Thứ Năm, ngày 16 tháng 4 năm 2015

Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?

-Đôi điều với Thạc Sĩ Hoàng Việt về bài phỏng vấn trên BBC…-

1/ Về ngôn từ, Quân đội Nhân dân Việt Nam đã « giải phóng » hay « giành quyền kiểm soát » Trường Sa ?

Báo chí trong nước, từ nhiều năm nay, vẫn luôn đăng tải bài viết về kế hoạch « giải phóng » Trường Sa của đại tướng Võ Nguyên Giáp. Năm nay vẫn không ngoại lệ. Theo đó ta biết rằng kế hoạch của Võ Nguyên Giáp « giải phóng Trường Sa » qua văn thư số 990B/TK của ông gởi Võ Chí Công và Chu Huy Mân ngày 4-4-2014. Mọi người có thể kiểm chứng ở các báo mạng Công an Nhân dân, Vnexpress, vietnamnet, doisongphapluat…


Bài phỏng vấn mở đầu bằng câu « Tháng Tư năm nay đánh dấu 40 năm ngày Quân đội Nhân dân Việt Nam mở chiến dịch giành quyền kiểm soát quần đảo Trường Sa và các đảo trên Biển Đông từ tay chính quyền Việt Nam Cộng Hòa. »


Thạc sỹ Hoàng Việt trả lời rằng : « Ngay từ trước đây báo chí đã đưa tin theo hướng là phe ta đã tấn công Việt Nam Cộng hòa và giành quyền kiểm soát Trường Sa. »


Như vậy giữa hai bên : báo chí trong nước, với BBC và TS Việt, đã có sự khác biệt trong việc sử dụng ngôn từ. Báo chí trong nước gọi ngày 4-4-1975 là ngày « giải phóng Trường Sa ». BBC và TS Việt gọi là ngày « phe ta đã tấn công Việt Nam Cộng hòa và giành quyền kiểm soát Trường Sa ».


Người ta gọi hành vi « giải phóng » (một nhóm dân chúng, một vùng lãnh thổ) là hành vi giải thoát nhóm dân chúng (hay vùng lãnh thổ) đó thoát khỏi sự thống trị của ngoại bang (hay sự kềm kẹp của một thế lực bạo tàn phi chính thống). Từ « giải phóng » là một ngôn từ chính trị, phân biệt rạch ròi địch - ta, chính – ngụy. Hành động « giành quyền kiểm soát » chỉ nói lên một cách chung chung sự xung đột (quân sự) của hai phe để tranh giành kiểm soát một vùng lãnh thổ (hay một nhóm dân chúng).

Sự khác biệt về cách sử dụng ngôn từ phản ảnh hai cách nhận thức về một sự việc.


Nhận thức của báo chí trong nước phản ảnh nhận thức chung của chế độ. Nhà nước CSVN hiện nay, sau 40 năm, vẫn còn « hồ hởi » ăn mừng « giải phóng Trường Sa », vẫn còn xem các chiến sĩ VNCH đóng giữ ngoài các đảo TS là « ngụy », một lực lượng « bù nhìn », tay sai cho ngoại bang.

Tôi nghĩ rằng nhận thức này sẽ là một bằng chứng giá trị cho phía Trung Quốc.


Cho rằng VNCH là một thực thể bù nhìn, ngụy, tay sai ngoại bang thì thẩm quyền quốc gia về lãnh thổ của VNCH tại Hoàng Sa, Trường Sa cũng như lãnh thổ miền Nam VN (dưới vĩ tuyến 17) là không có giá trị pháp lý (bất hợp pháp). Những hành vi « tuyên bố chủ quyền », « khẳng định chủ quyền »... của VNCH tại HS và TS sẽ không có giá trị pháp lý và lịch sử.


Tập hồ sơ « Sách trắng » về chủ quyền của VN tại HS và TS (do bộ Ngoại giao xuất bản) do đó phải đặt lại toàn bộ. Trên mọi phương diện, từ lịch sử đến pháp lý, tất cả những gì dính líu với VNCH (trong tập tài liệu đó) đều phải lấy ra hết. Việc kế thừa của VNCH ở các vùng lãnh thổ HS và TS từ các nhà nước phong kiến và nhà nước bảo hộ Pháp, cũng sẽ không còn ý nghĩa trước pháp luật.


Như vậy hồ sơ chủ quyền của VN tại HS và TS, lịch sử và pháp lý, sẽ là con số không to lớn, phải không ?


Nhận thức của BBC và TS Việt như thế là « phi chính thống », đi ngược với cách nhận thức của nhà nước CSVN từ mấy mươi năm nay.


TS Việt cho đó là nhận thức của phe « cấp tiến » và phe này « đang ngày càng xuất hiện nhiều hơn ».


Thực tình tôi cũng hy vọng như vậy. Vì nếu nhà nước CSVN tiếp tục nhận thức VNCH là « ngụy », hành vi tiếp quản TS là « giải phóng TS », thì cuộc chiến pháp lý giữa VN và TQ nếu có xảy ra, VN sẽ không có cách nào để thắng.


2/ Về nguyên nhân mất Hoàng Sa. TS Hoàng Việt nói : « Cái bất lợi là Việt Nam giữ được Trường Sa, nhưng đánh mất ở Hoàng Sa năm 1974, gây khó khăn cho việc đòi lại… Tôi không muốn đổ lỗi cho bên nào, nhưng thực tế là Hoàng Sa đã bị mất khi đang nằm dưới sự kiểm soát của Việt Nam Cộng hòa năm 1974. »


Mặc dầu rào trước đón sau « không muốn đổ lỗi cho bên nào », nhưng ai cũng thấy TS Việt có ý cho rằng vì VNCH làm mất HS nên mới « gây khó khăn cho việc đòi lại ».


Theo tôi thì từ 1975 đến nay, nhà nước CSVN chưa bao giờ có thiện chí, hay biểu lộ ý chí muốn đòi lại Hoàng Sa.


