Những điện tín ngoại
giao của Mỹ, bị tiết lộ qua Wikileaks, cho người ta biết thêm một số chi
tiết mới quanh căng thẳng ngoại giao Việt - Trung năm 2007, góp phần
dẫn đến các cuộc biểu tình ở Hà Nội và TP. HCM cuối năm đó.
Vào tháng 12 năm 2007, lần đầu tiên sau nhiều năm, đã xảy ra một số cuộc biểu tình phản đối Trung Quốc.Nguyên nhân trực tiếp khi đó được nói là xuất phát từ việc Trung Quốc lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa nhằm quản lý quần đảo Hoàng Sa, Trung Sa và Trường Sa vào tháng 11/2007.
Bộ Ngoại giao Việt Nam nói với truyền thông rằng biểu tình khi đó là việc làm "tự phát" và "chưa được phép của các cơ quan chức năng".
Các điện tín của giới chức ngoại giao Mỹ trong năm 2007 không nói liệu chính phủ đứng đằng sau biểu tình hay không, tuy vậy, cũng đã tiết lộ những bức xúc của chính giới Việt Nam quanh những trục trặc liên quan hợp đồng dầu khí ở Biển Đông.
Hội đàm đổ vỡ
Bước vào đầu năm, tháng Giêng 2007, điện tín từ Sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh cho biết vòng đàm phán lần thứ 13 về biên giới Việt - Trung, tổ chức từ 18 đến 20 tháng Giêng ở Quảng Tây, đã đổ vỡ.
Ban đầu hai nước dự kiến làm hai cuộc đàm phán riêng rẽ, một liên quan biên giới trên bộ và một về biển đảo.
Nhưng do hạn chế nguồn lực, hai cuộc hội đàm kết hợp làm một và trong khi đường biên giới trên bộ tỏ ra dễ dàng hơn, thì hai nước đã tranh cãi về Hoàng Sa.
Kết quả, theo lời một viên chức ngoại giao Việt Nam, phái đoàn Trung Quốc đã "bỏ ra về" giữa chừng trong khi cuộc họp chưa xong.
Sang tháng Tư, Sứ quán Mỹ ở Bắc Kinh lại cho hay Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã triệu đại sứ Việt Nam ở Bắc Kinh đến để khiển trách quanh hoạt động khảo sát của Việt Nam ở Biển Đông.
Mặc dù phản đối của Trung Quốc khi ấy được công khai trên báo chí, nhưng qua điện tín, người ta biết Trung Quốc phản đối ba điểm, và riêng điểm thứ ba chỉ được nói riêng chứ không lên báo.
Điểm thứ ba ấy là Trung Quốc phản đối một dự án, có sự can dự của Nga, mà Việt Nam nói nhằm đo thềm lục địa để xác định chính xác hơn về chủ quyền theo Luật Biển Liên Hiệp Quốc.
Đáng chú ý, việc triệu tập đại sứ Việt Nam xảy ra ngay vào lúc Chủ tịch Quốc hội Việt Nam Nguyễn Phú Trọng còn đang ở thăm Bắc Kinh.
Giám đốc Vụ châu Á của Trung Quốc gọi điện cho Đại sứ Việt Nam chỉ trước một giờ đồng hồ, dọa rằng nếu ông này không đến, chuyến thăm của ông Trọng sẽ bị ảnh hưởng.
Hợp đồng dầu khí
Một điện tín của Sứ quán Mỹ ở Hà Nội, vào tháng Sáu, cho biết về cuộc gặp với công ty năng lượng ConocoPhillips.
Lúc này, ConocoPhillips đang cùng công ty Anh BP hợp tác với PetroVietnam để khảo sát ở hai khu vực có tranh chấp ở Biển Đông.
Theo đại diện của ConocoPhillips, BP khi đó, theo sau sức ép của chính phủ Trung Quốc, đã quyết định tạm dừng hợp đồng.
Nhưng theo ConocoPhillips, phía Việt Nam, PetroVietnam, vẫn muốn ép ConocoPhillips tiếp tục tham gia.
Một phó chủ tịch của ConocoPhillips đã gặp cả Phó thủ tướng Nguyễn Sinh Hùng và Thứ trưởng Ngoại giao Lê Văn Bàng để bàn về dự án bị trục trặc này.

Nhiều thỏa thuận dầu khí bị trục trặc sau sức ép của Trung Quốc
PetroVietnam, trong tháng Tám, gửi thư cho nhà thầu khoan ngoài khơi Transocean yêu cầu dừng hoạt động mà họ ký với PetroChina. Phía Việt Nam nói Block Hua Guan 2/4 nằm trong Block 141 của Việt Nam.
