Thứ Tư, ngày 09 tháng 9 năm 2015

Quảng Ninh: Khởi tố, bắt tạm giam 2 lãnh đạo Cty than Tây Nam Đá Mài tham ô bỏ túi gần 100 tỉ đồng

-Quảng Ninh: Khởi tố, bắt tạm giam 2 lãnh đạo Cty than Tây Nam Đá Mài tham ô bỏ túi gần 100 tỉ đồng-
(LĐO) 

Lãnh đạo Cty CP than Tây Nam Đá Mài, ông Hoàng Minh Hiếu - Chủ tịch Hội đồng quản trị - đã công bố thông tin về việc Cơ quan cảnh sát điều tra - Bộ Công an đã khởi tố 2 phó giám đốc Cty này về hành vi phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ (Báo Lao Động đưa tin ngày 8.9)

Theo thông báo số 250 và 254/C46 (P12) ngày 3.9.2015 của Cơ quan CSĐT - Bộ Công an về việc khởi tố bắt tạm giam bị can Đỗ Quang Hưng (45 tuổi), chức vụ Phó giám đốc Công ty và Phạm Cao Nghĩa (56 tuổi) - Ủy viên HĐQT, chức vụ Phó giám đốc bị cấm đi khỏi nơi cư trú về hành vi phạm tội lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành nhiệm vụ.

Trước đó, ngày 7.9 lực lượng C46 đã tiến hành bắt giữ Đỗ Quang Hưng và tiến hành khám xét tại nhà riêng và trụ sở làm việc ông Hưng và Nghĩa.

Liên quan vụ án này, chiều 8.9, cơ quan CSĐT, Bộ Công an cũng đã tống đạt quyết định khởi tố bị can, khám xét nơi ở đối với 4 đối tượng khác gồm: Phạm Văn Hà (51 tuổi)- nguyên GĐ Cty CP than Tây Nam Đá hiện đang công tác tại Tập đoàn TKV; Phạm Phú Mỹ (51 tuổi)- Trưởng phòng trắc địa, địa chất; Nguyễn Kiên Cường (37 tuổi)- Trưởng phòng kỹ thuật, sản xuất và Nguyễn Thị Thanh Bình (43 tuổi)- Phó trưởng phòng kế toán Cty.

Các bị can còn lại bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Các quyết định và lệnh đã được Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao phê chuẩn.

Được biết hành vi của các bị can trong 2 năm vừa qua đã nâng khống cung độ vận chuyển đất đá qua đó, lập khống chứng từ để Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam quyết toán khoảng 95 tỉ đồng. Một phần số tiền này đưa vào quỹ lương của Cty để ăn chia theo chức danh.

Hiện vụ án đang được cơ quan CSĐT Bộ Công an làm rõ hành vi gian dối và việc sử dụng số tiền nêu trên của các bị can, người có liên quan.

