Thứ Năm, ngày 25 tháng 6 năm 2015

Jane Fonda gọi bức hình chụp ở Bắc Việt là một lỗi lầm lớn mà bà sẽ đem xuống tuyền đài

sino-usa
-40 Năm Nhìn Lại Những Khuôn Mặt PHẢN CHIẾN & PHẢN TỈNH Tạp chí Da Màu - by Song Nhị 
I. PHẢN TỈNH MUỘN MÀNG
Năm 1954, sau Hiệp định Geneve ký kết giữa Pháp, Nga sô, Trung cộng và CSBV (Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa) chia đôi đất nước ở vĩ tuyến 17, hơn một triệu người miền Bắc ồ ạt di cư vào Nam tìm tự do và tìm đất sống. Đây là cuộc di cư vĩ đại lần đầu tiên trong lịch sử Việt tộc vào thời cận đại. Hãy khoan nói về cuộc di cư vĩ đại lần thứ hai, với hơn hai triệu người, sau ngày 30-4-1975 mà trong đó có nhiều, rất nhiều người đã từng bỏ xứ ra đi bằng tàu há mồm từ Hà Nội Hải Phòng vào miền Nam Việt Nam năm 1954.

Một cách ví von, người ta cho rằng đó là những cuộc bỏ phiếu bằng chân dành cho chế độ Cộng sản, mà nếu được tự do ra đi công khai, sẽ có hàng chục triệu “lá phiếu” như vậy. Điều đáng nói ở đây là tại sao trước một hiện thực lớn lao như thế mà có không ít những người được cho là trí thức, là có ăn học lại không nhìn ra được thực chất của sự kiện? Họ đa nghi, mù quáng hay vì một một lý do nào đó, nhưng hẳn không phải là vì thiếu kiến thức, bởi vì họ là những người được cho ăn học.
Một thiểu số, không nhiều, nhưng đã tác hại không nhỏ vào sứ mệnh của quân dân miền Nam trong công cuộc chiến đấu bảo vệ cuộc sống yên lành và tự do, nhân phẩm của con người. Những con sâu độc, khi đã nhận tội đồng lõa bán đứng miền Nam cho chủ nghĩa cộng sản, đang phải chịu đựng sự dằn vặt của lương tâm và lịch sử.
Một trong những trí thức lầm lẫn theo Cộng sản vào thời điểm ấy – Lãnh tụ Sinh Viên phản chiến Đoàn Văn Toại đã phát biểu như sau:
Khi cộng sản chiếm miền Bắc Việt Nam năm 1954, hàng triệu người đã lũ lượt di cư vào Nam. Tôi đã tận tai nghe nhiều câu chuyện về sự đau khổ tột cùng của họ. Nhưng cũng như nhiều người miền Nam lúc ấy, tôi đã không tin vào những câu chuyện đó. Cả về sau này, tôi cũng đã không tin về những câu chuyện được kể trong tác phẩm Quần Đảo Ngục Tù (The Gulag Archipelago) của văn hào Nga Solzhenitsyn. Tôi không tin vì cho rằng đó là những luận điệu tuyên truyền chống Cộng.” (ĐVT, Quần đảo ngục tù Việt Nam – The Vietnamese Gulag).
Hình như con người, khi có sẵn một thành kiến nào đó thì họ dễ dàng bị mù quáng, lý trí bị mây mù thành kiến che khuất, dẫn tới những hành động thiếu khôn ngoan.
Có một sự kiện lịch sử, chưa có ai đề cập và gần như đi vào quên lãng, đó là hành động tự vẫn của nhà văn Nhất Linh, tức nhà cách mạng Nguyễn Tường Tam. Ông Nguyễn Tường Tam đã tự tử, mất ngày 7-7-1963 tại Sài Gòn, (sau một cái trát mời hầu tòa) để phản đối chế độ Đệ Nhất Cộng hòa của TT Ngô Đình Diệm “đàn áp Phật Giáo.” Ngày nay, người ta đã nhìn thấy chế độ của TT Ngô Đình Diệm có đàn áp Phật Giáo hay không? Và sự cáo chung của Đệ Nhất Cộng Hòa đã đem đến hậu quả gì nếu không là biến cố 30-4-1975, khi miền Nam rơi vào ách thống trị của tập đoàn Cộng sản bán nước.
Ông Nguyễn Tường Tam là một nhà trí thức, một nhà cách mạng, nhưng vì thành kiến với chế độ của TT Ngô Đình Diệm, ông đã không nhìn ra hậu quả của việc đánh sập chế độ, phá bỏ thế ổn định, gây nên tình trạng hỗn loạn chính trị, xáo trộn đời sống xã hội, tạo lợi thế cho Cộng sản về mặt quân sự. Ông đi tìm cái chết và phủi tay trước trách nhiệm đối với 30 triệu người dân miền Nam lúc ấy, thay vì ông đi tìm một giải pháp và cùng chung vai gánh vác trách nhiệm. Đó là một cái chết mà ngôn ngữ đường phố gọi là lãng nhách, vô ích, không cần thiết cho đại sự.
Chỉ riêng về thời kỳ lịch sử miền Nam Việt Nam 1954-1975, đã xuất hiện khá đông một số trí thức khoa bảng, tu sĩ và tuổi trẻ trong giới sinh viên nổi lên thành những tên tuổi trong các phong trào phản chiến, chống đối chế độ, tiếp tay hoặc đi theo hoạt động cho Cộng sản. Chúng ta còn nhớ những tên tuổi như Lý Chánh Trung, Lý Quý Chung, Hồ Ngọc Nhuận, Kiều Mộng Thu, Ngô Công Đức, Dương Văn Ba, Trần Ngọc Liễng, (bà) Ngô Bá Thành, Ni sư Huỳnh Liên…. những tu sĩ như Trương Bá Cần, Chân Tín, Nguyễn Ngọc Lan, Phan Khắc Từ, và những tu sĩ Ấn Quang… cùng với đám SV Dương Văn Đầy, Trịnh Đình Ban, Huỳnh Tấn Mẫm, Lê Hiếu Đằng, Trần Thị Lan, Nguyễn Hữu Thái…. ở Sài Gòn, sau 30-4 trở thành những lẻ lêu bêu giữa xã hội CS độc quyền chính trị.
Ở, Huế, những tên đồ tể như Nguyễn Đắc Xuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Nguyễn Thị Đoan Trinh… cũng chỉ là những miếng vỏ chanh để CS vắt tiếp trước khi vứt vào thùng rác.
Những tên tuổi trí thức khoa bảng như Trịnh Đình Thảo, Phùng Văn Cung, Hồ Thu, Nguyễn Hữu Thọ, Lâm Văn Tết, Dương Quỳnh Hoa, Thanh Nghị… đi theo “giải phóng” cuối cùng cũng gia đình tan nát. Khi tỉnh ngộ, bao nhiêu biệt thự, phố xá, đồn điền, gia sản, ruộng đất, cơ xưởng, cửa hàng, nhà thuốc tây… trở thành tài sản của nhà nước. Bản thân lêu bêu, mấy năm sau chết trong âm thầm ghẻ lạnh của chính quyền*.
Trước sự sụp đổ của xã hội miền Nam, người dân trong xã hội mới – xã hội XHCN lâm vào cảnh điêu linh, không một người nào trong đám trí thức này dám mở miệng nói lời phản kháng; hoặc ít ra, nói lời sám hối như một số Sinh Viên Việt Cộng phản chiến, nằm vùng – dù có muộn màng, như Lê Hiếu Đằng, Huỳnh Tấn Mẫm, Đào Hiếu, Đoàn Văn Toại…
Toại nguyên là Chủ Tịch Tổng Hội Sinh Viên Saigon từng biểu tình đòi Quốc Hội hủy bỏ cuộc bầu cử Tổng Thống Thiệu, đốt xe Mỹ, viết điện tín gởi TT. Richard Nixon. Nhưng rồi cũng bị tù ngay trong những ngày đầu “giải phóng.” Thoát được ra nước ngoài, Đoàn Văn Toại viết sách so sánh hai chế độ lao tù trong quyển “Quần đảo ngục tù của người Việt Nam” (The Vietnamese Gulag).
Toại viết trong hồi ký, nhớ những ngày tù thời Thiệu, thức ăn không hết, còn làm khó chính phủ “cơm tù không đủ tiêu chuẩn” nên trả lại! Quần áo thay đổi liền liền; phòng giam Sàigon rộng rãi bằng 40 lần nhà tù mang tên HCM. Vào tù Tp Hồ Chí Minh nghẹt thở, “nhà tù Thiệu rộng quá!”
