Chủ Nhật, ngày 19 tháng 4 năm 2015

Chùm bài suy nghĩ về ngày 30-4

-Trần Trung Đạo-Tin Tức Hôm Nay
Trần Trung Đạo: Câu hỏi tháng Tư
12/4/2015

Những ngày còn nhỏ, tôi bị ám ảnh bởi câu hỏi tự mình đặt ra “Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?”

Tôi lớn lên ở Đà Nẵng. Đường phố quê hương tôi trong khoảng thời gian từ 1968 đến 1972 có rất nhiều lính Mỹ. Những chiến tàu nhập cảng Tiên Sa chở đầy chiến xa và súng đạn mang nhãn “Made in USA”. Những đoàn xe vận tải hiệu Sealand, RMK gần như chạy suốt ngày đêm từ nơi dỡ hàng ngoài bờ biển đến các kho quân sự chung quanh Đà Nẵng. Tiếng gầm thét của các phi cơ chiến đấu có đôi cánh gắn đầy bom, lát nữa, sẽ được ném xuống một nơi nào đó trên mảnh đất Việt Nam. Những câu lạc bộ, được gọi là “hộp đêm”, mọc đầy hai bên bờ sông Hàn. Mỹ đen, Mỹ trắng chở hàng quân tiếp vụ đi bán dọc chợ Cồn, chợ Vườn Hoa. 

Phía trước Tòa Thị Chính Đà Nẵng, trước rạp hát Trưng Vương hay trong sân vận động Chi Lăng, gần như tháng nào cũng có trưng bày chiến lợi phẩm tịch thu từ các cuộc hành quân. Những khẩu thượng liên có nòng súng cao, những khẩu pháo nòng dài, rất nhiều AK 47, B40, súng phóng lựu đạn và hàng khối đạn đồng vàng rực. Sau “Mùa hè đỏ lửa” trong số chiến lợi phẩm còn có một chiếc xe tăng T54 được trưng bày rất lâu trước Tòa Thị Chính. Không cần phải giỏi ngoại ngữ, chỉ nhìn nhãn hiệu tôi cũng biết ngay chúng là hàng của Trung Quốc và Liên Xô.

Nhìn viên đạn của Nga và Tàu, tôi nghĩ đến trái tim của người lính trẻ miền Nam, giống như khi nhìn chiếc chiến đấu cơ của Mỹ cất cánh tôi chợt nghĩ đến các anh lính từ miền Bắc xấu số đang di chuyển bên kia sông Thu Bồn. Vũ khí là của các đế quốc. Không có khẩu súng nào chế tạo ở miền Nam hay miền Bắc. Các bà mẹ Việt Nam chỉ chế tạo được những đứa con và đóng góp phần xương máu.

Vũ khí của các đế quốc trông khác nhau nhưng nạn nhân của chúng dù bên này hay bên kia lại rất giống nhau. Nếu tháo đi chiếc nón sắt, chiếc mũ vải xanh, hai người thanh niên có mái tóc đen, vầng trán hẹp, đôi mắt buồn hiu vì nhớ mẹ, nhớ em chẳng khác gì nhau. Dù “con đường Duy Tân cây dài bóng mát” hay “mặt hồ Gươm vẫn lung linh mây trời” cũng là quê hương Việt Nam và nỗi nhớ trong tâm hồn người con trai Việt ở đâu cũng đậm đà tha thiết.

Người lính miền Nam chết vì phải bảo vệ chiếc cầu, căn nhà, xóm làng, góc phố thân yêu của họ. Nếu ai làm một thống kê để hỏi những lính miền Nam còn sống hôm nay, tôi tin không ai trả lời muốn “ăn gan uống máu quân thù” miền Bắc. Họ chỉ muốn sống yên ổn trong hòa bình để xây đắp lại mảnh đất họ đã “xin chọn nơi này làm quê hương” sau khi trải qua quá nhiều đau thương tang tóc. Họ phải chiến đấu và hy sinh trong một cuộc chiến tự vệ mà họ không chọn lựa.

Dân chủ không phải là lô độc đắc rơi vào trong túi của người dân miền Nam mà phải trải bằng một giá rất đắt. Tham nhũng, lạm quyền, ám sát, đảo chánh diễn ra trong nhiều năm sau 1960. Có một dạo, tấm hình của vị “nguyên thủ quốc gia” chưa đem ra khỏi nhà in đất nước đã có một “nguyên thủ quốc gia” khác. Nhưng đó là chuyện của chính quyền và nhân dân miền Nam không dính líu gì đến đảng Cộng Sản miền Bắc.

Dân chủ ở miền Nam không phải là sản phẩm của Mỹ được đóng thùng từ Washington DC gởi qua nhưng là hạt giống do Phan Chu Trinh, Bùi Quang Chiêu, Nguyễn Phan Long, Phan Văn Trường, Nguyễn An Ninh và rất nhiều nhà cách mạng miền Nam khác gieo xuống hàng nửa thế kỷ trước đã mọc và lớn lên trong mưa bão. Không chỉ miền Nam Việt Nam mà ở đâu cũng vậy. Nam Hàn, Ấn Độ, Thổ Nhĩ Kỳ, Phi Luật Tân và nhiều quốc gia khác, dân chủ đã phải trải qua con đường máu nhuộm trước khi đơm bông kết trái.

Khác với người lính miền Nam, người lính miền Bắc chết vì viên thuốc độc bọc đường “thống nhất đất nước”. Chị Đặng Thùy Trâm bị giết ở Quảng Ngãi đã uống viên thuốc đó. Anh Nguyễn Văn Thạc, tác giả của hồi ký “Mãi mãi tuổi hai mươi” bị giết ở Quảng Trị đã uống viên thuốc đó. Cô bé Trần Thị Hường 17 tuổi và chín cô gái ở Ngã Ba Đồng Lộc bị bom Mỹ rơi trúng ngay hầm đã uống viên thuốc đó. Họ không biết đó là thuốc độc. Không biết thì không đáng trách. Nhà văn Dương Thu Hương trải qua một thời thanh niên xung phong nhưng chị may mắn còn sống để nhắc cho các thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay biết “chế độ ngoài Bắc là chế độ man rợ vì nó chọc mù mắt con người, bịt lỗ tai con người.”

Tại sao chiến tranh diễn ra tại Việt Nam mà không phải tại một quốc gia nào khác?
Thật không công bằng cho đảng nếu tôi chỉ dùng tài liệu trong các thư viện ở Mỹ để chứng minh âm mưu xích hóa Việt Nam của đảng CSVN.

Tôi sẽ trích những câu do đảng viết ra. Theo quan điểm lịch sử của đảng CSVN chiến tranh đã xảy ra bởi vì “Ở miền Nam, lợi dụng sự thất bại và khó khăn của thực dân Pháp, đế quốc Mỹ đã nhảy vào để thay chân Pháp nhằm biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới và căn cứ quân sự của Mỹ.”

Không ai hình dung “thuộc địa kiểu mới” hình dáng ra sao và đảng cũng chưa bao giờ giải thích một cách rõ ràng.

Sau Thế chiến thứ hai, hàng loạt quốc gia trong đó có những nước vốn từng là đế quốc, đã nằm trong vòng ảnh hưởng kinh tế và cả chính trị của Mỹ. Chẳng lẽ 18 nước châu Âu bao gồm Tây Đức, Áo, Bỉ, Pháp, Ý, Anh, Hòa Lan v.v… trong kế hoạch Marshall chia nhau hàng trăm tỉ đô la của Mỹ để tái thiết đất nước sau thế chiến thứ hai đều trở thành những “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao? Chẳng lẽ các nước Á châu như Nam Hàn, Nhật Bản, Đài Loan được viện trợ không những tiền của mà còn bằng cả sức người để xây dựng lại đất nước họ là “thuộc địa mới” của Mỹ hay sao?

Chuyện trở thành một “căn cứ quân sự” của Mỹ lại càng khó hơn.

Chính sách vô cùng khôn khéo của chính phủ Thổ Nhĩ Kỳ dùng Đệ Lục Hạm Đội Mỹ làm hàng rào bảo vệ đất nước Thổ ngăn chặn làn sóng đỏ Liên Xô xâm lược là một bài học cho các lãnh đạo quốc gia biết mở mắt nhìn xa. Mặc dù là một nước trung lập trong thế chiến thứ hai, để lấy lòng Mỹ, lãnh đạo Thổ đã tình nguyện gởi 5500 quân tham chiến bên cạnh Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên. Quân đội Thổ chiến đấu anh dũng nhưng cũng chịu đựng tổn thất rất nặng nề. Một nửa lực lượng Thổ đã chết và bị thương trong ba năm chiến tranh. Nhờ sự hy sinh của họ mà Thổ Nhĩ Kỳ được đền bù. Ngày 18 tháng 2 năm 1952, Thổ Nhĩ Kỳ chính thức trở thành hội viên của NATO và hùng mạnh đến ngày nay.

Nhật Bản là một ví dụ khác. Trong cuốn phim tài liệu Thế Giới Thiếu Mỹ (The World Without US) đạo diễn Mitch Anderson trích lời phát biểu của Thủ tướng Nhật Yasuhiro Nakasone “Nếu Mỹ rút khỏi Nhật Bản, chúng tôi phải dành suốt mười năm tới chỉ để lo tái võ trang trong nhiều mặt, kể cả sản xuất võ khí nguyên tử”. Một quốc gia có nền kinh tế lớn thứ ba trên thế giới nhưng dành vỏn vẹn một phần trăm cho ngân sách quốc phòng chỉ vì Nhật dựa vào khả năng quốc phòng của Mỹ và sự có mặt của 35 ngàn quân Mỹ. Khác với chủ trương “đánh cho Mỹ cút ngụy nhào” của Hồ Chí Minh, trong một thống kê mới đây, 73 phần trăm công dân Nhật biết ơn quân đội Mỹ bảo vệ họ.

Đứng trước một miền Bắc điêu tàn sau mấy trăm năm nội chiến và thực dân áp bức, một giới lãnh đạo nếu thật tâm thương yêu dân tộc trước hết phải nghĩ đến việc vá lại những tang thương đổ vỡ, đưa đất nước ra khỏi cảnh đói nghèo, lạc hậu. Ngay cả thống nhất là một ước mơ chung và có thật đi nữa cũng cần thời gian và điều kiện. Con người trước hết phải sống, phải có cơm ăn, áo mặc, nhà ở, học hành trước khi nghĩ đến chuyện đoàn tụ với đồng bào và bà con thân thuộc.

Ngoại trừ các lãnh đạo CSVN, trên thế giới chưa có một giới lãnh đạo thể hiện lòng yêu nước bằng cách giết đi một phần mười dân số, đốt cháy đi một nửa giang sơn của tổ tiên để lại, dâng hiến hải đảo chiến lược cho kẻ thù truyền kiếp của dân tộc mà gọi đó là “thống nhất đất nước” và “hòa hợp dân tộc”.

Cũng trong tài liệu chính thức của đảng, ngay cả trước khi ký hiệp định Geneve và khi Việt Nam chưa có một dấu chân người lính Mỹ nào, hội nghị lần thứ sáu của Trung ương Đảng CSVN từ ngày 15 đến 17 tháng 7 năm 1954, Hồ Chí Minh và bộ chính trị đảng CSVN đã nghĩ đến chuyện đánh Mỹ “Hiện nay đế quốc Mỹ là kẻ thù chính của nhân dân thế giới và nó đang trở thành kẻ thù chính và trực tiếp của nhân dân Đông Dương, cho nên mọi việc của ta đều nhằm chống đế quốc Mỹ“.

Vào thời điểm trước 1954, dân tộc Việt Nam thật sự có một mối thù không đội trời chung với Mỹ sâu đến thế sao hay giới lãnh đạo CSVN chỉ vẽ hình ảnh một “đế quốc Mỹ thâm độc đầu sỏ” như một lý do để chiếm toàn bộ Việt Nam bằng võ lực, và cùng lúc để phụ họa theo quan điểm chống Mỹ điên cuồng của chủ nô Mao Trạch Đông sau khi nướng gần một nửa triệu thanh niên Trung Quốc qua các đợt biển người trong cuộc chiến Triều Tiên?

Chữ “nước” trong khẩu hiệu “Chống Mỹ cứu nước” là nước Trung Cộng chứ không phải nước Việt Nam.

Đường lối chiến tranh cách mạng của Mao có thể tóm tắt trong bài phát biểu tại Diên An: “Nhiệm vụ trung tâm và hình thức cao nhất của cách mạng là chiếm lấy quyền lực xuyên qua đấu tranh võ trang và giải quyết xung đột bằng chiến tranh. Đây là nguyên tắc cách mạng của chủ nghĩa Mác Lênin, và và phải được một cách toàn diện tại Trung Quốc và toàn thế thế giới”. Đường lối sắt máu đó đã được các lãnh đạo CSVN áp dụng một cách nguyên tắc và chi phối toàn bộ chiến lược chiến tranh của đảng CSVN từ khi phát động cuộc chiến “giải phóng miền Nam bằng võ lực” cho tới 30 tháng Tư 1975. Tất cả các hiệp định từ Geneva 1954 cho tới Paris 1973 chỉ là những trạm dừng chân, thời gian nghĩ ngơi dưỡng sức của đoàn quân CS chứ không phải là chặng cuối cùng.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, sau gần một thế kỷ với bao nhiều tổn thất máu xương, tù ngục, mục tiêu Cộng Sản hóa Việt Nam của đảng cuối cùng đã đạt được. Lê Duẩn, trong diễn văn mừng chiến thắng vài hôm sau đó đã nói “vinh quang này thuộc về đảng Lao Động Việt Nam quang vinh, người tổ chức và lãnh đạo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam”. Lời phát biểu của họ Lê nhất quán với nghị quyết của đại hội Đảng Cộng sản Đông Dương do Trần Phú chủ trì năm 1930 và được Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương phê chuẩn vào tháng 4 cùng năm, ghi rõ: “Vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản trong cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chống đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa.”

Nguyễn Phú Trọng, Tổng bí thư đảng CSVN cũng lần nữa khẳng định “Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn khẳng định: chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam…. Vào những năm cuối thế kỷ XX, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, Đảng Cộng sản Việt Nam vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Nhiều người cho rằng Nguyễn Phú Trọng nói những câu lạc hậu, lỗi thời mà không biết mắc cỡ. Tôi tin y nói một cách chân thành và hãnh diện. Nhờ tài lãnh đạo mà đảng CSVN đã tồn tại dù cả một hệ thống xã hội chủ nghĩa lớn mạnh như Liên Xô đã phải sụp đổ.

Đối diện với thời đại toàn cầu hóa, nội chung chủ nghĩa Mác về mặt kinh tế đã phải thay đổi để đáp ứng nhu cầu tồn tại của đảng nhưng cơ chế nhà nước toàn trị sắc máu theo kiểu Lê Nin, Stalin chẳng những được duy trì mà còn củng cố chặt chẽ và nâng cấp kỹ thuật cao hơn. Dù ngoài miệng có hát bài “hòa hợp hòa giải” thắm đượm tình dân tộc, bên trong, các chính sách của đảng vẫn luôn kiên trì với mục tiêu toàn trị và bất cứ ai đi ngược với mục tiêu đó đều bị triệt tiêu không thương xót.
Dưới chế độ Cộng Sản, không những người dân bị ràng buộc vào bộ máy mà cả các lãnh đạo cũng sinh hoạt trong khuôn khổ tổ chức và nghiêm chỉnh thực thi các nguyên tắc lãnh đạo độc tài sắc máu do đảng của họ đề ra. Điều đó giải thích lý do giọng điệu của những cựu lãnh đạo Cộng Sản như Võ Văn Kiệt, Nguyễn Văn An, Nguyễn Khoa Điềm sau khi rời chức vụ giống như những người vừa được giải phẫu thanh quản, nói dễ nghe hơn nhiều so với thời còn trong bộ máy cầm quyền. Họ không phải là những người “buông dao thành Phật” nhưng chỉ vì họ đã trở về với vị trí một con người bình thường, ít bị ràng buộc trong cách ăn cách nói, cách hành xử, cách khen thưởng và trừng phạt như khi còn tại chức.

Giới lãnh đạo Cộng Sản được trui rèn trong tranh đấu, được huấn luyện chính trị từ cấp đội, cấp đoàn trước khi giữ các vị trí then chốt trong đảng và nhà nước CS. Họ nắm vững tâm lý và vận dụng một cách khéo léo tâm lý quần chúng để phục vụ cho các chính sách của đảng trong từng thời kỳ. Sau biến cố Thiên An Môn, để đánh lạc hướng cuộc đấu tranh đòi dân chủ của thanh niên sinh viên, nhà cầm quyền Cộng Sản Trung Quốc khai thác lòng căm thù chính sách quân phiệt của Nhật đã xảy ra từ thế kỷ trước. Lợi dụng việc Bộ Giáo dục Nhật bản liệt kê biến cố tàn sát Nam Kinh như một tai nạn trong sách giáo khoa, nhà cầm quyền Trung Quốc đã khuyến khích hàng chục ngàn thanh niên sinh viên Trung Quốc biểu tình suốt 3 tuần lễ trước tòa đại sứ Nhật. Việt Nam cũng thế. Trong chiến tranh biên giới 1979, các lãnh đạo CSVN đã lần nữa sử dụng thành công viên thuốc độc bọc đường “bảo vệ tổ quốc”.

Máu của hàng vạn thanh niên Việt Nam đổ xuống dọc biên giới Việt Trung phát xuất từ tình yêu quê hương trong sáng và đáng được tôn vinh, tuy nhiên, nếu dừng lại một phút để hỏi, họ thật sự chết vì tổ quốc hay chỉ để trả nợ xương máu giùm cho đảng CSVN?

Với tất cả thông tin được phơi bày, tài liệu được giải mật cho thấy, cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước” mà giới lãnh đạo CSVN đưa ra thực chất chỉ là cái cớ. Không có một người lính Mỹ nào đến Việt Nam, đảng vẫn cộng sản hóa miền Nam cho bằng được. Bộ máy tuyên truyền tinh vi của đảng thừa khả năng để nghĩ ra hàng trăm lý do khác để đánh miền Nam. Đảng CSVN là nguyên nhân khiến cho nhiều triệu người Việt vô tội ở hai miền đã phải chết một cách oan uổng, bao nhiêu thế hệ bị tiêu vong, bao nhiêu tài nguyên bị tàn phá và quan trọng nhất, chiếc còng Trung Cộng mà đảng thông đồng để đeo trên cổ dân tộc Việt Nam mỗi ngày ăn sâu vào da thịt nhưng không biết làm sao tháo gỡ xuống đây. Nói theo cách viết của nhạc sĩ Việt Khang “Việt Nam ơi thời gian quá nửa đời, và ta đã tỏ tường rồi”, chiến tranh xảy ra tại Việt Nam mà không ở đâu khác chỉ vì Việt Nam có đảng Cộng Sản Việt Nam.

Ngoại trừ các em, các cháu bị nhào nặn trong nền giáo dục ngu dân một chiều chưa có dịp tiếp xúc với các nguồn thông tin khách quan khoa học, nếu hôm nay, những người có học, biết nhận thức mà còn nghĩ rằng cuộc chiến kết thúc vào ngày 30 tháng 4 năm 1975 là cuộc chiến “chống Mỹ cứu nước”, những kẻ đó hoặc bị tẩy não hoàn toàn hoặc biết mình sai nhưng không đủ can đảm để thừa nhận ra nguồn gốc sâu xa của cuộc chiến Việt Nam và tự dối lòng để tiếp tục sống cho hết một kiếp người.

Sau 40 năm, “hàng triệu người buồn” như ông Võ Văn Kiệt nói, nếu chưa qua đời, hôm nay vẫn còn buồn. Nhưng người buồn không phải chỉ từ phía những người lính Việt Nam Cộng Hòa bị buộc buông súng, từ phía nhân dân miền Nam bị mất tự do mà còn là những người miền Bắc, cả những người trong đảng CS đã biết ra sự thật, biết mình bị lừa gạt, biết mình đã dâng hiến cả một cuộc đời trai trẻ cho một chủ nghĩa độc tài, ngoại lai, vong bản.

Không hiểu đúng tại sao chủ nghĩa CS đến Việt Nam sẽ không có một cách thích hợp để đẩy CS đi ra khỏi Việt Nam. Và tương tự, không hiểu đúng quá khứ, sẽ không có hành động đúng vì tương lai đất nước.

Gần mười năm trước tôi kết luận bài viết về ngày 30 tháng 4 bằng ba phân đoạn dưới đây và năm nay, tôi kết luận một lần nữa cũng bằng những dòng chữ đó để chứng minh một điều, tuổi trẻ của tôi có thể qua đi nhưng niềm tin vào tuổi trẻ trong tôi vẫn còn nguyên vẹn.

Như lịch sử đã chứng minh, chính nghĩa bao giờ cũng thắng. Không có vũ khí nào mạnh hơn sức mạnh đoàn kết dân tộc. Chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc, chúng ta mới có khả năng bảo vệ được chủ quyền và lãnh thổ Việt Nam, chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng vượt lên những hệ lụy quá khứ để hướng vào tương lai tươi sáng cho đời đời con cháu mai sau và chỉ có sức mạnh Đoàn Kết Dân Tộc chúng ta mới có khả năng phục hồi sự kính trọng Việt Nam trong lân quốc cũng như trong bang giao quốc tế.