-TS Nguyễn Thành Sơn: Hòn than mà biết nói năng…
- Với phương châm “dê làm khổ bò” vốn có ở TKV, đến nay sau 20 năm, nguồn sở hữu toàn dân (gần 3 tỷ tấn than-PV) đã bốc hơi hơn 30%.
TS Nguyễn Thành Sơn, Giám đốc BQL các dự án than Đồng bằng sông Hồng - Vinacomin đã trao đổi thẳng thắn và tâm huyết với Đất Việt xung quanh việc Việt Nam ký nhập khẩu 20 triệu tấn than/năm.
PV: - Việt Nam vừa ký nhập khẩu 20 triệu tấn than/năm với một số công ty than của Indonesia, Australia, Nhật Bản và Australia. Theo dự báo của Bộ Công thương, năm 2016, Việt Nam phải nhập khẩu 3-4 triệu tấn, năm 2020 khoảng 35 triệu tấn và tới năm 2030 khoảng 135 triệu tấn.
Như vậy, Việt Nam đã phải nhập khẩu chính thứ mình đang bán ra. Tại sao lại có sự lạ đời như vậy, thưa ông?
TS Nguyễn Thành Sơn: - Sự “lạ đời” này có cội nguồn từ sự “lạ đời” khác, đó là cung cách và tư duy quản lý ngành than nói riêng, và quản lý lĩnh vực năng lượng nói chung, của Bộ Công Thương. Đã nhiều năm nay, câu hỏi tương tự đã được đặt ra trên các phương tiện thông tin đaị chúng nhưng, Bộ Công Thương và Tập đoàn TKV cùng một giọng “ca” bài xuất khẩu than là cần thiết, là hiệu quả, là đương nhiên, là xuất than tốt không dùng đến v.v… Rất tiếc là trong thể chế quản lý kinh tế của Việt Nam chưa có quy chế truy cứu trách nhiệm nói sai của những người có chức có quyền như vậy.
Lĩnh vực xuất-nhập khẩu than cho thấy rõ nhóm lợi ích: khi giá dầu cao thì đào than lên để xuất khẩu với bất kỳ chi phí nào, khi giá dầu thấp thì mặc kệ các ngành có sử dụng than tự xoay sở nhập khẩu than về để dùng. Miếng mồi xuất khẩu than ngon ăn thì TKV đòi bằng được độc quyền. Cục xương nhập khẩu than khó nhằn thì TKV đã nhanh miệng xin Chính phủ “mở cửa”.Trong tương lai, việc nhập khẩu than không đủ, nhưng TKV hình như “vô can”.
Không ít hơn 1 lần, Chính phủ đã chính thức giao cho TKV nhiệm vụ nhập khẩu than để đảm bảo cân đối đủ than cho các ngành kinh tế. Cũng không ít hơn 1 lần, TKV cứ “ngậm miệng ăn tiền” xuất khẩu than, còn nhiệm vụ cung cấp đủ than cho nền kinh tế được giao thì “hãy đợi đấy”.
Khi mới được “ra ở riêng” (thành lập năm 1994), Chính phủ đã ưu ái giao cho TKV một nguồn tài nguyên gần 3 tỷ tấn than thuộc sở hữu toàn dân làm “của hồi môn”. Với phương châm “dê làm khổ bò” vốn có ở TKV, đến nay sau 20 năm, nguồn sở hữu toàn dân này đã bốc hơi hơn 30%, chỉ còn lại chưa đến 2 tỷ tấn thuộc loại cực kỳ khó khai thác (phải khai thác với chi phí cực kỳ cao- cao nhất thế giới). Nhưng, chẳng có ai chịu trách nhiệm, vẫn vui cả làng và hòa cả làng.
TS Nguyễn Thành Sơn
TS Nguyễn Thành Sơn
PV: - Nhiều năm qua Trung Quốc là thị trường xuất khẩu than chính của Việt Nam. Tuy nhiên, thời gian gần đây xuất khẩu than đá của Việt Nam sang Trung Quốc giảm cả về lượng và kim ngạch. Theo Tổng cục Hải quan, so với 10 tháng năm 2013, xuất khẩu than sang Trung Quốc đạt 3,87 triệu tấn, giảm gần 50%, với trị giá 229,9 triệu USD. Cũng theo đơn vị này, năm nay Việt Nam bắt đầu nhập khẩu than từ Trung Quốc. Trong 10 tháng năm 2014, Việt Nam đã nhập trên 385.000 tấn than đá từ Trung Quốc, giá trị kim ngạch đạt gần 100 triệu USD.
Rõ ràng Việt Nam khai thác tài nguyên để bán cho Trung Quốc với giá rẻ rồi lại nhập về chính loại than mà chúng ta đã và đang tích cực xuất khẩu với giá cao. Ông có bình luận gì trước những con số này?
TS Nguyễn Thành Sơn: - Bộ Công Thương và TKV từ xưa đến nay vẫn báo cáo Chính phủ và giải thích trên các phương tiện thông tin đại chúng là chỉ “xuất than tốt” ở VN không dùng đến. Con số trên (xuất 3,87 triệu tấn than với giá trị 229,9 triệu USD; nhập 0,385 triệu tấn than với giá trị kim ngạch gần 100 triệu USD) cho thấy điều ngược lại: xuất than xấu (giá khoảng 60 USD/tấn), nhập than tốt (giá lên tới gần 260 USD/tấn).
Chẳng thể có bình luận gì khác ngoài câu “hòn than mà biết nói năng, thì ghế chú cuội trên cung trăng cũng chẳng còn”.
PV: Trong khi TKV cứ đào than đi bán thì những tập đoàn nhà nước như EVN, PVN lại đang cố tìm kiếm nguồn than ngoại để nhập khẩu. Tại sao lại có sự lệch pha như vậy, thưa ông? Nếu kéo dài tình trạng này sẽ gây ra tác hại thế nào?Ai là người được hưởng lợi?
TS Nguyễn Thành Sơn: - Câu hỏi này có vẻ “ngô nghê” nhưng cũng hay. Công tác quy hoạch (chức năng chủ yếu thuộc Bộ Công Thương) và chiến lược phát triển ngành than của Việt Nam (chức năng chủ yếu thuộc TKV) từ xưa đến nay rất bất cập.
Chất lượng của các qui hoạch ngành than nói riêng và lĩnh vực khoáng sản nói chung rất thấp.Phần lớn các qui hoạch đều bể ngay từ khi vừa phê duyệt.Ví dụ, Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030 được phê duyệt 09/01/2014, chưa kịp triển khai thì đến 09/06/2014 Bộ Công Thương đã phải có văn bản 5075/BCT-TCNL “điều chỉnh quy hoạch”.
Vấn đề ở đây là “sự lêch pha” trong tư duy/tầm nhìn của các nhà quản lý thuộc Bộ Công Thương và cách tiệm cận “khó hiểu” của lãnh đạo TKV từ xưa đến nay.
Nếu kéo dài tư duy “lệch pha” và cách tiệm cận “khó hiểu” này, cộng với nhiều thứ khác thì lĩnh vực năng lượng của Việt Nam về cơ bản và lâu dài sẽ phụ thuộc tiếp vào việc nhập khẩu than và nhập khẩu điện năng từ Trung Quốc - nước láng giềng có mức độ/qui mô sản xuất/tiêu dùng năng lượng hàng đầu thế giới.
lĩnh vực năng lượng của VN về cơ bản và lâu dài sẽ phụ thuộc tiếp vào việc nhập khẩu than và nhập khẩu điện năng từ TQ
Lĩnh vực năng lượng của Việt Nam về lâu dài sẽ phụ thuộc tiếp vào việc nhập khẩu than và nhập khẩu điện năng từ Trung Quốc
PV: - Nhiều nước phát triển bảo vệ tài nguyên trong nước bằng cách nhập khẩu tài nguyên từ các nước khác thay vì khai thác nguồn tài nguyên của nước mình như Mỹ nhập khẩu dầu, Na Uy nhập khẩu gỗ... Ngay cả Trung Quốc cũng đóng cửa hàng loạt mỏ than. Trong khi đó, ở Việt Nam, với những con số xuất nhập khẩu như trên, ông có dự báo thế nào về nguy cơ phụ thuộc nước ngoài của Việt Nam?
TS Nguyễn Thành Sơn: - Việt Nam đang đối mặt 3 vấn đề nan giải:
(i) Nguồn cung về năng lượng của Việt Nam ngày càng giảm (nguồn thủy điện khai thác hết, nguồn năng lượng hóa thạch- dầu mỏ, khí đốt và than đang cạn kiệt nhanh, nguồn năng lượng mới và tái tạo không kịp phát triển và có giá thành cao);
(ii) Nhu cầu năng lượng để phát triển nền kinh tế ngày càng tăng;
Và, (iii) hiệu suất sử dụng năng lượng ở Việt Nam rất thấp. Cả 3 vấn đề này đang làm cho nguy cơ mất an ninh về năng lượng của Việt Nam rất lớn.
Chúng ta đã từng là nước xuất khẩu năng lượng, nay đang chuyển sang phải nhập khẩu năng lượng với mức độ ngày một tăng. Điều này sẽ làm giảm đáng kể sức cạnh tranh của nền kinh tế.
Còn dự báo về ngành than trong tương lai của Việt Nam có thể thông qua một kịch bản tóm tắt thế này:
(i) Nếu giá dầu mỏ duy trì ở mức trên 65 USD/thùng, sau 30-35 năm nữa ngành than sẽ đóng cửa 95-100% các mỏ ở vùng Quảng Ninh; Nếu giá dầu mỏ hạ xuống dưới 50 USD/thùng, thời gian đóng cửa mỏ sẽ sớm hơn 10-15 năm;
(ii) Vì không được cung cấp đủ than với giá hợp lý: Các dự án nhiệt điện chạy than BOT lớn ở vùng Mông Dương sẽ được bàn giao cho phía Việt Nam để bán sắt vụn; Các dự án nhiệt điện chạy than ở Phả Lại, Mạo Khê, Uông Bí, Đồng Rì, Hòn Gai phát được tối đa 50% công suất; Các dự án điện chạy than được xây dựng ở Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Nghi Sơn, Vũng Áng v.v. phải cải tạo lò hơi để dùng than nhập khẩu từ Trung Quốc, Indonesia, Úc, Nga, Mỹ, Nam Phi; Các dự án nhiệt điện Cao Ngạn và An Khánh không chạy hết công suất và sẽ phải đóng cửa sớm;Dự án nhiệt điện Na Dương sẽ phải dịch chuyển địa điểm (cách vị trí hiện nay 2000m) để mở rộng mỏ than Na Dương;
(iii) Bể than đồng bằng sông Hồng được khai thác ở qui mô thương mại bằng công nghệ khí hóa than ngầm (vào năm 2030) và bằng công nghệ vi sinh (vào năm 2050).