Cuối cùng Đoàn Văn Toại đã thành thật sám hối, nhận tội trước lịch sử và nhân dân miền Nam: “Tôi nhận lãnh trách nhiệm về những thảm kịch xảy ra cho đồng bào của tôi. Và nay tôi chỉ còn cách đóng vai nhân chứng cho sự thật này hầu các người đã từng ủng hộ Việt Cộng trước kia có thể cùng chia sẻ trách nhiệm với tôi…”
Người thứ hai là Lê Hiếu Đằng, quê Quảng Nam, theo học tại đại học Luật Khoa Sài Gòn, nguyên là phó Tổng Thư Ký Ủy ban Trung Ương Liên Minh các lực lượng Dân tộc, Dân chủ và Hòa bình Việt Nam (1968-1977), nguyên Tổng thư ký Uỷ Ban nhân dân Cách mạng khu Sài Gòn Gia Định (1969-1975), nguyên phó Chủ tịch Ủy ban MTTQ Việt Nam TP.HCM (từ 1989-2009), là Đại biểu HĐND Thành phố khóa 4, khóa 5.
Từ 1975 đến 1983 Đằng là giảng viên Triết học và Chủ nghĩa xã hội khoa học ở Trường Đảng Nguyễn Văn Cừ thuộc Khu ủy Sài Gòn-Gia Định. Chức vụ sau cùng là Phó chủ nhiệm Hội đồng tư vấn về Dân chủ và Pháp luật thuộc Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.
Đúng bảy tuần lễ trước khi nhắm mắt, người đảng viên hơn 40 tuổi đảng này đã ra tuyên bố rời bỏ Đảng Cộng sản, mang theo nỗi ân hận tiếp tay cho “các tập đoàn lợi ích phản bội nông dân, phản bội dân tộc Việt Nam” (Lời của LHĐ nói với đài RFI). Và đây là nguyên văn bản tuyên bố viết tay của Lê Hiếu Đằng:
Tôi tên LÊ HIẾU ĐẰNG là ĐẢNG VIÊN ĐẢNG CỘNG SẢN VN, hơn 40 tuổi đảng. Nay tôi tuyên bố công khai ra khỏi đảng CSVN vì:
ĐCSVN bây giờ không còn như trước (đấu tranh giải phóng dân tộc) mà đang suy thoái biến chất, thực chất chỉ là đảng của những tập đoàn lợi ích, trở thành lực cản cho sự phát triển đất nước, dân tộc, đi ngược lại lợi ích dân tộc, nhân dân.
Tôi xin xác định đây là quyết định của tôi.
Ngày 04.12.2013
Lê Hiếu Đằng
(chữ ký)
Một tên tuổi khác, Huỳnh Tấn Mẫm, tên khai sinh là Trần Văn Thật, sinh tại Tân Sơn Hòa, tỉnh Gia Định học sinh Trung học Petrus Ký. Năm 1963, Mẫm đậu Tú tài toàn phần và trúng tuyển kỳ thi vào Đại học Y khoa Sài Gòn, vì học khá cho nên được Bộ Y tế chính phủ VNCH cấp học bổng. Mẫn tốt nghiệp BS Y khoa sau 1975.
Năm 1958, lên 15 tuổi, đang học lớp Đệ ngũ (lớp 8) trường Pétrus Ký, Mẫm được kết nạp vào tổ chức bí mật do Nguyễn Văn Chí (Sáu Chí) cầm đầu. Tại đây, Mẫm từng được giao công tác rải truyền đơn chống chính quyền Sài Gòn và năm 1960 được kết nạp vào Hội Liên hiệp Thanh niên Giải phóng Sài Gòn-Gia Định.
Năm 1963 Mẫm được kết nạp vào tổ chức của Cộng Sản vào thời kỳ Phong trào Phật Giáo.
Năm 1965, được kết nạp vào Đoàn Thanh niên Nhân dân Cách mạng.
Là Chủ tịch Tổng hội Sinh viên Sài Gòn – Gia Định nhiệm kỳ 1969-1970.
Từng là Đại biểu Quốc hội CS khóa 6, từng là Tổng biên tập đầu tiên của báo Thanh Niên.
Hiện là chủ tịch của cái gọi là “Hội Bảo Trợ Bệnh Nhân Nghèo Thiên Tâm”, thuộc Hội Bảo trợ bệnh nhân nghèo Thành phố, Ủy viên Ủy Ban Mặt Trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố HCM.
Tại Sài Gòn, ngày 4 tháng 7 năm 2014 Huỳnh Tấn Mẫm phổ biến một thư ngỏ gởi tuổi trẻ Việt Nam, kêu gọi những thế hệ Thanh niên – Sinh viên – Học sinh hôm nay thức tỉnh toàn diện trước một giai đoạn lịch sử. Trong thư có đoạn:
Sức mạnh có ưu thế nhất đang lớn lên từ trong tim và trong trí tuệ của các bạn, là niềm hy vọng của dân tộc – những thế hệ Thanh niên – Sinh viên – Học sinh hôm nay …
Mẫm kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam phải cương quyết làm người công dân tự do, dù xã hội chưa có luật pháp thừa nhận tự do đúng nghĩa. Phải cương quyết làm con người có quyền con người, dù quyền con người chưa được thừa nhận đầy đủ. Phải có quyền và có nghĩa vụ – quyền sống tự do và nghĩa vụ bảo vệ độc lập, toàn vẹn lãnh thổ…”
Một người khác, Đào Hiếu sinh năm 1946 tại Bình Định, gia nhập các phong trào học sinh hoạt động cho CS tại Quy Nhơn. Năm 1968 gia nhập đảng CS. Năm 1970 bị bắt quân dịch, là binh nhì Sư đoàn 22 Bộ Binh QL.VNCH, sau đó trốn vào Sài Gòn hoạt động với tổng hội sinh viên phản chiến cho tới 30-4-1975.
Hiếu tốt nghiệp Cử nhân văn chương trước 75, sau 75 cộng tác với báo Tuổi Trẻ và NXB Trẻ. Năm 2009, sau nhiều lần bị công an gọi làm việc, Đào Hiếu bị buộc phải xóa hết bài trên trang web http://daohieu.com để đổi lấy an toàn bản thân, khỏi bị bắt giam.
Năm 2000 Đào Hiếu đã xuất bản tác phẩm Nổi Loạn gây được tiếng vang trong dư luận. Tác phẩm này đã được giới thiệu trong mục Điểm Sách (do nhà văn Diên Nghị phụ trách) trên trang Văn Học Cội Nguồn, Thời Báo Bắc California, tháng 8/2000. Phải mất 25 năm, sau ngày 30-4 Đào Hiếu mới thức tỉnh và dám lên tiếng, như một đốm sáng lóe lên trong một màn đêm ngột ngạt.
Mới đây, sau ngày Trung Cộng đặt giàn khoan Hải Dương trên vùng biển thuộc chủ quyền VN, trước sự im lặng hèn nhát của giới lãnh đạo đảng CSVN, Đào Hiếu đã phổ biến trên mạng bài viết HUYỀN THOẠI ĐU DÂY – Cho rằng hành động của Tổng Bí Thư Nguyễn Văn Linh và các Ủy viên bộ Chính trị năm 1990 tại hội nghị Thành Đô là một việc làm mà bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch gọi là: “Bắt đầu một thời kỳ Bắc thuộc mới rất nguy hiểm”. Bài viết khẳng định: Rõ ràng là ngay từ những ngày đầu thành lập chế độ, thì Việt Nam đã hành xử như một tỉnh lẻ của Trung Quốc. Từ trước 1945 đến nay, nhà cầm quyền CSVN đã một lòng theo Trung Quốc, đã chọn Trung Quốc làm ông chủ, đã nguyện nâng khăn sửa túi cho Trung Quốc, đã khép nép làm “con nuôi” của Mao Trạch Đông, Đặng Tiểu Bình và ngày nay là Tập Cận Bình.
Chuyện Việt Nam đu dây giữa Trung Quốc và Mỹ xem ra chỉ là bịa đặt.
II. JANE FONDA và PHẢN CHIẾN MỸ:
clip_image002
Jane Fonda đang hát một bài hát phản chiến trong lúc ngồi trên xe tăng phòng không của Bắc Việt vào tháng 7 năm 1972. Mặc áo bà ba và quần đen, bà nói đã đến Hà nội để "khuyến khích" quân đội Cộng sản, nhưng hiện nay bà công nhận chuyến đi này  là một "sự phản bội"
Hành Vi Cảm Tính Và Sự Thức Tỉnh Kịp Thời
Chiến tranh Việt Nam, kết thúc đến nay đã 40 năm. Nhưng lịch sử chưa khép lại ở đây. Bức tường đen khắc tên 58 ngàn quân nhân Mỹ hy sinh trên chiến trường Việt Nam sẽ mãi mãi còn sừng sững và in đậm trong pho chiến sử của Hoa Kỳ. Đã có hàng chục, có thể hàng trăm tác phẩm, bài viết về cuộc chiến này, đã và đang trưng bày, lưu trữ trong các thư viện nhiều quốc gia trên thế giới.