Một điện tín tháng Chín của Sứ quán Mỹ ở Hà Nội tiết lộ kể từ tháng Tư năm đó, đã có đến năm hợp đồng dầu khí bị tạm dừng hoặc hủy bỏ.
Khảo sát của Mỹ cho thấy khi đó, tranh chấp lãnh hải Việt - Trung đã dính đến bốn công ty Mỹ và tám công ty nước ngoài khác.
Trong khi một số nước như Malaysia, Indonesia và Philippines cũng có thỏa thuận khai thác với công ty nước ngoài ở vùng biển tranh chấp, khi đó Trung Quốc không gửi thư phản đối cho các công ty làm ăn ở các nước khác, mà chỉ phản đối với Việt Nam.
Việc một loạt hợp đồng khai thác bị đổ vỡ khiến Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam Vũ Dũng có cuộc gặp riêng với Đại sứ Mỹ Michael Michalak ngày 10/09.
Ông Vũ Dũng cho biết Trung Quốc đã buộc ba công ty năng lượng Mỹ - Chevron, ExxonMobil và ConocoPhillips - ngừng thỏa thuận với PetroVietnam.
Ông nói Việt Nam ngày càng lo ngại rằng chiến thuật hung hăng của Trung Quốc ở Biển Đông sẽ dẫn tới "bất ổn" trong khu vực.
Thứ trưởng Việt Nam nói Hoa Kỳ có "vai trò quan trọng" trong vùng, và rằng "ổn định ở Biển Đông có ích cho tất cả".
Đại sứ Mỹ nhắc lại nước ông không có lập trường đối với tranh chấp chủ quyền. Ông kêu gọi hai nước Việt - Trung giải quyết bất đồng một cách hòa bình, và không làm hại cho giao thông của tàu bè trên Biển Đông.
10 ngày sau đó, Phó Thủ tướng Hoàng Trung Hải có cuộc gặp Đại sứ Michael Michalak, chủ yếu để nói công ty Mỹ Gannon sẽ không nhận được giấy phép xây nhà máy điện.
Tuy vậy, trong cuộc gặp, ông Hải cũng kêu gọi Đại sứ Mỹ thúc ConocoPhillips đẩy nhanh hoạt động ở Block 5-3 tại vùng tranh chấp ở Biển Đông.
Sang tháng 11, Trung Quốc tuyên bố thành lập thành phố hành chính cấp huyện Tam Sa (thuộc tỉnh Hải Nam), trực tiếp quản lý ba quần đảo trên biển Đông, trong đó có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.

Các cuộc biểu tình năm 2007 sau đó bị chính quyền ngăn chặn
Ngày 5/12, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc gặp Đại sứ Mỹ, chuẩn bị cho chuyến đi Washington dự Phiên họp về Hiệp định khung về thương mại và đầu tư Việt Nam - Hoa Kỳ.
Điện tín từ Hà Nội cho biết hai bên cũng bàn một số vấn đề có thể nảy sinh trong chuyến thăm, gồm nhân quyền, tranh chấp Biển Đông, và lo ngại Việt Nam có thể rút khỏi thỏa thuận cho phép công ty Mỹ Chevron xuất khẩu khí đốt.
Ông Nguyễn Xuân Phúc nói thảo luận Việt - Trung sẽ tiếp tục "như láng giềng tốt".
Nhưng theo điện tín của Mỹ, giới chức ngoại giao Việt Nam cho họ biết đàm phán đang không diễn ra tốt đẹp và rằng khi đến Washington, đoàn Việt Nam sẽ yêu cầu Mỹ hỗ trợ để không cho Trung Quốc đe dọa các nhà đầu tư tiềm năng quan tâm đến dầu khí.
Sau những hoạt động hậu trường này, vào hôm Chủ nhật 9/12, vài trăm người đã biểu tình ôn hòa ở Hà Nội và TP HCM, phản đối Trung Quốc.
Các cuộc tuần hành sau đó lặp lại vào ngày Chủ nhật 16/12 và 23/12, và vấp phải sự can thiệp của lực lượng công quyền.
Điện tín ngày 21/12 của Lãnh sự quán Mỹ ở TP. HCM nói không xác định được liệu các cuộc biểu tình có phải do chính quyền tổ chức hay không, và rằng cảnh sát đối xử với người biểu tình cũng giống như với những người đòi đất hồi đầu năm.
-VN công nhận chủ quyền của TQ?

Việt Nam nói có chủ quyền không thể chối cãi tại Biển Đông
Học giả Trung Quốc nói từ
1954 -1975 Chính phủ Việt Nam đã 'nhiều lần' công nhận chủ
quyền của Trung Quốc tại Hoàng Sa và Trường Sa.