Việc « đòi » lại một vùng lãnh thổ chỉ có thể thực hiện qua hai phương diện : pháp lý và sử dụng vũ lực. Mặc dầu từ trước đến nay có nhiều ý kiến của học giả VN khuyến cáo nhà nước kiện TQ trước Tòa quốc tế. Nhà nước vẫn thủ khẩu như bình, án binh bất động.


Vụ TQ đặt giàn khoan 981 hồi tháng 5 năm ngoái mở ra một cơ hội bằng vàng để VN đặt lại vấn đề Hoàng Sa (đã đông lạnh từ 4 thập niên) với TQ. VN có đủ lý cớ để kiện. Nhà nước CSVN đã không nắm lấy cơ hội đó. Sự im lặng đến mức « vang dội » của nhà nước VN đã khuyến khích cho TQ bước thêm những bước quan trọng khác ở các đảo đá (mà họ chiếm của VN năm 1988). Các đảo đá này đã và đang được TQ ráo riết bồi đắp. Không bao lâu nữa chúng trở thành những đảo nhân tạo có khả năng đặt các căn cứ quân sự như phi trường và hải cảng.


Khó khăn luôn hiện hữu trong mọi vấn đề quốc gia. Để giải quyết ta phải nhận diện được các « khó khăn » đó đến từ đâu ?


Một số hành vi đem lại « khó khăn » cho nhà nước VN ghi lại dưới đây, trong chừng mực làm cho VN hôm nay mất đi tư cách để đòi HS (và các vấn đề tranh chấp chủ quyền TS và hải phận biển Đông) trước một trọng tài quốc tế.


Công hàm 1958 của ông Phạm Văn Đồng (mặc nhiên) nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS.


Thái độ « im lặng » của VNDCCH vào tháng giêng năm 1974, khi TQ sử dụng vũ lực chiếm HS.


Nhà nước VNDCCH phản đối đề nghị của phía VNCH hai bên cùng ký tên vào bản kiến nghị phản đối hành vi xâm lược Hoàng Sa của TQ lên LHQ.


Khi một thế lực ngoại bang xâm lăng vào lãnh thổ của mình, dĩ nhiên mình phải lên tiếng phản đối, phải không ? VNDCCH đã không làm điều đó. Điều này được xem là một bằng chứng chứng minh Hoàng Sa không thuộc chủ quyền của VN (theo quan điểm của VNDCCH).


Từ sau Thế chiến II, hành vi chiếm hữu một lãnh thổ bằng vũ lực bị cộng đồng quốc tế nghiêm cấm. Trong vụ Hoàng Sa, Liên Xô đã mạnh mẽ lên án hành vi của TQ tại LHQ, cũng như hầu hết các nước trong thế gới tự do (và nhiều nước trong khối XHCN).


Thái độ « im lặng » của nhà nước VNDCCH được tập quán quốc tế xem như là sự « đồng thuận » của nhà nước này về các hành vi của TQ. Nhà nước VNDCCH nhìn nhận những hành vi của TQ tại HS là chính đáng.


Những « khó khăn » (khiến nhà nước VN hôm nay mất tư cách đòi HS) là do VNDCCH và CHXHCNVN làm ra, chứ đâu phải do VNCH ?


VNCH đâu có xúi ông Phạm Văn Đồng viết công hàm 1958 nhìn nhận chủ quyền của TQ tại HS và TS ? Thái độ « im lặng » của VNDCCH là tự nguyện, chứ đâu do áp lực của VNCH ?


Khó khăn đòi lại Hoàng Sa là do nhà nước các nhà nước VN (hiện thời và tiền nhiệm) đã đánh mất tư cách của mình. Điều này lý ra TS Việt phải hiểu biết hơn tôi mới phải.


Về việc VNCH thua trận, để mất Hoàng Sa vào tay TQ. Ta không thể không nói tới bối cảnh « lịch sử » lúc đó.


Năm 1973 Hiệp định Paris được ký kết, mở đường cho « đồng minh tháo chạy ». Một điều khoản quan trọng của Hiệp định Paris (nhắc lại điều khoản Hiệp định Genève 1954) là nhìn nhận VN là một nước độc lập, thống nhứt ba miền, toàn vẹn lãnh thổ. Từ điều khoản này, tất cả những gì xảy ra tại VN, sau khi Hiệp Định Paris ký kết, sẽ là vấn đề « nội bộ » của VN và Mỹ (sẽ không có tư cách) để can thiệp. Cuộc chiến Hoàng Sa vì vậy không còn liên quan đến người Mỹ nữa.


Trong khi tình hình chiến sự vẫn không giảm áp lực. Các bên (VNCH, MTGPMN và VNDCCH) đổ lỗi cho nhau phía bên kia vi phạm lệnh ngưng bắn. VNCH tứ đầu thọ địch. Mức viện trợ của HK hứa cho VN bỗng trở nên « nhỏ giọt ». Lại còn thêm khủng hoảng dầu lửa thời đó, giá dầu tăng đột ngột gấp hai, ba lần.


Trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng, kinh tế kiệt quệ, một mình phải chiến đấu với ba bốn kẻ thù hung hãn, trong khi đồng minh đã « bội ước » chạy làng. Hải quân VNCH trong trận Hoàng Sa như vậy là «hiên ngang » lắm (so với hải quân QDNDVN năm 1988 tại TS), phải không ?.


Phải chi lúc đó (tháng giêng năm 1974), cả hai phía VNCH và VNDCCH cùng đánh lại quân xâm lược, hay ít nhứt VNDCCH cùng ký kiến nghị với VNCH phản đối hành vi xâm lăng Hoàng Sa của TQ thì bây giờ đâu đến đỗi hả miệng mắc quai, phải không TS Hoàng Việt ?


Vì vậy đổ lỗi việc mất Hoàng Sa cho một mình VNCH gánh chịu, theo tôi, là bất công với lịch sử ghê lắm.