Ngày 30 tháng 4, ngoài tất cả ý nghĩa mà chúng ta đã biết, còn là ngày để mỗi chúng ta nhìn lại chính mình, ngày để mỗi chúng ta tự hỏi mình đã làm gì cho đất nước, và đang đứng đâu trong cuộc vận hành của lịch sử hôm nay. Mỗi người Việt Nam có hoàn cảnh sống khác nhau, quá khứ khác nhau, tôn giáo khác nhau và mang trên thân thể những thương tích khác nhau, nhưng chỉ có một đất nước để cùng lo gánh vác. Đất nước phải vượt qua những hố thẳm đói nghèo lạc hậu và đi lên cùng nhân loại. Không ai có quyền bắt đất nước phải đau nỗi đau của mình hay bắt đất nước phải đi ngược chiều kim lịch sử như mình đang đi lùi dần vào quá khứ. Sức mạnh của dân tộc Việt Nam không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Tương lai dân tộc không nằm trong tay thiểu số lãnh đạo CSVN. Sinh mệnh dân tộc Việt Nam do chính nhân dân Việt Nam quyết định. Và do đó, con đường để đến một điểm hẹn lịch sử huy hoàng cho con cháu, chính là con đường dân tộc và không có một con đường nào khác.
Bốn mươi năm là một quãng đường dài. Chúng ta đã hơn một lần trễ hẹn với non sông, nhưng không phải vì thế mà không còn cơ hội. Cơ hội vẫn còn đó nếu chúng ta biết đoàn kết, thấy được hướng đi chung của dân tộc và thời đại. Chúng ta có nhiều quá khứ nhưng đất nước chỉ có một tương lai, đó là tương lai tự do, dân chủ, nhân bản và khai phóng cho những ai, sau những điêu tàn đổ vỡ, còn biết nhận ra nhau, còn biết yêu thương mảnh đất thiêng liêng, vinh quang và thống khổ Việt Nam.


--


-

 · Go Vap · 
Mấy hôm nay cả Lề trái , Lề phải , trong ngoài nước đều nói đến Hoà giải , hoà hợp . Nhiều bài viết , nhiều cách suy nghĩ , suy luận ... Tôi thử kể lại một câu chuyện thật 100% . Để ta có một cách nhìn khác hay không ?
Từ 1962 , gia đình tôi có nhà cho thuê , một người thuê nhà lúc ấy là một Đại uý VNCH tên Toàn. Hai vợ chồng người gốc Bắc ( Nam Định ) có 5 con , 3 trai 2gais . Các con gái đẹp như tượng Đức Mẹ đồng trinh . Hai gia đình chúng tôi kết thân và quý trọng nhau cho dù qua nhiều lần trao đổi ông sĩ quan. VNCH này biết chắc Ba tôi là VC nằm vùng , hoạt đông trí vận . Kịp đến khi Ba Tôi bị bắt tù vào năm 1966 , ông Toàn lên cáp bậc Trung tá và 1972 là Đại Tá phụ trách Quân Nhu toàn Quân Khu 1 lúc bấy giờ cho đến 1975 . Có hai điều cần nói là Quân nhu VNCH chính như Tổng Cục Hậu Cần QKhu . Cả nước VNCH lúc ấy chỉ có 4 QK và QK 1 rất lớn bao gồm từ Vĩ tuyến 17 đến hết các tỉnh Miền Trung . Nghĩa là trong tay Đại Tá Toàn này khg thiếu một thứ gì và phương tiện quân vận như máy bay , tàu biển, xe ô tô khg thứ gì là khg có . Vậy mà cuộc sống gia đình ong rất thanh bạch , nhà thì ở Khu gia binh ( đường Trần Phú ĐN ) , khg có nhà riêng sau khi hết thuê nhà tôi .
Điều thứ hai cần kể là lúc Ba tôi bị giam ở nhà lao Thừa Phủ Huế thì ông Đại Tá này thường xuyên cấp máy bay trực thăng cho Mẹ tôi ra thăm nuôi Ba tôi ! Khi Ba Tôi bị đưa ra xét xử cong khai ở Toà án Quân sự mặt trận lưu động tại rạp hát Trưng Vương Đà Nẵng cuối năm 1967 thì Trung Tá Toàn đã hộc tốc chạy về nhà tôi chở Mẹ tôi lên chỗ xử và can thiệp cho Mẹ tôi được gặp Ba tôi . Vậy đó người sĩ quan VNCH này có sợ ảnh hưởng không? Tôi chắc rằng ở cương vị đó ông thừa sức hiểu những phiền toái sẽ đến với mình , nhưng tôi hiểu ông xem tình nghĩa bạn bè gặp lúc hoạn nạn lớn hơn việc phải đối phó sau này ! Hoặc giả trong quân đội ấy , trong xã hội cũ ấy cái tình , cái nghĩa được trân trọng để khg sợ những hậu quả trong giao tiếp , quan hệ .
Sau này khi tôi còn học năm cuối ở trường Đại học ( năm 1976 ) năm lần bảy lượt tôi được Đoàn trường gọi lên yêu cầu Tôi khg được ở cùng các bạn học mà tôi đã ở từ năm thứ nhất (1973 ) . Lý do là họ con Dại tá , Trung tá Nguỵ ,còn tôi được xem là gia đình CM. Toi đã khg chịu , vẫn ở với nhau cho đến ngày ra trường . Có lẽ đó là một lý do để tôi không được vào Đoàn , Hội gì hết !
Vậy đó , cho đến ngày ĐN nhốn nháo chờ quân giải phóng vào thành . Gia đình tôi hết sức căng thẳng vì sợ Ba tôi bị thủ tiêu trước khi chế độ cũ sụp đổ . May mắn việc đó đã khg xảy ra dù Ba tôi đúng là có trong danh sách cần giải quyết trước khi rút chạy . Tôi cong nhớ vào khoảng ngày 26/3/1975 , ông Đại tá Toàn đã lái xe về nhà tôi , đòi gặp Ba tôi cho được và chỉ để đặt ra một câu hỏi là Tôi nên ở lại hay nên di tản . Câu hỏi đặt ra vào lúc cận kề nhung với quyền lực, khả năng của ông ta thì việc ra đi ,di tản như thò tay vào túi lấy món vật nhỏ . Thời điểm ấy , với tấm lòng thành thực , niềm tin và sự hứng khởi CM thành công đã gần kề , Ba tôi đã khg ngần ngại trả lời : ở lại thôi Bác ạ , Hoà bình rồi , đất nước của mình làm lấy mà ăn chứ chạy đi đâu ! Ông Đại tá đã đồng tình : đúng rồi , Tôi đã đi Mỹ học, đã làm việc nhiều năm với Mỹ , tôi hiểu thân phận người mình khi đi tản như vậy . Điều ông còn băn khoăn là liệu có sự trả thù hay lỡ ra vo tình bị quét chung với tàn quân không ? Bằng tất cả tấm lòng và sự hiểu biết qua tài liệu tuyên truyền , Ba tôi bảo đảm sẽ khg có sự trả thù , sẽ sớm ổn định để mọi người dân bình đẳng như nhau sống và làm việc trong chế độ mới ! Tội nghiệp cho Ba tôi , ông ta đã bảo đảm một điều quá sức mình với lỏng tin trong sáng , thơ ngây đầy tính nhân văn mà tôi nghĩ hầu hết người miền Nam vào lúc ấy đều chung cách suy nghĩ ấy cho dù mỗi người lo âu mỗi cách , và dù hoàn cảnh cos khác biệt nhau . Cho đến sau này nhiều năm , Ba tôi vẫn giữ niềm ân hận ,ray rứt trong lòng cho đến lúc gặp lại người bạn cũ từ trại cải tạo trở về .
Ông Đại tá và gia đình đã ở lại ĐN , không di tản theo đoàn quân thất trận dù cho đến lúc cuối cùng của ĐN , ông cũng đủ sức lo một chổ an toàn cho cả gia đình ông trên chuyến tàu Trường Thành còn neo ở Cảng ĐN khi Quân giải phóng tiến vào . Để an toàn trong cơn biến loạn ấy , ông đưa vợ con về nhà tôi ở từ tối ngày 28/3 cho đến 3,4 /4 mới trở về nhà sau khi đã đi đăng ký tại UB quân quản .
Tan nát , chỉ có thể nói đúng tận cùng nghĩa tan nát sau khi ông Đại tá lên đường đi học tập cải tạo với lời hứa hẹn chỉ tập trung học trong vòng 15 ngày trở lại . Năm đầu tiên , gia đình ong còn được ở trong khu gia binh cũ . Đối phó với cái ăn , cái mặc của một gia đình lính không nhiều của ăn của để và khg quen xoay xở , chạy chợ là vô cùng vất vả ,tối tăm . Các con phải bỏ học gần hết do cha ở cấp bậc ấy và được liệt vào loại có nợ máu . Mô Phật , lạy Chúa , Tôi biết cả gia đình này chưa tùng dám cắt cổ một con gà , bản thân ông học hết trường này đến trường khác , máu me nào mà nợ . Nhưng thôi , trong một nghĩa nào đó của người thắng trận , tham gia , tiếp tay cho quân đội Nguỵ là đã vay nợ hay dây nợ rồi ! Thời gian này gia đình tôi chỉ biết lui tới , động viên và đau khổ nhìn họ ngày càng khó khăn , bế tắc.
Sang đến năm thứ hai , khu gia binh này được trưng dụng , có lẽ để làm nhà ở cho đoàn quân vào tiếp thu , xây dựng xã hội mới . Gia đình ông Đai tá có tên đi Kinh Tế Mới đầu tiên của ĐN . Và một buổi chiều sập tối cả gia đình cùng một số hoàn cảnh tương tự được bỏ xuống vãnh rừng hoang vu như chưa hề có bóng người ở , sau này đặt tên là Khu KTM Khuê Ngọc Điền ! Lương ăn được phát cho 30 ngày gạo , vài chiếc rựa ...không nhà , không điều kiện sống mà tất cả phải tự làm lấy . Tan nát , tan nát ,còn chữ nào hơn khg khi một cậu con trai sau một thời gian lao động bị nhiễm trùng uốn ván , khg phương tiện chạy chữa đã chết . Cô gái đến tuổi cập kê , đẹp như Đức Mẹ ngày xưa đã lấy một chàng thợ mộc làng cho xong một đời . Nhưng cũng không xong , đẻ hai đứa con , chàng thợ mộc rượu chè , đổ đốn , cô gái trẻ một mìn vác hai con về mẹ dù khó khăn cùng khó . Những người con khác làm rẫy kiếm sông cho qua kiếp người vẫn hy vọng bố về .( nhưngx chuyện này được kể khi tôi gặp lại năm 1991) . Gia đình Tôi biệt tin , mất liên lạc nhiều năm vào giai đoạn cả nước khổ lo cơm áo .
Năm 1991, tôi làm TNXP xây dựng kinh tế , đưa quân len Buôn mê Thuộc xây mấy cái Kho Bạc cho NN , tôi vẫn cố tâm tìm cho được gia đình ong Đại tá đâu đó vùng này . Thời may , anh thợ mộc (chồng cô con gái như Đức Mẹ ấy, lúc ấy vẫn còn sống với nhau) lại xin làm chổ công trình . Lân la dò mãi Tôi tìm được gia đình ấy , lúc bấy giờ nhờ phong trào khai khẩn làm cây cà phê , anh con trai đầu và bà mẹ khuê các năm xưa kịp làm được chục hecta cà phê , cuộc sống bắt đầu khá lên . Gặp nhau chỉ có nước mắt , không lời than vản , khg trách cứ ai , họ làm và chờ ngày ông Đại tá ra tù .
Ba năm sau , tôi gặp lại ông Đại tá ngày nào . Già , gầy nhưng hình như có điều gì đó tan vỡ trong ông ? Ông hỏi tôi giờ này ông còn làm được gì , và cười buồn yên phận người nông dân .
-
Photo: Tháng Tư và ký ức tập thể - Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

Nhớ, cách đây một hai năm gì đó, khi đọc một bài báo của một nhà văn miền Nam từng tham gia “Mặt trận” trước năm 1975, trong đó, ông phiền trách nhiều người ở hải ngoại sao cứ đau đáu mãi với quá khứ trong khi ông và bạn bè và đồng chí của ông thì đã gạt hẳn tất cả qua một bên từ lâu rồi, một người bạn tôi bình luận:

“Cứ tưởng tượng có một thằng lưu manh đến cướp nhà của người ta và đuổi người ta ra đường. Mấy năm sau, thấy nạn nhân nằm lê lết trên vỉa hè và nhớ tiếc ngôi nhà cũ, tên ăn cướp lên giọng: ‘Tại sao ông bà lại phải nhớ mãi những chuyện buồn như thế? Tại sao không quên đi? Tại sao không hướng tới tương lai để sống một cách thanh thản chứ?’ Nói xong, hắn quay về nhà, cái căn nhà hắn cướp của người ta, ngồi trên ghế salon, gác chân lên bàn, vừa nốc bia vừa nghĩ đến chuyện quên lãng và tha thứ như một thứ đạo đức mới mà hắn mới phát hiện ra được.”
Nguyễn Hưng Quốc blog

******

Cách đây hơn một năm, có một nghệ sĩ khá nổi tiếng từ Việt Nam sang tham dự một sinh hoạt văn nghệ tại Úc. Sinh ở Hà Nội sau năm 1975, anh là một nghệ sĩ tài hoa và có tinh thần cách tân khá triệt để. Và vì tinh thần cách tân ấy, dù tài hoa, anh vẫn bị cô lập ở Việt Nam. Sự cô lập ấy càng củng cố tư thế độc lập của anh; và tư thế độc lập ấy, đến lượt nó, củng cố cái nhìn cởi mở về nhiều vấn đề liên quan đến chính trị và xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, sau một thời gian tiếp xúc thân mật với nhiều người trong cộng đồng người Việt tại Úc, anh vẫn bị sốc. Một lần, anh tâm sự: “Điều em ngạc nhiên nhất là bà con bên này bị ám ảnh về quá khứ nhiều quá. Lần nói chuyện nào cũng dẫn đến những chuyện trước 75, rồi những chuyện sau 75, từ chuyện chiến tranh đến chuyện kinh tế mới, chuyện cải tạo và chuyện vượt biển. Ở trong nước, hầu như bọn em chẳng bao giờ nhớ hay nghĩ đến những chuyện như vậy nữa”.

Không phải chỉ có anh bạn nghệ sĩ ấy. Tôi đã nghe nhiều người nói thế. Có người viết hẳn trên báo chí. Là: những chuyện mà nhiều người ở hải ngoại còn trăn trở mãi, ở trong nước, người ta đã quên mất từ lâu rồi. Một số người còn lên giọng: Nên gạt bỏ quá khứ để hội nhập vào dòng chuyển động không ngừng của đất nước.

Những lời phát biểu ấy khiến tôi nghĩ ngợi về đề tài ký ức.

Trước hết, cần nói ngay, ký ức, đặc biệt ký ức tập thể (collective memory) hay ký ức văn hoá (culture memory) là một đề tài khá mới trong giới nghiên cứu. Trước, từ thời Khai Sáng, ở con người, giới nghiên cứu chỉ chú ý đến lý trí. Từ Descartes đến Pascal và Kant, người nào cũng đề cao lý trí, cũng đều xem lý trí là năng lực tối thượng phân biệt con người và các loài động vật khác. Từ đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của Freud, và sau đó, của Jung, với nhiều trường phái khác nhau trong chủ nghĩa hiện đại, người ta lại đề cao vô thức, xem chính vô thức mới là động lực chính thúc đẩy và quyết định những sự lựa chọn trong đời sống cũng như trong các hoạt động sáng tạo. Chỉ khoảng vài thập niên gần đây, người ta mới hay đề cập đến vai trò của ký ức, thoạt đầu trong lãnh vực xã hội học, sau, trong văn hoá học.

Có một câu nói nổi tiếng tiêu biểu cho quan niệm này: Chúng ta là những gì chúng ta nhớ (We are what we remember). Những gì chúng ta nhớ tạo nên ý nghĩa cho những gì chúng ta làm hoặc chứng kiến; và tất cả những gì chúng ta làm hoặc chứng kiến được ghi nhớ ấy sẽ tạo nên hình ảnh của chính chúng ta. Chính những hình ảnh ấy là những nguyên liệu đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên bản sắc của từng người. Bởi vậy những người bị mất trí nhớ bao giờ cũng bị mất ý niệm về bản sắc: Họ không biết họ là ai.

Nhưng ký ức có hai đặc điểm quan trọng cần lưu ý: Thứ nhất, nó không phải là cái gì thuần tuý có tính cá nhân. Bất cứ ký ức nào cũng có tính tương tác. Nhớ, dù là nhớ một kỷ niệm hoàn toàn riêng tư, cũng vẫn liên hệ với một cái gì khác: một thời gian, một không gian, một cảnh huống và những con người khác. Qua việc nhớ, do đó, chúng ta nối kết bản ngã và môi trường chung quanh, nối kết quá khứ và hiện tại, cá nhân và tập thể, cái riêng và cái chung. Bởi vậy ký ức nào, dù riêng tư đến mấy, vẫn lấp lánh hồi quang của cả một cộng đồng: ký ức, một mặt, kiến tạo và nuôi dưỡng bản sắc cá nhân, mặt khác, góp phần định hình bản sắc tập thể; rồi chính bản sắc tập thể ấy, đến lượt nó, lại tác động ngược lại đến ký ức, biến ký ức thành một quá trình chọn lọc liên tục. Từ đó, dẫn đến đặc điểm thứ hai: ký ức không phải là những gì cố định. Ký ức không phải là kho lưu trữ hình ảnh một cách máy móc và vô hồn. Ký ức, ngược lại, không ngừng được tái tạo và không ngừng được tái cấu trúc. Cùng một sự kiện, được nhớ trong những thời điểm khác nhau, với những quan điểm và những tâm trạng khác nhau, chúng ta có những hình ảnh khác nhau với những ý nghĩa khác nhau. Bởi vậy, ký ức nào cũng có tính hiện tại. Nó không phải chỉ là quá khứ. Nó là quá khứ được hiện tại hoá. Và vì được hiện tại hoá, quá khứ nào cũng có tính chính trị của nó. Nhớ, do đó, là một diễn ngôn (discourse), một loại hình tự sự, ẩn giấu đằng sau những nỗ lực diễn dịch và tái diễn dịch quá khứ để đáp ứng những thử thách của hiện tại.

Cũng cần lưu ý là ký ức hiện diện ở mọi nền văn hoá. Ai cũng có ký ức và cũng cần ký ức. Nhưng dường như với người Việt Nam, ký ức có tầm quan trọng hơn hẳn ở những nơi khác, nhất là ở các nước Tây phương. Ở Tây phương, nói chung, ký ức thường nhanh chóng được thu thập, lưu trữ, xác minh và phân tích, cuối cùng, thành lịch sử. Ở Việt Nam, ký ức thường ở nguyên dạng ký ức, khuất chìm trong vô thức, bàng bạc trong đời sống của quần chúng. Cái gọi là lịch sử ở Việt Nam, phần lớn chỉ là những mảnh ký ức rời, nhập nhoà giữa huyền thoại và sự thực, đậm đặc màu sắc truyền thuyết. Nếu lịch sử là những đại tự sự (grand narrative), ký ức chỉ là những tiểu tự sự. Nếu lịch sử mang tính chính quy, đặc tuyển và nhất là tuyến tính, ký ức thường đứng ngoài mọi thiết chế, gắn liền chủ yếu với văn hoá dân gian, thường xuyên chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tương tác trong xã hội.

Người Việt thích sống với ký ức. Người Việt ở hải ngoại lại càng thích sống với ký ức. Rời khỏi quê hương, sống hẳn ở nước người, tuyệt đại đa số lưu dân, trong đó có người Việt Nam, không bao giờ có thể hội nhập hẳn vào cuộc sống mới. Họ sống lửng lơ ở giữa (in-between). Giữa gì? Giữa quê gốc và quê mới. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và hoài bão. Sống ở giữa là sống trên những biên giới, là lấp lửng ở bên này và bên kia biên giới. Ở vùng biên giới ấy có gì? Chủ yếu là ký ức. Ký ức trở thành quê hương chính của những người lưu dân, bất kể là lưu dân nào. Nathalie Huỳnh Châu Nguyễn, một nhà nghiên cứu trẻ và xuất sắc ở Úc, mới xuất bản một cuốn sách mang nhan đề rất thú vị: “Ký ức là một quê hương khác: Phụ nữ Việt Nam lưu vong” (Memory is Another Country: Women of the Vietnamese Diaspora, Praeger, 2009). Sẵn, xin nhắc: Trước đó, một nhà nghiên cứu Việt học lỗi lạc khác, Huệ-Tâm Hồ-Tài, ở Mỹ, có một tác phẩm mang nhan đề tương tự, nhưng đối tượng khảo sát lại là ở Việt Nam thời hậu chiến: “Quê hương của ký ức: Việc tái tạo quá khứ ở Việt Nam thời hậu kỳ xã hội chủ nghĩa” (The Country of Memory: Remaking the Past in Late Socialist Vietnam, University of California Press, 2001). Dĩ nhiên, hai cái “quê hương” được đề cập trong hai tác phẩm vừa kể rất khác nhau. Khác, không những ở cấp độ mà còn về bản chất: với người trong nước, ký ức là một quê hương của lựa chọn; với những người lưu dân hay lưu vong, ký ức là quê hương của số phận. Là quê hương duy nhất. Ngoài nó, có khi không còn gì khác.