Từng là nước xuất khẩu than đá, Việt Nam đã phải lên kế hoạch nhập khẩu than từ Úc để thỏa mãn nhu cầu năng lượng ngày càng tăng nhanh. Theo tờ báo Mỹ Wall Street Journal, số ra ngày hôm qua,07/05/2013, tập đoàn dầu khí PetroVietnam xác nhận đã ký một thỏa thuận khung với một tập đoàn Úc sản xuất than để mua ba triệu mét khối than đá mỗi năm.


Theo nguồn tin trên, công ty PV Power Coal, một đơn vị thuộc Petro Việt Nam đã ký kết thỏa thuận với hãng Ensham Resources của Úc, nhằm cung cấp nhiên liệu cho hai nhà máy nhiệt điện lớn chạy bằng than đang được xây dựng ở miền Nam Việt Nam.

Hai nhà máy công suất 1.200 megawatt sẽ tiêu thụ khoảng 3,2 triệu tấn than mỗi năm và dự kiến ​​sẽ bắt đầu phát điện vào năm 2015 và năm 2016.

Nghịch lý của vấn đề này là trước đây Việt Nam từng là một quốc gia xuất khẩu than thuộc loại lớn. Đỉnh điểm là vào năm 2009, Việt Nam đã xuất trên 25 triệu tấn. Tuy nhiên việc xuất khẩu than đá đã giảm mạnh kể từ lúc đó đến nay, và nguồn than trong nước ngày càng được giữ lại để sử dụng cho các nhà máy nhiệt điện.

Nhu cầu năng lượng càng lúc càng tăng, trong lúc các kế hoạch của Việt Nam nhằm khai thác nguồn dự trữ khí đốt dồi dào ngoài khơi đã bị chậm trễ, hai yếu tố này buộc chính quyền phải tính đến chuyện nhập khẩu than đá.

- Ngành than muốn mua mỏ ở nước ngoài (TBKTSG) (TBKTSG Online) - Việc mua mỏ ở nước ngoài của ngành than đang đến gần khi nhu cầu nhập khẩu than cho sử dụng trong nước ngày càng tăng, đặc biệt là từ năm 2015.
Quy hoạch phát triển ngành than đến năm 2020, có tính đến năm 2030 được Thủ tướng phê duyệt tháng 1-2012 cho thấy nhu cầu nhập khẩu than từ năm 2015 trở đi ngày một tăng và lượng than nhập về hằng năm ngày càng vượt xa lượng than sản xuất trong nuớc.

Trao đổi với báo giới khi công bố quy hoạch ngành than ngày 23-2 tại Hà Nội, Tổng cục trưởng Tổng cục năng lượng Phạm Mạnh Thắng cho biết, từ nay đến năm 2020, các nhà máy điện chạy than có nhu cầu sử dụng than ngày càng lớn nên việc mất cân đối cung và cầu than cũng lớn theo.
Việc nhập khẩu than, theo dự kiến, sẽ diễn ra trên diện rộng từ năm 2015 (khoảng 15 triệu tấn/năm), sau việc nhập khẩu thí điểm được khởi động từ năm 2010.
Đến năm 2020, cả nước sẽ có 46 nhà máy điện chạy than cần 77 triệu tấn than, trong đó chỉ có 25 nhà máy sử dụng than nội, 21 nhà máy khác sử dụng than ngoại nhập (khoảng 48 triệu tấn/năm).
Trong khi đó, thực tế năm 2012, ngành than lên kế hoạch sản xuất được 48 triệu tấn than nguyên khai, tương đương với 43 triệu tấn than sạch, với 17-18 triệu tấn trong số này bán cho ngành điện. Đến năm 2015 sẽ sản xuất được 55-58 triệu tấn, tương đương 53 triệu tấn than sạch cung cấp cho cả nền kinh tế, trong đó có ngành điện nên cung không đủ cầu.
Hiện nay, việc khai thác bể than Đông Bắc ngày càng trở nên cạn kiệt vì đã thăm dò ở độ sâu dưới 300 mét và bể than đồng bằng sông Hồng chỉ dự kiến bắt đầu khai thác khoảng 1 triệu tấn từ năm 2020.
Xác định được thực trạng ngày càng khó khăn cho cả ngành than lẫn ngành điện, Bộ Công Thương, Tổng cục năng lượng và Tập đoàn công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (TKV) đã lên kế hoạch trình Chính phủ chuẩn bị cơ chế điều hành xuất nhập khẩu than, trong đó có hướng khuyến khích doanh nghiệp mua mỏ ở nước ngoài.
Tổng cục trưởng Tổng cục năng lượng Phạm Mạnh Thắng cho biết là Bộ Công Thương đang làm đầu mối chuẩn bị cơ chế này, chủ yếu hướng đến hai thị trường là Úc và Indonesia. Ngoài ra, bộ cũng khuyến khích các dự án nhà máy điện do tư nhân và nước ngoài đầu tư tự tìm đầu mối nhập khẩu than.
Từ nay đến năm 2030, ngành than cần mỗi năm 35 tỉ đồng vốn đầu tư để khai mỏ, chế biến, hướng vào các dự án đầu tư sau khai mỏ. Tuy nhiên, lợi nhuận ngành than ngày càng giảm do xuất khẩu giảm và tiếp tục bù lỗ cho điện.
Theo ông Vũ Thành Lâm, Phó tổng giám đốc TKV, việc tăng giá bán than cho điện ngày càng trở nên cần thiết vì mức giá này được điều chỉnh từ tháng 3-2011 mới chỉ bằng 57% giá thành sản xuất năm 2010 theo số liệu của kiểm toán công bố. Còn nếu so với giá thành năm 2011 dự kiến thực hiện thì giá than bán cho điện hiện mới chỉ bằng 51% đến 55% tùy theo chủng loại. Ngày 22-2, TKV đã tiếp tục gửi đề xuất tăng giá bán than đến Bộ Công Thương và Chính phủ.
Ông Lâm nói tại buổi công bố quy hoạch ngành than rằng, tính riêng năm 2010, chênh lệch giữa than sản xuất và giá bán than cho điện lên đến 3.000 tỉ đồng. Năm 2011, con số nảy khoảng 5.000 tỉ đồng.