3/ TS Hoàng Việt nói : « Một số học giả đã tranh luận rằng nên công nhận Việt Nam Cộng hòa là một quốc gia và điều này sẽ có lợi cho việc tiếp quản, thừa kế chủ quyền quốc gia trong vấn đề giải quyết tranh chấp ở Hoàng Sa Trường Sa hiện nay. »


« Một số học giả » mà TS Việt nói là các học giả thuộc nhóm « Quĩ Nghiên cứu Biển Đông » mà TS Việt là thành viên. Ý kiến « nhìn nhận VNCH là một quốc gia » đã từng đăng trên BBC (và nhiều trang thông tin khác trong và ngoài nước). Tôi là người (duy nhứt, hình như vậy) từ trước đến nay lên tiếng chống lại quan điểm này. Tuy nhiên, BBC cũng như các trang khác, chỉ đăng tải ý kiến một chiều, do đó không có việc « rộng đường đường dư luận ». Hy vọng là cơ hội đối thoại lần này các cơ quan truyền thông « chơi đẹp » một chút. Nghe người này nói qua thì cũng nên nghe người kia nói lại.


Thứ nhứt, quí vị học giả giải thích giùm, bằng thủ tục (pháp lý) nào ta có thể « nhìn nhận » VNCH là (hay đã là) một « quốc gia » khi thực thể này đã không còn hiện hữu ?


Thứ hai, quí học giả thử tưởng tượng hôm nay Trung Quốc nhìn nhận Đài Loan là « quốc gia ». Lục địa và Đài Loan là hai vùng lãnh thổ của một quốc gia bị phân chia, tương tự như hai bên VNCH và VNDCCH trước 1975. Cả hai bên cùng nhìn nhận dân tộc TQ (VN) là một, TQ (VN) là « quốc gia duy nhứt ». Mỗi bên được một số nước (tương đương) công nhận tại LHQ. Việc lục địa nhìn nhận Đài loan « là một quốc gia » là điều không thể xảy ra, phải không ? Vậy dựa trên cơ sở nào để công nhận VNCH là (hay đã là) một quốc gia ?


Thứ ba, Hiệp định Genève 1954, khải huyền hai miền VNCH và VNDCCH, nhìn nhận VN là một quốc gia độc lập, thống nhứt ba miền và toàn vẹn lãnh thổ. Hiệp định Paris cũng nhắc lại y chang nội dung như vậy. Làm sao các học giả có thể bất chấp các kết ước quốc tế, là nền tảng của quốc tế công pháp, để thực hiện một hành vi thuộc công pháp quốc tế (là nhìn nhận VNCH là một quốc gia) ?


Thứ tư, giả sử việc nhìn nhận VNCH là « quốc gia » không có trở ngại trên vấn đề pháp lý. Thì các học giả làm thế nào để quốc gia VNDCCH « kế thừa » quốc gia VNCH ? Gọi VNCH là « ngụy », làm sao có thể kế thừa cái gì ở « ngụy » ? Người ta có thể « cướp » nó chứ không thể kế thừa.


Thứ năm, giả sử CHXHCNVN hiện nay « kế thừa » di sản VNCH không gặp khó khăn về pháp lý. Vấn đề là nhà nước CHXHCNVN hôm nay là quốc gia « kế tục » quốc gia VNDCCH. Nhà nước VN hôm nay phải có nghĩa vụ về những hành vi (pháp lý) của VNDCCH thể hiện trong quá khứ. Các học giả thử giải thích làm thế nào để một quốc gia có thể kế thừa cùng lúc hai lập trường đối nghịch về HS và TS ?


Vì vậy tôi cho rằng lập luận này của nhóm Quĩ Nghiên cứu Biển Đông (mà TS Việt là thành viên) sẽ đưa VN vào bế tắt. Đây là tình trạng của VN hiện thời.


Ý kiến của tôi về vấn đề Biển Đông và chủ quyền các quần đảo HS và TS (từ hơn thập niên nay) rất đơn giản : Hòa giải dân tộc VN và lập trường VN là một quốc gia duy nhứt.


Hòa giải dân tộc để nhà nước VN hôm nay có thể kế thừa di sản của VNCH. Vì chỉ đứng trên danh nghĩa của VNCH thì nhà nước VN hôm nay mới có tư cách nói về chủ quyền ở HS và TS.


Khẳng định lập trường VN là một quốc gia duy nhứt, theo tinh thần các hiệp ước nền tảng (Hiệp định Genève 1954 và Paris 1973). Theo đó VN là một quốc gia độc lập (độc lập còn có nghĩa là có chủ quyền), thống nhứt ba miền và toàn vẹn lãnh thổ. Trên tinh thần này, tất cả những hành vi, những tuyên bố của một bên, nếu đi ngược lại tinh thần hai hiệp định, đe dọa, hay làm tổn hại đến sự toàn vẹn lãnh thổ của VN... thì chúng không có giá trị.


Công hàm 1958 đơn thuần bị hóa giải. Tưng tự như các hành vi hay thái độ của VNDCCH trước kia về chủ quyền của VN tại HS và TS.



Vì vậy, cốt lõi của vấn đề là « hòa giải dân tộc ». Đến nay vẫn gọi VNCH là « ngụy » việc đòi lại HS, cũng như bảo vệ TS cùng với hải phận của VN... xem ra còn khó hơn lên trời.



-Suy nghĩ của giới trẻ trong nước về Việt Nam Cộng hòa
Tượng Thương Tiếc ở nghĩa trang Biên Hòa bị giật sập

Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt tròn 40 năm. Cho đến nay những ký ức và hậu quả của cuộc chiến đó vẫn chưa phai nhòa. Giới trẻ trong nước và hải ngoại có cái nhìn thế nào về câu chuyện lịch sử đau thương này và suy nghĩ của họ về sự hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc trong hiện tại và tương lai ? Đó chính là những điều mà tạp chí diễn đàn bạn trẻ mong muốn được truyền tải đến các bạn cho đến hết ngày 30/4/ 2015.