***
40 năm, nhìn lại những phản diện ẩn khuất – mặt tối, mặt sáng của cuộc chiến, những ẩn giấu lịch sử đang dần dà được phơi bày qua những tài liệu giải mật. Sự Thật, Thiện Ác, Chánh Tà đã được xác quyết. Ngày nay gần 90 triệu người dân Việt, ngoại trừ số công bộc hoặc lớp người đang hưởng những quyền lợi vật chất do đảng CS ban bố, đều nhìn nhận cuộc chiến Bắc Nam, Quốc Cộng, do CSBV phát động xâm lăng miền Nam là một cuộc chiến tàn ác và phi nghĩa. Cuộc chiến đã làm tiêu hao hàng chục thế hệ, hàng trăm năm thành tựu của đất nước.
Ngày nay, sách vở và công luận của người dân miền Nam VN, ở trong nước và hải ngoại, kể cả một bộ phận người Mỹ, đều lên án Hoa Kỳ là kẻ phản bội đồng minh. Bên cạnh đó có một lập luận cho rằng nếu không có sự tiếp tay của phong trào phản chiến Mỹ thì Cộng Sản VN đã không thể thắng chiến tranh Việt Nam dễ dàng như vậy.
Người Mỹ phản chiến ở cách xa Việt Nam nửa vòng trái đất, phần đông chưa đặt chân tới Việt nam, chưa có hiểu biết gì về văn hóa và lịch sử Việt Nam. Khi cuộc chiến đến hồi leo thang, với sự hiện diện của trên năm trăm ngàn lính Mỹ trên chiến trường VN. Tin tức hàng ngày trên hệ thống truyền thông loan tải những trận đánh ác liệt với con số tử vong lính Mỹ ngày một tăng cao, nhiều người xúc động trước sự chết chóc, trong đó có con em họ, họ tham gia vào hàng ngũ phản chiến là hành động khác hẳn với đám trí thức Sài Gòn tiếp tay với Việt Cộng.
Người Mỹ phản chiến với sự tiếp sức thúc đẩy của giới truyền thông và đám văn nghệ sĩ cấp tiến, thiên tả đã tạo thành một áp lực mạnh mẽ buộc chính quyền của các đời tổng thống từ John F. Kennedy, Richard Nixon, Lyndon Johnson, đến Gerald Ford phải lúng túng mà đi tới quyết định …. Phản Bội Đồng Minh!
Trong hàng ngũ phản chiến Mỹ có những người không vì tình cảm trắc ẩn mà cố tình tiếp tay kẻ thù, phản bội sự hy sinh của các tù binh Mỹ, như trường hợp của nữ minh tinh màn bạc Jane Fonda mà các cựu chiến binh Mỹ lên án cô là tên phản quốc, với tấm ảnh biểu tượng bằng sợi dây thòng lọng.
clip_image004
Trong phong trào phản chiến Mỹ từ giữa thập niên 60s, hai nữ nghệ sĩ nổi bật là Jane Fonda và Joan Baez.
Jane Fonda còn được các cựu quân nhân Hoa Kỳ gọi là Jane Fonda-Jane Hanoi, và Hanoi Jane, một nhân vật mà khi nói đến chiến tranh VN không thể không nhắc đến. Tấm ảnh chụp tại Hà Nội tháng 7-1972 cho thấy Jane Fonda ngồi vào ghế súng, bên súng phòng không, đội nón sắt, tay cầm càng súng như thể đang bắn máy bay Mỹ, được truyền thông phổ biến và ghi chú. (xem ảnh)
Jane ân hận vì sự cố tấm ảnh này tự nó đã tố cáo cô là kẻ phản quốc, Jane cố tình ngăn chặn, nhưng không kịp. Ảnh đã được phổ biến rộng rãi qua truyền thông quốc tế.
Barbara Walters, nữ xướng ngôn viên của đài CBS đã chỉ trích việc TT Obama có ý định vinh danh Jane Fonda là một trong "100 người Đàn bà của Thế kỷ."
Barbara Walters viết: “Không may là nhiều người đã lãng quên, thậm chí còn không biết bao nhiêu người khác nữa chưa từng biết Fonda đã phản bội không chỉ ý thức hệ của đất nước Hoa Kỳ mà còn phản bội những người đã phục vụ và hy sinh trong Chiến tranh Việt Nam”.
Nhiều Sĩ Quan Phi công tù binh Mỹ là "tội phạm chiến tranh" của Jane Fonda.
– Trung Tá Jerry Driscoll, một phi công F-4E đã khạc nhổ vào Jane Fonda tại Hỏa Lò Hà Nội, đã bị công an đánh bằng dùi cui và gậy gỗ một cách điên cuồng.
– Cũng tại Hỏa Lò, có một lần Jane Fonda đã trao cho viên trưởng trại hết những mẩu giấy (các tù binh ghi tên và số an sinh xã hội) nhắn cho gia đình biết là còn sống, lén lút nhờ Jane đưa về Mỹ. Vì việc này, có ba trong số bốn phi công tù nhân bị đánh chết. Đại tá Larry Carrigan (6 năm ở Hỏa Lò) là người thứ tư xuýt chết, nhưng ông đã sống sót, nhờ đó hành động của Jane Fonda đã được đưa ra ánh sáng.
Sau 30-4-1975, nhiều người Mỹ phản chiến đã thật lòng hối lỗi, đã nhìn nhận sai lầm, nhưng Jane Fonda tuyệt nhiên không. Không bao giờ Jane bày tỏ sự hối tiếc về hành động phản bội của mình.
Jane Fonda: “Tấm ảnh là một lỗi lầm lớn của tôi”
Veterans: Tha Thứ? Có thể. Quên? Không bao giờ.
Mãi tới tháng 1/2015, trong một buổi nói chuyện của Jane tại Trung tâm Nghệ Thuật “The Weinberg Center for the Arts”, ở tiểu bang Maryland vào ngày thứ bảy, 17 tháng 1, kéo the nhiều đám đông phản đối, trong số đó có 50 cựu chiến binh.
Nhiều người phản đối mang theo bản copy những tấm hình Jane, ngồi trên chiếc xe bắn máy bay, chụp tại Hà Nội năm 1972 với dòng chữ: "Forgive? Maybe. Forget? Never." (Tha Thứ? Có thể. Quên? Không bao giờ).
Tại buổi nói chuyện này, để trả lời những câu chất vấn của cử tọa, Jane – người nữ minh tinh đoạt giải Oscar, nay 77 tuổi, đã gọi “tấm ảnh nổi tiếng của bà ở Việt Nam là một lỗi lầm lớn (a huge mistake). Jane bày tỏ sự hối hận. Bà nói: “Bất cứ lúc nào có thể được, tôi sẽ thử ngồi xuống với các cựu chiến binh và nói chuyện với họ, bởi vì tôi hiểu điều đó đã làm tôi buồn. Nó làm tôi đau đớn và tôi sẽ mang xuống tận đáy mồ Jane nói thêm: “tôi đã làm nên một lỗi lầm lớn, rất lớn, khiến nhiều người nghĩ là tôi chống lại những người chiến binh Mỹ”.
Tờ The Frederick News-Post tường thuật phần đông những người đến phản đối là các cựu chiến binh. Tập họp ngoài hí viện, nơi Fonda có buổi nói chuyện trong hai giờ Họ la ó (booing): Tha Thứ? Có Thể. Quên? Không bao giờ.
Đây không phải là lần đầu tiên người nữ tài tử này nói về sự nổi tiếng của bà là “một kẻ phản quốc”. Năm 2011, bà đã viết cho trang blog Huffpost, hy vọng sẽ nói lên “sự thật” về câu chuyện của bà. Jane viết: “Sự dối trá này đã luân lưu trong gần 40 năm, tiếp tục mở lại vất thương của cuộc chiến tranh Việt Nam và gây nên sự đau đớn của các gia đình người Mỹ từng phục vụ cuộc chiến. Sự dối trá làm sai lạc sự that về việc tại sao tôi đến miền Bắc Việt Nam và họ kéo dài huyền thoại chống chiến tranh có nghĩa là chống lại người lính.
Rồi vào năm 2013, lần xuất hiện trong chương trình "Oprah’s Master Class," Jane cũng  gọi tấm ảnh kia là “một lỗi lầm không thể tha thứ”.
Hình như Jane Fonda bị ám ảnh bởi điều mà nhiều người cho là bà ta đã phản bội những người chiến binh Mỹ. Theo tờ Frederick News-Post, Jane đã không hề lấy làm ân hận thời gian bà đến Việt Nam, cuối cùng bà vẫn cho chuyến đi của bà là một kinh nghiệm không thể tưởng tượng được.