Người lưu dân hay lưu vong nào cũng gắn bó với ký ức. Những người lưu dân hay lưu vong ra đi từ một đất nước tan nát vì chiến tranh và ngập ngụa hận thù lại càng quay quắt với ký ức. Những người lưu dân và lưu vong đến sống ở các nền văn hoá khác, hoàn toàn xa lạ với nền văn hoá gốc lại càng bị giam hãm trong ký ức. Nói như thế cũng là cách mặc nhiên phân biệt hai loại ký ức: ký ức của người thắng cuộc và ký ức của các nạn nhân.

Ký ức của cộng đồng người Việt ở hải ngoại chủ yếu là ký ức của nạn nhân. Một ký ức đầm đìa máu và nước mắt. Không phải chỉ có máu và nước mắt thời kỳ chiến tranh mà còn có máu và nước mắt lúc chiến tranh đã kết thúc. Ở các nhà tù và trại cải tạo. Ở các chiến dịch đánh tư sản mại bản. Ở chính sách ngăn sông cấm chợ. Ở sự kỳ thị vùng miền và lý lịch. Ở những cuộc di tản và vượt biên đầy hãi hùng.

Đòi hỏi những người mang trong đầu và trong tim loại ký ức đầy máu và nước mắt ấy là một đòi hỏi vô cảm. Xuất phát từ miệng của những người thắng cuộc, nó không những vô cảm mà còn lưu manh.

Nhớ, cách đây một hai năm gì đó, khi đọc một bài báo của một nhà văn miền Nam từng tham gia “Mặt trận” trước năm 1975, trong đó, ông phiền trách nhiều người ở hải ngoại sao cứ đau đáu mãi với quá khứ trong khi ông và bạn bè và đồng chí của ông thì đã gạt hẳn tất cả qua một bên từ lâu rồi, một người bạn tôi bình luận:

“Cứ tưởng tượng có một thằng lưu manh đến cướp nhà của người ta và đuổi người ta ra đường. Mấy năm sau, thấy nạn nhân nằm lê lết trên vỉa hè và nhớ tiếc ngôi nhà cũ, tên ăn cướp lên giọng: ‘Tại sao ông bà lại phải nhớ mãi những chuyện buồn như thế? Tại sao không quên đi? Tại sao không hướng tới tương lai để sống một cách thanh thản chứ?’ Nói xong, hắn quay về nhà, cái căn nhà hắn cướp của người ta, ngồi trên ghế salon, gác chân lên bàn, vừa nốc bia vừa nghĩ đến chuyện quên lãng và tha thứ như một thứ đạo đức mới mà hắn mới phát hiện ra được.”

Tôi không chủ trương hận thù. Tôi biết có thứ đạo đức học của sự tha thứ (ethics of forgiveness) nhưng tôi không hề tin vào thứ đạo đức học của sự quên lãng (ethics of forgetting).

Theo tôi, không phải chỉ có bản sắc mà cả ý niệm về đạo đức cũng được nuôi dưỡng từ ký ức, kể cả, nếu không muốn nói, nhất là, những loại ký ức đầy máu và nước mắt.

http://www.voatiengviet.com/content/thang-tu-va-ky-uc-tap-the-04-26-10-92116194/861403.html-Tháng Tư và ký ức tập thể
Giáo sư Nguyễn Hưng Quốc

Nhớ, cách đây một hai năm gì đó, khi đọc một bài báo của một nhà văn miền Nam từng tham gia “Mặt trận” trước năm 1975, trong đó, ông phiền trách nhiều người ở hải ngoại sao cứ đau đáu mãi với quá khứ trong khi ông và bạn bè và đồng chí của ông thì đã gạt hẳn tất cả qua một bên từ lâu rồi, một người bạn tôi bình luận:


“Cứ tưởng tượng có một thằng lưu manh đến cướp nhà của người ta và đuổi người ta ra đường. Mấy năm sau, thấy nạn nhân nằm lê lết trên vỉa hè và nhớ tiếc ngôi nhà cũ, tên ăn cướp lên giọng: ‘Tại sao ông bà lại phải nhớ mãi những chuyện buồn như thế? Tại sao không quên đi? Tại sao không hướng tới tương lai để sống một cách thanh thản chứ?’ Nói xong, hắn quay về nhà, cái căn nhà hắn cướp của người ta, ngồi trên ghế salon, gác chân lên bàn, vừa nốc bia vừa nghĩ đến chuyện quên lãng và tha thứ như một thứ đạo đức mới mà hắn mới phát hiện ra được.”
Nguyễn Hưng Quốc blog

******

Cách đây hơn một năm, có một nghệ sĩ khá nổi tiếng từ Việt Nam sang tham dự một sinh hoạt văn nghệ tại Úc. Sinh ở Hà Nội sau năm 1975, anh là một nghệ sĩ tài hoa và có tinh thần cách tân khá triệt để. Và vì tinh thần cách tân ấy, dù tài hoa, anh vẫn bị cô lập ở Việt Nam. Sự cô lập ấy càng củng cố tư thế độc lập của anh; và tư thế độc lập ấy, đến lượt nó, củng cố cái nhìn cởi mở về nhiều vấn đề liên quan đến chính trị và xã hội Việt Nam. Tuy nhiên, sau một thời gian tiếp xúc thân mật với nhiều người trong cộng đồng người Việt tại Úc, anh vẫn bị sốc. Một lần, anh tâm sự: “Điều em ngạc nhiên nhất là bà con bên này bị ám ảnh về quá khứ nhiều quá. Lần nói chuyện nào cũng dẫn đến những chuyện trước 75, rồi những chuyện sau 75, từ chuyện chiến tranh đến chuyện kinh tế mới, chuyện cải tạo và chuyện vượt biển. Ở trong nước, hầu như bọn em chẳng bao giờ nhớ hay nghĩ đến những chuyện như vậy nữa”.

Không phải chỉ có anh bạn nghệ sĩ ấy. Tôi đã nghe nhiều người nói thế. Có người viết hẳn trên báo chí. Là: những chuyện mà nhiều người ở hải ngoại còn trăn trở mãi, ở trong nước, người ta đã quên mất từ lâu rồi. Một số người còn lên giọng: Nên gạt bỏ quá khứ để hội nhập vào dòng chuyển động không ngừng của đất nước.

Những lời phát biểu ấy khiến tôi nghĩ ngợi về đề tài ký ức.

Trước hết, cần nói ngay, ký ức, đặc biệt ký ức tập thể (collective memory) hay ký ức văn hoá (culture memory) là một đề tài khá mới trong giới nghiên cứu. Trước, từ thời Khai Sáng, ở con người, giới nghiên cứu chỉ chú ý đến lý trí. Từ Descartes đến Pascal và Kant, người nào cũng đề cao lý trí, cũng đều xem lý trí là năng lực tối thượng phân biệt con người và các loài động vật khác. Từ đầu thế kỷ 20, dưới ảnh hưởng của Freud, và sau đó, của Jung, với nhiều trường phái khác nhau trong chủ nghĩa hiện đại, người ta lại đề cao vô thức, xem chính vô thức mới là động lực chính thúc đẩy và quyết định những sự lựa chọn trong đời sống cũng như trong các hoạt động sáng tạo. Chỉ khoảng vài thập niên gần đây, người ta mới hay đề cập đến vai trò của ký ức, thoạt đầu trong lãnh vực xã hội học, sau, trong văn hoá học.

Có một câu nói nổi tiếng tiêu biểu cho quan niệm này: Chúng ta là những gì chúng ta nhớ (We are what we remember). Những gì chúng ta nhớ tạo nên ý nghĩa cho những gì chúng ta làm hoặc chứng kiến; và tất cả những gì chúng ta làm hoặc chứng kiến được ghi nhớ ấy sẽ tạo nên hình ảnh của chính chúng ta. Chính những hình ảnh ấy là những nguyên liệu đầu tiên và quan trọng nhất tạo nên bản sắc của từng người. Bởi vậy những người bị mất trí nhớ bao giờ cũng bị mất ý niệm về bản sắc: Họ không biết họ là ai.

Nhưng ký ức có hai đặc điểm quan trọng cần lưu ý: Thứ nhất, nó không phải là cái gì thuần tuý có tính cá nhân. Bất cứ ký ức nào cũng có tính tương tác. Nhớ, dù là nhớ một kỷ niệm hoàn toàn riêng tư, cũng vẫn liên hệ với một cái gì khác: một thời gian, một không gian, một cảnh huống và những con người khác. Qua việc nhớ, do đó, chúng ta nối kết bản ngã và môi trường chung quanh, nối kết quá khứ và hiện tại, cá nhân và tập thể, cái riêng và cái chung. Bởi vậy ký ức nào, dù riêng tư đến mấy, vẫn lấp lánh hồi quang của cả một cộng đồng: ký ức, một mặt, kiến tạo và nuôi dưỡng bản sắc cá nhân, mặt khác, góp phần định hình bản sắc tập thể; rồi chính bản sắc tập thể ấy, đến lượt nó, lại tác động ngược lại đến ký ức, biến ký ức thành một quá trình chọn lọc liên tục. Từ đó, dẫn đến đặc điểm thứ hai: ký ức không phải là những gì cố định. Ký ức không phải là kho lưu trữ hình ảnh một cách máy móc và vô hồn. Ký ức, ngược lại, không ngừng được tái tạo và không ngừng được tái cấu trúc. Cùng một sự kiện, được nhớ trong những thời điểm khác nhau, với những quan điểm và những tâm trạng khác nhau, chúng ta có những hình ảnh khác nhau với những ý nghĩa khác nhau. Bởi vậy, ký ức nào cũng có tính hiện tại. Nó không phải chỉ là quá khứ. Nó là quá khứ được hiện tại hoá. Và vì được hiện tại hoá, quá khứ nào cũng có tính chính trị của nó. Nhớ, do đó, là một diễn ngôn (discourse), một loại hình tự sự, ẩn giấu đằng sau những nỗ lực diễn dịch và tái diễn dịch quá khứ để đáp ứng những thử thách của hiện tại.

Cũng cần lưu ý là ký ức hiện diện ở mọi nền văn hoá. Ai cũng có ký ức và cũng cần ký ức. Nhưng dường như với người Việt Nam, ký ức có tầm quan trọng hơn hẳn ở những nơi khác, nhất là ở các nước Tây phương. Ở Tây phương, nói chung, ký ức thường nhanh chóng được thu thập, lưu trữ, xác minh và phân tích, cuối cùng, thành lịch sử. Ở Việt Nam, ký ức thường ở nguyên dạng ký ức, khuất chìm trong vô thức, bàng bạc trong đời sống của quần chúng. Cái gọi là lịch sử ở Việt Nam, phần lớn chỉ là những mảnh ký ức rời, nhập nhoà giữa huyền thoại và sự thực, đậm đặc màu sắc truyền thuyết. Nếu lịch sử là những đại tự sự (grand narrative), ký ức chỉ là những tiểu tự sự. Nếu lịch sử mang tính chính quy, đặc tuyển và nhất là tuyến tính, ký ức thường đứng ngoài mọi thiết chế, gắn liền chủ yếu với văn hoá dân gian, thường xuyên chịu sự chi phối của nhiều yếu tố tương tác trong xã hội.

Người Việt thích sống với ký ức. Người Việt ở hải ngoại lại càng thích sống với ký ức. Rời khỏi quê hương, sống hẳn ở nước người, tuyệt đại đa số lưu dân, trong đó có người Việt Nam, không bao giờ có thể hội nhập hẳn vào cuộc sống mới. Họ sống lửng lơ ở giữa (in-between). Giữa gì? Giữa quê gốc và quê mới. Giữa quá khứ và hiện tại. Giữa hoài niệm và hoài bão. Sống ở giữa là sống trên những biên giới, là lấp lửng ở bên này và bên kia biên giới. Ở vùng biên giới ấy có gì? Chủ yếu là ký ức. Ký ức trở thành quê hương chính của những người lưu dân, bất kể là lưu dân nào. Nathalie Huỳnh Châu Nguyễn, một nhà nghiên cứu trẻ và xuất sắc ở Úc, mới xuất bản một cuốn sách mang nhan đề rất thú vị: “Ký ức là một quê hương khác: Phụ nữ Việt Nam lưu vong” (Memory is Another Country: Women of the Vietnamese Diaspora, Praeger, 2009). Sẵn, xin nhắc: Trước đó, một nhà nghiên cứu Việt học lỗi lạc khác, Huệ-Tâm Hồ-Tài, ở Mỹ, có một tác phẩm mang nhan đề tương tự, nhưng đối tượng khảo sát lại là ở Việt Nam thời hậu chiến: “Quê hương của ký ức: Việc tái tạo quá khứ ở Việt Nam thời hậu kỳ xã hội chủ nghĩa” (The Country of Memory: Remaking the Past in Late Socialist Vietnam, University of California Press, 2001). Dĩ nhiên, hai cái “quê hương” được đề cập trong hai tác phẩm vừa kể rất khác nhau. Khác, không những ở cấp độ mà còn về bản chất: với người trong nước, ký ức là một quê hương của lựa chọn; với những người lưu dân hay lưu vong, ký ức là quê hương của số phận. Là quê hương duy nhất. Ngoài nó, có khi không còn gì khác.

Người lưu dân hay lưu vong nào cũng gắn bó với ký ức. Những người lưu dân hay lưu vong ra đi từ một đất nước tan nát vì chiến tranh và ngập ngụa hận thù lại càng quay quắt với ký ức. Những người lưu dân và lưu vong đến sống ở các nền văn hoá khác, hoàn toàn xa lạ với nền văn hoá gốc lại càng bị giam hãm trong ký ức. Nói như thế cũng là cách mặc nhiên phân biệt hai loại ký ức: ký ức của người thắng cuộc và ký ức của các nạn nhân.

Ký ức của cộng đồng người Việt ở hải ngoại chủ yếu là ký ức của nạn nhân. Một ký ức đầm đìa máu và nước mắt. Không phải chỉ có máu và nước mắt thời kỳ chiến tranh mà còn có máu và nước mắt lúc chiến tranh đã kết thúc. Ở các nhà tù và trại cải tạo. Ở các chiến dịch đánh tư sản mại bản. Ở chính sách ngăn sông cấm chợ. Ở sự kỳ thị vùng miền và lý lịch. Ở những cuộc di tản và vượt biên đầy hãi hùng.

Đòi hỏi những người mang trong đầu và trong tim loại ký ức đầy máu và nước mắt ấy là một đòi hỏi vô cảm. Xuất phát từ miệng của những người thắng cuộc, nó không những vô cảm mà còn lưu manh.

Nhớ, cách đây một hai năm gì đó, khi đọc một bài báo của một nhà văn miền Nam từng tham gia “Mặt trận” trước năm 1975, trong đó, ông phiền trách nhiều người ở hải ngoại sao cứ đau đáu mãi với quá khứ trong khi ông và bạn bè và đồng chí của ông thì đã gạt hẳn tất cả qua một bên từ lâu rồi, một người bạn tôi bình luận:

“Cứ tưởng tượng có một thằng lưu manh đến cướp nhà của người ta và đuổi người ta ra đường. Mấy năm sau, thấy nạn nhân nằm lê lết trên vỉa hè và nhớ tiếc ngôi nhà cũ, tên ăn cướp lên giọng: ‘Tại sao ông bà lại phải nhớ mãi những chuyện buồn như thế? Tại sao không quên đi? Tại sao không hướng tới tương lai để sống một cách thanh thản chứ?’ Nói xong, hắn quay về nhà, cái căn nhà hắn cướp của người ta, ngồi trên ghế salon, gác chân lên bàn, vừa nốc bia vừa nghĩ đến chuyện quên lãng và tha thứ như một thứ đạo đức mới mà hắn mới phát hiện ra được.”

Tôi không chủ trương hận thù. Tôi biết có thứ đạo đức học của sự tha thứ (ethics of forgiveness) nhưng tôi không hề tin vào thứ đạo đức học của sự quên lãng (ethics of forgetting).

Theo tôi, không phải chỉ có bản sắc mà cả ý niệm về đạo đức cũng được nuôi dưỡng từ ký ức, kể cả, nếu không muốn nói, nhất là, những loại ký ức đầy máu và nước mắt.

http://www.voatiengviet.com/content/thang-tu-va-ky-uc-tap-the-04-26-10-92116194/861403.html




30 tháng 4
tôi nhìn lại mình
Nguyễn Quốc Quân

Tại cuộc họp báo ở Hà Nội hôm thứ năm ngày 3 tháng 4 vừa qua, Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn đã công bố rằng nhà nước sẽ cho cử hành một đại lễ cầu siêu tổ chức tại Trường Sa dành cho những anh hùng tử sĩ hy sinh vì biển đảo, kể cả chiến sĩ VNCH, cũng như tưởng niệm thuyền nhân bỏ mình trên biển Đông. Khi nhắc tới thuyền nhân VN, ông đã gọi bằng một tên mới đó là “nạn nhân chiến tranh” và cho biết nhà nước VN “không còn bận tâm đến mục đích ra đi của khoảng 4 triệu rưỡi người Việt đang sinh sống ở nước ngoài”.