Và trong kỳ này, mời quý vị cùng đến với những suy nghĩ của giới trẻ trong nước về Việt Nam Cộng Hòa. Cùng với ba bạn khách mời Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc.

Chân Như: Khi còn đi học, các bạn được dạy những gì về Việt Nam Cộng hòa ? Cho đến nay, các bạn có suy nghĩ gì về những thứ được dạy đó ?

Phương Dung: Khi còn đi học thì ở trường họ dạy em chế độ VNCH là bán nước theo Mỹ Ngụy. Họ bảo chế độ ông Ngô Đình Diệm là dã man man rợ là lê máy chém đi khắp miền Nam, chém giết rất nhiều người Việt. Cho đến khi em lên mạng đọc thông tin biết được sự thật thì cảm thấy thất vọng và không hiểu tại sao họ lại có thể lừa dối lịch sử như vậy. Sau quá trình tìm hiểu thì em thấy chế độ VNCH không như những gì mà em đã từng học trong sách vở, có nhiều điều em không được học trong sách em thấy hơi bị thất vọng.

Minh Phúc: Hồi xưa em rất thích học môn lịch sử vì bản thân mình là người yêu nước nên rất yêu những gì đất nước đã từng làm được. Theo những gì em nhớ trong đầu, hồi xưa, phần lịch sử họ dạy tất cả những ngày lễ trong năm như 30-4 hay 2-9.... Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ, là chính quyền bù nhìn. Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc Việt Nam nữa.


Họ cho học sinh nghe lại vấn đề như: chính quyền miền Nam ngày xưa là chính quyền Mỹ ngụy, làm tay sai bán nước cho Mỹ...Sau khi tìm hiểu từ internet và những người xung quanh cũng như bạn bè thì em biết VNCH thực sự là một đất nước chủ thể; Một đất nước còn dân chủ hơn cả ngoài Bắc VN

Minh Phúc

Lê Đông: Cho đến ngày hôm nay, dù em sinh sau 1975 hoàn toàn không biết gì về VNCH nhưng em đủ lớn để nhận thức được những gì xảy ra với xã hội VN mình đang sống dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN. Đặc biệt với hệ thống giáo dục, truyền thông và báo chí khiến em suy nghĩ và cảm thấy thật kinh khủng khi đảng CSVN đã vận dụng triệt để lối tuyên truyền là tất cả người dân Việt Nam hãy yêu, hãy sống cống hiến cho đảng, cho lý tưởng Hồ Chí Minh từ mọi cấp bậc kể cả mẫu giáo. Và song song với nó là những gì đi ngược lại với những tuyên truyền đó là phản động là kẻ thù. Có thể nói mọi sách báo truyền thông hay những kiến thức mà em được nghe, đọc, và học thì chế độ VNCH là một chế độ tay sai của Mỹ, là chế độ phản động của mọi thời đại, là chế độ của những con người tàn bạo độc ác như giết dân, ăn thịt dân, giống như những con quỷ khát máu. Và dân tộc Việt Nam nhờ chính nghĩa là ĐCSVN với ánh sáng HCM soi rọi đã tiêu diệt những con quỷ VNCH để bắt thế hệ sau phải nhớ công lao to lớn mà ra sức phục vụ cho chế độ ĐCSVN này. Chính vì cái lối tuyên truyền giáo dục đó đã hằn sâu vào rất nhiều thế hệ về sự độc ác của chế độ VNCH. Có những sự kiện không đúng và không thật.

Chân Như: Cho đến nay, quan điểm, suy nghĩ của bạn về Việt Nam Cộng hòa có thay đổi gì hay không ? Nếu có thay đổi, thì do đâu ?

Minh Phúc: Ngày xưa ở trường hoặc trên TV hoặc trên báo người ta cũng miệt thị về VNCH. Em nghe vậy thôi cũng không phản ứng nhiều. Khi em học cấp 1, cấp 2 mỗi năm được trường dẫn đi thăm những viện bảo tàng chiến tranh rồi bảo tàng HCM cũng đều nêu những tội ác của Mỹ ngụy hồi xưa. Nói chung mình cảm thấy hơi kỳ kỳ tại vì sao chỉ đưa có 1 bên mình- phải nghe hết 2 bên. Hồi xưa suy luận của em là vậy. Cũng nhờ tìm hiểu trên internet cái suy nghĩ nó thay đổi hơn. Nói chung em không miệt thị bên CS nhưng thật sự khi biết được sự thật mình cảm thấy bị shock tại vì bất cứ ai cũng vậy đều ghét cái sự dối trá, mình rất là tức, nhiều lúc xem lại tin tức ngày xưa mình hơi bị tức cực đỉnh luôn.

Phương Dung: Lúc nhỏ khi em đọc những thông tin về VNCH về chế độ ngày xưa, khi nghe tuyên truyền như vậy thật sự lúc đó còn nhỏ chưa hiểu biết được nhiều, khi nghe như thế cũng hơi bức xúc- Tại sao người Việt với người việt mà chế độ VNCH họ lại ác như vậy, họ lại hành xử với nhau như vậy. Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật. Đến nay suy nghĩ của em về VNCH đã thay đổi rất nhiều. Đối với em VNCH cũng là 1 quốc gia cũng là người Việt, những người lính VNCH xưa, những người yêu nước. Họ sống theo lý tưởng của riêng họ cũng giống như những người cộng sản sống theo lý tưởng riêng của người cộng sản. Chỉ có khác là mỗi chế độ và lý tưởng ở 2 miền khác nhau dẫn đến nội chiến 2 miền, mà người ta thường hay gọi là cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Đối với em cuộc chiến giữa VNCH và phe cộng sản Bắc việt là 1 cuộc chiến giữa 2 lý tưởng khác nhau chứ ko phải chiến tranh cứu nước như họ tuyên truyền gì cả. Em có những thay đổi nhận thức này là do sự tìm hiểu trên internet.