- Ồ ạt xuất khẩu than - Kỳ cuối: Châu Á đang “khát” than - TT - Than tuy không gây nóng sốt trên thị trường thế giới bằng dầu nhưng cũng đóng vai trò quan trọng trong cơn khát năng lượng hiện nay. Nhiều quốc gia ở châu Á từng là cường quốc về xuất khẩu than nay quay sang nhập khẩu trở lại.

Thống kê của Tập đoàn BP (Anh) cho thấy hiện Trái đất chúng ta có trữ lượng than khoảng 860 tỉ tấn (tính đến cuối năm 2010). Trong đó trữ lượng than tập trung nhiều ở những quốc gia như Mỹ, Nga, Trung Quốc, Úc, Đức, Nam Phi, Ấn Độ.
Trung Quốc tăng cường nhập than
Theo Hiệp hội Than thế giới, từ năm 2000 đến nay nhu cầu tiêu thụ than trên thế giới tăng nhanh hơn bất cứ loại nhiên liệu nào. Những quốc gia sử dụng than nhiều nhất bao gồm Trung Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Nga và Nhật Bản. Tiêu thụ than ở những nước này chiếm 77% lượng than sử dụng trên toàn thế giới. Than nhiệt lượng cao được sử dụng trong nhiệt điện, còn than cốc được sử dụng chủ yếu trong sản xuất thép. Trong đó, Trung Quốc “đốt” hết một nửa trong số 6 tỉ tấn than tiêu thụ trên toàn thế giới (số liệu năm 2010). Quốc gia này đã thay đổi chóng mặt từ một nước chủ yếu xuất khẩu than thành một trong những khách hàng nhập than lớn nhất thế giới trong những năm qua.
Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA) ước tính năm 2010 Trung Quốc nhập 177 triệu tấn than, sau Nhật Bản với 187 triệu tấn. Theo số liệu mới cập nhật tháng 11-2011 của Hiệp hội Hạt nhân thế giới, điện năng tạo ra từ than của Trung Quốc chiếm đến 80% sản lượng điện quốc gia trong khi thủy điện chỉ góp 15%. Điều này cho thấy nhu cầu về than của Trung Quốc rất lớn.
Số liệu của Tập đoàn BP về năng lượng thế giới năm 2010 cho biết trữ lượng than ở Trung Quốc là 114,5 tỉ tấn (62,2 tỉ tấn than antraxit và bitum). Cũng trong năm 2010, Trung Quốc sản xuất được 1,8 tỉ tấn than.
Còn theo Hiệp hội Than Trung Quốc, ba quý đầu năm 2011 Trung Quốc đã nhập 123 triệu tấn than, tăng 1,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, xuất khẩu than chỉ 12,12 triệu tấn, giảm 19,7% so với năm ngoái. Như vậy, có thể thấy Trung Quốc ngày càng nhập nhiều than hơn để đáp ứng nhu cầu lớn về điện ở trong nước và hạn chế xuất khẩu than.
Trong khi đó, trữ lượng than của Úc chỉ có 76,4 tỉ tấn (năm 2010) với 37 tỉ tấn antraxit và bitum nhưng lại đứng đầu về xuất khẩu với 298 triệu tấn. Theo New York Times, năm 2010, một công ty Úc đã ký hợp đồng trị giá 60 tỉ USD với một tập đoàn nhà nước của Trung Quốc là Tập đoàn Phát triển năng lượng quốc tế, để cung cấp than cho các nhà máy nhiệt điện của nước này từ năm 2013. Kèm theo đó là một khu phức hợp sản xuất than rộng lớn sẽ được xây dựng ở một vùng hẻo lánh của Úc.
New York Times cũng dẫn lời ông Vic Svec, phó chủ tịch Công ty than tư nhân lớn nhất thế giới Peabody Energy (Mỹ), nói họ đang lên kế hoạch vận chuyển nhiều than hơn nữa đến Trung Quốc. “Than là thứ năng lượng tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới và sẽ còn tăng trưởng mạnh hơn nữa nhờ vào nhu cầu năng lượng ở châu Á” - ông Svec nói.
Những nước có nguồn tài nguyên khoáng sản hạn chế như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng có nhu cầu nhập than rất lớn. Năm 2010, Nhật nhập tới 187 triệu tấn than (đứng đầu) trong khi Hàn Quốc nhập 119 triệu tấn (đứng thứ ba).
Trữ lượng nhiều nhưng xuất ít
Trong số các nước có trữ lượng than hàng đầu thế giới, Mỹ đứng nhất với 237 tỉ tấn (trong đó 108,5 tỉ tấn than antraxit và bitum) và Nga đứng thứ hai với 157 tỉ tấn (49 tỉ tấn antraxit và bitum). Tuy nhiên, hai nước nhất nhì này lại chỉ đứng thứ ba và tư trong số các nước xuất khẩu than trong năm 2010. Theo IEA, Nga đứng thứ ba về xuất khẩu than với 109 triệu tấn (năm 2010), trong đó 95 triệu tấn là than đốt lò hơi. Mỹ đứng thứ tư với 74 triệu tấn, trong đó chỉ có 23 triệu tấn là than đốt lò hơi, còn lại là than cốc.
Tại châu Âu và Mỹ, than đã qua thời hoàng kim. Tiêu thụ than giảm nhiều trong những năm qua do bị tác động bởi các luật về môi trường và việc phụ thuộc nhiều hơn vào năng lượng thiên nhiên và năng lượng có thể tái tạo.
Ấn Độ cũng là quốc gia có nhu cầu về than đang tăng lên. Theo IEA, năm 2010 Ấn Độ nhập 90 triệu tấn than, trong đó 60 triệu tấn là than đốt lò hơi. Trữ lượng than của Ấn Độ cũng ở mức cao, khoảng 60 tỉ tấn, trong đó antraxit và bitum chiếm 56 tỉ tấn.
Đất nước Nam Phi xa xôi cũng là một nguồn cung cấp than đáng kể cho châu Á với 84 triệu tấn tính đến thời điểm hiện tại, theo Reuters. Mức xuất khẩu này cao hơn năm ngoái gần 20 triệu tấn. Trữ lượng than của Nam Phi còn khá nhiều, vào khoảng 30 tỉ tấn. Nam Phi cũng là nguồn cung cấp than cho Ấn Độ và Trung Quốc. Hệ thống đường sắt được cải thiện là nguyên nhân chủ yếu dẫn đến việc xuất khẩu của Nam Phi tăng.
VIỆT PHƯƠNG