Tạm gác qua bên sự khó chịu về kiểu nói trịch thượng của ông Sơn và kinh nghiệm đã có quá nhiều về những “ẩn ý” hay “toan tính” của các lãnh đạo của ông Sơn, người ta vẫn thấy không ổn trong những phát biểu này và chẳng thấy sự chân thành nào đối với những người đã mất.
Có lẽ điều không ổn lớn nhất là thắc mắc: Nếu ông Sơn thực sự có thiện tâm muốn "hòa giải dân tộc" thì thay vì chỉ biết níu áo “các xác chết” ông có thể đề nghị Nhà Nước của ông làm rất nhiều việc dễ dàng, cụ thể, và cấp thiết hơn nhiều; chẳng hạn như hoà giải với các nhà bất đồng chính kiến “vẫn còn sống” trong và ngoài các trại tù tại Việt Nam. Như nhà nước Myanmar đã làm.
Nhân mùa tưởng niệm 30/4, từ một cái chết khác - một cái chết được biết trước nhưng vẫn khiến nhiều người bàng hoàng và cúi đầu khâm phục - đã thôi thúc tôi ghi lại những diễn tiến tư tưởng qua vài khúc quanh nhỏ của đời mình để bày tỏ lòng biết ơn tới những tấm gương lớn, nhỏ đời thường trong dòng sống gian nan đầy khổ lụy của lòng yêu chuộng tự do và công lý. Và cũng để khẳng định thuyền nhân Việt Nam không bao giờ chỉ đơn giản là nạn nhân chiến tranh.
***
Hình ảnh ghi đậm vào tâm trí tôi, vào những ngày này năm 1975, là một sinh viên năm cuối Đại Học Sư Phạm Saigon ban Toán đang cùng mẹ và các em gái, tại một căn chung cư gần chợ Bà Chiểu, mỗi người một bọc nhỏ quần áo với ít tiền lộ phí ngồi ngóng ra cửa đợi người con trai cả ở xa chưa về. Với trí nhớ về Việt Minh trên da thịt của những người lớn tuổi phải di cư năm 1954 thời ấy, mẹ tôi chỉ mong cả nhà xum họp sống chết cùng nhau. Và một lần nữa, bà quyết định cả nhà phải "trốn thoát nanh vuốt của Cộng Sản!"
Khi ông anh Thiếu úy Hải quân VNCH vừa về tới, vào trưa hôm 29-4, để đón cả nhà lên một trong hai chiếc PCF vừa cập bến Bạch Đằng thì ... chuyến đi đã không thực hiện được. Bởi vì trong một khung thời gian rất hẹp, như một định mệnh – vắng mặt mẹ.
Thực ra, cá nhân tôi và người anh trai cùng các em sinh ra và lớn lên trên một vùng đất Miền Nam tự do nên không “dễ tin” vào những câu chuyện kinh hoàng thuở “xa xưa” của người lớn. Do đó, cũng chẳng háo hức gì lắm với việc hoà mình vào cái hỗn loạn lúc ấy để cố gắng tìm cho mình một chỗ thoát thân. Cả hai anh em chúng tôi thở phào: “Thôi ... ở nhà. Ít nhất cũng mừng đã hết chiến tranh rồi !”
Thế rồi ít lâu sau đó, anh trai tôi chuẩn bị quần áo và thức ăn khô cho "10 ngày tập trung cải tạo". Sau ba năm tù cải tạo, anh trở về cùng gia đình tại khu kinh tế mới ở Bình Long - như một điều kiện để ra tù. Sẵn lòng sống như một người nông dân bình thường, nhưng vẫn không được để yên! Thời gian sau, anh trốn về thành phố sống chui nhủi lây lất vài tháng và vượt biển năm 1979.
Riêng tôi, cùng cả lớp ba mươi mấy mạng, phải ở lại trường thêm một năm để học chính trị và vỗ tay hát đồng ca. Lúc ấy tuy có hơi chống đối những cái lố lăng, nhưng trong thâm tâm thấy vui vì đất nước thống nhất. Cố căng mình ra để trải nghiệm và phản biện với những thực tế rất đặc thù Cộng Sản. May mà cũng được ra trường bổ đi dạy học tại tỉnh Kiên Giang năm 1976.
Suốt 5 năm dạy học, dốc hết tâm lực và niềm tin để chiêm nghiệm tương lai đất nước qua ánh mắt và ước mơ của học trò mình. Tuy rất tin cậy vào sức mạnh của giáo dục; nhưng tôi chợt hiểu ra, giáo dục không phải là bước khởi đầu và chắc chắn cũng không là giải pháp duy nhất để canh tân đất nước. Ở quê hương mình, lúc ấy và có lẽ vẫn kéo dài đến tận bây giờ, người ta đã phải giả dối, lừa lọc, thờ ơ, và đôi khi phải tàn ác để vươn lên hay thậm chí chỉ để tồn tại!
5 năm ấy thật quí giá và ý nghĩa cho một đời người đủ để có thể quyết định trôi theo sóng biển năm 1981, tìm cho mình sự lắng đọng trong tâm hồn và một lời giải cho lý trí.
*o*
Những ngày gần đây, lòng tôi tràn đầy cảm phục, xót xa và trăn trở theo dõi từng bước chân, lời nói, tâm tư ... của nhà giáo Đinh Đăng Định từ khi nhà nước nhất quyết không cho chữa trị nhưng “đại xá” cho về chết bên vợ con. Và đây chính là cái chết báo trước đã thôi thúc mình chia sẻ về cái Tôi tầm thường rất nguyên tắc và lắm ước mơ này. Như để tự vấn lương tâm ?!
Chưa đầy nửa tháng sau, ngày 3/4/2014 thầy giáo Đinh Đăng Định trút hơi thở cuối cùng. Trong khoảng thời gian ngắn ngủi ấy, tôi cũng là một trong rất nhiều người cố gắng ghi nhận từng dữ kiện xung quanh thầy. Tôi hơi bất bình khi nghe gia đình thầy chỉ nghĩ rằng Nhà Nước đã nợ thầy Định một lời xin lỗi, nhưng rồi tôi phải thừa nhận gia đình thầy thực tế hơn tôi nhiều về những kẻ cầm quyền hiện nay. Hàng triệu người chết trên Biển Đông, sau 30 năm chỉ được lãnh đạo đảng "không còn bận tâm đến mục đích ra đi". Tôi chợt nghĩ những lời xin lỗi kiểu này, nếu có, đối với tất cả những cái chết mờ ám có dính líu tới bàn tay công an trong những năm tháng gần đây, sẽ thành khẩn hơn cả buổi đại lễ cầu siêu sắp tổ chức.
Xin được cùng thầy giáo Phạm Minh Hoàng tiễn bạn với lời cầu xin “Bây giờ, trên Miền Yên Vui, xin thầy cầu nguyện cho chúng tôi, đặc biệt là các đồng nghiệp của mình vượt qua sợ hãi để tiếp tục và hoàn tất ý nguyện của thầy – và cũng là ước vọng của tất cả chúng ta.
*o*
Ước vọng của tất cả chúng ta dù có khác nhau đôi chút nhưng chắc hẳn cũng gần gũi với ý nguyện của thầy giáo Định. Như chân thật, như tự do, như thương yêu, như tương kính, như hạnh phúc, ... mà tựu chung, chính cái cơ chế Độc Tài Toàn Trị là thủ phạm chủ tâm hủy diệt ý chí từng người. Sợ Hãi là món quà phát không rất thường xuyên cho tất cả mọi người trong giới bị trị - bao gồm cả đủ các tầng lớp quan chức và nhân viên thừa hành.
Một sự thật đơn giản đến như vậy, thế mà tôi vẫn chưa thể lý giải một cách ngọn nguồn mãi tận đến năm 1985 sau khi tìm hiểu và tham gia một tổ chức đấu tranh. Tôi tham gia vào cái lúc mà tổ chức này đang bị điêu đứng nhiều nhất với sự lột xác trưởng thành. Tôi góp mặt với tổ chức không chỉ nhờ vào sự may mắn gặp gỡ các tấm gương trong sáng và kiên trì của các thành viên tiếp tục bước tới, mà còn vì đồng tình với chủ trương Đấu Tranh Vận Dụng dựa vào Sức Mạnh Toàn Dân. Coi như đây là bước nhích chân đầu tiên - bước chân của dò đường để hướng đến điều mình thường trăn trở.
Cuối năm 1986 hoàn tất luận án Tiến sĩ Toán tại NCSU chỉ để tự khẳng định sở trường sở thích của mình. Giữa năm sau, tham dự lễ phát bằng tốt nghiệp như một cách trả ơn cho cha mẹ. Sau đó, nhận được tin mẹ tôi – nghệ sĩ ngâm thơ Hồ Điệp (1930-1987) – mất tích trên đường vượt biên đường bộ. Thật là một bi kịch, khi vết dao đó cắt thẳng vào da thịt mình khiến suy tưởng ấy lan man đến những cảnh xảy ra cho hàng trăm ngàn người phụ nữ khác trên con đường tìm tự do! Thế rồi chỉ ít ngày sau, theo sự mách bảo của cái cảm tính mơ hồ trong trái tim của mình, tôi quyết định dành trọn thời gian trở thành một trong nhiều thủy thủ bình thường của tổ chức tiếp tục đoạn hải hành đầy gian khó. Con thuyền hướng về ước mơ chung từng gửi lại bên kia bờ Thái Bình Dương. Đây là bước nhích chân thứ hai, bước chân của ý thức.
Không phải lúc nào con thuyền cũng lướt sóng với nhiều hứng khởi và niềm vui. Bầu trời Việt Nam vẫn một màu tối đen mặc dù Đông Âu đã hửng sáng. Đôi lúc thủy thủ đoàn cũng vật vã với nhau và với hướng đi của con thuyền. Chúng tôi chỉ đoán là mình đang hướng về phương Đông, nơi của yêu thương và tổ quốc. Bởi vì, ở nơi ấy thỉnh thoảng loé lên những tia chớp cuối chân trời.
Từ năm 2000 và nhiều lần sau đó, âm thầm đặt chân về Việt Nam gặp bạn bè, người thân và đồng đội. Lòng càng trăn trở khi cả nước vật vã chuyện áo cơm; chia sẻ nhau nỗi sợ vô hình tuy không đậm nét nhưng đủ bao phủ một cách thầm lén lên tất cả mọi người. Có thể những năm tháng ấy chưa phải là thời “cực thịnh” của chó săn với tỉ lệ 1 trên 6 như hôm nay. Nhưng chúng tôi vẫn thấy cái sợ lây lan quá sâu qua từng kế hoạch công tác. Phải có bước đột phá!
Năm 2006, sự xuất hiện của khối 8406 cùng với thái độ đấu tranh kiên cường của Lm. Nguyễn Văn Lý là một mốc điểm quan trọng đã khởi đầu một giai đoạn mới cho lực lượng dân chủ. Trong suốt thời gian này chúng tôi ráo riết gần gũi các đồng đội để học hỏi lẫn nhau, xây dựng lực lượng và góp nhặt những kinh nghiệm đó đây của nhiều người trong cũng như ngoài nước. Đây là khung thời gian rất phấn chấn nên tôi đã đúc kết 2 phương thức, coi như bước nhích chân thứ ba - bước chân của trải nghiệm vì chính mình đã có cơ hội thử nghiệm từ cuối 2007 trong lần sa cơ đầu tiên. Hai phương thức đó là:
  1. Sống hạnh phúc, sống hết mình : “Thương Yêu -> Ước Mơ -> Trải Nghiệm
  2. Vượt khó khăn : “sống với Niềm Tin -> chọn thái độ Lạc Quan -> giành thế Chủ Động
Cùng lúc đó đã xuất hiện thêm nhiều mũi nhọn như anh Điếu Cày, Ls Lê Công Định, ... góp mặt cùng cha Lý, cha Lợi, Ls Lê Thị Công Nhân... đã thu hút đồng bào mọi giới từng bước nhập cuộc. Đông đảo dần, sôi động hơn, và dĩ nhiên đỡ sợ hơn với hơi ấm của Đám Đông. Tuy có lúc trồi lúc sụt tùy theo độ nóng của họng súng trấn áp, nhưng cao điểm cứ tăng dần từ cuối năm 2013 với sự góp mặt của đông đảo giới trẻ. Kéo dài đến năm 2014 vẫn còn ở cao điểm với sự góp mặt và phối hợp của dân oan và đồng bào nhiều giới dù cho sự đàn áp cũng đã lên cực điểm của tàn ác và phi lý. Mà đó cũng chẳng phải là điều nghịch lý, khi mà chế độ độc tài không còn điều tiết nổi mức độ tàn ác của bộ phận trấn áp.
Ngày hôm nay, như blogger Nguyễn Việt Trung cảm nhận “Qua rồi cái thời kỳ người ta làm cách mạng vì miếng cơm, manh áo. Có lẽ bây giờ là thời kỳ những cuộc cách mạng vì phẩm giá con người”
Từ dân oan đến trí thức, từ thanh niên son trẻ đến chú bác đã về hưu, cả trai lẫn gái chẳng hề kèn cựa nhau, cả vợ cả chồng, cả mẹ cả con, cả trong Đảng lẫn ngoài Đảng ... đang từng người xuất hiện, vượt qua chính mình để góp phần vào cuộc cách mạng vì phẩm giá con người.
Bà con đã dùng nhiều cách khác nhau để khống chế Sợ Hãi và vượt thắng chính mình. Một câu nói nổi tiếng của cha Lý mà tôi ghi nhớ mãi: “Đừng sợ những gì Cộng Sản làm. Hãy làm những gì Cộng Sản sợ.” Chắc mọi người cùng đồng ý rằng, Cộng Sản cũng như mọi chế độ độc tài khác sợ nhất 3 điều: Sự Thật, Lẽ Phải, và Liên Kết.
Cả ba điều này đều đã thể hiện thật rõ trong đám tang thầy giáo Đinh Đăng Định ngày 7 tháng 4 vừa qua. Ký giả Mặc Lâm đã ví sự kiện này với sức mạnh của “những chiếc đũa khi trở thành một bó”. Dù chỉ nhìn qua ảnh, mỗi chúng ta khó ai ngăn được xúc động.
Tự nhiên tôi muốn thốt lời tạ ơn hồn thiêng sông núi, Đất Trời và các đấng thiêng liêng. Không phải chỉ những người hiện diện trong đám tang tại Dòng Chúa Cứu Thế, mà còn rất nhiều người khác tôi rất muốn bày tỏ lòng biết ơn mà tôi không thể kể hết ra đây. Như gần đây nhất vợ chồng tôi vẫn thường xuyên nhắc nhở đến: người tù xuyên thế kỷ Nguyễn Hữu Cầu, chị Du A Lien, kỹ sư Nguyễn Văn Thạnh, facebooker Lưu Gia Lạc, tiến sĩ Phạm Chí Dũng ... Dù các vị này không hề quen biết tôi nhưng cũng đã thực sự giúp vợ chồng tôi gia tăng thêm sức mạnh và vững lòng tin về tương lai của đất nước.
30/4 năm nay quả thực đã mang thêm một ý nghĩa mới, một động lực mới, một bậc thềm mới.
Riêng tôi mong đợi và sẵn sàng cho một vận hội mới.
Có thể đó là bước nhích chân thứ tư chăng.
Bước chân của chạm vai nhau?

Nguyễn Quốc Quân
(cảm ơn t/g đã gửi bài)
******************

30-4 : Nhìn Vượt Qua Một Ước Mơ Tan Vỡ

Nguyệt Quỳnh

Ai về bên kia sông Đuống
Cho ta gởi tấm the đen
Mấy trăm năm thấp thoáng
mộng bình yên
(Bên kia sông Đuống – Hoàng Cầm)

Có ai trong chúng ta còn nhớ giấc mộng thanh bình và quê hương sông Đuống của Hoàng Cầm? Gần 40 năm kể từ ngày đất nước thống nhất, ước mơ về một quê hương thanh bình, ấm no, hạnh phúc đã vuột khỏi tầm tay của người dân cả hai miền. Những ngày hội hoa đăng với áo the, guốc mộc và nụ cười như mùa thu toả nắng của cô hàng xén vẫn cứ mãi là giấc mơ của Hoàng Cầm. Thi sĩ mất năm 2010, còn chúng ta sau chiến tranh non nửa thế kỷ vẫn đứng mãi bên bờ sông mà nhớ tiếc!

Khi ước mơ tan vỡ, nó phải được nhận biết để khởi đầu cho một hy vọng mới.

Một cuộc chiến với quá nhiều hy sinh để đổi lấy một đất nước nghèo khó, phân hoá, băng hoại về mọi mặt thì phải can đảm nhìn nhận rằng cuộc chiến đó vô nghĩa, tiêu phí xương máu dân tộc. Ngày 30 tháng 4 lại đến, thành phố lại treo đầy cờ hoa để mừng chiến thắng, nhưng có lẽ điều cần thiết phải nhớ là ước vọng của những người đã ngã xuống trong cuộc chiến này. Máu xương của họ không đổ ra cho một ngày hoà bình nhưng lại đầy tiếng rên xiết của dân oan, một đất nước tham nhũng tràn lan, và một tổ quốc đang mất dần từng phần vào tay ngoại bang. Xin nhớ đến họ để những ước vọng, hoài bão của họ được tiếp tục sống nơi chúng ta, và chúng ta sẽ can đảm nhận diện mình để bắt đầu từ một điểm khởi hành mới.

Ông Võ Văn Kiệt đã phát biểu một câu phản ảnh sự hối hận cuối đời: “ngày 30 tháng 4 có triệu người vui, cũng có triệu người buồn”. Trong triệu người buồn, đâu chỉ có riêng người dân miền Nam; có nhà văn Dương Thu Hương ngỡ ngàng ngồi khóc bên lề đường khi thấy phần đất nước Miền Nam văn minh trù phú; có nhà thơ Nguyễn Chí Thiện đau đớn khi cánh cửa tự do của miền Nam vừa đóng sập tức tưởi. Trong triệu người vui, lại cũng có cả những người Miền Nam - trong nỗi buồn của kẻ thua cuộc, vẫn dấy lên niềm hy vọng cho quê hương: “… Dù sao cũng hết chiến tranh rồi. Chủ nghĩa nào cũng vậy miễn dân mình được sống trong hoà bình để bắt đầu dựng xây lại cuộc đời.”

Cứ mỗi năm khi ngày 30/4 đến, nó lại nhắc chúng ta cái ước mơ cháy bỏng của cả một dân tộc. Ngoài một thiểu số cố tình lợi dụng, cuộc chiến khốc liệt với tất cả những hy sinh của người dân hai miền đều phát xuất từ tấm lòng thiết tha với tiền đồ của tổ quốc. Dù bên nào thắng hay thua thì đều chẳng còn ý nghĩa gì khi mà gần 40 năm sau biến cố 30/4, rõ ràng cả dân tộc Việt Nam đã thua lớn! Ngày 30/4 phải là một mốc điểm để nhìn lại xem chúng ta đã mất những gì ?

Chúng ta đã mất một miền Nam trù phú và phát triển. Chính Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu năm 1970 đã có lời kêu gọi cả 2 miền hãy ngừng chiến tranh và thi đua phát triển. Giả thử lời kêu gọi đó được đón nhận và thực hiện, có xác suất cao là Nam Việt ngày nay đã vượt trội Nam Hàn. Ngay tại thời điểm 1975, Nam Việt đã hơn hẳn Nam Hàn trong khá nhiều lãnh vực. Cụ thể trong ngành sản xuất, lắp ráp xe hơi thì xe LaDalat của ta đã đi trước Hyundai từ 5 đến 10 năm. Các ngành nuôi gia súc kỹ nghệ, sản xuất trồng cây trái kỹ nghệ, rồi kỹ nghệ dệt, kỹ nghệ hàng tiêu dùng từ giấy viết cho đến kem đánh răng Perlon, bột ngọt Vị Hương Tố, bia 33, v.v … đều đang trên đà phát triển. Về hạ tầng kinh tế ta đã có các hãng xuất nhập cảng tư nhân, các hãng vận chuyển đường bộ và đường biển, rồi các ngân hàng tư nhân bên cạnh các ngân hàng quốc gia, đặc biệt là Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp…

Về hệ thống chính trị, pháp luật và các quyền con người đã khá đầy đủ và vận hành đúng nghĩa trong xã hội. Từ các cuộc bầu cử đến tam quyền phân lập, các quyền tự do báo chí, tự do đi lại, tự do lập hội… được tôn trọng. Quyền công dân được quy định rõ ràng, cụ thể như cảnh sát không được quyền giữ dân quá 24 tiếng nếu không tìm được bằng cớ phạm tội, v.v...

Chính quyền miền Nam tin rằng việc cải cách ruộng đất là chiến lược quan trọng để tăng cao sản xuất nông nghiệp. Chính sách Người Cày Có Ruộng được ban hành vào năm 1970, trao quyền sở hữu đất vào tay nông dân, đã giúp cải thiện đáng kể đời sống nông thôn nói riêng, và cả nước nói chung. Về giáo dục, hệ thống giảng dạy và giáo dục miền Nam đã đạt mức hữu hiệu và uy tín đủ để các đại học quốc tế công nhận các bằng cấp tương đương.

Điều đáng nhấn mạnh là tất cả những thành quả trên đã đạt được, dù đất nước đang trong thời chiến tranh gay gắt. Nghĩa là một phần thành quả đáng kể đã bị chiến tranh phá nát. Cụ thể như những cây cầu xây cả năm trời nhưng chỉ dùng được vài tháng đã bị đặc công Miền Bắc đặt mìn phá hủy, ...

Từ góc nhìn của cả dân tộc, thật đáng tiếc nuối khi mọi thành quả đầy mồ hôi nước mắt đó đã bị đạp đổ, san bằng hoàn toàn để "xây dựng xã hội Xã Hội Chủ Nghĩa". Cho đến nay dù đã gần 40 năm sống trong hòa bình, cả nước vẫn chưa phục hồi lại nổi lãnh vực nào cho bằng với Miền Nam thời 1975, chứ đừng nói gì đến việc bắt kịp thế giới đã tiến ồ ạt suốt từ ấy đến nay.

Nhưng cái mất đớn đau nhất vẫn là những mất mát biển đảo và những phần đất xương thịt của quê hương mà có thể là vĩnh viễn. Bên cạnh đó, cái mất nguy hiểm hơn nữa là sự biến mất gần hết niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm đối với tổ quốc. Mọi người con dân Việt nay được huấn luyện thuần thục để chỉ tập trung lo cho mình và gia đình mình; còn mọi chuyện khác hãy để cho lãnh đạo muốn làm gì thì làm.

Ai cũng biết nguyên nhân của tất cả các mất mát và hiểm họa nêu trên đến từ đâu, nhắc lại cũng bằng thừa. Nhưng chính sự xem là thừa đó lại làm chúng ta quen dần và xem tình trạng hiện nay là "bình thường". Chúng ta như những người đi lạc, run sợ, thoái thác trước mọi suy tư và quyết định, để mặc cho một nhóm tham quan và những biến cố bên ngoài quyết định chuyện đất nước mình.

Ngày hôm qua chỉ là cái bóng, nhưng nếu không đặt thành vấn đề và tính đến chuyện đổi thay tình trạng hiện nay, liệu năm, mười năm nữa chúng ta còn quyết định được gì không? Nhiều người đã trăn trở với câu hỏi đó và đã chọn lựa. Họ phải sống vì xương máu của các thế hệ cha ông đã đổ ra để gìn giữ đất nước này, họ dấn thân để tương lai các thế hệ Việt Nam không phải sống trên "đất Tàu". Họ là những Điếu Cày, Nguyễn Hoàng Quốc Hùng, Lê Quốc Quân, Trần Huỳnh Duy Thức, Bùi thị Minh Hằng, Nguyễn Quang A, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Đan Quế, Đỗ Thị Minh Hạnh, Nguyễn Xuân Nghĩa, và nhiều nhiều người can đảm khác nữa. Và ngay lúc này giữa thủ đô Hoa Thịnh Đốn là sự lên tiếng của những luật sư Nguyễn Đình Hà, nghệ sĩ Kim Chi, ký giả Ngô Nhật Đăng, blogger Tô Oanh, phóng viên Anthony Lê, blogger Nguyễn Tường Thuỵ, những người đã vượt nhiều trắc trở đến Mỹ để vận động cho quyền tự do báo chí tại Việt Nam.

Khi được hỏi liệu khi trở về nước, gặp khó khăn với nhà cầm quyền thì anh cảm thấy thế nào, người bạn trẻ Nguyễn Đình Hà đã trả lời: “Em không hề lo sợ, nếu lo sợ thì đã không đặt chân đến nước Mỹ. Còn khi về nước thì bất chấp mọi khó khăn, em vẫn quyết vì một VN tốt đẹp hơn

Những ước mơ tươi đẹp đó xứng đáng là những ước vọng của tất cả chúng ta, đặc biệt trong ngày 30/4 năm nay.