(SN lược dịch theo The Huffington Post, 01/19/2015: “Jane Fonda Draws Veteran Protesters In Maryland, Says Vietnam Photo Was A ‘Huge Mistake’”
***
clip_image006
Nữ ca sĩ Joan Baez
Một ca sĩ phản chiến người Mỹ Joan Baez, đã hồi tâm và chuộc lỗi bằng hành động dấn thân đến tận các trại thuyền nhân tỵ nạn để tìm hiểu tại sao VN “hòa bình” rồi mà hàng hàng lớp lớp người vẫn vạch đường máu để ra đi? Bà đích thân đi “điều tra”, tìm hiểu sự thật từ các trại tị nạn tại Thái Lan, Phi Luật Tân, Mã Lai, và Indonesia …
Nhà văn Nguyễn Việt Nữ, trong bài viết “Nhớ Air Raya, Hoang đảo cứu người và Joan Baez” cho biết bà đã gặp Joan Baez tại đảo Air Raya, Indonesia.
Joan Baez đến Air Raya, mời họp các người tị nạn, phần đông là các quân nhân tham dự. Họ viết đơn nói rõ lý do ra đi. Joan đã nghe tận tai những sự thật tàn bạo trong xã hội và nhà tù CSVN sau 75, chẳng hạn “Tòa án nhân dân” của CSVN kết án tử hình trước khi xử! Hòm đã để sẵn sau phòng xử của phiên tòa.
Sau khi thu thập được những chứng cứ từ thuyền nhân qua các trại tỵ nạn, Ca sĩ Joan Baez ôm hết chồng hồ sơ từ các trại tị nạn về Hoa Thịnh Đốn, bắt tay vào những việc làm thiết thực, cụ thể:
I./ Kêu gọi những người trong hàng ngũ phản chiến cũ cùng ký tên vào một thư ngỏ “Open Letter to the Socialist Republic of Vietnam” gởi nhà cầm quyền CSVN. Thư ngỏ đó có được 78 chữ ký của những nhân vật phản chiến nổi danh, và đã đăng trên tờ The New York Times số ra ngày 1/5/1979.
II./ Khiếu nại với Tổng thống Mỹ lúc ấy là Jimmy Carter, rồi kéo đệ nhất phu nhân đi Thái Lan thăm người vượt biển. Bà cùng nhiều đoàn thể khác nữa như Đại Đức Thích Giác Đức, cùng Giáo sư Nguyễn Ngọc Bích, Sinh Viên Ngô Vương Toại kêu gọi T.T. Jimmy Carter phải nhận người tị nạn Đông Dương cho vào Mỹ.
Nguyên văn Thư Ngỏ 1979 của 78 nhân vật Phản Chiến Mỹ gởi nhà nước CHXHCN.VN: (*)
Cách đây 4 năm, Hoa Kỳ đã chấm dứt 20 năm hiện diện ở Việt Nam. Một dịp kỷ niệm đúng ra là nguyên nhân để đón mừng, nhưng thay vào đó, lại là lúc để đau buồn.
Với một thảm họa thật mỉa mai, sự tàn ác, bạo lực và đàn áp do các thế lực nước ngoài áp đặt lên đất nước quý vị trong hơn một thế kỷ qua, đang tiếp tục ngày hôm nay dưới chế độ hiện thời. Hàng ngàn người Việt Nam vô tội, nhiều người mà "tội" của họ chỉ là các vấn đề thuộc lương tâm, hiện đang bị bắt giữ, tạm giam và tra tấn trong tù hoặc các trại cải tạo.
Thay vì mang lại hy vọng và hoà giải cho đất nước Việt Nam bị chiến tranh tàn phá, thì nhà nước của quý vị lại tạo ra một cơn ác mộng đau đớn và che khuất đi những tiến bộ quan trọng đã đạt được trong nhiều phạm vi của xã hội Viêt Nam. Nhà nước quý vị đã tuyên bố vào tháng 2/1977 rằng có khoảng 50 ngàn người đang bị giam giữ lúc đó. Nhiều ký giả, các nhà quan sát độc lập và người tỵ nạn ước lượng rằng con số tù nhân chính trị hiện thời khoảng giữa 150 ngàn và 200 ngàn người.
Con số chính xác có là gì đi nữa, thì sự thật đang tạo thành một bức tranh đen tối. Nhiều tin tức được xác nhận đang xuất hiện trên báo chí thế giới, từ báo Le Monde và The Observer đến Washington Post và Newsweek. Chúng tôi đã nghe nhiều câu chuyện của những người đến từ Việt Nam – công nhân và nông dân, các nữ tu Công giáo và tu sĩ Phật giáo, các thuyền nhân, văn nghệ sĩ và các nhà chuyên môn cũng như những người đã từng chiến đấu bên cạnh Mặt trân giải phóng.
– Các nhà tù đang tràn ngập với hàng ngàn đến hàng chục ngàn "tù nhân".
– Nhiều người bị mất tích và không tìm được tông tích.
– Nhiều người bị đưa đến các trại cải tạo, cho ăn bằng những khẩu phần gạo chết đói, buộc phải ngồi với cổ tay và cổ chân bị trói chặt, đến ngạt thở trong các thùng connex.
– Nhiều người bị dùng như những vật dò tìm bom mìn, dọn các bãi mìn bằng
tay chân trần trụi.
Đối với nhiều người, sống là địa ngục và cái chết là điều mong ước. Nhiều nạn nhân là đàn ông, phụ nữ và trẻ em đã từng ủng hộ và chiến đấu cho mục tiêu thống nhất đất nước và quyền dân tộc tự quyết, họ là những người vì hòa bình, thành viên của các tổ chức tôn giáo hoặc vì các nền tảng đạo đức triết lý đã chống đối lại các chính sách độc đoán của chế độ Thiệu Kỳ; họ là các văn nghệ sĩ và trí thức quyết tâm được tự do sáng tạo bị hất hủi bởi các chính sách độc tài của nhà nước quý vị.
Yêu cầu của Tổ chức Ân xá Quốc tế và nhiều tổ chức khác để được tự tìm hiểu tình trạng lao tù vẫn chưa được đáp ứng. Các gia đình muốn biết tin tức về vợ chồng, con cái họ đều bị thờ ơ…
Chính một quyết tâm bền bỉ về các nguyên tắc cơ bản của nhân cách, tự do và quyền tự quyết đã là động cơ thúc đẩy rất nhiều người Mỹ phản đối chính quyền miền Nam và sự tham dự của đất nước chúng tôi vào cuộc chiến. Cũng chính vì một quyết tâm tương tự bắt buộc chúng tôi phải lên tiếng phản đối sự bất chấp đến tàn bạo về nhân quyền của quý vị.
Chúng tôi kêu gọi quý vị hãy chấm dứt ngay việc bỏ tù và tra tấn – cho phép một nhóm quốc tế gồm các nhà quan sát trung lập được đến để thanh tra các nhà tù và trung tâm cải tạo của quý vị.
Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên tuân theo các nguyên tắc của Bản Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền và Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị mà đất nước quý vị là một thành viên của Liên Hiệp Quốc, đã cam kết phải thi hành.
Chúng tôi khuyến cáo quý vị nên xác định lại cam kết mà quý vị đã tuyên bố về các nguyên tắc về tự do và phẩm cách con người… để thiết lập một nền hoà bình thật sự tại Việt Nam
Ký tên
Joan Baez 
———————–
Thư được 78 nhân vật nổi tiếng ký tên, trong đó có I. F. Stone, Barton Bernstein, Daniel Berrigan, Jerome Weisner, Bert Coffey, Benjamin Dreyfus, Sanford Gottlieb, Terence Hallinan, Staughton Lynd, Allen Ginsberg, Edmund Pat Brown, Ginetta Sagan, Cesar Chavez, và Nat Hentof… trong đó có vài tên Mỹ Cộng nổi bật. (Người dịch – NVN)
(*) Bản địch của nhà văn Nguyễn Việt Nữ
- Một nửa sự thật không phải là sự thật. Báo Thanh niên trong bài Ký ức Jane Hà Nội (TN 22-2-15) vẫn lờ đi không nói tới sự hối hận của bà Jane Fonda gần đây