Ồ ạt xuất khẩu than - Kỳ 2: Sẽ phải nhập giá cao -TT - Về tình trạng sắp thiếu than nhưng vẫn ồ ạt xuất khẩu, ông Phạm Quang Tú - giám đốc văn phòng hỗ trợ tư vấn phản biện và giám định xã hội, Liên hiệp Các hội khoa học kỹ thuật VN - đã khẳng định nếu không sớm hạn chế xuất khẩu, VN sẽ phải trả giá đắt. Ông Tú nói: 
Khai thác than tại mỏ than Hà Tu (Quảng Ninh) - Ảnh: Nguyễn Khánh
Năm 2011: TKV sẽ nhập khoảng 200.000 tấn than
Theo ông Vĩnh Như - giám đốc Công ty cổ phần Than miền Nam (thành viên của TKV), năm 2011 nhu cầu phía Nam ước sử dụng khoảng 2 triệu tấn than, dự kiến nhu cầu sẽ tăng trung bình 10%/năm trong các năm tiếp theo. Mức cầu này chưa tính lượng than mà các nhà máy nhiệt điện hiện đang đầu tư và sẽ đưa vào hoạt động trong các năm tới.
Theo tính toán chưa đầy đủ, hiện lượng than nhập khẩu của năm 2011 chiếm khoảng 10% tổng lượng than tiêu thụ trên thị trường khu vực phía Nam, tương ứng khoảng 200.000 tấn/năm. Số lượng này cũng chưa tính lượng than của Nhà máy nhiệt điện Formosa tự nhập khẩu trung bình trên 600.000 tấn/năm kể từ khi đi vào hoạt động đến nay.
TRẦN VŨ NGHI
- Chúng ta không đánh giá thấp vai trò của ngành than trong giai đoạn đầu phát triển của đất nước nhưng việc xuất khẩu thô khoáng sản, trong đó có than, theo tôi, đã hoàn thành sứ mệnh rồi. Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV) có giải thích việc xuất khẩu là để bù lỗ than trong nước, để có tiền đầu tư nâng cao năng lực khai thác trong tương lai. Nhưng theo tôi, có nhiều biện pháp khác cần tính đến và Chính phủ cần phải tính toán lại.
Tâm lý doanh nghiệp bao giờ cũng muốn khai thác, tìm cách bù lỗ, tìm cách năm sau khai thác cao hơn năm trước, chạy theo thành tích. Như thế có thể có lợi cho một doanh nghiệp, nhưng tổng thể cả đất nước thì không lợi. Nhà nước phải cân đối lại.
Có hai quan điểm: thứ nhất là khoáng sản chưa chế biến sâu được thì để đấy, giá trị chắc chắn sẽ tăng; thứ hai là tận dụng ngay, lấy đó làm vốn. Tư duy thứ hai thường là của nước nghèo. Tôi nghĩ VN đã đến giai đoạn không đến nỗi phải đào hầm, đào mỏ, xẻ thịt tài nguyên bán mấy chục triệu tấn/năm như thế nữa.
* TKV muốn bán than vì cho rằng bán đã được giá khá cao, tới 300 USD/tấn. Nhưng sắp tới nhập thì có thể giá VN phải mua còn cao hơn nhiều?
- Tôi nghĩ đó là thực tế. Với giá 300 USD/tấn trong khi giá bán than trong nước chỉ khoảng 100 USD/tấn nên doanh nghiệp nào vào vị trí của TKV chắc đều muốn xuất khẩu nhiều cả. Nhưng tài nguyên có hạn, trong khi nhu cầu những năm tới, nhất là sau năm 2015 các nước đều biết là VN thiếu, năng lực khai thác của TKV không đủ. Nhà máy điện đã có rồi, không thể đóng cửa, trong khi than đến nay vẫn chưa ký được hợp đồng mua.
Ai cũng hiểu không thể để mặc tình trạng thiếu điện nên tôi nghĩ các nhà quản lý cần cảnh giác việc nhập khẩu là rất khó khăn. Bán than được 300 USD/tấn không hẳn là mừng. Chúng ta đã có bài học trước đây giá dầu 70 USD/thùng, có người nói không bán đi đợi đến bao giờ. Nhưng nay mới thấy bán được giá đó vẫn quá thấp...
* Vậy theo ông, có cần hạn chế xuất khẩu than bằng biện pháp mạnh hơn?
- Tài nguyên của VN rất có hạn, ta đã khai thác khá mạnh thời gian qua. Nên biết giữ cái gì ta có, nhất là khi biết chắc sẽ thiếu. Chính phủ cũng đã chỉ đạo ngừng cấp phép mới khai thác tài nguyên. Việc này không nên dừng ở các doanh nghiệp nhỏ.
Vì an ninh năng lượng thời gian tới, trước khi cấm hẳn xuất khẩu than, theo tôi, nên tiếp tục tăng thuế xuất khẩu than. Thuế xuất khẩu than mới được tăng 5%, lên 20%. Nhưng tôi cho rằng 20% với một tài nguyên như than vẫn là thấp, cần tiếp tục tăng. Nếu một doanh nghiệp tư mà khai thác than, bán được tới 300 USD/tấn thì tôi nghĩ Nhà nước đã điều chỉnh thuế, tăng huy động vào ngân sách rồi.
Cần tính toán tăng thu vì than là tài nguyên chung, không nên để chỉ một nhóm, một ngành được hưởng lợi trực tiếp, mà Nhà nước phải điều phối. Bên cạnh đó cần siết chặt, tăng chế tài để ngăn ngừa, chống việc xuất lậu than, gian lận số lượng trong khai thác, xuất khẩu than... Đây không chỉ là thất thoát của ngành than mà là thất thoát của quốc gia.
Trong một số hội thảo đã có chuyên gia cho rằng thất thoát trong khai thác, vận chuyển than rất lớn, có thể lên đến 30%. TKV cần cho xã hội biết chi phí và thất thoát từng khâu của mình.
* Nhiều ý kiến cho rằng việc xuất khẩu, khai thác hiện tại cần tính trên nhu cầu sắp tới của VN, nếu cứ vì nhu cầu đầu tư của ngành than thì sẽ không bao giờ dừng lại được?
- VN đang công nghiệp hóa, nhu cầu nhiên liệu, nguyên liệu mới ở bước khởi đầu, nên tiết kiệm phải là ưu tiên hàng đầu. Nếu nhìn vào quy hoạch điện 7 vừa được Chính phủ phê duyệt thì nhu cầu than cho phát điện thôi đã rất lớn. Năm 2015 sẽ phải nhập khoảng 6 triệu tấn, năm 2025 sẽ lên đến vài chục triệu tấn. Nếu cứ nói phải xuất khẩu để lấy tiền đầu tư mỏ mới thì đến lúc có năng lực rồi chúng ta còn than để khai thác nữa không? Mà lúc đó than liên quan đến điện, khả năng thiếu điện có thể ảnh hưởng đến toàn bộ nền kinh tế.

