Thứ Năm, ngày 30 tháng 4 năm 2015

Bao Giờ Việt Nam Hết Bệnh?

Nguyễn-Xuân Nghĩa - Người Việt Ngày 150430
Việt Nam Sẽ Có Tự Do Khi Hết Bệnh Tâm Thần Phân Liệt
* Chúng ta mắc bệnh - mà quên rồi... *

Nhìn lại 40 năm sau khi chiến tranh kết thúc vào năm 1975, người ta có thể tự hỏi là đến bao giờ Việt Nam mới có tự do? Đấy là câu hỏi chính đáng vì vào năm đó, nền tự do mong manh của phân nửa đất nước ở miền Nam cũng cáo chung cùng chiến tranh.


Bài này sẽ nói về tương lai - ở sau lưng nước Việt. Và sẽ không thoa nước đường để ru ngủ.



Chân Trời Lý Tưởng



Từ nhiều thế kỷ rồi, người ta đã luận giải về chữ “tự do”. Không định nghĩa nội hàm của tự do thì khó suy đoán ra diễn biến và thời điểm của việc đất nước Việt Nam sẽ có tự do. Vì vậy người viết xin đi từ một phương hướng khảo cập (approach) khác. May ra, khảo hướng này sẽ giúp ta tìm ra câu trả lời.


Đầu tiên, xin vẽ ra một “chân trời lý tưởng” cho đất nước để biết là mình muốn đi đâu.


Việt Nam cần một xã hội cởi mở về tư tưởng.


Cởi mở là khi người dân không bị chế độ cai trị áp đặt một thứ “chân lý độc quyền”. Độc quyền chân lý là khi có ai đó cho rằng mình duy nhất đúng và cấm xã hội nghĩ khác.


Nạn độc quyền chân lý là bước đầu của hệ thống toàn trị (totalitarian) vì tư tưởng chi phối mọi lãnh vực sinh hoạt của con người, từ tư duy đến hành động. Nếu kéo dài quá lâu, là hoàn cảnh của Việt Nam, nạn độc quyền chân lý làm thui chột sự sáng tạo, tiêu diệt khả năng suy nghĩ độc lập và làm mất cơ hội tìm ra giải pháp khác cho cuộc sống. Khi ấy, quyền tự do có thể là lang thang trong vô định.


Nếu ra khỏi nạn độc quyền chân lý do đảng và nhà nước đặt ra thì xã hội mới có thể tiếp nhận, thử nghiệm, đánh giá và áp dụng các tư tưởng khác để tìm ra giải pháp tốt đẹp - hoặc ít ra là ít tệ nhất. Cho nên, Việt Nam chỉ có tự do khi người dân có tự do về tư tưởng và chấp nhận sự suy nghĩ dị biệt.


Tai họa ngày nay có những nguyên nhân quá sâu xa khiến cho trong thế kỷ 20 dân ta không tìm ra giải pháp thỏa đáng cho hai nan đề lớn của quốc gia: không có độc lập và lụn bại dần khi so với các dân tộc khác. Trong hoàn cảnh ấy, Việt Nam mới lầm lạc ngả theo chủ nghĩa cộng sản.


Sau cuộc tương tàn trong một trận chiến dài nhất thế kỷ 20 với quá nhiều tổn thất, dân ta đi vào thế kỷ 21 mà vẫn không có độc lập và chẳng có cơ hội canh tân đất nước để theo kịp đà tiến hóa của các dân tộc khác.


Nạn độc quyền chân lý kéo dài còn khiến đa số người dân không ý thức được rằng quốc gia đang tụt hậu so với các nước khác trên thế giới. Nhìn vào sự lạc quan vênh váo của những kẻ tương đối có học nhất tại xứ sở, ta phải thấy ra điều ấy. Tình trạng mất ý thức tụt hậu cũng là một cản trở lớn.


Thứ hai, từ quyền tự do tư tưởng, hãy bước tới cách tổ chức xã hội.