Sau khi em tìm hiểu trên internet thì em biết được sự thật thì em cũng cảm thấy rất tức, vì mình bị dối trá. Bản thân em, em cũng rất ghét những điều dối trá và em đều mong muốn là những gì mình học trong lịch sử đều là sự thật

Phương Dung

Lê Đông: Cũng như hai bạn thôi em cũng có những thay đổi khá nhiều. Dĩ nhiên, sự thay đổi này bắt nguồn từ nhiều nguyên nhân như nhờ internet, nhờ tiếp xúc với những con người VNCH hiện tại trong nước. Và đặc biệt nữa là hiện tình đất nước của VN ngày hôm nay dưới sự lãnh đạo của ĐCSVN có sự nhiễu nhương, có gì đó bất ổn nên đã khiến em suy nghĩ rất nhiều về những chính sách và đường lối của ĐCS. Dưới con mắt em thì VNCH không như ĐCSVN tuyên truyền ngày trước. Họ cũng là một chính thể được công nhận rõ ràng. Và họ cũng không phải là độc ác ăn thịt dân như những gì sách báo hay những bịa đặt mà em học trước kia. Trong chính thể hiện tại thì họ là kẻ thất bại nên bị những kẻ chiến thắng đã vẽ đen. Do vậy, họ là nạn nhân và họ đáng cần được cái nhìn khách quan, trung thực hơn trong thời đại công nghệ internet ngày nay.

Chân Như: Các bạn đã bao giờ thử so sánh Việt Nam Cộng hòa với Chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ngoài Bắc trước 1975 và CHXHCN Việt Nam ngày nay hay chưa ?Nếu rồi thì các bạn thấy sự khác nhau thế nào ?

Lê Đông: Nếu đặt thời điểm hiện tại của chính quyền DCCH thì nó khác rất nhiều. Đơn cử như miền Nam trước năm 75 dưới chế độ của VNCH có một nền kinh tế, khoa học, giáo dục rất phát triển. Và em thấy mơ ước của chính quyền hiện tại đang muốn có đó là giáo dục được miễn phí, y tế được miễn phí; Những thành quả, những tài năng của mình được phục vụ một cách xứng đáng. Ngay từ thời điểm đó thì VNCH đã xây dựng lên một miền Nam đáng tự hào, thì đến ngày hôm nay phải nói rằng rất đáng khen và rất tự hào hơn những gì mà CHXHCN ngày nay làm và đang vẽ xấu họ (VNCH).

Minh Phúc: Nhiều lần em cũng có thử so sánh giữa chính quyền VNDCCH ngoài Bắc trước 1975 với CNXHVN ngày nay với VNCH cũng như lúc nãy bạn Đông có nói. Ngày xưa chính bà nội em, ông nội, ông ngoại cũng đã từng nói ngày xưa học sinh đi học không bị đóng tiền, nhiều khi được phát sữa uống mỗi sáng. Nhiều khi nhà một người đi làm là đủ nuôi cả nhà. Bây giờ thật sự (mà nói em mà có nói gian nữa lời thì xách súng bắn em cũng được. Em thề vậy luôn) cả gia đình 3 người đi làm hết mà có nhiều người không đủ ăn. Rồi xã hội ngày nay không chú ý đến đạo đức của con người, đạo đức đi xuống rất trầm trọng. Đơn giản thôi, cái gì cũng tiền hết. Mình vô bệnh viện khám bệnh hoặc là mình cấp cứu mà không có tiền, lạng quạng chết như chơi. Cách đây vài năm em bị tai nạn giao thông vô bệnh viện gia đình chưa đóng tiền kịp mình nằm đau đớn đợi cũng lâu, khi đóng tiền xong phải đút túi luồng tay này nọ. Bây giờ đi mua bán xe hay mua bán nhà đất cái giống gì cũng tiền với tiền. Họ không chú trọng cái tình người hay đạo đức như hồi xưa. Em bây giờ chỉ ước muốn cái đạo đức con người VN nó đỡ hơn bây giờ là em cũng cảm thấy mừng. Cũng như ông Lý Quang Diệu, thủ tướng Singapore hồi trước cũng chỉ mong là biết bao giờ Singapore mới bằng được VNCH của mình ngày xưa vậy thôi.

Phương Dung: Em chỉ có thể so sánh chiến tranh giữa VNCH và chính quyền VNDCCH ngày xưa cũng giống như chiến tranh giữa Bắc Hàn và Nam Hàn ngày xưa thôi. Một bên là theo chế độ chủ nghĩa tư bản có đồng minh là Mỹ và các quốc gia phương Tây. Một bên là theo chủ nghĩa cộng sản. Một bên thì giàu có, phát triển dân chủ tự do. Một bên là chịu sự tuyên truyền của nhà nước nghèo đói và lạc hậu.

Chân Như: Chiến tranh Việt Nam đã chấm dứt được 40 năm, các bạn có suy nghĩ gì về những người lính quân lực Việt Nam Cộng hòa khi xưa, đặc biệt là những người lính đã ngã xuống để bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 ?

Phương Dung: Em nghĩ những người lính VNCH xưa cũng là những người yêu nước. Họ chiến đấu hết mình để bảo vệ lãnh thổ và lý tưởng của họ. Em thấy thật bất công khi người ta lại nói lính VNCH là ngụy, là bán nước trong khi họ cũng là những anh hùng thật sự trong cuộc chiến bảo vệ đất nước giống như cuộc chiến bảo vệ Hoàng Sa năm 1974 chẳng hạn.


Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống

Minh Phúc

Lê Đông: Đối với em không riêng những người lính đã ngã xuống vì Hoàng Sa hay bất cứ ngã xuống vì một công cụôc bảo vệ tố quốc. Những con người đó phải được tri ân và ghi danh. Nhưng thực tế chế độ hiện tại đã không công bằng với những người lính VNCH. Ngay cả buổi tưởng niệm về họ nằm xuống vì Hoàng Sa năm 1974 hầu như ở trong nước đều cho là nhạy cảm và không được phép vinh danh. May mắn là sau những mâu thuẫn căng thẳng trên biển đông giữa VN và TQ và sự phát triển của internet, trong nước đã có những con người cổ vũ cho một nền dân chủ trong nước hơn thì họ đã phần nào đã tri ân những con người VNCH này và chế độ hiện tại cũng nới lỏng một phần nào để công bằng với họ hơn.