Xin hãy tìm tay nhau, cùng can đảm bước tới. Những dân tộc khác đã khởi hành từ lâu.
(cảm ơn t/g đã gửi bài)

****************************


Ưu tư diễn nghĩa


Tháng 4 25, 2014
Nam Đan
Giờ là những ngày cuối của tháng Tư. Năm nào cũng vậy, càng đến gần ngày 30 tháng Tư tôi lại có cảm giác bất thường, ngột ngạt, bực bội. Mà không phải chỉ riêng mình có cảm giác đó. Nhìn quanh, tôi thấy bạn bè, người thân cũng vậy, và cả đời sống quanh tôi cũng vậy.
Mở ti-vi lên là thấy xe tăng, bom đạn, cờ hoa. Báo chí cũng vậy, có vơi đi phần nào, nhưng cũng vậy. Hò hét, hoan hô. Đứng trên vũng máu hát ca, nhảy múa lăng xăng mãi nếu không thấy trơ trẽn, thì cũng phải mệt và nhàm!
Năm nay là năm thứ 39 kể từ ngày 30/04/1975, cái biến cố làm thay đổi vận mệnh của từng số phận và của cả dân tộc. Tôi nghĩ, cái ngày bất thường trong ký ức ấy sẽ chẳng bao giờ trở nên bình thường. Ở bên này vĩ tuyến 17 cũng như bên kia. Với người Việt ở trong nước cũng như người Việt ở hải ngoại.
Tôi vừa đọc bài “Ưu tư ngày 30-4” của tác giả Nguyễn Minh Hòa, ở blogQuê Choa. Theo như nội dung của bài viết, thì tác giả là một sĩ quan trong quân đội Bắc Việt có mặt trong đoàn quân tấn công và chiếm giữ Sài Gòn vào thời điểm 30/04/1975. Với nhiều người, thì đây là những suy nghĩ chân thực, cấp tiến trong lúc này.  Tôi thấy có những chi tiết rất thú vị trong bài khi ông nói về “chiến lợi phẩm”, xin trích lại nguyên văn như sau:
“Lễ kỷ niệm ngày chiến thắng năm nào cũng diễn ra trong không khí tưng bừng, cờ hoa rợp trời, mọi người hân hoan, nhưng nhìn kỹ lại hình như không có mấy ai trong số những người lính giải phóng thành phố ngày ấy có mặt trên lễ đài, hay trong khối quần chúng tay vẫy cờ hoa. Những người lính còn sót lại qua những mùa chiến dịch ấy, sau chiến tranh đã lặng lẽ trở về với đời thường, với cày cuốc, với bò gà, với kìm búa. Nhiều người đã mất, nhiều người sống với những thương tích, bị bệnh tật giày vò đau đớn, có một sự thực là đa phần họ sống rất cơ cực. Thỉnh thoảng về quê hương gặp lại những người đồng đội xưa mà muốn rơi nước mắt. Trở về quê sau những ngày hừng hực chiến thắng ấy, hầu hết trong số họ gắn đời với mảnh ruộng, chẳng bao giờ có dịp nào trở lại thăm thành phố này nữa, mà có muốn thì cũng chả đào đâu ra tiền, bởi tiền ăn còn còn chả có, nói chi đến một chuyến đi xa. Sau 1975, chả hiểu sao, bề trên vội vàng cho hàng triệu quân nhân về quê càng nhanh càng tốt. Họ về nhà với những con búp bê mắt nhắm mắt mở bằng nhựa tái chế đen thui, người khá hơn thì có thêm cái khung xe đạp đểu làm bằng tôn mỏng. Họ để lại sau lưng những nhà cao cửa rộng, biệt thự xe hơi, vàng bạc hột xoàn, đất đai mênh mông, những thứ có được do máu của chính họ đổ ra, và rồi thế vào đó là những người tiếp quản, những người “xây dựng, phát triển” từ hậu phương, các hạt giống đỏ từ các nước xã hội chủ nghĩa tràn về tiếp nhận, sử dụng. Họ chẳng màng, ngày ấy các sĩ quan dạy lính tráng rằng ai lấy chiến lợi phẩm trước sau cũng bị chết, hay nói đúng hơn có màng cũng không đến lượt, những chủ nhân mới tiếp quản cơ ngơi đồ sộ ấy cũng chẳng cần biết ai mang lại cho họ những thứ đó, bởi đơn giản là họ hiểu đó là tiêu chuẩn, chế độ được hưởng, vậy thôi. Rất, rất nhiều người trong số chủ nhân mới ấy, trước đó chỉ là những tay làng nhàng, vớ vẩn, thậm chí cực hèn nhát, bỏ ngũ, cơ hội, bị kỷ luật nay tự nhiên có ghế, được biếu không một đống của cải, vào thời sốt đất có nhiều anh bán được cả nghìn cây vàng, xem ra làm cách mạng cũng có số. Khi còn sống, danh tướng, Thượng tướng Trần Văn Trà có một câu nói nổi tiếng mà có quá nhiều vị không thích đó là “nói cho cùng thì tất cả những chiến công hiển hách đều thuộc về những người lính bình thường nhất”, nhưng có một vế sau không ai nói đến là “nhưng lợi ích và chiến lợi phẩm mà cuộc chiến đó mang lại thì không thuộc về những người bình thường nhất”.
Đọc đến đây tôi khựng lại, lưu ý ở chỗ “Họ để lại sau lưng những nhà cao cửa rộng, biệt thự xe hơi, vàng bạc hột xoàn, đất đai mênh mông mông, những thứ có được do máu của chính họ đổ ra.”
À, thì ra lý do để đổ máu là thế! Là “những nhà cao cửa rộng, biệt thự xe hơi, vàng bạc hột xoàn, đất đai mênh mông mông,” của Miền Nam.
Và theo suy nghĩ của ông Hòa thì “những thứ có được” đó không phải là tài sản, là mồ hôi nước mắt của người Miền Nam, kẻ thua cuộc trong cuộc chiến, mà là từ “máu” của đồng đội ông, những thành viên của đội quân Miền Bắc, kẻ thắng cuộc.
Đọc xong đoạn này, tôi không khỏi có ý nghĩ rằng cái “ưu tư ngày 30-04” này là ưu tư của một kẻ cướp không được đồng bọn chia chác đồng đều, bị chơi cha, chơi gác, sau mẻ cướp.
Lâu nay, tôi thấy những “ưu tư”, “phản tỉnh” nhuốm màu cay đắng kiểu này xuất hiện rất nhiều, ngày càng nhiều. Chúng được nhiều người từng là chiến binh của lực lượng quân đội miền Bắc, và nhất là những người trong Mặt trận Giải phóng Miền Nam, đã tham dự vào cuộc chiến, bộc bạch trong lúc họ nói thật lòng. Chính những ý nghĩ trung thực (mà ngô nghê) này đã xóa sạch ý nghĩa “cuộc chiến tranh thần thánh; chống Mỹ cứu nước; giải phóng, bảo vệ đất nước” mà phía cộng sản miền Bắc tuyên truyền với họ.
Sự thật ở đâu?
Chính đây là những sự thật nhỏ, góp lại thành sự thật lớn: cuộc chiến tàn bạo, phi nghĩa, xuất phát từ một bên; để lại hậu quả là một vết thương chẳng thể nào lành, và vắt kiệt sinh lực của dân tộc!
***
Còn tôi, tôi thấy ngày tàn của cuộc chiến đó như thế nào ư? Tôi thấy nó qua tấm ảnh này:
Ngày 23/04/1975, đúng 39 năm trước, một người cha gánh đứa con nhỏ và một mớ đồ ít ỏi, từ Trảng Bom, chạy về hướng Sài Gòn. Tôi tự hỏi cậu bé trên lưng cha, hiện nay đã là một người trung niên trên 40 tuổi, còn sống hay không? Giờ này cậu như thế nào? Trong hôm đó mẹ cậu ở đâu?
Và, quý ông Hòa kia ơi, ngoài những thứ chiến lợi phẩm: những nhà cao cửa rộng, biệt thự xe hơi, vàng bạc hột xoàn, đất đai mênh mông môngnhư ông vừa kể, thì Miền Nam còn có thứ tài sản trên đầu đòn gánh của người cha trong tấm hình này mà các ông đã bỏ quên.
Nó là: số phận của những con người!
Sài Gòn, 23/04/2014
© 2014 Nam Đan & pro&contra





30-4. Ta ngồi chờ hay đứng dậy?
@@

Tôi đã không định viết bất cứ một bài viết nào nhân ngày 30-4 năm nay. Bởi lẽ, nhắc về một mốc điểm của một thời gian như ngày 30-4, nó chỉ làm cho lòng người thêm sầu héo, đớn đau, hơn là đem đến cho người quanh mình một niềm vui, dù là rất nhỏ bé. Bỡi lẽ, nhìn quanh đây. Ngưòi miệt mài với tranh đấu thì cứ trần lưng ra trong cô đơn. Kẻ chạy cờ, cúi đầu, cầu ơn mưa móc của Việt cộng, xem ra càng lúc càng đông, lại thêm có tài qùy lâu hơn. Bên cạnh đó là đoàn ngũ gọi là về “ du lịch, thăm quê” càng lúc càng nhiều. Sân bay lúc bỏ chạy chẳng mấy người ra vào được. Lúc này là tấp nập xuốt ngày đêm. Phần vì người về, phần vì rao hàng dẫn mối. Chẳng mấy ai nhớ đến lúc đi thì trốn chui trốn nhủi, bị phường khóm tố cha, tố mẹ, bêu riếu. Bị bọn bất lương láo lếu gọi là ma cô đĩ điếm. Lúc về thì trát phấn, bôi son ra dáng “ khúc ruột ngàn dặm” nên cũng chẳng ngượng ngùng! Toàn cảnh ấy tạo thành một bức tranh màu nước đục. Vui gì mà viết?


Đã thế, lúc gần đây lại thấy nhiều người “đẻ“ ra loại ý kiến “đỉnh cao” là: Có tranh đấu cũng chả di đến đâu, hễ bọn Trung cộng đổ thì Việt Cộng cũng chết theo! Hoặc gỉa, mình không gởi tiền về thì tiền của chúng cũng đã xếp cao như núi! Nó cần gì đến tiền của người ở hải ngoại! Nghe mà thấm nỗi đau! Ấy là chưa kể đến nỗi đau của người dân Crimea vừa bị xát nhập vào Liên Bang Nga. Nó là một bài học, một bước tập thực tế trước mắt cho một chương trình xin tự trị xàt nhập vào Trung quốc mà Việt cộng đã đi vào những giai đoạn sửa soạn cuối cùng? Mấy ai hay?

Trước viễn ảnh đau thương, mất nước vào tay Trung cộng, dĩ nhiên, tôi không phản bác một ai, cũng chẳng phản bác một lý lẽ nào của “người mỉnh”. Chỉ xin đưa ra vài con số, vài câu chuyện có liên hệ đến câu chyện này mà thôi. Trước hết,

I. Ngồi chờ... Trung cộng chết, ta sẽ ra sao?

Trước hết, vì không biết đến bao giờ nó mới chết, nên ta sẽ có dịp mỗi năm một lần, ngồi đếm ngày 30-4. Đếm để nghe “người ta” bàn luận. Hết bàn khôn đến bàn dại. Hết quốc hận thành hoà giải…. theo Việt cộng! Nhưng có một điều mà người ta không thèm để ý đến trong những lúc ngồi đếm và bàn luận là: Trước khi Trung cộng chết thì Việt Nam ta cũng đã tan bay bay xác pháo rồi: Nó bị tan bay xác pháo vì Việt cộng, bị tan biến vào chính vòng tay của Trung cộng. Bạn không tin ư?

1. Phần tài nguyên: Đất rừng, đất biển của Việt Nam ta bây giờ có bao nhiêu phần trăm nằm trong tay Tàu, ngoại quốc? Bao nhiêu phần trăm nằm trong tay của đồng bào? Bao nhiêu phần trăm nằm trong tay của đảng cộng sản với đặc quyền sử dụng, đặc quyền cho đi, dâng hiến hay ký những giao kèo cho thuê dài hạn để chia nhau tiên túi? Hỏi xem, Hoàng Sa, Trường Sa, Cao nguyên, Bình Dương, Vũng Áng, Cửa Việt…. toàn là những trọng địa, nay dưới quyền của ai?

2, Về nhân sự: Ngày nay trên đất nước Việt Nam, có ai kiểm chứng được là có bao nhiêu thành viên, cấp uỷ của cộng sản từ trung ương cho đến địa phương người Việt nhưng làm việc theo lệnh Tàu để được hưởng quy chế cha truyền con nối? Rồi có bao nhiêu làng toàn người Tàu mới đến định cư theo quy chế riêng của Tàu hay không? Có ai vào được những khu định cư của các chuyên viên thợ thuyền của Tàu theo sang để làm công nhân chính thức hay nhập lậu, trong các dự án trúng thầu hay không? Có ai có trong tay những con số là hiện có bao nhiêu ngưòi Tàu vào Việt Nam du lịch và trốn ở lại trong những khu riêng của họ hay không? Kế đến, với hoàn cảnh ngày thêm bi đát của lao động Việt Nam, đặc biệt là của phụ nữ, khi thấy những người Tàu ở Việt Nam, trước mắt có công ăn việc làm, ra đường được nhà nước Việt cộng ưu đãi, có bao nhiêu người đã chấp nhận lấy chồng Tàu thuộc diện di dân bất hợp pháp này? Trong năm, mười năm sau nữa họ là Tàu hay là Ta? Ấy là chưa nói đến những kế hoạch lớn từ trung ương do nhà nước Việc cộng chủ trương và Phạm vũ Luận theo đó đã đề ra chương trình “giúp” trẻ em Việt Nam học tiếng Tàu ngay từ bậc tiểu học, để mai kia đi xin việc trên đất nước mình cho dễ? Hỏi xem, nước chưa bị đồng hóa, Việt cộng đã có chủ trường đón thời như thế. Tương lai Việt ra sao?

3. Rồi ở một chiều khác. Lực lượng đấu tranh ở hải ngoại gìa yếu và chết dần mòn, những cầu nối đã ở vào cái khoảng 50- và 60 lại đang tàn lụi dần. Bị tàn lụi vì thui chột, vì bỏ cuộc và vì “áo gấm về làng”, vì miếng lợi danh? Hỏi xem, nếu lớp cầu nổi này không còn, các điểm tựa cho cuộc tranh đấu tại quê nhà gặp bất lợi. Việt Nam về đâu? Với hai nguồn tài nguyên và nhân sự như thế, xem ra kế ngồi chờ là hoàn toàn thất bại.

II. Trường hợp đứng dậy thì sao?

Chúng ta có những lợi thế sau:

1. Chúng ta có một khối chuyên viên hùng hậu trên thế giới,
2. Hoa-Kỳ hiện diện trong vùng Đông Nam Á. Đây là một điểm rất thuận lợi… sự hiện diện của HK khiến có sự ổn định. Sự ổn định giúp ta dễ dàng bảo vệ chủ quyền và phát triển quốc gia…
3. Người dân từ Bắc xuống Nam bất mãn, đói khổ lầm than. Lại đứng trước thảm cảnh bị giao vào tay Tàu lấn áp. Họ đang mơ ước một sự thay đổi cho VN.
4. Hệ thống tài chánh của Việt cộng đang gặp trở ngại một cách trầm trọng. Chúng cố gắng trả tiền lời cao để chiêu dụ người ký thác, nhưng khó rút tiền ra khi cần đến .
5. Việt Nam có được một khối lượng lớn và vững chắc. Đó là Cộng Đồng Việt-Nam Hải Ngoại.
6. Hiện nay, Việt cộng đang sống tựa vào đồng tiền do thân nhân gủi về VN. Chúng hoàn toàn bất lực và bị khủng hoảng nghiêm trọng trong lãnh vực kinh tế, văn hóa và xã hội. Tội ác, và bất ổn xã hội mỗi lúc một thêm nghiêm trọng.

III. Có những lợi thế, nhưng làm sao đứng dậy đây?

Vào khoảng thời gian này năm trước, đặc biệt trong bài “ Xiết chặt kinh tế và giờ chết của Việt cộng”, tôi đã đưa ra một số đề nghị. Nay nhân ngày đau thương của đất nước, Tôi xin được viết lại một lần nữa những lời đề nghị đó. Những đề nghị mà bản thân tôi phải gạt nước mắt, phải cắt ruột mà viết. Chỉ hy vọng mọi người, hãy thấy cái khổ lớn của dân tộc mà hy sinh đi một phần nào cái “nỗi khổ” của gia đình, hay hy sinh một phần “ tự sướng” cho bản thân trong những cuộc du lịch Việt Nam. Dĩ nhiên, sự hy sinh này tuy khó, nhưng không phải là bất khả thi. Hơn thế, nó lại được đánh giá là những đóng góp cực lớn cho cuộc thay đổi của vận mệnh đất nước mai sau. Theo đó, Ta nên tự buộc ta thi hành, hơn là, Ta cứ về nuôi chúng rồi chửi chúng thì có ích gì?

Cách đây hơn hai năm, cộng sản Việt Nam đã công khai ý định chiếm đoạt tài sản là ngoại hối và vàng của người dân còn cất giữ, mua bán, hay đã gởi vào ngân hàng bằng nghị quyết 11/NQ-CP. “tiết 1, 2© tăng cường quản lý ngoại hối, thực hiện các biện pháp cần thiết để các tổ chức cá nhân… bán ngoại tệ cho ngân hàng. (d), xóa bỏ việc kinh doanh vàng miếng trên thị trường tự do…”. Qua nghị quyết này, cộng sản đã quyết liệt đánh vào các doanh nghiệp tư nhân, qua việc cấm họ sử dụng vàng, đô la, hạn chế nhập khẩu hàng hóa, hầu thu tóm toàn bộ tài sản là ngoại hối và vàng vào tay “nhà nước”. Nghĩa là, chúng đã sẵn sàng in tiền giấy lộn hình Hồ với mệnh giá cao để cân bằng trị giá với ngoại hối và vàng một khi người gởi tiền vào ngân hàng muốn rút tiền ra. Theo kế hoạch này, không một người nào có thể rút ngoại hối hay vàng do chính mình đã gởi vào ngân hàng trước đó. Tệ hơn thế, hàng tỷ tỷ ngoại hối, và quý kim đó cũng không còn nằm dự trữ trong ngân hàng nhà nước, nhưng là trong các tài khoản của các cá nhân ở ngoại quốc! Theo đó, việc đổi tiền vói mệnh gía một ăn 500, thậm chí là 1 ăn 1000, có thể xảy ra ở bất cứ thời điểm nào.

Chuyện là thế, có lẽ nào chúng ta tiếp tục gởi tiền về để cho chúng làm băng hoại nền đạo lý, văn hóa của dân tộc và đưa đất nước vào vòng nô lệ cho phương bắc? Không, tôi không cho đây là điều chúng ta muốn, nhưng thực tế, chính chúng ta đang nuôi nó để cho nó làm như thế. Nghĩa là, ở một phương diện nào đó, thay vì trừ bạo, chính chúng ta lại là những người đồng loã, thôi thúc, giúp chúng thêm phương tiện để gây ra thêm tội ác với đồng bào của mình. Nhưng làm sao để chúng ta có thể giải tỏa được nghịch lý đầy oan nghiệt này? Có rất nhiều người đã nghĩ đến một phương án nhẹ nhàng, nhưng đầy hiệu quả là: Đề nghị tất cả mọi người hãy vì tương lai của dân tộc mà tham gia tích cực vào chương trình cứu nguy đất nước bằng cách:

a. Kế hoạch tự tiết chế.

- Không gởi tiền, hàng, quà, về cho thân nhân trong vòng vài năm để tiêu dùng, buôn bán, xây dựng cơ sở. Ngoài trừ những trường hợp rất cần thiết và khẩn cấp như cứu tử. ( Mỗi tháng không qúa $50 như người Cuba thường áp dụng trong cuộc đáu tranh của họ). Nếu cần, lên kiến nghị yêu cầu chính quyền các nước liên hệ ra điều khoản về tài chánh và đề nghị chính phủ thanh lý các tổ chức tư nhân trá hình gời tiền về Viêt Nam?
- Không về du lịch tại VN trừ trường hợp tang chế của cha mẹ, anh em ruột thịt mà thôi. Và thời gian ở lại không nên kéo dài.
- Tạm thời không bảo lãnh cho thân nhân đi du lịch hay đi du học ở hải ngoại.
- Không gởi tiền vào các ngân hàng của cộng sản Việt Nam. Tất cả những ai đã gởi tiền vào ngân hàng, giúp vốn cho nhà nước cộng sản Việt Nam thành những tên trộm cướp hợp pháp, hãy rút tất cả tài khoản đáo hạn ra khỏi các ngân hàng nhà nước (gởi vàng thì đòi vàng, gởi tiền ngoại thì đòi lại tiền ngoại).
- Không gởi về dù chỉ là một đồng để đầu tư vào các dịch vụ nhà đất, khách sạn, nhà nghỉ hay phát triển kinh doanh tại Việt Nam. Dù có một vốn, một trăm lời cũng không gởi. Nên nhớ, khi chúng ta gởi tiền về đầu tư vào các dịch vụ nhà đất là chính chúng ta giết dân ta. Lý do, Cộng sản sẽ tiếp tục mở quy hoạch giải phóng mặt bằng để …. bán lại cho những người đầu tư từ hải ngoại. Thế là ta giúp chúng giết dân ta.
- Không mua bán lương thực, thực phẩm, đồ gia dụng nhập cảng từ Việt Nam hay Trung cộng vào đất nước, nơi chúng ta đang sinh sống.
- Không hỗ trợ bất cứ một chương trình nào ngoài chương trình nhân đạo khẩn cấp như thiên tai, động đất, bão lụt tại Việt Nam. Kể cả những việc ủng hộ cho tôn giáo để xây chùa, xây nhà thờ hay các cơ sở của tôn giáo cũng không có ngoại lệ.
- Tuyệt đối không ủng hộ, không mua vé tham dự bất cứ chương trình văn nghệ hát hò nào của các ca sĩ đến từ Việt Nam. Họ có thể không phải là những văn công cộng sản Việt Nam đi tuyên truyền, nhưng không ủng hộ, vì không phải là chương trình của chúng ta.