(TN Xuân 22/02/2015) Tháng 7.1972, Jane Fonda đến miền Bắc Việt Nam. Rũ bỏ vẻ quyến rũ thường thấy, hình ảnh một “Jane Hà Nội” với chiếc áo bà ba giản dị vẫn còn đọng trong tâm trí của những người đã trải qua năm tháng bom đạn trong cuộc chiến tranh Việt Nam.
Ký úc Jane Hà Nội 1
Trong năm 1972, khi cuộc chiến đang diễn ra cực kỳ khốc liệt, vậy mà có hai nhân vật nổi tiếng thế giới đến Việt Nam. Mùa hè là Jane Fonda và mùa đông là nữ ca sĩ dòng nhạc dân gian truyền thống Joan Baez. Tuy nhiên, suốt những năm sau, “Jane Hà Nội” mới thực sự là biểu tượng dữ dội nhất của phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam ngay trong lòng nước Mỹ.
Là một người Mỹ, Jane Fonda cực kỳ quan tâm đến phụ nữ và trẻ em. Trong nửa tháng lưu lại Hà Nội, Jane dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ với lãnh đạo Trung ương Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam. Và ngay lần đầu tiên trò chuyện với ban biên tập BáoPhụ nữ Việt Nam, nữ diễn viên của Coming Home đã nhẹ nhàng đề nghị: “Cho tôi gặp một phóng viên trở về từ mặt trận được không?”. Ngay lập tức yêu cầu của cô được đáp ứng và người nữ phóng viên được chọn có tên là Tô Minh Nguyệt. 
Chạm đến trái tim
Ký úc Jane Hà Nội - ảnh 2
Câu chuyện của chị đã chạm đến trái tim tôi. Tôi sẽ nhớ chị mãi. Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau giữa hòa bình
Ký úc Jane Hà Nội - ảnh 3
Jane Fonda
Trong căn nhà ấm cúng tại quận 4, thành phố Hồ Chí Minh, người nữ phóng viên chiến trường năm xưa - nay đã 71 tuổi - bồi hồi lật lại cuốn album lưu giữ những tấm ảnh về những tháng ngày đạn bom và oanh liệt. Thời điểm gặp Jane, bà Nguyệt vừa hoàn thành chuyến công tác đầy nguy hiểm tại cầu Hàm Rồng (Thanh Hóa) - mặt trận mà vừa nghe xong Jane Fonda phải thốt lên: “Nơi đó ác liệt lắm! Chị kể tôi nghe về nơi chị đã đến đi”. Bà Nguyệt hồi tưởng: “Tôi đi viết về trận địa pháo, có cô Hằng, cô Tuyển anh hùng, người nhỏ xíu vác đạn một trăm cân. Trong chuyến công tác, tôi đến cả Bệnh viện Hoằng Hóa xem người ta phẫu thuật thương binh. Đi công tác ngày xưa rất khó khăn, đường dài cả trăm cây số mà di chuyển chỉ bằng chiếc xe đạp Phượng Hoàng. Bấy giờ tôi mới về tới, vừa nộp một bài viết tên gọi Bệnh viện làng Dừa thì nghe bảo Jane Fonda muốn gặp mình. Bệnh viện làng Dừa có rất nhiều phụ nữ, từ bác sĩ, y tá tới dân quân. Tôi đã kể Jane nghe chuyện tôi tham dự những ca phẫu thuật dưới hầm, bệnh nhân có nhiều phụ nữ và trẻ em. Và Jane bật khóc”.
Sau buổi gặp gỡ ấy, Jane Fonda còn đến Báo Phụ nữ Việt Nam sáu, bảy lần nữa. Nơi bà Nguyệt làm việc có một nhà trẻ gọi là nhà trẻ số 20 Thụy Khuê. Nhà trẻ này hoạt động nguyên tuần để các nữ phóng viên yên tâm gửi con nhỏ mà tập trung vào công việc. Bà Nguyệt kể lại, trong một lần Jane Fonda đến thăm, còi báo động máy bay Mỹ kêu inh ỏi làm tất cả mọi người hoảng hốt bế trẻ con xuống hầm trú. Cứ thế, họ tất tả hết bế đứa bé này đến đứa bé khác. Chính tại nơi đây, trong tiếng còi báo động và giữa khung cảnh những người phụ nữ Việt Nam cố gắng bảo vệ những đứa trẻ, Jane Fonda đã thốt lên câu nói bất hủ: “Bom đang rơi ở Việt Nam nhưng bi kịch diễn ra ở nước Mỹ”.
Ký úc Jane Hà Nội 2Tấm ảnh Jane Fonda chụp cùng chị em Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam bên hầm tránh bom - Ảnh: nhân vật cung cấp
Ký úc Jane Hà Nội 3Bà Tô Minh Nguyệt xem lại những kỷ vật - Ảnh: Ngân Vi
Lúc ấy, các nữ phóng viên vừa làm báo vừa theo học Tổng hợp văn, tiếng Anh chỉ bập bẹ, song dường như giữa họ và Jane Fonda không có bất kỳ khoảng cách nào. Trong ký ức bà Nguyệt, Jane là một phụ nữ thông minh. Sự thông minh hiện rõ trên thần thái và khuôn mặt của Jane chứ không cần tới sự khẳng định của 2 giải Oscar danh giá. Jane cũng viết văn rất giỏi. Sau khi quay lại Mỹ, khả năng này đã ngay lập tức được Jane chứng minh qua những bài báo mang tầm quốc tế của mình về Việt Nam, về cuộc chiến, về nhân quyền, và về những thứ đã “chạm đến trái tim” Jane. Cuốn hồi ký My Life So Far xuất bản đã làm nên một hiện tượng và là một trong số những cuốn sách bán chạy nhất nước Mỹ năm 2005.
Cựu phóng viên chiến trường Tô Minh Nguyệt chia sẻ, tuổi thanh xuân của bà gần như đã dành hết cho cách mạng. Chiến tranh kết thúc, bà cũng ngoài ba mươi, khi đó mới chịu lấy chồng. Bà nói, hồi gặp Jane Fonda, bà vẫn chưa từng nắm tay người đàn ông nào. “Vậy mà Jane đã ôm hôn tôi mấy lần làm các cô ở cơ quan phải ghen tị”. Nụ hôn lên má dành cho người phụ nữ đã xung phong ra mặt trận. Và bốn mươi hai năm trôi qua, bà Nguyệt chưa bao giờ quên được những cái ôm bần bật từ người phụ nữ Mỹ kia. Jane thông minh. Jane viết giỏi. Song, đối với bà Tô Minh Nguyệt, điều tuyệt vời nhất ở Jane là cách thể hiện cảm xúc. Qua khuôn mặt của Jane Fonda, cảm xúc dường như không có biên giới.
“Gửi Tô Minh Nguyệt. Câu chuyện của chị đã chạm đến trái tim tôi. Tôi sẽ nhớ chị mãi. Hy vọng chúng ta sẽ gặp lại nhau giữa hòa bình”, Jane ghi bằng tiếng Anh trên tấm ảnh tặng bà Nguyệt. Ở mặt sau tấm ảnh, bà Nguyệt cũng lưu lại trên đấy vài dòng: “Kỷ niệm ngày gặp jen phôn đa ở khách sạn Thống Nhất, Hà Nội. 12/7/1972”.
Jane Fonda (sinh ngày 21.12.1937) là nữ diễn viên người Mỹ kiêm nhà văn và nhà hoạt động chính trị. Bà từng hai lần đoạt giải Oscar hạng mục Nữ diễn viên chính xuất sắc nhất cho vai diễn trong hai phim Coming Home và Klute. Jane Fonda là một trong những diễn viên Mỹ đi đầu phong trào phản đối chiến tranh Việt Nam. Bà cũng phản đối chiến tranh Iraq và bạo lực đối với phụ nữ.
Năm 2005, Jane Fonda xuất bản cuốn hồi ký My Life So Far. Đến năm 2011, bà tiếp tục cho ra mắt cuốn hồi ký thứ hai Prime Time. Ngày 5.6.2014, tại Los Angeles, Viện Điện ảnh Mỹ đã trao giải Thành tựu trọn đời cho những cống hiến xuất sắc của Jane Fonda.
Nguyễn Khắc Ngân Vi
-Jane Fonda Draws Protesters in Maryland