Minh Phúc: em cũng xin tóm tắt lại ý của em. Những người lính VNCH khi xưa đơn giản họ cũng chỉ là con người VN bình thường. Họ ra đi vì lý tưởng thiêng liêng cao cả của tổ quốc lúc đó. Em cũng xin nói thêm ở Bình An, Bình Dương có một nghĩa trang gọi là nghĩa trang nhân dân xã Bình An khi xưa là nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Em cũng biết cách đây khoảng trừng 1-2 năm gì đó đại sứ quán Mỹ có xuống họ cũng có chỉnh sửa này nọ. Thật sự đừng nhìn những gì họ làm hào nhoáng bên ngoài, họ sửa chữa bên ngoài thôi còn phía bên trong có nhiều ngôi mộ phải nói là đã mất bia, rồi khi mưa xuống phần mộ của người lính VNCH muốn trôi đi hết. Thỉnh thoảng, em cũng một năm vô 1-2 lần để em thăm viếng đốt nhang cho họ. Bất cứ người lính bên nào cũng vậy cần được nhớ, cần được tri ân. Cũng như một câu hát ngày xưa của nhạc sĩ Trịnh Nam Ngân “rồi anh sẽ dìu em tìm thăm mộ bia kín trong nghĩa địa buồn, bạn anh đó đang say ngủ yên, xin cám ơn, xin cám ơn người nằm xuống.

Xin cám ơn ba bạn Phương Dung, Lê Đông và Minh Phúc đã tham gia chia sẻ.
-

Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?
Những định nghĩa pháp lý cho các chính thể Việt trong cuộc chiến chấm dứt ngày 30/4/1975 có vai trò quan trọng cho lập luận của Việt Nam về chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Sự quan trọng này không chỉ vì công hàm 1958 của Thủ tướng Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) Phạm Văn Đồng, mà còn vì Hà Nội đã không khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ năm 1954 đến 1975-1976.


Quốc gia duy trì chủ quyền

Các bài liên quan

TPP hay khúc quanh Việt - Mỹ?
Đối thoại an ninh biển Nhật-Việt
TQ từng xóa lời chống Mỹ của Bắc Việt?
    Trong phán quyết năm 2008 về tranh chấp cụm đảo Pedra Branca giữa Malaysia và Singapore, Tòa án Công lý Quốc tế cho rằng ban đầu Malaysia có chủ quyền đối với đảo Pedra Branca.
    Tòa nói công hàm 1953 của Johor, nay là một tiểu bang của Malaysia, trả lời Singapore rằng Johor không đòi chủ quyền trên đảo này, không có hệ quả pháp lý mang tính quyết định và không có tính chất ràng buộc cho Johor.
    Nhưng Tòa lại dựa vào việc trước và sau đó Johor và Malaysia không khẳng định chủ quyền và dùng công hàm 1953 của Johor như một trong những chứng cớ quan trọng cho việc Malaysia không đòi chủ quyền, để kết luận rằng tới năm 1980 chủ quyền đã rơi vào tay Singapore.
    Bài học cho Việt Nam là: bất kể ban đầu Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam, và dù cho chúng ta có biện luận thành công rằng công hàm của Thủ tướng VNDCCH Phạm Văn Đồng không có tính ràng buộc về hai quần đảo này đi nữa, việc VNDCCH không khẳng định chủ quyền trong hơn 20 năm, trong khi các quốc gia khác làm điều đó, có khả năng sẽ làm cho VNDCCH không còn cơ sở để đòi chủ quyền nữa.
    Vì vậy, trong lập luận pháp lý của Việt Nam phải có sự khẳng định chủ quyền đối với hai quần đảo này từ một chính phủ khác, lúc đó là đại diện hợp pháp cho một quốc gia Việt nào đó.
    Trên lý thuyết, nếu chứng minh được từ năm 1954 đến 1975 chỉ có một quốc gia, và chính phủ Việt Nam Cộng Hòa (VNCH) là đại diện hợp pháp duy nhất của quốc gia đó, thì điều đó cũng đủ là cơ sở cho lập luận pháp lý của Việt Nam về Hoàng Sa, Trường Sa.
    Trên thực tế, thứ nhất, chưa chắc chúng ta sẽ chứng minh được điều đó; thứ nhì, chính phủ Việt Nam ngày nay sẽ khó chấp nhận một chiến lược pháp lý dựa trên giả thuyết này.
    Vì vậy, chiến lược khả thi hơn cho lập luận pháp lý của Việt Nam cần dựa trên điểm then chốt là từ năm 1958 đến 1976 có hai quốc gia khác nhau trên đất nước Việt Nam.
    Phân tích này sử dụng ba khái niệm sau.
    Đất nước, là một khái niệm địa lý, bao gồm một vùng lãnh thổ với dân cư. Chính phủ, là cơ quan hành pháp và đại diện. Quốc gia (trong bài này từ “quốc gia” được dùng với nghĩa State/État), là một chủ thể chính trị và pháp lý.
    Trong Công ước Montevideo 1933, một quốc gia phải có lãnh thổ, dân cư, chính phủ, và khả năng có quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác.
    Thực chất, trong công pháp quốc tế chỉ có định nghĩa quốc gia như một chủ thể có năng lực pháp lý và năng lực hành vi (tức là có các quyền và nghĩa vụ phát sinh trực tiếp từ luật quốc tế) và chính phủ là thành phần của chủ thể đó, chứ không có khái niệm đất nước.
    Một lãnh thổ - hai quốc gia Hiệp định Genève 1954 chia đôi Việt Nam thành hai vùng tập kết quân sự. Mặc dù không chia Việt Nam thành hai quốc gia, Hiệp định đã tạo ra một ranh giới tại vĩ tuyến 17 giữa hai chính phủ đang tranh giành quyền lực, và ranh giới đó đã tạo điều kiện cho sự hiện hữu của hai quốc gia.
    Việc VNCH không chấp nhận thực hiện tổng tuyển cử vào năm 1956 đã làm cho ranh giới đó trở thành vô hạn định.