- Đặc biệt, hãy tích cực vận động các chính phủ nơi mình sinh sống không viện trợ kinh tế cho cộng sản Việt Nam. Hơn thế, ủng hộ mạnh mẽ các phong trào tranh đấu cho nhân quyền ở trong nước.

b. Cắt nguồn vốn từ đồng bào ở trong nước:

- Kêu gọi đồng bào, thân nhân không gởi tiền vào các ngân hàng của nhà nước cộng sản Việt Nam.- Kêu gọi đồng bào hãy lần lượt rút hết vốn của mình ra khỏi các ngân hàng. Vì có gởi vào khi chúng đổi tiền thì cũng trắng tay.
- Tự tích trữ vàng bạc và quý kim (nếu có thể) thay vì tung vào các ngân hàng.
- Chiết giảm chi tiêu, mua bán trong từng ngày.
- Không mua hàng hóa có nhãn hiệu từ Trung cộng.
Đây là kế hoạch thắt lưng buộc bụng. Không, phải gọi là “cắt ruột đứt lòng” mới đúng. Bởi vì nó làm cho con tim của chúng ta rướm máu vì nỗi khổ tạm thời của người thân. Nhưng hãy vì 90 triệu đồng bào, hơn thế, vì tương lai của dân tộc Việt Nam, chúng ta không thể không cùng nhau thực hiện.

IV. Hệ quả.

Về hệ quả, có nhiều người từng đi về Việt Nam, họ đã quan sát kỹ lưỡng và quả quyết với tôi rằng. Nếu mình không gởi tiền về, không đi du lịch và vận động những người ngoại quốc không du lịch Việt Nam, chúng nó sẽ chết ngay. Chết không kịp trăn trối, vì thiếu 10 tỷ đôla tương đương 200 ngàn tỷ đồng để chi dụng trao đổi hàng năm, chúng không thể sống. Tôi cho ý tưởng ấy là quá mạnh mẽ. Tuy nhiên, người ta có thể nhìn thấy trước những hệ quả dây chuyền sẽ ảnh hưởng trực tiếp lên nền kinh tế và đời sống của người dân cũng như chế độ một khi việc phong toả kinh tế được thực hiện nghiêm túc.

- Đời sống của nhân dân, trong đó có cả thân nhân của những người ở hải ngoại sẽ gặp khó khăn hơn và giá sinh hoạt sẽ tăng cao hơn. Nhưng không thể trở lại cái thời 1977 – 1978. Nhiều mặt hàng sẽ trở nên ế ẩm vì không có người tiêu thụ. Và nhiều mặt hàng cần như điện, điện thoại, xăng dầu… có khi cũng trở thành xa xỉ phẩm.
- Nạn trộm cắp của công và tội phạm sẽ tăng nhảy vọt.- Nhiều ngân hàng sẽ bị khánh kiệt, phá sản.
- Nhiều khu vực kinh tế tập đoàn sẽ vỡ nợ.

- Ngành địa ốc, khách sạn sẽ hoàn toàn suy thoái.
- Ngành hàng không sẽ khốn đốn.- Nhiều khu vực sản xuất, tư doanh sẽ đóng cửa, nạn thất nghiệp sẽ tăng cao.
- Nền kinh tế què quặt này sẽ giảm sự thu hút đầu tư vốn từ ngoại quốc.
- Nông nghiệp cũng bị hạn chế.
- Trung cộng và các nhà đầu tư của họ sẽ xâm nhập vào nhiều cơ sở hạ tầng. Nhiều loại giấy tờ, kể cả việc “phát” giấy quốc tịch VN (dĩ nhiên là bán lấy tiền) cho người Tàu xâm nhập cư vào Việt Nam theo chủ trương của Trung cộng sẽ diễn ra như đi chợ.
- Các kế hoạch đầu tư do nhà thầu Trung cộng đấu thầu sẽ tự trì trệ.- Các cơ sở kinh tài cho nhà nước hay cho các cá nhân đương quyền nắm giữ tại hải ngoại sẽ lụn bại…

Hẳn nhiên không phải chỉ có bấy nhiêu. Đây chỉ là vài nét vẽ điển hình. Thực tế nó còn ảnh hưởng nặng nề trên nhiều phương diện khác nữa. Và ảnh hưởng của mỗi năm một thêm trầm trọng hơn. Bởi lẽ, ngay năm đầu, nếu cộng sản Việt Nam không nhận được 10 tỷ đôla do người Việt gởi về, không có nghĩa là nền kinh tế Việt Nam chỉ bị thiệt hại có 10 tỷ đôla mà thôi. Trái lại con số bị thiệt hại có thể nhân lên gấp hai hay ba lần con số 10 tỷ đôla ấy. Lý do:

- Vì không nhận được tiền, người ta phải tiêu vào nguồn vốn của mình đã có.
- Không có nguồn vốn để tạo ra lợi nhuận, sản phẩm.
- Không có nguồn vốn để trao đổi mua bán với ngoại quốc.
- Không có nguồn vốn để cho các ngân hàng nhà nước tung tiền ra đầu tư vào các dịch vụ “quy hoạch”, tạo thêm dân oan. Nạn ăn cắp của công và tham nhũng sẽ tăng nhảy vọt. Làm thâm thủng thêm ngân sách.
- Không có tiền để thuê đầu gấu, xã hội đen đàn áp đồng bào và làm lũng đoạn, rối loạn đời sống của người Việt tại hải ngoại.
- Các nhà đầu tư ngoại quốc không nhìn thấy mối lợi khi tham gia đầu tư vì hàng không có người mua. Và đặc biệt là bị những người Việt tại hải ngoại tẩy chay.

Sang năm thứ hai, con số thiệt hại không phải là gầp hai ba lần, nhưng sẽ là lũy tiến, hai ba lần con số hai, ba của năm trước. Như thế, với kế hoạch “cắt ruột đứt lòng này”, đồng bào Việt Nam của chúng ta ở quê nhà sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong một thời gian. Khó khăn hơn thôi, nhưng nạn đói sẽ không xảy ra và có thể cũng không bi đát cơ hàn bằng những năm 1977 – 1978. Tuy thế nó sẽ không kéo dài. Đổi lại, cuộc khủng hoảng kinh tế bó buộc phải xảy ra và cộng sản sẽ không có khả năng giải quyết hỗn loạn. Chúng sẽ bi sụp đổ, bị loại trừ ra khỏi xã hội. Sau đó, chúng ta dùng số tiền “viện trợ” này một cách hợp lý thì thừa sức xây dựng lại một quê hương tươi đẹp sau một thời gian ngắn.
Chúng ta, những người Việt tại hải ngoại, cũng như những người có nguồn vốn ở Việt Nam có đủ can đảm để làm cuộc bao vây kinh tế để nhận chìm chế độ cộng sản, để đưa đất nước vào cuộc đổi thay trong Độc Lập, Tự Do, Dân Chủ và Nhân Quyền hay không? Quyết định thành bại là do chính chúng ta. Xin nhớ, Cộng sản không phải là một con siêu mãnh hổ luôn luôn mạnh mẽ, đủ sức cắn xé đồng bào mình, nếu như chúng không có gì để ăn!

Tóm lại, người Việt đang đứng trước một cơ hội thuận tiện để cứu nước.
- Trước hết, tạo ra những khó hhăn và rối loạn về kinh tế để diệt trừ cộng sản và giải phóng dân ta ra khỏi chế độ bạo tàn cộng sản do Hồ chí Minh và tập đoàn cộng sản khống chế dân ta từ hơn 70 năm qua. (xin nhớ, chính tập đoàn cộng sản Liên Sô cũng bị sụp đổ vì khủng hoảng kinh tê bản thân).
- Thứ hai, xây dựng đất nước trong ổn định. Mở ra một quy chế ngoại kiều đứng đắn. Chúng ta sẽ hoàn toàn làm chủ tình thế, Trung cộng không có một chút cơ hội nào mở mang bờ cõi xuống phía nam của Nam Quan, Bản Giốc, và tuyệt đối không thể lấn chiếm Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Sự viêc rõ ràng như thế. Câu chuyện Việt Nam hôm nay chỉ có hai phương cách để chọn lựa và giải quyết:

Một là ngồi chờ để "được" vào vòng nô lệ;
Hai là cùng nhau đứng dậy cứu non sông thoát cuộc nô lệ.

Bởi vì, không ai có thể giải phóng chúng ta, ngoại trừ chính chúng ta.

Bảo Giang
25-4-2014.

http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=57807***************


Cuộc sống bình yên
@@

Bài đọc suy gẫm: Theo “còm” của bạn Thương Quá Việt Nam: “Đây có lẽ là lời than thở não nùng nhất…mà tôi chỉ có thể nghe, đọc được duy nhất nơi bạn viết ra đây. Nó, cũng chính là nỗi đau đớn đang âm thầm dày xéo lên hàng vạn trái tim người Việt có lương tri; chẳng ai dám nói ra điều chua xót này bằng lời nói trung thực của họ bởi vì trong thâm sâu họ vẫn nghĩ cuộc sống này cần phải học biết dối trá. Có chăng, chỉ mấy họa mười khi họ thầm thì nhau, nghẹn ngào, lơ láo trong nỗi sợ hãi vô hồn. “Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống”.


Thấm thoát 2 năm kể từ ngày biến cố Cống Rộc, Tiên Lãng – Hải Phòng đầy ý nghĩa. Người nông dân Việt Nam Đoàn Văn Vươn đứng dậy, phát lên tiếng súng chống lại bọn cộng sản cường hào, ác bá. Gây tiếng vang khắp nơi. .

Vụ án Nọc Nạn 1928 quan tham cấu kết thương gia trục lợi trên những mảnh đất do chính tay nông dân đổ mồ hôi nước mắt tạo ra được nhà nước việt cộng quay thành phim, đúc tượng…

Đến nay đã 2 năm từ ngày 5.1.2012 vụ xung đột đổ máu tại khu đầm Cống Rộc thuộc huyện Tiên Lãng, Hải Phòng. Câu chuyện Nọc Nạn 1928 được lập lại. Hình dưới: Tà quyền việt cộng huy động lực lượng công an, quân đội, trên bộ, dưới thủy gần 2 trăm mạng, thêm chó săn phối hợp cưỡng chế đất đai của giòng họ, gia đình anh Đoàn Văn Vươn và rồi quân ta đánh vào chỗ không, bị khiêng lên viện một mớ vì mìn tự tạo và súng hoa cải. Tuy nhiên hoàn cảnh người nông dân càng bi đát hơn!

Tôi không thấy mức án VKS đưa ra là nhẹ, dù ông Quý đã vừa khóc vừa nói, mong tòa giữ nguyên mức án VKS đã đề nghị áp dụng cho anh trai – ông Vươn, 5-6 năm tù. Nhưng tôi cũng sẽ không nhìn vào mắt các vị quan tòa để tìm kiếm tia hy vọng mong manh cho gia đình ông Đoàn Văn Vươn, được xử trắng án.

Những người chịu trách nhiệm phán xử trong vụ án Nọc Nạn năm xưa là những con người tự do. Ngoài mệnh lệnh chính trị của chính quyền thực dân, họ còn phải chịu sự phán xét của tòa án, một tòa án cấp cao hơn, cấp tối cao trong mỗi con người, đó là tòa án lương tâm. Đây chính là khác biệt căn bản của họ với những người đang chịu trách nhiệm phán xử vụ án Tiên Lãng, những nô lệ khoác bộ áo quan tòa.

Khi người ta không được tự do trong hành xử của mình thì họ cũng thấy mình không phải chịu trách nhiệm với những phán quyết mà họ đưa ra. Tất nhiên khi đó họ cũng không phải đối mặt với tòa án lương tâm của chính họ. Giả sử nếu có lúc nào đó họ phải đối mặt thì họ cũng tìm ngay ra một kẻ để đổ lỗi, đó là cấp trên, là lãnh đạo, là hệ thống… Rồi họ tự kết luận, họ vô tội. Họ cũng chỉ là nạn nhân.

Điều tồi tệ hơn, trong xã hội Việt Nam ngày nay, những ông quan tòa của chúng ta không phải là những kẻ hiếm hoi, lạc loài, trái lại, họ dễ dàng tìm thấy những kẻ đồng lõa với mình ở khắp mọi nơi. Đó là ông bác sỹ, anh công an, chú nhà báo, ông bạn kỹ sư, cô hàng nước gần nhà, anh xe ôm đầu ngõ… họ tìm thấy một tình trạng nô lệ, một sự sự vô trách nhiệm, vô trách nhiệm như một lẽ tất yếu, nô lệ như một lẽ tất yếu, được phổ biến khắp nơi, len lỏi đến từng ngõ ngách của cuộc sống.

Trả lời phỏng vấn BBC Tiếng Việt, nghệ sỹ Kim Chi nhận định rằng: “Nếu người ta thả bổng cho Đoàn Văn Vươn, cho gia đình anh ta, thì điều đó sẽ thu phục được lòng dân. Còn nếu mà lấy quyền, lấy luật rừng để mà trừng trị một người lương thiện như thế, thì nhất định là tức nước thì phải vỡ bờ thôi”.

Tôi có thể phần nào đồng ý với nghệ sỹ Kim Chi ở vế thứ nhất, còn ở vế thứ hai thì chắc chắn không. Dù kết quả vụ án Đoàn Văn Vươn thế nào thì cũng không dễ gì có chuyện “tức nước vỡ bờ” trong hoàn cảnh hiện nay. Đa số người dân chỉ “tức nước vỡ bờ” khi những quyền lợi thiết thân của họ bị xâm phạm, như đầm tôm với gia đình ông Vươn, còn ngược lại, sự cảm thông với hoàn cảnh bất hạnh, hay bất bình vì oan trái cùng lắm chỉ gây nên xót xa – căm hận ở trong lòng mà thôi. Một số ít sẽ tỏ thái độ, còn đa phần sẽ làm ngơ. Và cũng như các vị quan tòa trong vụ án Đoàn Văn Vươn, những người làm ngơ sẽ có đủ lý lẽ để biện hộ cho mình.

Đó chính là điều tồi tệ nhất mà một hệ thống toàn trị có thể tạo ra. Những lầm lỗi, thậm chí là tội ác về kinh tế dễ gây bất bình, phẫn nộ cho công luận, nhưng suy cho cùng nó lại là những tội lỗi để lại ít hậu quả và dễ khắc phục. Còn những tội ác làm phá hủy tận căn để lương tri con người thì khó nhận biết hơn, gây phẫn nộ ít hơn, lại khó cứu vãn và để lại hậu quả ghê gớm hơn gấp nhiều lần. Tình trạng nô lệ, sự vô trách nhiệm được gieo rắc phổ biến nơi con người trong các chế độ toàn trị là một trong những tội ác như thế. Nó như một thứ thuốc độc ma mãnh, từng lúc từng lúc len lỏi vào tận xương cốt mỗi con người phá hủy tận gốc dễ, căn để, bòn rút toàn bộ sức mạnh sáng tạo, động lực phát triển của xã hội.

Không có chuyện “tức nước vỡ bờ”, nhưng nếu vụ án Đoàn Văn Vươn kết thúc bằng một bản án khắc nghiệt, một sự hủy hoại trong mỗi con người, niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội chắc chắn sẽ gia tăng. Khi niềm tin vào công lý, vào đạo đức xã hội bị xói mòn, con người sẽ bị đẩy sâu hơn vào các lợi ích thiết thân. Họ sẽ tìm mọi cách để tự bảo vệ mình, gia đình mình, lợi ích riêng tư của mình và không ngần ngại nếu có thể, xâm phạm vào lợi ích người khác, lợi ích xã hội. Đồng thời cũng chính những con người này, họ cũng sẽ sẵn sàng kháng cự lại bằng “luật rừng” nếu có thể với mọi sự xâm hại đến lợi ích bản thân và gia đình họ.

Những người có trách nhiệm với đất nước cần nghĩ đến những hệ quả sâu xa này. Étienne Vacherot, triết gia, chính trị gia Pháp thế kỷ 19 đã viết: “Chế độ chuyên quyền là trường học tồi tệ nhất cho nền dân chủ”. Tôi đồng ý với nhận định này.

La Démocratie – Étienne Vachero

Người ta hay lấy những cuộc biểu tình, những bất ổn chính trị ở Thái Lan để chỉ trích chế độ dân chủ. Nhưng tôi thì lại thấy rằng đó là những sự “tập dượt dân chủ” không tránh khỏi và tin rằng không lâu nữa, người Thái sẽ có một chế độ dân chủ đủ trưởng thành để đưa đất nước họ vào một quỹ đạo phát triển bền vững. Sau khi viết những lời trên trong cuốn La Démocratie, năm 1859, tức là 70 năm sau cách mạng Pháp 1789, Étienne Vacherot đã bị bắt vào tù, với mức án 1 năm (sau được giảm xuống còn 3 tháng). Rõ ràng người Pháp đã chẳng được cho không nền dân chủ tự do của họ có bây giờ.

Thật nực cười khi muốn đất nước có dân chủ tự do mà lúc nào cũng canh cánh một nỗi lo gọi là “mất ổn định”. Với cá nhân mỗi con người, tôi không thấy những người lúc nào cũng chỉ chăm chăm một cuộc sống bình yên có thể làm được điều gì đó có ý nghĩa trong cuộc đời của họ.

Patrick Henry với câu nói nổi tiếng “Tự Do hay là Chết” (Give me liberty or give me death!)

Xin hãy nghe lại lời Patrick Henry, lãnh tụ Cách mạng Mỹ, phát biểu ngày 23/3/1775: “Liệu có phải cuộc sống quá đáng yêu và hòa bình quá ngọt ngào tới mức phải mua bằng xiềng xích và nô lệ không? Ơn chúa tối cao, hãy đừng bao giờ như vậy. Tôi không biết những người khác sẽ chọn con đường nào. Nhưng với tôi, hãy cho tôi tự do hay là chết”

Nguyễn Đắc Kiên.

http://kekhopk.com/forums/index.php?showtopic=57804




******************

Nhật Bản – một xã hội đảo ngược với Việt Nam?
--------
Ngày nay sau khi nghe video clip của Kyo York lòng buồn nặng...Mãi đến giờ là 12 giờ không ngủ được...May quá! Thùy Trang mò mẩm cuối cùng cũng tìm ra được tiếng than thở chung cùng của một xã hội Việt Nam từ một người VN, đọc xong, suối hận 30 tháng 4 năm 1975 chảy dội ngược về tim, còn xốn xang hơn lời tâm sự của Kyo York. Thùy Trang còn phải mất thời gian tìm lá cờ thấm máu dân lành đặt nó lên ở vị trí này, để nhắc nhở mọi người đừng quên rằng vì đâu đất nước và con người đảo điên điên đảo bắt đầu từ cái ngày lá cờ ngoại lai Phúc Kiến được Hồ Chí Minh, tên bán nước áp đặt vào đất nước VN ta.
--------------
Mời anh chị tuần tự theo chân Vương Trí Nhàn để cùng anh thổn thức cho một Việt Nam thời MẠC PHÁP !!!


8/6/2013
Xuất phát từ Hà Nội, sau một chuyến bay đêm hơn bốn tiếng đồng hồ, chúng tôi bắt đầu một ngày mới trên chiếc xe từ sân bay Narita về Tokyo. Không khí dịu mát như một ngày cuối thu đầu đông ở đồng bằng sông Hồng, song cái lạnh ở đây lại có khí vị vùng biển bắc, cái cảm giác mà tôi cảm nhận khi đến Leningrad vào năm 1988.

Nhìn chung quanh, thấy khung cảnh thoáng rộng sạch sẽ, cây cối đạm bạc. Ghé lại một trạm bên đường để mua xăng, bắt gặp không khí của nước Nhật bình thường, người nào người nấy chăm chú vào công việc.