About 50 military veterans and their supporters protested an appearance by Jane Fonda in western Maryland. (Published Sunday, Jan 18, 2015)

About 50 military veterans and their supporters protested an appearance by Jane Fonda in western Maryland.

The 77-year-old was at the Weinberg Center for the Arts in Frederick for a speaking engagement Friday.


The Frederick News-Post reported many of the protesters served in Vietnam and carried signs that read: "Forgive? Maybe. Forget? Never.''

Fonda told the audience she made a "huge mistake'' that led many to think she was against soldiers fighting in Vietnam, and it's something that she'll take to her grave. She says she understands their anger and that it makes her sad.

Fonda drew the ire of many Americans when she visited North Vietnam at the height of the Vietnam War, leading some to call her "Hanoi Jane.''

Copyright Associated Press

Jane Fonda gọi bức hình chụp ở Bắc Việt là một lỗi lầm lớn mà bà sẽ đem xuống tuyền đài


Jane Fonda về chiều với sự ân hận bẽ bàng về những lỗi lầm của thời "sleeping with the enemy" (đi đêm với kẻ thù)

(The Huffington Post)- Vào ngày thứ Sáu 1/16 vừa qua, khi biết tin Jane Fonda cô đào phản chiến người Mỹ từng nghe lời xúi dại của nhà cầm quyền Hà nội về thăm VN vào năm 1972, đội nón cối, chụp hình bên nòng đại bác từng bắn rơi máy bay đồng hương Mỹ của bà, và tuyên bố những câu phản chiến sặc mùi phản bội lại lý tưởng đấu tranh cho tự do và hòa bình của những binh lính Mỹ đang có mặt tại miền Nam để giúp người dân tại đây giữ vững tiền đồn dân chủ tự do non trẻ của mình. Jane Fonda sau đó nhiều năm đã dần dà hiểu được những phát biểu và hành động đó của
mình là nông cạn và sai lầm . Bà đã chính thức ngỏ lời xin lỗi . Nhưng những cựu chiến binh Mỹ dường như đã phải chịu quá nhiều hệ lụy do ảnh hưởng của Jane Fonda đem lại khiến họ không thể quên, và đó là lý do tại sao họ luôn có mặt để phản đối sự xuất hiện của Jane Fonda mỗi khi bà được mời đi diễn thuyết ở đâu .

Buổi diễn thuyết tại Weinberg Center for the Arts ở Frederick, Maryland hôm thứ Sáu tuần qua là một thí dụ điển hình . Nghe tin Jane Fonda sắp có buổi thuyết trình tại đây, khoảng 50 cựu chiến binh Mỹ đã có mặt . Bất chấp thời tiết giá lạnh rất khắc nghiệt cho tuổi già của mình, họ cầm những biểu ngữ bày tỏ sự căm phẫn dành cho người nghệ sĩ nổi danh mà họ gọi bằng danh từ đầy tính khinh miệt mỉa mai là "Hanoi Jane", "kẻ phản bội". Rất nhiều người cầm bảng viết hàng chữ "Tha thứ thì có nhưng quên thì không"


"Hanoi Jane" hí hửng đội nón cối chụp hình với bộ đội miền Bắc 1972


Sau khi từ VN về Jane tiếp tục kêu gào chống chiến tranh VN



Khi được hỏi cảm tưởng của bà về tấm hình đã gây nhiều căm phẫn cho cả người Việt nam tự do lẫn những binh lính Mỹ đã từng xả thân để giúp nhân dân miền Nam bảo vệ lãnh thổ và chống hiểm họa cs, Jane đã ngậm ngùi thú nhận đó là "một lỗi lầm lớn khiến bà sẽ mang theo xuống mồ khi bà qua đời, vì những hệ lụy quá sâu sắc và đáng trách mà nó đã đem lại cho hàng trăm ngàn quân nhân Mỹ ở VN thời đó . Đặc biệt có một cựu quân nhân tên Ted R Warfield ở Wyoming đã tiết lộ trong forum rằng chính Jane Fonda là người cầm những mẩu nhắn tin của những binh sĩ Mỹ đã nhờ bà cầm về cho người nhà ở Mỹ, nhưng lại không làm thế mà đưa cho lính Bắc Việt để sau đó tung tích của họ bị lộ .

Quote:
Ted R Warfield
This lady deserves all the "protests" anyone can throw at her. If you read the whole story, Jane Fonda is the reason MANY more soldiers died in Vietnam while they were in custody at prisons. She should have been tried and convicted as a traitor! I just can't get the picture out of my head of her passing information on to the Vietnamese after her visit to the prison camp. They trusted her to give their families information that they were still alive and she gave all that information to the enemy.
Nói về những chiến binh mà bà đã từng giúp bôi nhọ và hạ nhục, rồi sau đó tiếp tục xát muối thêm vào lòng tự hào đã bị tổn thương trầm trọng của họ khi trở về cố quốc bị chính người dân Mỹ dè bỉu, hiểu lầm, Jane Fonda thổ lộ là "Bất cứ khi nào có dịp là tôi lại ngồi nói chuyện với họ để hiểu nhau, và điều đó làm tôi buồn lắm"

Khó có thể biết được Jane Fonda có thật sự hối hận hay "ám ảnh" vì hành động nông cạn thời trẻ tuổi của mình hay không, vì theo tiết lộ của tờ Frederick News Post , bà chưa hề tỏ ý hối tiếc chuyến viếng thăm VN của mình khi vẫn gọi đó là chuyến viếng thăm "ngoài sức tưởng tượng"

Video chiếu cảnh cựu chiến binh Mỹ biều tình chống sự có mặt của Jane Fonda ngày 1/16/2015 tại Maryland

http://www.nbcwashington.com/news/local/Jane-Fonda-Draws-Protesters-in-Maryland-288958811.html

Và video clip chiếu cảnh Hanoi Jane bôi bác cuộc chiến tranh chống cộng ở miền Nam là phí phạm, gọi những sĩ quan cao cấp miền Nam là tham nhũng, buôn lậu, phung phí tiền viện trợ Mỹ cho cuộc sống tốt đẹp của riêng họ và gia đình




****************************************
-Cựu chiến binh Mỹ phản đối Jane Fonda đóng vai Đệ Nhất Phu nhân Reagan; Việt Nam chuẩn bị nới lỏng giới hạn đối với các nhà đầu tư nước ngoài.

-Một cuộc tranh cãi đã nổ ra sau khi một nhóm cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam phát động chiến dịch tẩy chay bộ phim “The Butler”, là bộ phim dẫn đầu về số vé bán được trong cuối tuần qua, mang về 25 triệu đôla.

Tin của tờ Sun Journal tường trình rằng nguyên nhân vụ tranh chấp là quyết định của đạo diễn Lee Daniels chọn nữ tài tử Jane Fonda để đóng vai Đệ Nhất Phu nhân Nancy Reagan trong bộ phim được dựng lên quanh câu chuyện về Cecil Gains, một người đàn ông da đen đã phục vụ tại Tòa Bạch Ốc dưới quyền của 8 vị Tổng Thống Mỹ.

Theo tờ báo Sun Journal, Bà Jane Fonda bị hàng ngàn cựu chiến binh và thường dân Mỹ lên án nặng nề sau khi bà đi thăm Bắc Việt Nam hồi tháng Bảy năm 1972.

Trong chuyến đi này, bà đã được hướng dẫn đi tham quan những cảnh thành phố Hà nội bị đánh bom trong chiến tranh Việt Nam, gặp gỡ các tù binh chiến tranh Mỹ.

Tấm ảnh chụp bà ngồi trên một khẩu súng phòng không của quân đội cộng sản Bắc Việt đã gây phẫn nộ cho nhiều người Mỹ, làm dấy lên một phong trào, đặc biệt trong giới cựu chiến binh Mỹ từng tham chiến tại Việt Nam, chống Jane Fonda cho mãi tới bây giờ.

Bà Fonda đã ngỏ lời xin lỗi về một số các hành động của bà, tuy nhiên các cựu chiến binh và binh sĩ hiện dịch Mỹ cho rằng bà chưa hoàn toàn thực tâm hối lỗi, và tháng trước, nữ tài tử này lại gây tranh cãi khi bà mặc một áo thun in hai chữ “Hanoi Jane ” đến dự một buổi giới thiệu phim, và tuyên bố các cựu chiến binh Mỹ chỉ trích vai của bà trong phim, nên quên đi quá khứ để mà sống.

Tin của ibtimes.com dẫn lời ông Larry Reyes, một cựu chiến binh hải quân, người dẫn đầu chiến dịch tẩy chay phim The Butler, phản đối quyết định của đạo diễn Lee Daniels chọn Jane Fonda đóng vai bà Nancy Reagan, nói rằng quyết định đó mang ý xấu và không tôn trọng các cựu chiến binh Mỹ đã từng hy sinh xương máu trên chiến trường Việt Nam.

Nguồn: Sun Journal, ibtimes

Cựu chiến binh Mỹ phản đối Jane Fonda đóng vai Đệ Nhất Phu nhân Reagan



Bộ Tài chính Việt Nam đã đệ lên Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng một kế hoạch đề nghị nới lỏng các giới hạn, và nâng cao mức trần về quyền sở hữu một số công ty đối với giới đầu tư nước ngoài.

Hãng tin tài chính Bloomberg hôm 19 tháng 8 dẫn lời ông Nguyễn Sơn, người đứng đầu cơ quan phát triển thị trường tại Ủy Ban Chứng khoán Nhà nước, nói rằng đề nghị này sẽ cho phép người nước ngoài tăng số cổ phần có quyền biểu quyết trong một số ngành công nghiệp lên tới tối đa 60%, so với mức trần 49% hiện nay.

