi ra lệnh cho tàu thẳng hướng vào bờ. Sau khi cho anh em ngụy trang tàu cẩn thận, tôi lội vào bờ và gặp ngay đồng chí Bông Văn Dĩa (phụ trách bến) mới biết tàu đã vào bến Bạc Liêu. Nói sao hết niềm vui sướng, chúng tôi ôm nhau mà nước mắt lăn dài. Suốt hai ngày đêm lực lượng tại bến khẩn trương chuyển vũ khí từ tàu xuống xuồng ba lá về vị trí cất giấu bí mật. Trả hàng xong, chúng tôi lưu luyến tạm biệt các đồng chí, đồng bào trở ra miền Bắc. Chuyến đi ấy, tôi và tập thể tàu được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Hai”.
Thuyền trưởng Vũ Tấn Ích cùng đồng đội vinh dự chụp ảnh lưu niệm với Chủ tịch Hồ Chí Minh

Đang kể, ông Ích đi vào nhà trong cầm cuốn album lấy một tấm ảnh tập thể trao cho tôi và nói: “Chúng tôi chụp tấm hình này từ thời còn ở Đồ Sơn-Hải Phòng. Ngày ấy sum vầy là thế, vậy mà giờ đây chẳng còn bao. Người thì đã hi sinh, người thì đã về với tiên tổ do tuổi cao, vết thương tái phát!”.
Tôi hiểu ý ông muốn nói đến sự hi sinh của những người đồng đội. Đã có lần ông kể cho tôi nghe về vết thương lòng không dễ nguôi ngoai ấy... Chuyến đi ngày 6-7-1967, sau 11 ngày trên biển, con tàu do ông làm thuyền trưởng gặp máy bay và tàu chiến địch bao vây. Trước tình thế đó, ông và đồng đội vừa đánh trả vừa cơ động vào bến Ba Làng An (Quảng Ngãi). Trận đánh diễn ra ác liệt, nhưng ta chỉ cầm cự được một thời gian vì lực lượng không cân sức, cuối cùng Chính trị viên Huỳnh Ngọc Trạch và Phó thuyền trưởng Phạm Chuyên Nghiệp ở lại hủy tàu, Thuyền trưởng Vũ Tấn Ích và số thủy thủ còn lại lên bờ thoát khỏi vòng vây địch. Hôm đó, đồng chí Trạch và đồng chí Nghiệp ở lại hủy tàu, nhưng do bộc phá không nổ, hai đồng chí đã chiến đấu với địch và anh dũng hy sinh, còn con tàu thì bị rơi vào tay địch. Là người thẳng thắn, trung thực, sau sự kiện ấy ông luôn day dứt trong lòng và nhận trách nhiệm về mình. Nhưng đồng đội và cấp trên đều không nghĩ vậy vì đó là tình huống bất khả kháng diễn ra ngoài ý muốn. Với lại, chỉ trong thời gian 4 năm (từ 1963-1967), mà thuyền trưởng Vũ Tấn Ích có tới 9 lần chỉ huy những con tàu không số “vượt biển” đã là một chiến công.
Năm 1970, ông Ích chuyển tới đơn vị đặc công nước rồi về lại tiểu đoàn tàu của Quân chủng Hải quân. Năm 1975 ông vào chiến trường Liên khu 5, tham gia giải phóng thành phố Đà Nẵng và công tác tại Quân khu 5, tới năm 1982 thì nghỉ hưu với quân hàm trung tá. Tuy về hưu nhưng ông vẫn tích cực tham gia các hoạt động an sinh, xã hội ở địa phương. Căn nhà ông là nơi các cựu chiến binh Đoàn tàu không số thường xuyên lui tới ôn lại kỷ niệm một thời “vượt biển” và cùng nhau quyên góp giúp đỡ những đồng chí có hoàn cảnh khó khăn.
Ông Ích trân trọng đọc những lá thư của người vợ quá cố

Trong ký ức của vị thuyền trưởng 9 lần “vượt biển” ấy vẫn vẹn nguyên một thời trai trẻ gắn bó cùng những con tàu không số trên tuyến đường huyền thoại – đường Hồ Chí Minh trên biển.
Theo ông, tất cả những chuyến đi ấy, cán bộ, thủy thủ đều đối mặt với bao khó khăn, thử thách. Tất cả những người ra đi đều xác định có thể không trở về, nhưng họ luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, sẵn sàng chấp nhận gian khổ, hy sinh để vận chuyển vũ khí chi viện cho chiến trường miền Nam. Còn một đau khác nữa mà họ phải âm thầm gánh chịu, đó là vì để tuyệt đối giữ bí mật, trước khi rời bến không ai được tiếp xúc với bạn bè, người thân. Có đồng chí tập kết ra Bắc, xa gia đình gần chục năm trời, cùng con tàu về lại mảnh đất chôn nhau cắt rốn mà không được bước lên bờ. Có đồng chí bất ngờ thấy vợ trong đoàn dân công ra chuyển vũ khí, đã vội vàng bước xuống khoang tàu, đau đáu ngắm vợ qua cửa sổ… Thuyền trưởng Vũ Tấn Ích cũng vậy, trong thời gian lênh đênh trên con tàu không số, vợ đã gửi cho ông 36 lá thư, nhưng mãi sau này tổ chức mới trao lại.
Bà Cao Xuân Lan đã mất cách đây 14 năm nhưng ông Ích vẫn lưu giữ những kỷ vật của người vợ thân yêu để lại. 36 lá thư chan chứa tình yêu thương của bà được ông đóng thành tập và trân trọng, nâng niu như một báu vật vô giá.
Cựu chiến binh Vũ Tấn Ích là vậy đó. Từ thời xông pha trận mạc cho đến lúc về già, bao giờ ông cũng quan tâm tới người khác. Sự quan tâm ấy bắt nguồn từ tấm lòng trung thực, thẳng thắn, chân thành mà nhân ái, bao dung. Thế nên, khi tôi hỏi nguyện vọng của ông bây giờ là gì? Ông khẽ thở dài, rồi nói: “Tôi cứ trăn trở mãi về hoàn cảnh của một đồng đội, đó là anh Huỳnh Ba. Anh Ba nguyên là thủy thủ Đoàn đánh cá sông Gianh (tiền thân của Đoàn 125 ngày nay) bị địch bắt năm 1961 trong lần chở vũ khí vào Đà Nẵng. Năm 1973 được trao trả, anh tiếp tục hoạt động cách mạng. Những trận đòn roi tra tấn dã man của địch khiến anh thường xuyên ốm đau, bệnh tật, kinh tế gia đình khánh kiệt. May nhờ đồng đội quyên góp xây cho ngôi nhà nhỏ để tá túc, chứ không thì nguy. Vậy mà hầu như anh chẳng có chế độ gì. Hiện giờ anh ấy đang cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Đà Nẵng. Mong sao Quân chủng Hải quân và cơ quan chức năng quan tâm kẻo thiệt thòi cho anh quá!”.
Bài và ảnh: Phan Tiến Dũng

 

 

 

Tổng số lượt xem trang

Tính từ 15/10/2012

Flag Counter