CẦM VĂN KÌNH thực hiện
Khai thác than ngày càng khó
Chiều 1-12, trao đổi về việc VN ồ ạt xuất khẩu than, Tổng cục trưởng Tổng cục Địa chất và khoáng sản Nguyễn Văn Thuấn phân tích:
- Ở VN, nơi đang khai thác than nhiều nhất là bể than Quảng Ninh nhưng trữ lượng tại đây không nhiều. Trữ lượng than ở bể than Quảng Ninh hiện vẫn còn, nhưng việc khai thác đã bước vào giai đoạn ngày càng khó khăn. Bề mặt than ở bên trên đã được khai thác và muốn khai thác tiếp phải đào sâu xuống, nên để khai thác được chắc chắn giá thành sẽ ngày càng cao.
Ngay với bể đồng bằng sông Hồng được dự báo rất lớn, số dự báo lên tới 200 tỉ tấn. Nhưng nói thật đây mới chỉ là dự báo dựa trên cơ sở các lỗ khoan thăm dò dầu khí trước đây, còn hiện tại chưa có điều tra đánh giá cơ bản nên không có cơ sở nói là có trữ lượng lớn về than.
* Nhưng thưa ông, thực tế Việt Nam đã phải nhập khẩu than và TKV vẫn xuất khẩu hàng triệu tấn than. Điều này được lý giải như thế nào?
- Tôi khẳng định trong điều kiện khai thác than phục vụ nền kinh tế không đủ đương nhiên việc xuất khẩu than sẽ phải hạn chế, hạn chế tới mức tối thiểu. Vấn đề hiện nay có chuyện chúng ta đang đối mặt là giá thành than chúng ta bán cho các ngành kinh tế tiêu thụ trong nước được thực hiện dựa trên giá quy định của Chính phủ, giá bán không cao nên TKV cũng có những khó khăn.
Vì vậy, thời gian vừa rồi TKV có đề xuất Chính phủ được bán xuất khẩu một số loại than khi nền kinh tế của chúng ta tiêu thụ chưa hết, những loại than tốt mà chúng ta thấy tiêu thụ ở trong nước có giá không cao bằng giá xuất khẩu khi thị trường nước ngoài đang có nhu cầu cao và giá cũng cao hơn.
* Theo ông, chiến lược về tài nguyên khoáng sản của Việt Nam nói chung và tài nguyên than tới đây cần phải điều chỉnh như thế nào?
- Với việc xuất khẩu than thì đây chỉ là tạm thời. Còn với chiến lược tài nguyên khoáng sản trong đó có cả than, vừa qua Bộ Tài nguyên - môi trường đã có dự thảo trình Chính phủ. Chiến lược này sẽ khắc phục và chấn chỉnh những bất cập trong khai thác khoáng sản hiện nay.
Quan điểm của chiến lược thứ nhất là ưu tiên đầu tư cho điều tra cơ bản địa chất khoáng sản cả đất liền lẫn ngoài biển và hải đảo. Thứ hai, việc thăm dò khai thác khoáng sản cần phải được chế biến sử dụng có hiệu quả. Thứ ba, phải cân đối giữa việc khai thác với dự trữ khoáng sản nhằm phát triển ngành khai khoáng bền vững, đảm bảo lợi ích lâu dài của quốc gia.
Như vậy có nghĩa là chúng ta không thể khai thác khoáng sản bằng bất cứ giá nào, không phải chúng ta có nhiều khoáng sản mà cứ đào bới như trong thời gian qua.
XUÂN LONG thực hiện
Kỳ 1: Chuyển “núi” ra nước ngoài TT - Chín tháng đầu năm 2011, Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN đã xuất khẩu tới 12,5 triệu tấn than. Trong khi đó, các nhà máy nhiệt điện VN lại đang và sẽ phải nhập than với giá cao.