Tin của ivc Post tường trình rằng các nhà làm quy định Việt Nam coi đầu tư nước ngoài là một động lực chủ yếu cho sự tăng trưởng của thị trường chứng khoán trị giá 45 tỉ đôla của Việt Nam.

Chỉ số chứng khoán Việt Nam đã tăng 24% trong năm nay, so với tỷ lệ chỉ có 3,1% của chỉ số MSCI Á Châu-Thái bình dương, giữa lúc các nhà quản trị các quỹ đầu tư quốc tế đổ tiền vào Việt Nam để mua cổ phần trị giá 162 triệu đôla.

Một nhà phân tích của ACB Securities, ông Attlia Vajda, nhận định rằng đây là tin vui cho thị trường chứng khoán Việt Nam.

Tuy nhiên, chỉ số chứng khoán Việt Nam đã giảm 67% tính từ cao điểm vào tháng Ba năm 2007.

Cục Thống Kê cho biết GDP của Việt Nam tăng 5,25% hồi năm ngoái, đà tăng chậm nhất tính từ năm 2005.

Nguồn: Bloomberg, ivcpost.com

- Hiệp định Đối tác chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP): Quy tắc xuất xứ như một chìa khoá (SGTT).



Về  việc Henry Nguyễn đem McDonalds vào Việt Nam: Tycoon's 10-year crusade to get a Big Mac in Vietnam(Reuters 4-8-13)