Có cái lạ là, khi đến Tokyo, tôi cũng lại gặp một khung cảnh vắng lặng như vậy. Không những trên đường người đi bộ thưa thớt mà cả ô tô đi lại cũng ít. Trong khi đó, lại biết rằng Tokyo có đến 20 triệu dân và hàng ngày có đến 40 triệu người lai vãng. Nơi tôi tới chỉ là ngoại ô chăng? Thành phố chính ở đâu? Như đã đoán được thắc mắc của tôi, người hướng dẫn du lịch sớm giải thích, đây chỉ là phần trên mặt đất, còn trong lòng đất có đến bốn thành phố nữa. Ở đó cũng có giao thông, xe điện ngầm, những phố buôn bán; ở đó mặc dù rất đông, nhưng rất trật tự.
Ngày đầu xa lạ
Địa điểm đầu tiên chúng tôi đến tham quan là phía ngoài hoàng cung Nhật. Cũng như mọi người dân nội địa, chúng tôi không được vào tham cung điện chính của hoàng gia, chỉ được đứng và quan sát từ xa và nghe người giới thiệu kể chuyện lại về một cuộc sống rất khổ hạnh của những người sống trong cung điện đó.

Người Nhật quen chấp nhận tình trạng cách ly này bởi họ hiểu những người sống trong hoàng cung phải nhận vai hình mẫu của nước Nhật, có nghĩa phải chịu rất nhiều áp lực. Có những người con gái trong đó cảm thấy thật nhẹ nhõm nếu lấy được người chồng dân thường, ra khỏi hoàng cung, để được sống như mọi người bình thường.

Buổi chiều chúng tôi đến thăm ngôi nhà của Tòa thị chính, ở đây có tháp truyền hình cũ, từ đó có thể nhìn ra cả Tokyo.

Có điều mất vui là ngay trong buổi chiều đầu tiên này, đoàn du lịch chúng tôi đã có một người bỏ trốn. Khi cả đoàn lên tháp rồi lần lượt xuống dần thì anh ta lẩn mất. Sau mới biết, từ Hà Nội anh ta đã chuẩn bị để làm việc này. Cái ba lô còn lại trên xe ô tô của anh nhẹ tênh. Theo sự giải thích của người hướng dẫn, có lẽ đây là một người Việt được bố trí sang Nhật để trộm cắp thuê. Dân Việt có hộ chiếu bên đó, khi phát hiện ăn cắp thì sẽ bị trục xuất khỏi nước Nhật. Nên họ phải thuê những người trong nước sang làm chân rết. Người này có bị tống về thì cũng không mất đầu mối.

Trong lúc vẩn vơ chờ làm các thủ tục, khoảng hơn một tiếng đồng hồ, tôi nhìn quanh khu Tòa thị chính, thấy một không khí vắng vẻ. Nhớ nhất là hình ảnh một cô gái dắt hai con chó đi đường. Cô chăm sóc chúng hết sức cẩn thận. Khi chúng đói lấy thức ăn và theo dõi chúng ăn, bình thản chờ đợi như bà mẹ đang đi chơi với những đứa con thân yêu của mình.
Tâm thế mới của phụ nữ Nhật
Để giải tỏa nỗi chán chường của bọn tôi, người hướng dẫn giới thiệu một tình thế của người dân Nhật mà trước kia chúng tôi không thể tưởng tượng nổi.
Anh cho biết, hiện nay ở nước Nhật có đến 62% người sống độc thân. Nếu nhìn trên đường, chúng ta luôn thấy những người đàn ông chăm chú nhìn về phía trước. Họ buồn, như là một thứ nhân vật phụ của cuộc đời. Còn chính phụ nữ mới là những người đầy sức sống và thách thức.
Ăn cơm Tàu, ở nhà Tây, lấy vợ Nhật — từ nhỏ, đã được nghe câu nói ghi nhận sự tận tụy của người phụ nữ Nhật với gia đình.

Sau chiến tranh, khi nước Nhật bắt tay khôi phục kinh tế, người đàn ông tập trung vào công việc của mình và ít khi về nhà trước 7h tối. Mọi việc liên quan tới gia đình và con cái đặt cả lên vai vào người đàn bà. Họ tự nguyện làm như thế cả đời.

Hôm nay đây tôi còn chứng kiến cảnh một đôi ông bà già trên đường; khi tới chỗ nghỉ, người phụ nữ rút chiếc khăn mù xoa trong túi ra mời chồng mình ngồi.
Nay mẫu phụ nữ loại đó chỉ còn thưa thớt.

Bề ngoài người phụ nữ Nhật không tự biểu hiện lộ liễu như người Việt. Màu sắc phần lớn trang phục là màu trắng, màu xám và màu đen. Như đang tự giấu mình đi. Không ai tô son, trát phấn… Nhưng cuộc sống bên trong thì, theo anh hướng dẫn viên, thực sự nồng nhiệt. Khoảng mươi, mười lăm năm gần đây, phụ nữ Nhật nổi loạn, nhiều người không lấy chồng vì không thích phụ thuộc vào gia đình chồng và rất tự lập trong đời sống riêng tư.

Ở Nhật, đời sống tình dục được coi bình thường như cơm ăn nước uống và phụ nữ có phố đèn đỏ của mình. Ở đó, đối tác của họ là những thanh niên mới lớn và lấy việc thỏa mãn nhu cầu phụ nữ làm nghề phụ. Người ta có cách giữ bí mật cho cả hai bên.
Trong túi đàn bà, từ em thanh nữ mới lớn đến đám sồn sồn tuổi trung niên luôn có ca-pốt. Và họ chủ động tìm tới những đối tượng để có thể thỏa mãn những khát khao bất chợt nhưng chính đáng.
Trong các món quà trao nhau nhân ngày lễ tết, chính phụ nữ là màu nóng, còn nam giới được tượng trưng bởi màu lạnh.
9/6/2013
Niềm vui với những công việc bình thường và tính tự lập được rèn từ nhỏ
Buổi sáng chủ nhật, bọn tôi đến khi vui chơi Disney Land nổi tiếng. Ấn tượng lớn nhất vẫn là những người phụ nữ làm công việc như hướng dẫn người đi tham quan và bảo vệ trật tự chung quanh đó. Những công việc có vẻ tẻ nhạt như thế được người Nhật làm với tất cả niềm vui và sự háo hức khiến người Việt chúng ta gần như không thể hiểu nổi. Đứng bên cạnh những đoàn xe lửa làm theo lối cổ, các nhân viênphục vụ không những ân cần giúp đỡ cho người lên xe, mà còn tình cảm vẫy chào khách lên đường, rồi lại hào hứng đón khách xuống khi hết vòng quay.
Người hướng dẫn du lịch giải thích thêm với chúng tôi, người Nhật rất nghiêm túc trong việc công. Tất cả công chức đi làm đều mặc Âu phục. Với họ, làm công chức không phải chỉ để kiếm tiền mà để phục vụ xã hội, việc làm hợp đạo nghĩa làm người.

Một ấn tượng khác, là trẻ con trên nước Nhật rất ngoan và quen tự lập. Trên đường mỗi trẻ có túi thức ăn riêng, tự lấy thức ăn khi muốn. Thông thường các em đi theo người lớn rất đàng hoàng. Một ngày ở công viên không nghe tiếng khóc nào của bọn trẻ.
Người Nhật có tinh thần tự trọng cao độ. Trong hoàn cảnh nghèo khó, ít khi chấp nhận sự giúp đỡ của người khác mà làm được cái gì thì hưởng cái đó. Điều đó được rèn từ nhỏ. Ở trường nuôi dạy trẻ, từ lúc biết bò, đứa trẻ đã phải tự bò đến bàn thức ăn để lấy thức ăn. Ở lớp lớn hơn, đứa trẻ tự gấp lấy quần áo và lo giữ vệ sinh.
Từ chuyện giao thông tới chuyện pháp luật
Đã hơn chục lần đi theo các đoàn du lịch nước ngoài, tôi thấy trên xe thường người Việt Nam chỉ hay pha trò đùa bỡn, trêu chọc nhau, bàn chuyện ăn uống, nói tục. Đa số người mình đi du lịch để làm dáng, để tiêu tiền, không mấy ai tính chuyện đi để hiểu biết về xứ sở mà mình đặt chân tới. Những người hướng dẫn du lịch Trung quốc chẳng hạn, rất hiểu cái sự tầm thường đó. Trên xe, thể theo yêu cầu của người mình, họ nói những chuyện trong thâm cung bí sử, nhưng toàn thứ vụn vặt gây tò mò. Nói chung trình độ những người hướng dẫn cho các đoàn VN ở các nước gần ta rất thấp. Người có chí chắc đi học tiếng Anh tiếng Đức chứ chả ai chịu học tiếng Việt làm việc với các đoàn Việt.

May mắn lần này chúng tôi gặp người hướng dẫn khác hẳn. Anh cũng là người Việt. Sang Nhật học, sau đó nhập quốc tịch Nhật và đưa cả vợ con sang đó. Trong những lúc rỗi trên xe, anh Đức (tôi không biết họ, chỉ nhớ tên) giới thiệu với chúng tôi rất nhiều về đặc sắc của nước Nhật, và điều đó rất cần thiết với những người từ Việt Nam tới.

Ví dụ có lần anh nói về chuyện giao thông trên đường.
Chúng ta biết rằng người Nhật đi lại rất từ tốn và người ta nhường đường nhau khi có việc cần tranh chấp. Trong câu chuyện của mình, anh Đức có lưu ý thêm một điều. Luật pháp được soạn thảo rất tỉ mỉ và nói cho cùng là rất nhân bản. Một mặt nhà nước bố trí cảnh sát theo dõi tốc độ của xe trên đường, nhưng mặt khác, họ cho phép các nhà sản xuất cung cấp cho lái xe các thiết bị cần thiết có khả năng cho biết chỗ nào cảnh sát giao thông đứng bắn tốc độ, để tự động điều chỉnh lại. Tức là người làm luật muốn bảo vệ quyền được đi nhanh hơn của xe cộ trong hoàn cảnh cho phép.

Sự áp đặt luật pháp của những người cầm quyền ở đây cũng là rất mềm dẻo.
Khi có người lái xe phạm lỗi, cảnh sát, từ lúc yêu cầu giữ lại đến lúc lên xe để đặt vấn đề phạt, đều có thái độ lịch sự tôn trọng đối tác, tìm cách thân thiện bàn bạc, chứ không phải một chiều hạch sách rồi muốn bắt người ta thế nào cũng được. Khi không thống nhất được với nhau, họ để dành quyền phán xét cho tòa án,– cố nhiên đó không phải loại tòa án bao giờ cũng nhăm nhăm bênh cảnh sát như người nước mình. Danh tính của những người bị phạt không bao giờ bị làm lộ.
Tôi cho đó mới là sự tôn trọng, sự khuyến khích người dân sống và làm theo luật pháp một cách hữu hiệu.
Pháp luật — một bên nặng về răn đe trừng trị và một bên biết “cận nhân tình”
Có lần đọc cuốn Đông Á – Đông Nam Á – Những vấn đề lịch sử và hiện tại (NXB Thế giới, 2004), thấy ông Vũ Minh Giang (Đại học Quốc gia Hà Nội) nói tới những điểm tương đồng trong tổ chức nhà nước của Việt Nam và Nhật Bản có nhấn mạnh cả hai bên đều chú trọng pháp luật (sách trên tr. 62).

Hôm nay nhớ đến đoạn này bỗng thấy phì cười. Vì sự thật trong khi ở nước người, chính quyền hết sức tôn trọng và đặt mình vào trong pháp luật thì ở mình, pháp luật được soạn ra để áp dụng với dân, chứ nhân viên công quyền đều hiểu ngầm rằng mình là người đứng ngoài. Mà người dân cũng vậy, thấy pháp luật là chuyện phiền phức, song mặc nhiên chấp nhận, lại còn tìm thấy niềm vui trong việc làm ngược pháp luật. Trừng phạt răn đe nặng nề đến độ dã man được xem như một sự cần thiết.

Để hiểu tính mềm dẻo mà chặt chẽ của pháp luật ở Nhật Bản, hãy trở lại câu chuyện về nhu cầu phụ nữ, phố đèn đỏ, mua dâm và bán dâm. Một mặt theo phong tục tập quán cổ, luật nước Nhật cấm tất cả sự tiếp xúc nam nữ ở dạng trần trụi. Thế nhưng đồng thời họ vẫn thấy con người Nhật Bản đã thay đổi, nên các nghị sĩ khi làm luật đã nghĩ ra cách để bảo vệ sự tiếp xúc này, không để dân bị ràng buộc vào luật một cách máy móc. Ví dụ như họ sẽ phạt nếu một trong hai bên không có vật lạ trong người khi tiếp xúc. Mà vật lạ này hiểu theo nghĩa rất rộng, nếu phụ nữ có một vòng đeo tay hoặc người đàn ông có một cái răng giả thì tức là đã không phạm luật. Thế thì còn phạt được ai nữa? Những điều này, theo tôi rất nhân đạo. Còn thuần túy truy bức như ở ta là bất cận nhân tình và sẽ sinh ra gian dối.
Các cửa hàng đồ cũ và thói quen cộng tác trong mọi việc
Nhân khi vào cửa hàng đồ cũ, anh Đức giới thiệu cho chúng tôi biết ở Nhật, loại hàng này có cả một hệ thống phân phối. Những năm 70 – 80 người dân bình thường có thói quen thải loại đồ cũ ra theo hình thức rác và người Việt Nam sang nhặt mang những đồ cũ đó đem về trong nước. Nay họ có ý thức thu gom và phân phối lại. Nhân đây, anh Đức kể về việc tổ chức làm ăn ở xứ này. Là khi có một công việc hợp lí thì nó cũng được phổ biến khắp nước Nhật. Những người cùng ý tưởng tự tổ chức thành những công ty, không có người nào đứng ngoài công ty đó mà có thể cạnh tranh với họ được. Người Việt mình dành được miếng mồi thì ăn lẻ, không ai cộng tác được với nhau, mà chỉ dìm dập nhau, phá nhau. Ở Nhật, nếu một người có sáng kiến chung thì sẽ đưa ra để phục vụ lợi ích chung.
10/6/2013
Chung quanh núi Phú Sĩ
Tối hôm qua, ngủ đêm tại khách sạn thuộc khu Hà Khẩu Hồ (tôi đọc theo âm Hán Việt) thuộc khu vực núi Phú Sỹ, chúng tôi có cảm tưởng như lạc vào gia đình người Nhật. Ăn một bữa cơm theo kiểu gia đình người Nhật vẫn ăn. Xong, được bố trí đến khu vực tắm. Nam chung một bên, nữ một bên, nhưng đã xuống tắm phải bỏ hết quần áo. Đêm, được bố trí ngủ lại căn phòng như của người Nhật. Việc xâm nhập sâu vào phong tục ăn ở như thế trong những lần đi các chuyến khác, bọn tôi không có dịp thực hiện.

Sáng dậy, đi quanh hồ, tôi chợt nhận ra rằng nhà cửa ở đây cũng nhô ra thụt vào mà không có lớp lang trật tự như mạn Giang Nam bên Trung Quốc. Vườn hoa ở các gia đình hay các công sở không nổi bật lên vẻ rực rỡ mà trông hơi có vẻ khổ hạnh và chỉ gợi chú ý bởi lùm cây hoặc một tảng đá nào đấy. Tất cả khu vườn quy tụ chung quanh vào vật trung tâm đó. Ngoài ra cây cỏ trong vườn thì kém, cỏ mọc rườm rà, thiếu một sự xử lý công phu. Các công viên chỉ lo tạo ra sự kì bí mà tảng đá có vai trò vật chủ và mối liên hệ giữa đá và cây là nhân tố chính gợi nên một vẻ đẹp.

Ngồi xe lên núi. Các tài liệu du lịch đều nói rằng Phú Sĩ là biểu tượng của đất nước mặt trời mọc. Trước khi lên đến trạm 5 ở độ cao 2000m, chúng tôi phải vượt qua hàng chục cây số rừng. Nhưng khi đến nơi, ngôi miếu trên trạm 5 đó khá đơn sơ. Nói chung, chùa chiền của Nhật không hào nhoáng, lộng lẫy như đền chùa của Trung Quốc. Thu hút du khách nhất là việc đứng ở đấy chiêm ngưỡng cả ngọn núi trong tuyết phủ.
Đối với người Nhật, núi Phú Sỹ là biểu tượng cao nhất của sự thiêng liêng. Người ta theo dõi để không ai có thể lấy đi hòn đất nào chung quanh núi. Đã có những khách nước ngoài đến, định lấy những hòn đất đi và đều bị phát hiện.
Chung quanh núi là khu vực huyền bí, người ta nói có những người Nhật đã đến đây để sống những ngày cuối đời, tức là tự tử ngay trong khu rừng trùng điệp mà mãi về sau người ta mới phát hiện ra. Số người này đang tăng hàng năm.
Ấn tượng sau nửa ngày ròng ngồi ô tô
Từ giã Phú Sỹ, bọn tôi tới Owakudani, nơi có vết tích của miệng núi lửa phun trào cách cây 3000 năm. Sau đó, là chặng đường dài tới Nakoné và Nagoda.

Trước lúc qua Nhật, một người quen cũ đã nói rằng, do du lịch bụi, chắc là bọn tôi không có điều kiện để sử dụng những phương tiện hiện đại nhất như tàu cao tốc và phải di chuyển từ địa điểm nọ đến địa điểm kia bằng ô tô. Ông nói điều đó với sự ái ngại vì ở Nhật số người di chuyển bằng ô tô rất ít. Nhưng đối với tôi, cảm tưởng là được ngồi ô tô đi trên những con đường nhựa nhẵn bóng và hiện đại của nước Nhật cũng đã sung sướng lắm. Nữa là, sau một buổi chiều như thế, lại có may mắn gần như được nhìn gần vào một nước Nhật và hiểu thêm điều người ta hay nói “Xứ này nghèo về tài nguyên và chỉ có một thiên nhiên khắc khổ, nhưng đã chinh phục được thiên nhiên khắc khổ đó để trở thành một xứ giàu có.”

Nhìn một hai ngôi nhà lắt lẻo giữa một triền núi xa, tôi hỏi Đức họ sống ra sao thì được trả lời:
– Một gia đình Nhật định cư ở đâu thì chính phủ Nhật có trách nhiệm làm đường tới đó, bảo đảm hàng hóa lưu thông tới đó để họ có thể sống bình đẳng với mọi người.

Có một chuyện mà ở nhà tôi đã biết nhưng chưa thấy hết ý nghĩa của nó, đó là việc người Nhật không khai thác tất cả những rừng cây và vùng mỏ cũng khá giàu có của mình. Tất cả những đồ gỗ ở đây đều nhập từ nguồn lâm sản nước ngoài, cũng như các khoáng sản cần thiết cho công nghiệp của họ. Đối chiếu với cách nghĩ Việt Nam, kể ra đây cũng là một sự lạ. Và lạ hơn hết là người Việt chúng ta còn cho chuyện tàn phá tài sản thiên nhiên là chuyện thường, không bán hết đi thì lấy gì mà ăn.
Nông thôn đô thị chung một mặt bằng
Lúc này trước mắt du khách không còn là một nước Nhật của các cao ốc và các khu đô thị thoáng đãng. Vùng đất nằm rải rác giữa núi non và bãi biển không có gì là hấp dẫn và mĩ lệ như các vùng biển của Việt Nam mình. Nhưng ở bất cứ nơi nào có điều kiện thì người nông dân Nhật vẫn cần cù sản xuất. Cảm giác còn lại trong tôi là một nước Nhật giống như một mặt bằng, giữa nông thôn và thành thị gần như không có sự chênh lệch. Nay, là thời, theo Đức kể, người nông dân Nhật làm ruộng bằng cách đi thuê các xí nghiệp nông nghiệp làm cho họ. Và đã có các hãng lớn chuyên làm nông nghiệp phụ trách giúp họ từ việc chọn giống, cày bừa đến bón phân và thu hoạch. Người nông dân chỉ việc ở nhà dùng tiền của mình đầu tư chứng khoán.

Người Nhật đặc biệt lo bảo vệ nguồn lương thực của mình, tạo cho xứ sở một thứ thức ăn không những ngon lành mà còn bảo đảm chuẩn khoa học không gạo nước nào có thể có được. Đã có những thời gian mà chính phủ Nhật do áp lực quốc tế phải nhập một số gạo của các nước khác, khi mang về phân phối cho dân thì không đâu người ta lấy, đến cả cho không cũng không ai nhận. Cuối cùng, số gạo đã mua buộc phải đem đi dùng làm hàng viện trợ cho các nước khác.
Đặt người Việt bên cạnh người Nhật

Cũng nhân thời gian rỗi trên đường xa, Đức kể với tôi về chuyện những người Việt Nam ở Nhật. Đức cho biết thật ra sau 4-1975, số người Việt sang Nhật không phải là ít, nhưng số có thể trụ lại được ở Nhật thì không nhiều và phần lớn là họ phải bỏ qua bên Úc hoặc bên Mĩ làm ăn. Việc du nhập vào cộng đồng Nhật, đòi hỏi sự nỗ lực đặc biệt mà người Việt không quen, chưa kể tiếng Nhật với nhiều người là khó học.
Chưa quen là như thế nào? Dù là mới tiếp xúc với người Nhật và văn hóa Nhật một cách đơn sơ, tôi vẫn có cảm tưởng người Nhật với người Việt Nam như hai đối cực, người nọ là thế giới đảo ngược của người kia.
Người Nhật có tinh thần gắn bó với xã hội, cấu kết với cộng đồng còn người Việt khôn lỏi, chạy vặt.