    Một cơ sở của Trung Quốc ở quần đảo Trường Sa mà họ gọi là Nam Sa
    Sự hiện hữu của hai chính phủ hai bên một ranh giới vô hạn định ngày càng củng cố sự hình thành và hiện hữu trên thực tế của hai quốc gia trên lãnh thổ đó.
    Điều có thể gây nghi vấn về sự hiện hữu của hai quốc gia là hiến pháp của VNDCCH và VNCH có vẻ như mâu thuẫn với sự hiện hữu đó.
    Tới năm 1956, Hiến Pháp VNDCCH viết “Đất nước Việt Nam là một khối thống nhất Trung Nam Bắc không thể phân chia”, và Hiến Pháp VNCH viết “Ý thức rằng Hiến pháp phải thực hiện nguyện vọng của nhân dân, từ Mũi Cà Mâu đến Ải Nam Quan” và “Việt Nam là một nước Cộng hòa, Độc lập, Thống nhất, lãnh thổ bất khả phân.”
    Nhưng sự mâu thuẫn đó không có nghĩa không thể có hai quốc gia.
    Hiến pháp của Bắc Triều Tiên viết Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Triều Tiên là đại diện cho dân tộc Cao Ly, hiến pháp của Nam Hàn viết lãnh thổ của Đại Hàn Dân Quốc là bán đảo Cao Ly và các hải đảo, nhưng Bắc Triều Tiên và Nam Hàn vẫn là hai quốc gia.
    Như vậy, có thể cho rằng từ năm 1956 hay sớm hơn đã có hai quốc gia, trên lãnh thổ Việt Nam, với vĩ tuyến 17 là biên giới trên thực tế giữa hai quốc gia đó.
    Việc có hai quốc gia là cơ sở để cho rằng VNCH có thẩm quyền để khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa; VNDCCH không có thẩm quyền lãnh thổ gì đối với hai quần đảo đó.
    Khi Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CPCMLT) ra đời ngày 8/6/1969, có thể cho rằng trong quốc gia với tên VNCH, về mặt pháp lý, có hai chính phủ cạnh tranh quyền lực với nhau: chính phủ VNCH và CPCMLT.
    Khi VNDCCH công nhận CPCMLT là đại diện hợp pháp cho phía nam vĩ tuyến 17 thì có nghĩa VNDCCH công nhận trên diện pháp lý rằng phía nam vĩ tuyến 17 là một quốc gia khác.
    Nhưng tới năm 1969 CPCMLT mới ra đời, và cho tới năm 1974 mới có một tuyên bố chung chung về các nước liên quan cần xem xét vấn đề biên giới lãnh thổ trên tinh thần bình đẳng, vv, và phải giải quyết bằng thương lượng.
    Vì vậy, nếu chỉ công nhận CPCMLT thì cũng không đủ cho việc khẳng định chủ quyền đối với Hoàng Sa, Trường Sa từ thập niên 1950.

    Quá trình thống nhất

    Ngày 30/4/75, VNCH sụp đổ, còn lại duy nhất CPCMLT trong quốc gia phía nam vĩ tuyến 17. CPCMLT đổi tên quốc gia đó thành Cộng Hòa Miền Nam Việt Nam (CHMNVN), nhưng đó chỉ là sự thay đổi chính phủ và đổi tên, không phải là sự ra đời của một quốc gia mới.

    Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia có chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa
    Năm 1976, trên diện pháp lý, hai quốc gia trên thống nhất lại thành một, và từ đó Việt Nam lại là một quốc gia với một chính phủ trên một đất nước (lãnh thổ).
    Sự thống nhất này đã không bị Liên Hiệp Quốc hay quốc gia nào lên tiếng phản đối.
    Năm 1977, Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam được chấp nhận tham gia Liên Hiệp Quốc.
    CHXHCNVN kế thừa vai trò của hai quốc gia VNDCCH và VNCH/CHMNVN trong các hiệp định và các tổ chức quốc tế, kế thừa lãnh thổ và thềm lục địa của VNCH/CHMNVN trong các tranh chấp với Campuchia, Thái Lan, Malaysia và Indonesia, và mặc nhiên có quyền kế thừa Hoàng Sa, Trường Sa từ VNCH/CHMNVN.
    Lịch sử pháp lý trên nghe có vẻ sách vở, nhưng thực tế của nó là bom đạn, xương máu, và nhiều cảnh huynh đệ tương tàn.
    Mặc dù lịch sử pháp lý đó đã kết thúc bằng một quốc gia trên đất nước (lãnh thổ) Việt Nam thống nhất, nó là một cuộc bể dâu làm đổ nhiều xương máu.
    Nhưng quá khứ thì không ai thay đổi được, và tương lai thì không ai nên muốn đất nước Việt Nam lại bị chia đôi thành hai quốc gia lần nữa.
    Cuộc bể dâu đó cũng đã góp phần làm cho Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm đóng, và để lại cho Trung Quốc một lập luận lợi hại, rằng trước 1975 Việt Nam không tuyên bố chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, và đã công nhận chủ quyền Trung Quốc trên hai quần đảo này.
    Nhưng việc đã từng có hai quốc gia trên một đất nước (lãnh thổ) Việt Nam trong giai đoạn 1956 đến 1976, và việc, vào năm 1976, hai quốc gia đó thống nhất thành một một cách hợp pháp, là một yếu tố quan trọng trong lập luận về Hoàng Sa, Trường Sa.
    Ngày nay, chính phủ Việt Nam một mặt viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa về Hoàng Sa, Trường Sa, nhưng mặt kia vẫn e ngại việc công nhận cụ thể và rộng rãi rằng Việt Nam Cộng Hòa từng là một quốc gia, mặc dù trong quá khứ Hà Nội đã công nhận rằng Cộng hòa miền Nam Việt Nam là một quốc gia.
    Việc không công nhận cụ thể và rộng rãi rằng VNCH đã từng là một quốc gia làm giảm đi tính thuyết phục của việc viện dẫn các tuyên bố và hành động chủ quyền của VNCH về Hoàng Sa, Trường Sa, vì các tuyên bố và hành động chủ quyền phải là của một quốc gia thì mới có giá trị pháp lý.
    Vì vậy, chính phủ Việt Nam cần phải bỏ sự e ngại này.
    Mặt khác, Việt Nam cũng cần phải hạn chế tối đa những gì Trung Quốc có thể lợi dụng để tuyên truyền rằng CHXHCNVN ngày nay chỉ là VNDCCH, chẳng hạn như không nên đổi tên nước thành VNDCCH.
    Bài viết thể hiện quan điểm riêng của Dương Danh Huy, Phạm Thanh Vân và Nguyễn Thái Linh từ Quỹ Nghiên cứu Biển Đông. Các tác giả cảm ơn GS Phạm Quang Tuấn đã góp ý cho bài.
    Công nhận VNCH vì biển đảo ngày nay?