Lữ Giang
sino-usa“Hoa Kỳ sẽ không để vấn đề Dân chủ, Nhân quyền gây ảnh hưởng và cản trở bước phát triển trong mối quan hệ song phương giữa Trung quốc và Hoa Kỳ.” – Hillary Clinton.
Trong các năm 1992 và 1993, phái đoàn Hoa Kỳ đã đến Việt Nam nhiều lần, nói là để tìm các quân nhân Mỹ mất tích (MIA). Nghe thế, cựu Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu lúc đó đang ở Massachusetts, đã lên tiếng nói rằng nếu ông còn lãnh đạo Việt Nam ông sẽ giải quyết vấn đề này một cách nhanh chóng. Nhiều người đã cười.
Khi đang cầm quyền, ông Thiệu chẳng biết Mỹ và CSVN làm gì, ông cứ hành động theo cảm tính. Khi mất chức rồi ông vẫn tiếp tục suy nghĩ và tuyên bố như thế. Ông không biết người Mỹ đang trở lại Việt Nam dưới danh  nghĩa tìm MIA, nhưng trong thực tế là bàn việc bãi bỏ cấm vận và thành lập bang giao với Việt Nam.
Ngày 3/02/1994: Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bỏ hoàn toàn cấm vận Việt Nam và lập cơ quan liên lạc giữa hai nước.
Ngày 11/07/1995: Tổng thống Bill Clinton tuyên bố bình thường hóa quan hệ ngoại giao với Việt Nam.
Lịch sử tái diễn
Bản tin của đài VOA ngày 12.8.2013 cho biết hôm 10/08/2013, một phái đoàn của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đã đến Việt Nam được nói là “để tìm hiểu về thực trạng nhân quyền của Hà Nội trong bối cảnh nhân quyền Việt Nam đang bị chú ý.” Thành viên chính của phái đoàn gồm có ba người:
  1. Ông Hunter M. Strupp, Chuyên gia phân tích Chính sách Châu Á, Ủy Ban Đối Ngoại Hạ viện Hoa Kỳ
  2. Bà Janice Kaguyutan, Tham mưu Trưởng cho Ủy Ban Đối Ngoại Hạ viện Hoa Kỳ
  3. Bà Joan O’Donnell Condon, Thành viên giúp việc cao cấp của Ủy Ban Đối Ngoại Hạ viện Hoa Kỳ.
Trong khi đó, Hạ Viện Mỹ biểu quyết dự luật HR 1897 ngăn chận viện trợ phi nhân đạo cho Việt Nam nều không cải thiện về nhân quyền.
Đa số người Việt chống cộng đã vui mừng về các hoạt động này của Mỹ. Nhưng các chuyên gia tin rằng Hoa Kỳ đang đến thảo luận với Hà Nội về kế hoạch trở lại Đông Nam À của Mỹ, dân chủ và nhân quyền chỉ là một chiêu bài, giống như vụ MIA trước 1994. Bản tin của VOV nói trên có nói thêm:
“Chuyến đi được thực hiện giữa lúc Việt-Mỹ thương lượng về Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, giữa lúc Hoa Kỳ tuyên bố nghiêm túc xem xét việc bỏ cấm vận bán võ khí sát thương cho Việt Nam với một số điều kiện nhất định bao gồm cải thiện nhân quyền, và giữa những lời đề nghị đưa tên Việt Nam trở lại danh sách các nước cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo CPC.”
Kế hoạch Mỹ trở lại Đông Nam Á đã được đưa ra từ năm 2001 để ngăn chận sự bành trướng của Trung Quốc, nhưng vì xảy ra cuộc chiến với khối Hồi Giáo nên kế hoạch này đã được đình hoãn lại. Nay vì sự lộng hành của Trung Quốc, Hoa Kỳ thấy cần phải xúc tiến ngay. Nhưng vấn đề không giản dị. Có nhiều dấu hiệu cho thấy Hoa Kỳ đang úy thác việc phát triển kinh tế ở Đông Nam Á cho Nhật Bản và Hoa Kỳ đứng đàng sau.
Trước hết, chúng tôi xin trình bày tổng quát về kế hoạch trở lại Đông Nam Á của Mỹ, sau đó sẽ nói về những biện pháp mà Hoa Kỳ đang tiến hành.
Kế hoạch trở lại Đông Nam Á
Ngày 20/07/2001, Đài Á Châu Tự Do, dưới đầu đề “Một đề nghị chính sách mới cho Hoa kỳ đối với ASEAN” đã cho phổ biến một tài liệu mang tên “Hoa kỳ và Đông Nam Á: Đề nghị một chính sách mới cho tân chính phủ Bush” của Hội đồng Bang giao Quốc tế của Mỹ, một tổ chức rất có ảnh hưởng như một cơ quan tư vấn trong việc hoạch định chính sách ngoại giao của Hoa kỳ.
Tài liệu này là sản phẩm của một ban nghiên cứu do cựu Thượng Nghị sĩ John Kerry thuộc đảng Dân chủ ở bang Nebraska chủ tọa và ông Robert A. Manning điều hành. Chúng tôi xin tóm lược những nét chính.
Thượng Nghị sĩ John Kerry nói:
kerry“Đông Nam Á là một vùng rất quan trọng đối với Hoa kỳ. Nói thế không có nghĩa là vùng này là chuyện sống còn đối với Hoa kỳ nhưng đó vẫn là một vùng mà mậu dịch với chúng ta rất là to lớn. Năm 1997 chúng ta đã thấy là vụ đồng baht Thái lan mất giá đã có thể tác hại đến như thế nào…”
Tài liệu viết:
“Kinh nghiệm của Hoa kỳ ở Châu Á chỉ cho chúng ta thấy là chúng ta sẽ có thể gặp rất nhiều rủi ro ngày nào chúng ta còn lãng quên vùng Đông Nam Châu Á.”
Tài liệu nói rằng một trong những khu vực mà Mỹ cần phải nhìn vào thật kỹ là chính sách của Bắc kinh đối với các nước ở Đông Nam Á. Trung quốc đã đặc biệt khôn khéo và thành công trong việc làm cho các quốc gia ở Đông Nam Á cảm thấy yên tâm trước những bước lấn tới của nước láng giềng khổng lồ này. Hoa kỳ cần phải theo dõi rất sát bước tiến của chính sách Trung Quốc đối với các quốc gia Đông Nam Á nhưng không nhất thiết đặt Bắc kinh vào trong một thế đương đầu hay thù nghịch. Tài liệu khuyến cáo: “Chúng ta cần tránh buộc các nước Đông Nam Á phải chọn lựa giữa Hoa kỳ và Trung quốc.”
Tuy nhiên, Hoa Kỳ vẫn cần phải duy trì một sự hiện diện quân sự khả tín ở trong vùng qua những chương trình huấn luyện chung với quân đội của các quốc gia thân thiện, cũng như duy trì khả năng yểm trợ linh động khi cần thiết. Làm được như thế sẽ tránh được những xung đột vùng và không để cho một nước nào ngoài vùng lại có uy thế quá lớn ở nơi đây.
Tài liệu đặc biệt lưu ý đến Indonesia và cho rằng tình hình ở này rất bất ổn về mọi mặt, từ xã hội đến kinh tế và chính trị, điều này rất nguy hiểm vì Indonesia không những giữ một vị thế trung tâm trong vùng các quốc gia ASEAN, đó còn là nước lớn thứ tư trên thế giới, lại có một dân số theo đạo Hồi lớn nhất trong các quốc gia Hồi giáo, cùng lúc là một nước xuất cảng dầu cỡ bự và là nước độc nhất ở Á Châu có chân trong OPEC, tổ chức các quốc gia xuất cảng dầu trên thế giới.
Khi ông Colin Powell, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa kỳ lúc đó sắp sang Việt Nam, Thượng nghị sĩ Kerrey cho rằng điều đó rất có ý nghĩa và sẽ có ảnh hưởng, Ông nói:
“Hoa kỳ có thể chứng minh là chúng ta đang trở lại vùng Đông Nam Á và đang làm những công việc có tính cách xây dựng. Chúng ta giúp thương thảo một hiệp ước hòa bình ở Cambodia vào hai năm 91 và 92, chúng ta tham gia trong việc cung cấp tiền cho lực lượng bảo vệ hòa bình của Liên hiệp quốc ở đó, cung cấp một lộ trình để chấm dứt tình trạng bao vây kinh tế Việt Nam và tiến tới bình thường hóa ngoại giao…”
Nay chúng ta thấy những gì mà Hội đồng Bang giao Quốc tế của Mỹ khuyến cáo năm 2001 đã và đang được Mỹ thực hiện, nhưng hơi chậm. Hiện nay, ba nước Miến Điện, Lào và Cambodia đã đứng hẳn về phía Trung Quốc. Indonesia, Việt Nam, Mã Lai và Brunei nghiêng về phía Trung Quốc vì các quyền lợi của họ ở đó. Mỹ vừa ký thỏa hiệp đối tác chiến lược toàn diện với Indonesia và Việt Nam, nhưng còn lâu mới xúc tiến được.
Vai trò của Nhật
Hình như không nước nào ở Đông Nam Á hoàn toàn tin tưởng vào Mỹ vì hai lý do chính: Lý do thứ nhất là Mỹ đến đâu cũng đều tìm cách thay đổi chế độ ở đó để phục vụ quyền lợi của Mỹ. Lý do thứ hai là khi cần Mỹ sẵn sàng hy sinh “đồng minh” để bảo vệ quyền lợi của Mỹ. VNCH là một thí dụ điển hình. Vì thế Mỹ đã để Nhật đi bước trước.
Cũng như Trung Quốc, Nhật chủ trương không quan tâm đến chế độ của quốc gia đối tác, chỉ cần quốc gia đó bảo đảo các điều đã cam kết. Vì thế Nhật đã tiên phong vào Việt Nam và đang tranh giành với Trung Quốc về quyền lợi kinh tế ở Việt Nam,Cambodia, Thái Lan, Mã Lai và Miến Điện. Công việc trước tiên mà Nhật và Mỹ muốn thực hiện là hình thành một Con Đường Xuyên Á đi từ Hà Nội vào Sài Gòn, qua Cambodia, Thái Lan, xuống Mã Lai, Singapore, đi ngang qua Miến Điện, Bangladesh và Ấn Độ. Không có con đường này thì không thể mở rộng thị trường được. Nhưng Nhật đang gặp khó khăn với Trung Quốc.
Chính phủ Nhật Bản vừa quyết định chọn 9 dự án hạ tầng quan trọng ở khu vực Đông Nam Á, với tổng kinh phí ước tính 900 tỷ Yen (khoảng 1,16 tỷ USD), để đầu tư theo mô hình đối tác công-tư, trong đó có 5 dự án ở Việt Nam.
Theo nhật báo Nikkei, các dự án này bao gồm dự án xây dựng ở Việt Nam sân bay quốc tế, nhà máy nhiệt điện chạy than, xây dựng khu công nghiệp, quy hoạch đô thị và xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch; hai dự án xây dựng hệ thống cung cấp nước sạch ở Malaysia và Indonesia; dự án xây dựng đường cao tốc ở Philippines; và dự án xây dựng cơ sở xử lý rác thải ở Indonesia.
Đến cuối tháng 11/2011, các doanh nghiệp Nhật Bản đã đầu tư vào 1.623 dự án FDI ở Việt Nam, trong đó có 1.007 dự án tập trung vào lĩnh vực công nghiệp chế biến và chế tạo, với tổng số vốn đăng ký lên tới gần 22,4 tỷ USD, đứng thứ tư trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư vào Việt Nam. Chỉ tính riêng năm 2012, vốn đầu tư Nhật Bản chiếm hơn 50% so với vốn đầu tư của nước ngoài vào Việt Nam.
Cạnh tranh bán vũ khí
Người ta tin rằng phái đoàn của Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ đến Việt Nam hôm 10/08/2013 liên hệ đến việc bán vũ khí sát thương (lethal weapons) cho Việt Nam hơn là vấn đề nhân quyền. Nhân quyền chỉ là cái màn che bên ngoài.
Trong cuộc viếng thăm Hà Nội của Bộ trưởng Quốc phòng Nga Sergei Shoigu vào tháng 3/2013 vừa qua, hai bên đã nhấn mạnh ý định tiếp tục phối hợp trong lĩnh vực hợp tác kỹ thuật quân sự và mua sắm vũ khí trang bị của Nga. Hiện nay, có 5 quốc gia nhập khẩu vũ khí trang bị Nga nhiều nhất là Ấn Độ (35%), Trung Quốc (15%), Algeria (14%), Việt Nam và Venezuela.
Vế không quân, trong thập kỷ qua, Việt Nam đã mua nhiều chiến đấu cơ của Nga để mở rộng mạnh mẽ đội tiêm kích Sukhoi hiện gồm 12 Su-27SK/UBK và 24 Su-30MK2V.
Về hải quân, Việt Nam đang ở giai đoạn thực hiện hợp đồng mua 6 tàu ngầm thông thường lớp Projekt 636 của Nga đến năm 2016. Hai chiếc tàu hộ vệ tàng hình lớp Projekt 11661E Gepard-3.9 tiếp theo đang được đóng cho Hải quân Việt Nam tại Nhà máy đóng tàu Zelenodolsk. Cuối năm nay, chiếc đầu tiên trong 6 tàu tên lửa lớp Projekt 12418 Molnya sẽ giao cho Việt Nam.
Tổng công ty Hỏa tiển chiến thuật (TRV) của Nga đang hợp tác với phía Việt Nam trong việc triển khai sản xuất hỏa tiển chống hạm Kh-35 Uran tại Việt Nam.
Theo hãng tin quốc phòng Jane’s, Việt Nam dự trù trong giai đoạn từ 2013 đến 2017 sẽ xử dụng khoảng 6,5% GDP mỗi năm cho chi phí quốc phòng. Do đó, Mỹ sẽ không bỏ qua thị trường này.
Con đường chông gai
Như chúng ta đã biết, trước đây, dân biểu Chris Smith đã đề xướng ba dự luật Nhân quyền cho Việt Nam trong các năm 2004, 2007, và 2012 và đã được Hạ viện Mỹ thông qua. Nhưng sau đó Thượng Viện cho chìm xuồng. Nay thêm dự luật HR 1897. Các dự luật này được coi là công cụ trong “chiến thuật tay đánh tay xoa” của Hoa Kỳ. Nó được đưa ra để làm áp lực với Việt Nam về một vấn đề Mỹ đang đòi hỏi, sau đó được bỏ đi.
Người Việt chống cộng không thể quên được lời tuyên bố của bà Ngoại trưởng Hillary Clinton tại Bắc Kinh ngày 21.2.2009:
clinton“Hoa Kỳ sẽ không để vấn đề Dân chủ, Nhân quyền gây ảnh hưởng và cản trở bước phát triển trong mối quan hệ song phương giữa Trung quốc và Hoa Kỳ.”
Chính sách đó cũng đã được áp dụng cho Việt Nam và nhiều nước khác.
Hoa Kỳ cũng thừa hiểu rằng, CSVN và hầu hết các nước khác trong vùng Đông Nam Á nếu bị quá nhiều áp lực, sẽ đứng nghiêng về phía Trung Quốc hay Nga để bảo vệ quyền lực và quyền lợi của họ. Do đó, chuyến mặc cả để trở lại Đông Nam Á của Mỹ không phải là chuyện dễ dàng. Chúng tôi xin nhắc lại, Hội đồng Bang giao Quốc tế của Mỹ đã khuyến cáo: “Chúng ta cần tránh buộc các nước Đông Nam Á phải chọn lựa giữa Hoa kỳ và Trung quốc.”
Nói tóm lại, con đường Mỹ trở lại Đông Nam Á cũng như con đường dân chủ cho Việt Nam vẫn còn nhiều chông gai.
15/08/2013

Tổng số lượt xem trang