Người Việt thích phô trương còn người Nhật giấu mình sau vẻ ngoài bình lặng.
Người Việt ồn ào, lắm chuyện coi nơi công cộng là chỗ tự do buông thả còn người Nhật sợ nhất làm phiền người khác cũng như là bị làm phiền.

Bữa qua Miến Điện, tôi nhận ra một điều là không hiểu sao người bên đó có vẻ ít nói, trên đường không có cảnh vừa đi vừa cầm điện thoại tán chuyện. Có thể người Miến Điện không có tiền mua các loại máy mới? Nhưng Nhật là một nước giàu có. Sao dân họ vẫn không có thói nói lắm nói nhiều và xả ra cả khối lượng rác âm thanh ngập ngụa trên mọi ngả đường? Chợt nghĩ chính sự nói lắm nói nhiều nói một cách ba vạ đã giết chết sự suy nghĩ của người mình. Nó làm cho chúng ta thành một xã hội câm nín trước các vấn đề rất lớn đang phải đối mặt.
Xuất khẩu lưu manh
Hôm nay có đến hơn một giờ đồng hồ liền, Đức toàn kể chuyện người Việt sau 4-1975 tràn sang Nhật làm những việc gian dối như cờ bạc trộm cắp ra sao, cảnh sát Nhật đã từng bước đấu trí với người Việt để vô hiệu hóa các đồng bào lưu manh của chúng ta thế nào.
Chuyện đấu trí ấy tôi định ghi mà không sao theo dõi kịp nên đành bỏ. Chỉ nhớ nhất một chi tiết. Có nhiều người Việt sau khi kiếm bẫm bằng con đường bất chính,liền lấy cái vốn thu được từ nước ngoài về làm vốn kinh doanh và trở thành đại gia.

Từ việc này nẩy ra hai ý nghĩ bổ sung:

1/ Ở các xã hội lành mạnh, đám nhà giàu là những người con ưu tú của dân tộc, họ như đầu tầu kéo cả cộng đồng đi theo. Ở một xã hội dở dang rồi biến chất như ở ta, một thời gian dài không công nhận tài sản cá nhân, thì ngược lại, đám nhà giàu phần lớn là đám lưu manh, khoác áo quan chức làm việc lưu manh. Họ phất lên trong chiến tranh bằng cách buôn lậu những hàng quốc cấm xuyên quốc gia. Với những đồng tiền kiếm được bằng các thủ đoạn xấu xa, khi trở về nước làm kinh tế, họ có góp phần thúc đẩy sự làm ăn và vì thế cả người dân lẫn chính quyền hoan nghênh họ. Nhưng lùi xa mà nhìn, thì thấy đóng góp của những người này không thấm là bao so với sự phá hoại những nguyên tắc đạo đức, tức những tác hại lâu dài, mà họ mang lại.

2/ Ngoài số đại gia trên, hiện còn không ít người Việt, đang sống vất va vất vưởng theo kiểu ăn cắp vặt, buôn lậu, làm thuê làm mướn ở xứ người.
Nhớ hồi chống Mỹ trong đầu mọi người dân luôn được nung nấu cái ý nghĩ Ta chiến đấu thế này không phải chỉ vì ta. Ta đang chiến đấu cho cả thế giới. Ta đang trở thành lương tâm nhân loại…
Kỳ cục thế mà ai cũng tưởng thật và ai cũng thích.
Được những tư tưởng kiểu đó quấn chặt vào đầu, nhiều người Việt sau 4-75 ra nước ngoài, tự cho phép mình làm tất cả những việc xấu xa nhất, bất chấp luật pháp nước sở tại và những nguyên tắc đạo đức thông thường. Một cuộc xuất khẩu thói lưu manh đã kéo dài chưa biết bao giờ chấm dứt.
11/6/2013
Thăm các di tích lịch sử
Tham quan chùa Thanh Thủy. Ấn tượng nhất không phải là ngôi chùa, mà là cách dựng công trình tôn giáo này. Cách nó bám vào chân hòn núi đá. Cũng lại là một biểu tượng của tinh thần bám trụ của con người vào một thiên nhiên khắc nghiệt.
Buổi chiều tới ngôi Chùa Vàng. Đọc chữ Hán, thấy chính ra chùa này phải gọi là Kim Các Tự mới đúng. Tôi thích cả không gian chung quanh chùa và cả cái cách người ta tạo ra ấn tượng đối với người tới tham quan.

Có một điều tôi thấy tin, là những chi tiết người ta trình bày về ngôi chùa, cái giá trị cổ kính của nó. Các di tích ở Việt Nam thường có những bảng giới thiệu rất luộm thuộm, nhiều lúc có cảm tưởng do những người không hiểu biết viết ra.
(Còn nhớ là lần vào Văn miếu năm 2010, khi đọc tiểu sử Khổng Tử, thấy viết là Đức Thánh Khổng “có đến bốn tác phẩm gọi là Tứ Thư”. Điều này sai vì bốn tác phẩm đó có tên là Luận ngữ, Đại học, Trung dung, Mạnh Tử. Sao lại nói cuốn Mạnh Tử do Khổng Tử viết được?)

Một niềm tin khác, khi đến thăm các công trình kiến trúc cổ, là cảm thấy chắc chắn nó giống như là ban đầu nó đã được hình thành. Trong một cuốn sách về văn hóa Nhật, tôi đọc thấy người ta nêu lên một nguyên tắc khi trùng tu các công trình lịch sử. Là bất cứ thời nào, muốn làm lại các công trình cũ thì cũng phải làm đúng như cái ban đầu, kể từ hình dáng, các chi tiết trình bày cho đến chất liệu kiến trúc.

Một cách tự nhiên, tôi có cảm tưởng, chúng ta có thể tin được nền sử học Nhật Bản, một niềm tin không thể có đối với nền sử học Việt Nam hiện nay.
Trong số các đoàn nội địa tới tham quan tại các công trình kiến trúc lịch sử, ở đâu tôi cũng gặp những đoàn học sinh do các giáo viên già dẫn đường và giới thiệu. Sau được nghe lại, thấy nói là trong chương trình học phổ thông, tất cả các học sinh có quyền được đi tham quan các di tích có ghi trong sử sách. Chi phí các chuyến đi ấy do nhà nước đài thọ và chỉ những người kinh nghiệm lâu năm trong nghề mới được giao việc hướng dẫn các em.

Tình hình này khiến người ngoại quốc hiểu thêm một điều là tại sao không bao giờ các di tích, các thắng cảnh ở Nhật lại có tình trạng tràn ngập khách tham quan như bên Trung Quốc. Hình như những người lớn tuổi của nước Nhật đã tham quan di tích này từ lúc nhỏ rồi, nếu có tham quan chỉ đi lại thôi. Còn ở Trung Quốc, các di tích thường bị lấp đầy bởi người nông dân của các tỉnh xa xôi mà họ muốn đến với các thắng cảnh. Giống như cánh du lịch bụi Việt Nam chúng ta, lấy đi làm cái mốt, đi chỉ để chứng tỏ rằng mình chẳng kém gì người.

Trở lại với quá khứ của Nhật Bản, tôi luôn luôn bị ám ảnh bởi mối quan hệ của nước này với Trung Quốc. Một mặt thì cái ảnh hưởng ấy quá rõ và người Nhật không giấu điều này. Ai đó đã nói: “Người Nhật tìm ở Trung Hoa đức trầm tĩnh, vẻ hào hiệp và tính muôn màu muôn vẻ mà họ không thể có”. Mặt khác, suốt trong quá trình lịch sử, người ta cũng bắt gặp nỗ lực của người Nhật hướng theo cái tinh thần “trên cơ sở hoàn thiện mình, dám là mình, vui với mình và không ghen tức với người nước ngoài”. Đó lại là điều không thấy ở người Việt, văn hóa Việt.
Người Nhật làm du lịch
Những người tổ chức du lịch đã cố gắng cho chúng tôi biết được nước Nhật ở nhiều cung bậc khác nhau. Ví dụ về giao thông họ có bố trí cho chúng tôi ngoài chuyện thường xuyên ngồi trên ô tô, có lúc đi tàu thủy, có lúc đi tàu cao tốc.

Về ăn uống, ngoài những lối ăn nhanh theo kiểu buffet thì họ thường xuyên cũng cho chúng tôi vào những quán ăn tổ chức theo kiểu truyền thống. Ở đó, bọn tôi ngồi bệt xuống đất, chân đặt lên cái hố được khoét rộng chung cho cả bàn, trên bàn đặt nồi lẩu. Cái thú vị nhất đối với bọn tôi nói ra kể cũng phàm tục song cũng xin kể ra kể đây. Thú vị vì, nhìn vào cái nồi lẩu, thịt không bao giờ thiếu. Khi ăn hết, nếu cần chúng tôi có thể gọi thêm mà không phải trả thêm tiền.
Lúc đầu bọn tôi cũng lo lắng có những món ăn của Nhật không hợp khẩu vị, sau thì thấy cũng thích nghi dễ dàng.

Trong các chương trình như là thêm vào buổi chiều hôm nay, có việc chúng tôi đến thăm cửa hàng kimono. Ở đó, khách du lịch vừa có dịp tham quan cả cơ sở người ta đang dệt vải để làm ra kimono, và cũng có một buổi biểu diễn thời trang, trong đó những người Nhật trình bày cách sử dụng trang phục này.

Điều “rất Nhật” ở đây lại chính là cái bề ngoài “không chuyên nghiệp”, nó ngay lập tức gợi nên một thoáng thất vọng ở những người Việt thạo đời. Ra vào đi lại trên sân khấu lúc này không phải là những cô gái chuyên môn trình diễn thời trang, mà chỉ những người phụ nữ bình thường, tưởng như họ đang đi ngoài phố, vừa được mời vào.

Phụ nữ Nhật nói chung không đẹp, rất ít khi chúng tôi phải sững sờ cả người như khi sang Trung quốc, bắt gặp các cô gái còn chất quý phái hôm qua. Những cô gái Nhật biểu diễn thời trang ở xưởng làm và bán kimono cũng không thể gọi là đẹp. Họ trình diện trước du khách như những người thông minh, nghiêm túc, tự trọng, có sự cởi mở với người bên ngoài, mà vẫn giữ cho riêng mình đời sống nội tâm. Những bộ trang phục họ mang ra trình diễn hôm đó không phải là những hàng đắt tiền mà đám dân du lịch Việt Nam – những người đang thèm tiêu tiền — háo hức. Nhưng họ đâu có tính chuyện câu khách. Họ chỉ muốn giới thiệu một nét văn hóa Nhật.
Những dư âm của cuộc động đất
Tiếp tục câu chuyện về người Nhật trong sự so sánh với người Việt Nam. Sự kiện động đất xảy ra cách đây mấy năm vẫn còn trong kí ức người Nhật như chuyện mới xảy ra năm ngoái tháng trước hôm qua. Nhưng, chính lúc đó thì phẩm chất dân tộc của họ được bộc lộ.
Đức nói rằng ở đây đã lâu, song chính anh cũng rất ngạc nhiên vì cách phản ứng của người Nhật với động đất.
Ví dụ như, khi Tokyo mất điện, người ta đi bộ về nhà có khi đến hàng vài chục cây số, cái cửa hàng bên đường tung hàng ra để phục vụ người đi lại, mặc dù họ không có tiền. Khách sạn cho người đi đường vào ở nhà và không tính tiền.

Sau đó, tinh thần và nghị lực của người Nhật cũng bộc lộ ở việc sự nhất trí của xã hội trong việc khắc phục hậu quả tai họa. Sau động đất, nhà nước cắt điện một số vùng thì các vùng khác cũng tự động cắt theo giúp nhà nước có được lượng điện dự trữ. Khi đi làm việc, có lệnh chính phủ, công chức không dùng caravat để tránh giặt giũ nhiều, thì người thường cũng tuân theo.
Cả nước bao giờ cũng làm quá hơn so với mức chính phủ yêu cầu. Chỉ có câu khẩu hiệu nêu ra và viết trong các taxi: Nhật Bản hãy cố gắng. Mấy chữ ngắn ngủi thế thôi, mà người Nhật đã hiểu rất nhiều.

Trở lại với ý nghĩ mới hình thành trong tôi mấy ngày nay, hình như với người Việt Nam thì người Nhật ở dạng đảo ngược. Người mình sống trong sự cạnh tranh, phải lấy dối trá làm đầu khi quan hệ với nhau. Trong quan hệ với nhà nước và cộng đồng, càng trục lợi kiếm chác cho cá nhân càng tốt. Ở Nhật, giữa cá nhân và cộng đồng có niềm tin chắc chắn. Luôn luôn người ta tin rằng, những nỗ lực cá nhân của người ta sẽ được xã hội hiểu, những người tự trọng không thể làm khác.
12/6/2013
Chuyện quanh những ngôi chùa - Ngày cuối cùng ở Nhật
Mấy hôm trước, chúng tôi đã đi qua những thành phố nổi tiếng của xứ sở này như Kyoto, nhưng dù thế cũng chỉ là lướt qua. Hôm nay cũng vậy, mang tiếng là được đến kinh đô cổ kính của nước Nhật là Nara, nhưng chúng tôi cũng chỉ được đi qua phố xá một quãng, sau đó được dẫn đến thăm ngôi chùa cổ đọc theo chữ Hán là Đông Đại Tự.

Trên đường phố Nara, bắt gặp những ngôi nhà cổ, loại nhà một tầng mà chắc chắn đã có từ rất lâu đời. Trong việc xử lí những di sản này, chỗ khác của người Nhật vẫn rất rõ. Họ có sự bố trí thế nào để những ngôi nhà cổ rộng rãi hòa hợp tự nhiên với những cao ốc hàng chục tầng bên cạnh,– việc này gợi cảm giác những người sống trong ngôi nhà cổ là những cư dân lâu đời ở đất này, có thể là họ còn giàu có nữa kia, thì mới được ở trong những ngôi nhà đó.

Còn ở Việt Nam bên cạnh những cao ốc thường khi cũng có những ngôi nhà rách nát, làm hỏng hết cảnh quan chung. Những cuộc đền bù bất minh, hoặc tâm lý thấy ai giàu có là ghen lồng ghen lộn, ì ra ăn vạ…đã là nguyên nhân làm cho cái cũ cái mới không thể chung sống hòa hợp.
Hai bên đường tới Nara, du khách cũng bắt gặp rất nhiều ngôi chùa. Đây là một địa điểm được mệnh danh kinh đô của Phật giáo, đã từng là địa điểm tổ chức Đại hội Phật giáo thế giới.

Nhưng một chuyện buồn lại bắt đầu len vào, khó mà quên được. Đức hướng dẫn viên chỉ hai bên đường và nói rằng ở đây có rất nhiều cửa hàng bán đồ dùng dành cho các nhà sư. Anh kể tiếp, nhiều nhà sư Việt Nam đa đến Nara này, và điều mà người Nhật bản xứ đã sửng sốt là những nhà sư đó đã mua những trang phục đắt tiền nhất toàn loại những nhà sư các nước khác không dám mua.

Đức có người bạn đã đi theo đoàn Phật giáo ấy, chứng kiến cảnh mua bán của các vị sư. Với thói quen của người Sài Gòn, người bạn ấy có hai phản ứng. Một là lập tức tính sẽ tổ chức những của hàng tương tự ở Việt Nam để bán cho giới tu hành hám chuyện làm dáng. Hai là nhiều lúc nghĩ không muốn thành Phật tử nữa bời vì không hiểu vì sao sư mô Việt Nam lại trần tục đến như vậy.
Một chút so sánh và cảm giác về một nước Nhật quá xa xôi
Khi đi trên đất Nhật tôi hay nhớ lại những lần đến các xứ khác.
Du lịch Trung Quốc, đối với tôi như là một chuyến trở về nguồn. Ở đó tôi nhớ không chỉ là những lâu đài tráng lệ hay những viên lâm cổ kính sang trọng – không khí như trong phim Hồng lâu mộng — mà tôi còn thấy ở đây có những mặt trái, tức cả đời sống cùng cực của người lao động bình thường.

Ở Bắc Kinh, tôi đã vào những ngõ nhỏ mà ở đó người ta , từng cụm dân trong hồ đồng, phải dùng hố xí tập thể, và con đường quanh co là những mái nhà lợp tôn, lợp ngói cổ cái thấp cái cao như những hẻm nhỏ Hà Nội. Tôi cũng thấy người ta buôn gian, bán lận, nói thách, làm hàng giả theo lối làm tiền chém du khách không tiếc tay.

Bởi Việt Nam luôn là Trung quốc bị hạ thấp hẳn xuống, thu nhỏ hẳn lại, cái tốt bớt dần, cái xấu tăng thêm, nên tôi càng hiểu những tệ hại của xứ mình không biết bao giờ mới khắc phục được.
Ngay cả với nước Nga nửa Âu nửa Á, tôi cũng thấy điều gì đó tầm thường dung tục. Hồi còn Liên xô, đó là những đống đất xây dựng ngổn ngang ngay ngoài cửa cách hàng rào sân bay không xa; những phiên chợ nông trường lèo tèo; đám đầu trọc nghênh ngang ngoài đường. Và bây giờ ở nước Nga của Putin, cái tôi còn nhớ khi đọc các bản tin, là những làng xóm vắng vẻ, người đàn ông say rượu, những người đàn bà chỉ lo trau chuốt để bán mình cho các nhà tư sản mới nổi.

Tóm lại thì ở đâu cũng có cái gì đó gần gũi với mình.
Ngược lại, đến với nước Nhật, từ lâu tôi cũng biết là đồng văn đồng chủng, da vàng mũi tẹt, nhưng ấn tượng còn lại thì lại là một cái gì khác hẳn so với những ấn tượng đi Nga đi Trung Quốc.
Tôi thấy xã hội Nhật là một cái gì quá đồng đều và quá hoàn chỉnh, do đó là quá xa xôi, người mình không biết bao giờ mới có thể có một xã hội hợp lý như của họ.

Tình thế đó của nước Nhật toát ra không phải từ không khí sinh hoạt của đường phố mà nó thấm vào trong cách sống cách nghĩ của từng con người, cũng như lối sống rời rã, cái năng động hỗn loạn, và tâm lý bèo dạt mây trôi đã thấm vào trong cách tổ chức xã hội của người Việt.

Nhớ lại khoảng thời gian mấy năm 75-76. Quá say sưa vì chiến thắng, người mình có cảm tưởng rằng đã đánh Mĩ được thì làm gì cũng được. Tôi nhớ không phải ở người dân thường mà ở những cấp lãnh đạo cao nhất hồi ấy đã có ngưỡng vọng có ngày Việt Nam sẽ đuổi kịp Nhật. Công thức mà tôi còn nhớ như in là lời truyền miệng như thế này: “Thôi, nói 20 năm thì hơi lạc quan quá, độ 30 năm nữa thì chúng ta sẽ đuổi kịp Nhật”.

Nhắc lại ảo tưởng đó để hiểu rằng, chiến tranh để đẩy chúng ta chui vào sừng trâu, và ra khỏi chiến tranh chúng ta đã xa lạ với thế giới như thế nào. Ta chẳng hiểu gì về người, mà cũng chẳng hiểu gì về chính mình.
Từ đó, trong cái thế giới hiện đại đang thay đổi từng ngày, ta vẫn nhắm mắt mở, bước đi loạng choạng xiêu vẹo.

Trong sự vội vã điên cuồng lo làm ăn sinh sống, xã hội Việt sau chiến tranh đã trở thành một xã hội mất hết tự tin. Không ai bảo ai, không dám thú nhận, song trong thâm tâm, nhiều người chỉ còn tin rằng sẽ chẳng bao giờ chúng ta theo kịp thiên hạ. Cách sống thời thượng nhất lúc này là có cái gì bòn mót mang bán lấy tiền. Ăn cắp của nhà nước cũng được, lột da nhau cũng được, miễn có tiền. Rồi đi nước ngoài mua sắm những thứ xịn nhất, mới nhất, hiện đại nhất. Rồi lấy đó làm niềm tự hào rằng người mình cũng đang có sự tiến bộ vượt bậc theo kịp các nước trên thế giới.

Mấy năm gần đây, nhờ sự trợ giúp của phía đối tác nước ngoài, các trường đại học ở ta thường mở ra các cuộc hội thảo văn học so sánh, trong đó nhiều báo cáo của giảng viên Việt trình bày như là có một bước tiến song song giữa văn học Nhật Bản hiện đại và văn học VN thế kỷ XX, rồi bước tương đồng giữa văn học Nhật đương đại và văn học Việt Nam hôm nay. Trên một số phương diện khác của đời sống cũng vậy. Một cái gì giống như ảo tưởng đang chi phối cái nhìn người Việt khi chúng ta làm cái việc đối sánh giữa mình với người, và các đồng nghiệp Nhật vì lịch sự cũng không tiện bác bỏ. Thường những lúc nghe vậy, trong tôi có cái cảm giác xót xa như khi thấy người ta xoa đầu mình coi mình là một lũ trẻ con.

Trong những ngày du lịch bụi ngắn ngủi này, cái cảm giác xót xa ấy lại trỗi dậy để mà càng cảm thấy nó một cách thấm thía hơn.

VƯƠNG TRÍ NHÀN

Tổng số lượt xem trang