Khai thác than xuất khẩu tại Công ty than Mạo Khê, Quảng Ninh - Ảnh: NGUYỄN ĐÁN
Khai thác than xuất khẩu tại Quảng Ninh - Ảnh: NGUYỄN ĐÁN
Mặc dù có chủ trương hạn chế xuất khẩu tài nguyên dạng thô, đặc biệt VN đã phải nhập khẩu than, nhưng chín tháng đầu năm 2011 Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV) vẫn xuất tới 12,5 triệu tấn than. VN tiếp tục nằm trong top 5 nước xuất khẩu than đá lớn nhất thế giới.
Một quan chức Bộ Tài chính mới đây đã phải thốt lên: tốc độ xuất khẩu như vậy là quá ồ ạt và bộ này đã phải tăng thuế xuất khẩu than vào tháng 9-2011, nhưng cả năm TKV vẫn có thể xuất khẩu đạt 16,5 triệu tấn...
Doanh thu cao nhờ bán than
Tại các mỏ than của TKV ở Quảng Ninh những ngày cuối tháng 11-2011, không khí khai thác vẫn sôi động để chuẩn bị hoàn thành mục tiêu năm 2011 khai thác 47,06 triệu tấn than nguyên khai (chưa chế biến), bằng 100,8% năm 2010.
Hầu hết công ty thành viên của TKV công nhân làm việc liên tục ba ca nhằm đảm bảo sản lượng khai thác. Với kế hoạch đặt ra từ đầu năm doanh thu lên tới gần 73.000 tỉ đồng (gần 3,5 tỉ USD), TKV vừa được xếp hạng là một trong những tập đoàn có doanh thu cao nhất VN, chỉ sau một số tập đoàn, tổng công ty như Tập đoàn Dầu khí, Tổng công ty Xăng dầu...
Theo Bộ Công thương, tính chung giai đoạn 2006-2010 TKV sản xuất và tiêu thụ bình quân mỗi năm 40-41 triệu tấn than sạch. Sản lượng khai thác của TKV liên tục tăng mạnh. Với số lượng than nguyên khai đào được ngày càng tăng, doanh thu từ than và giá trị xuất khẩu của TKV đạt được cũng rất lớn. Nếu như năm 2006 TKV mới thu được khoảng 15.300 tỉ đồng từ than thì năm 2009, tức sau bốn năm, doanh thu đã tăng hơn gấp đôi, lên tới trên 36.500 tỉ đồng.
Với tổng lượng than bán được năm 2010 là 42 triệu tấn, TKV cho biết đã xuất khẩu 18,7 triệu tấn. Tính chung năm 2010, tổng giá trị xuất khẩu than khoáng sản của tập đoàn này lên đến con số ấn tượng: 1,4 tỉ USD!
Theo một quan chức của TKV, rất khó có thể so sánh xuất khẩu than với các loại khoáng sản khác. Bởi khai thác than tạo ô nhiễm và khi khai thác xong trên bề mặt và dưới lòng đất các lò than rất khó khôi phục, trả lại nguyên trạng mà có thể phải mất cả chục năm sau cây cối mới xanh tươi trở lại.
Số lượng than khai thác mỗi năm lên tới trên 40 triệu tấn, theo quan chức này là đã đem ra khỏi lòng đất một lượng vật chất khổng lồ. Với lượng than xuất khẩu của TKV năm 2010 là khoảng 18,7 triệu tấn, một chuyên gia trong lĩnh vực khoáng sản ví von số lượng này tương đương mấy quả núi được chuyển ra nước ngoài...
Tăng thuế cũng không sao
Một lãnh đạo Bộ Tài chính cho rằng tốc độ xuất khẩu than như vậy là quá ồ ạt, trong khi chủ trương chung của Nhà nước là hạn chế xuất khẩu tài nguyên dạng thô, nên Bộ Tài chính đã phải tăng thuế xuất khẩu than từ ngày 11-9-2011 thêm 5%, lên mức 20%.
Ông Nguyễn Thành Sơn, giám đốc Ban quản lý các dự án than đồng bằng sông Hồng, cho biết với những thông tin ông có được thì than TKV xuất khẩu chỉ một lượng nhỏ trong nước không dùng đến, còn lại ước tính phải đến 10 triệu tấn chính là loại than mà VN đang và sẽ phải nhập trong tương lai. Ông Sơn cho rằng TKV nên công khai tỉ lệ từng loại than xuất khẩu xem thực chất đang xuất khẩu loại than gì.
Đặc biệt, ông Sơn phân tích chất lượng than trong lòng đất cơ bản không thay đổi, vấn đề TKV khai thác được nhiều than đẹp để xuất khẩu còn do sử dụng công nghệ mới. Cũng có thể nói TKV đã chạy theo số lượng khi khai thác cả than lộ vỉa để tăng số lượng khai thác, tăng xuất khẩu.
Chuyên gia địa chất Lê Quang Cảnh, nguyên cán bộ Liên đoàn 3 Tổng cục Địa chất, cũng cho rằng hiện đối tác lớn mua than của TKV là Trung Quốc và họ mua chủ yếu để phục vụ nhu cầu không phải quá cao cấp. Theo ông Cảnh, Trung Quốc đã phải khai thác xuống rất sâu, giá thành cao nên họ cần mua than của VN. Tuy nhiên, chính vì thế VN nên tính việc xuất khẩu than với lợi ích lâu dài chứ không phải trước mắt.
CẦM VĂN KÌNH
Kỳ tới: Sẽ phải nhập giá cao
“Vừa xuất vừa nhập là bình thường”
Đồ họa: V.Cường
Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trần Xuân Hòa, chủ tịch Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản VN (TKV), thừa nhận nhập khẩu than không dễ, nhưng lại công nhận năm 2011 VN vẫn xuất khẩu than đá lớn bậc nhất thế giới. Ông Hòa nói:
- Số lượng than VN phải nhập khẩu sẽ bắt đầu tăng kể từ năm 2015. Theo quy hoạch, với số lượng nhà máy nhiệt điện, ximăng, thép hoạt động vào năm 2015 thì chúng ta sẽ phải nhập khẩu khoảng 5 triệu tấn, sau đó tăng dần. Chúng tôi đang chỉ đạo và tiếp cận nhiều đối tác để bắt đầu xúc tiến chuẩn bị cho việc nhập khẩu than, cũng như để cán bộ công nhân viên quen dần.