Trong bài viết tựa đề 'Vẫn còn tranh cãi'
(Still Arguing) đăng trên Bắc Kinh Tuần báo số mới nhất, tác
giả Lý Kim Minh, giáo sư Học viện Nghiên cứu Đông Nam Á thuộc
Đại học Hạ Môn, tỉnh Phúc Kiến, nêu ra ba tài liệu chứng thực
cho điều này.Khi phản biện lại tuyên bố của Chính phủ Việt Nam về chủ quyền đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, giáo sư Lý viết: "Từ 1954 tới 1975, Chính phủ Việt Nam đã công nhận hai quần đảo Nam Sa (Trường Sa) và Tây Sa (Hoàng Sa) là lãnh thổ Trung Quốc trong nhiều trường hợp".
"Thí dụ, Thủ tướng Việt Nam Phạm Văn Đồng trong công hàm ngoại giao gửi tới Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai ngày 14/09/1958 đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo nói trên."
Ông Lý nói sự công nhận này được khẳng định thêm trong tấm bản đồ thế giới mà Bộ Tổng tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam xuất bản năm 1960.
"Trên bản đồ này, quần đảo Nam Sa (Trường Sa) được đánh dấu là lãnh thổ Trung Quốc."
"Sau đó vào năm 1972, Cục Bản đồ của Việt Nam cũng xuất bản tấm bản đồ, trong đó quần đảo Nam Sa được chú thích bằng tiếng Hoa, chứ không phải bằng tiếng Việt, tiếng Anh hay tiếng Pháp."
Dư luận Việt Nam lâu nay đã ít nhiều biết tới Công hàm ngoại giao 1958 của cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, với một số nguồn chính thống chỉ trích Trung Quốc xuyên tạc nội dung bức điện mà ông Đồng gửi cho người tương nhiệm Trung Quốc lúc đó.
Tuy nhiên, các chi tiết về hai tấm bản đồ năm 1960 và 1972 dường như xưa nay chưa thấy ai nói tới.
Chủ quyền lịch sử
Hôm 20/07, lần đầu tiên một tờ báo của Việt Nam là tờ Đại Đoàn Kết đã đưa ra giải thích về nội dung bức công hàm gây tranh cãi của ông Phạm Văn Đồng.Tờ báo này nói rằng việc Trung Quốc diễn giải nội dung Công hàm ngày 14/09/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là "hết sức phiến diện và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó".
"Về thực chất, công hàm 1958 chỉ là sự thể hiện một thái độ chính trị, một cử chỉ hữu nghị với tuyên bố giới hạn lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc để tranh thủ sự ủng hộ của Trung Quốc mà thôi."
Nhóm phóng viên viết bài cũng nhận định: "Trong suốt quá trình thực hiện mưu đồ bá chủ trên Biển Đông, Trung Quốc đã không ít lần đưa ra các tài liệu xuyên tạc lịch sử, biến có thành không, biến không thành có, tung hỏa mù để cố tình làm sai lệch nhận thức của chính nhân dân Trung Quốc cũng như của cộng đồng quốc tế về vấn đề này theo hướng có lợi cho mưu đồ của Trung Quốc".
Ngược lại, bài viết của tác giả Lý Kim Minh trên Bắc Kinh tuần báo thì đả kích lý luận chủ quyền lịch sử của Việt Nam đối với hai quần đảo ở Biển Đông.
Giáo sư Lý viết: "Nghiên cứu tài liệu lịch sử của Việt Nam cũng như chứng cứ lịch sử của Trung Quốc cho thấy Hoàng Sa và Trường Sa là tên hai quần đảo ngay ngoài khơi miền Trung Việt Nam. Chúng hoàn toàn khác với hai quần đảo Nam Sa và Tây Sa".
Học giả này cũng nói lý lẽ của Việt Nam rằng Hà Nội được quyền tiếp quản quần đảo Trường Sa từ tay người Pháp là không có cơ sở vì "sau Thế chiến II, Pháp không kiểm soát quần đảo này".
"Thêm vào đó, không có giấy tờ nào chứng thực có sự chuyển giao giữa Pháp và Việt Nam."
Ông Lý Kim Minh nói vì trong quá khứ Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc tại hai quần đảo nói trên, "thể theo quy tắc estoppel của luật pháp quốc tế, Chính phủ Việt Nam hiện nay cần tuân thủ sự công nhận từ trước đó".
Không chỉ đưa ra các phản biện đối với tuyên bố chủ quyền của Việt Nam, bài viết còn nói tới các tuyên bố chủ quyền của Philippines, Malaysia và Brunei.