    *************
    -China News: "Nhật Bản có kế hoạch cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam"

    (GDVN) - "Việt Nam-Nhật Bản có kế hoạch tổ chức tham vấn song phương về an ninh biển vào tháng 5/2013 và Nhật có kế hoạch cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam...".

    Tàu tuần tra của Lực lượng bảo vệ bờ biển Nhật Bản.

    Trang mạng “China News” Trung Quốc vừa có bài viết dẫn nguồn hãng Kyodo Nhật Bản cho biết, nhiều nguồn tin từ Chính phủ Nhật Bản ngày 13/4/2013 cho biết, Chính phủ Nhật Bản và Việt Nam đã đạt được thỏa thuận, tháng 5 tới tại Hà Nội sẽ tổ chức cuộc tham vấn song phương đầu tiên về chủ đề chính là an ninh biển.
    Bài báo cho rằng, đây là những nỗ lực trao đổi chặt chẽ giữa hai nước trong bối cảnh tình hình phức tạp tại khu vực. Quan chức Bộ Ngoại giao Nhật Bản cho biết, Nhật Bản hy vọng thông qua tham vấn biển, tiếp tục tăng cường quan hệ Nhật-Việt.
    Phía Nhật sẽ cử các quan chức thuộc Bộ Ngoại giao và Bộ Quốc phòng tham dự. Dự kiến, Chính phủ hai nước Việt-Nhật sẽ thông qua tham vấn, thống nhất các bước dựa trên phương châm “không cho phép tùy tiện triển khai hoạt động trên biển, căn cứ vào bảo đảm an ninh biển về mặt pháp lý”. Do không thể phủ nhận khả năng xảy ra các trường hợp và tình huống bất trắc, hai bên sẽ còn trao đổi ý kiến về phương thức quản lý khủng hoảng.

    Thủy phi cơ US-2 của Lực lượng Phòng vệ Nhật Bản

    Ngoài ra, phía Nhật Bản cũng đang cân nhắc, có kế hoạch cung cấp tàu tuần tra cho Việt Nam. Trước đây có tin cho biết, Nhật Bản tích cực chào bán thủy phi cơ US-2 cho các nước Đông Nam Á và Ấn Độ, đồng thời triển khai diễn tập liên hợp với các nước này.
    Được biết, năm nay (2013) là tròn 40 năm hai nước Việt-Nhật thiết lập quan hệ ngoại giao. Tháng 1/2013, sau khi thành lập nội các, Thủ tướng Nhật Bản Shinzo Abe đã đi thăm các nước Đông Nam Á và điểm đến nước ngoài đầu tiên của ông là Việt Nam.

    Tàu ngầm diesel AIP lớp Soryu Nhật Bản

    Đông Bình



    Chủ tịch Sang ra thăm đảo Lý Sơn


    - Bạn đọc phát hiện bản đồ ở vườn thú Hà Nội thiếu Hoàng Sa, Trường Sa (GDVN).
    - Hai tàu Hải quân Mỹ sắp đến Việt Nam (TP). - Tàu khu trục Mỹ mang tên lửa dẫn đường đến Việt Nam (DV). - Tàu khu trục Mỹ USS Chung-Hoon tái thăm cảng Đà Nẵng (LĐ). - Việt Nam, Mỹ “trao đổi hải quân” tại Đà Nẵng (VnEco).
    - La Viện lại kêu gào thành lập dân binh, vũ trang tàu cá ra Biển Đông (GDVN).
    - Trung Quốc tập trận ở Tây Thái Bình Dương (PT). - Lật tẩy ‘đòn hiểm’ của Trung Quốc trên Biển Đông (TP).
    - Tàu Trung Quốc bị bắt ở Philippines chở đầy tê tê (TTXVN).
    - Nhật Bản – Đài Loan bắt tay, Trung Quốc nổi đóa (ANTG).
    - Bên trong Triều Tiên: Như không có điều gì xảy ra (PT). - Ai đứng sau sự ‘rắn mặt’ của ông Kim Jong-Un? (TP). - Triều Tiên đã sẵn sàng phóng tên lửa (DV). - NATO cảnh báo Triều Tiên sẽ hành động “khó lường” (TTXVN). - Trung Quốc giúp tên lửa Triều Tiên có thể bắn tới Mỹ?(Infonet). - Mỹ khẳng định sẵn sàng đối thoại với Triều Tiên (VOV). - BBC bị chỉ trích vì chương trình về Triều Tiên (TN).

    Tổng số lượt xem trang