* Năm 2009, TKV được đánh giá là nhà xuất khẩu than đá lớn nhất thế giới. Năm 2011, liệu TKV còn giữ vị trí này?
- VN là nước có trữ lượng than antraxit (than đá) lớn và chúng ta chủ yếu chỉ có than này. Năm 2011, chúng tôi có thể không đứng vị trí thứ nhất nhưng do các nước xuất khẩu loại than này không nhiều nên nếu không đứng vị trí thứ hai, thứ ba thì VN có thể vẫn nằm trong top 5 nước xuất khẩu lớn nhất thế giới.
Tuy nhiên, theo quy hoạch của Bộ Công thương, trong năm năm tới chúng tôi sẽ giảm xuất khẩu. Năm 2011 sẽ chỉ xuất 16,5 triệu tấn. Năm 2012 xuống khoảng 13,5 triệu tấn. Năm 2013 xuống khoảng 8 triệu tấn. Mức xuất khẩu sẽ ổn định ở 4-5 triệu tấn than vào khoảng năm 2015 và sau đó. Đó là theo quy hoạch, còn theo tôi một khi ta thị trường hóa được giá than thì ta có thể duy trì xuất khẩu vì than của chúng ta có giá trị rất cao, nếu đem đi đốt điện rất lãng phí. Nếu sau này giá than theo giá quốc tế thì phía Nam đi nhập khẩu than là có lợi, còn phía Bắc sẽ sản xuất đáp ứng nhu cầu miền Bắc và xuất khẩu sẽ hiệu quả hơn.
* Sắp phải nhập khẩu nhưng TKV vẫn xuất khẩu, theo ông, có vì lợi ích toàn cục hay chỉ vì lợi ích ngành than?
- Nhập khẩu là chuyện bình thường. Bây giờ cứ dùng than chúng tôi đang xuất khẩu khoảng 300 USD/tấn để đốt điện thì ta có chịu được giá đó không. Các nước như Trung Quốc sản xuất khoảng 3,5 tỉ tấn nhưng họ vẫn nhập hàng trăm triệu tấn than. Nhật Bản, Hàn Quốc cũng nhập hàng trăm triệu tấn. Tất nhiên việc nhập sẽ không thể chủ động bằng sản xuất tại chỗ nhưng không thể nói không làm được.
* Thưa ông, tại sao ta không đợi đầu tư những nhà máy có thể dùng than chất lượng cao mà cứ xuất khẩu ngay?
- Đất nước đang giải quyết bài toán khoa học công nghệ thế nào để sử dụng hiệu quả tài nguyên. Như Nhật Bản họ mua than về sản xuất điện cực nhưng công nghệ đó đâu có ở VN. Trình độ khoa học công nghệ VN đang ở mức độ nào? Ngay từ bài học phổ thông đã thấy từ than có thể ra rất nhiều sản phẩm nhưng công nghệ ta còn yếu kém, dù tôi vẫn tin sắp tới ta sẽ phát triển công nghệ để sử dụng hiệu quả tài nguyên.
* Nhiều chuyên gia đề xuất Chính phủ dừng hẳn xuất khẩu than?
- Hiện chúng tôi đang bán than cho điện chỉ bằng khoảng 55% giá thành, chưa kể lợi nhuận định mức, chỉ bằng 25% giá than xuất khẩu. Tiền bù đắp lỗ để bán than giá thấp cho điện phải lấy từ than xuất khẩu. Bù đắp đâu nhỏ, năm 2011 khoảng 5.000 tỉ đồng, nếu không có gì thay đổi thì sang năm còn lớn hơn. Vậy tiền này sẽ lấy từ ngân sách hay là Nhà nước nên cho ngành than xuất khẩu để bù lỗ, chưa phải tăng giá? Bài toán này Chính phủ sẽ giải quyết và chúng tôi sẽ chấp hành tuyệt đối.
CẦM VĂN KÌNH thực hiện
Đã nhập trên 9.500 tấn than
Tháng 6-2011, TKV đã cho công ty con nhập khẩu trên 9.500 tấn than đầu tiên từ Indonesia để chuẩn bị cho việc VN sẽ phải nhập khẩu nhiều  than từ năm 2015.
Ông Lê Minh Chuẩn, tổng giám đốc TKV, trong cuộc họp giao ban tại Bộ Công thương mới đây cho biết loại than nhập khẩu là than thô, khi nhập về phải sơ chế, chế biến. Giá nhập loại than này khoảng 73,6 USD/tấn, cộng cước vận chuyển 27 USD/tấn, tổng giá chỉ 106 USD/tấn - tương đương than cám mà VN đang xuất khẩu 108,6 USD/tấn. Nếu vận chuyển từ Hòn Gai vào Cát Lái chi phí mất 14 USD/tấn nên theo ông Chuẩn, nhập từ nước ngoài rẻ hơn khoảng 14 USD/tấn.
Từ lập luận trên, ông Chuẩn cho rằng vừa xuất và nhập khẩu than là rất bình thường. Tuy nhiên, theo ông Nguyễn Thành Sơn phân tích: lãnh đạo TKV tính giá than nhập khẩu rẻ hơn than trong nước là chưa tính đến các chi phí khác. Như nhập than từ Indonesia về giá cuối cùng là 108,6 USD/tấn, nhưng TKV đã quên không tính chi phí chế biến, sàng tuyển mất khoảng 10 USD/tấn.
Chi phí bốc than đã sàng tuyển đem đến các nhà máy khoảng 5 USD/tấn, chưa kể chi phí kho bãi, nhất là khi sàng lọc than quá kém phải loại ra... cũng khiến tăng giá thành. Vì vậy, ông Sơn cho rằng than nhập khẩu sau khi chế biến, chuyển đi có thể giá còn cao hơn cả giá than trong nước, các nhà máy điện sẽ khó ai dám mua than đó.
-Nguồn:
Ồ ạt xuất khẩu than – Kỳ 1: Chuyển “núi” ra nước ngoài - (TT).


--Không thể để kéo dài chảy máu tài nguyên (Thiennhien).
Vừa được “phong” là kỳ quan, vịnh Hạ Long đã tăng gấp đôi phí tham quan (Petrotimes).  
-Đứt gãy ở Quảng Nam có trước khi xây thủy điện -16g chiều nay (1/12), đoàn công tác của Viện Khoa học công nghệ Việt Nam đã thông báo cho lãnh đạo tỉnh Quảng Nam biết tình hình động đất ở đây chưa quá nguy hiểm và khuyến cáo người dân không nên hoang mang lo sợ.-


Vì sao phải bịt tai khi qua hầm Thủ Thiêm? (Bee).----

Tổng số lượt xem trang