Trong các giải pháp cho tương lai, nguyên tắc dân chủ về chính trị không là lý tưởng mà chỉ là phương thức tổ chức sinh hoạt ít tệ hại nhất. Con người ta không thể có phương thức chính trị toàn hảo khả dĩ giải quyết được mọi vấn đề, cho nên mới phải chọn lựa và dung hòa. Xã hội cởi mở và chấp nhận dị biệt sẽ tạo điều kiện cho việc tìm kiếm và áp dụng giải pháp tối hảo mà không toàn hảo. Bảo rằng nếu có dân chủ nước ta sẽ khá là một sự hiểu lầm hay lừa mị, vì dân chủ không thể là mục tiêu mà chỉ là một phương pháp, một cứu cánh.


Nhưng cứu cánh đó, nguyên tắc dân chủ, là cái gì? - Dân chủ là sự bình đẳng của mọi người trước pháp luật.


Xã hội cởi mở về tư tưởng và bình đẳng về quyền lực là điều kiện tiên quyết cho dân chủ. Pháp luật đó là do người dân làm ra và liên tục cải tiến qua người đại diện của mình. Người đại diện cho dân để thiết lập hệ thống pháp quyền áp dụng đồng đều cho cả nước chỉ là lãnh đạo nhất thời. Họ được người dân chọn lựa, truất phế hay/và thay thế.


Khi có xã hội cởi mở và chính trị dân chủ, người Việt sẽ tìm ra giải pháp thỏa đáng, không tất nhiên là lý tưởng, để vượt qua những thách đố bao giờ cũng có mà lại thường xuyên đổi thay.


Cho nên, cái chân trời lý tưởng của chúng ta khởi đi từ một thực tế không lý tưởng: con người không có giải pháp toàn hảo mà phải tìm kiếm, thử nghiệm và cải sửa. Ai nói rằng ta có giải pháp thần diệu, luôn luôn đúng và không thể phê bình hay cải tiến, người ấy có tinh thần độc quyền chân lý, tức là độc tài.


Sau khi phác họa ra cái hướng mình muốn đi, ta hãy trở về thực tế. Thực tế ấy là một trường hợp bệnh lý. Là bệnh tâm thần phân liệt.



Tâm Thần Phân Liệt




Việt Nam bị bệnh mãn tính và nguy kịch mà không biết.


Y khoa có chỉ ra đôi điều về bệnh tâm thần phân liệt, hay “schizophrenia” (skitsɵ’frɛniǝ), còn được gọi là phân tâm loạn trí. Bệnh nhân có nhận thức lệch lạc về thực tại, sống tách rời khỏi thực tế, lấy ảo giác làm sự thật và tin vào nhiều mâu thuẫn, vì thế lại có phản ứng thất thường và nguy hại cho chính bản thân - mà vẫn không hay.


Xin hãy từ những hiểu biết phổ quát về khoa thần kinh tâm lý mà áp dụng vào trường hợp xã hội Việt Nam.


Chúng ta hãnh diện là người Việt Nam, tin vào “bản sắc dân tộc” vậy mà chẳng định nghĩa được bản sắc đó là gì. Một cách lờ mờ thì lại mượn nhiều nét văn hóa của Trung Hoa về làm “quốc giáo”, là niềm tin cao nhất, ngang hàng tín ngưỡng. Đấy là một hiện tượng độc quyền chân lý “bất khả tư nghị”, không thể bàn cãi, từ tư tưởng đến tổ chức giáo dục và chính trị.


Qua nhiều thế kỷ, chúng ta sống trong trạng thái bối rối ấy, đến khi gặp thách đố - bị vài xứ Âu Châu vào dạy ta về một chân lý khác – thì không đối phó được sau một phần tư thế kỷ đấu tranh, từ 1859 đến 1883. Vì lui về bản sắc thì bất lực nên nhiều người ra ngoài tìm khí giới mới về tư tưởng và học thuật để giải quyết vấn nạn.


Khi ấy, dân ta bị thêm một tai họa nữa là nạn độc quyền chân lý của cộng sản.




***




Trong cả trăm năm, từ khi bị Pháp tấn công, xâm chiếm và cai trị, nhiều thế hệ của dân ta cùng theo đuổi hai mục tiêu song hành mà dính liền như hai mặt của một đồng tiền, là độc lập chính trị và canh tân xã hội. Vì xã hội không được canh tân nên mới mất chủ quyền và vì quốc gia không có độc lập nên không thể canh tân theo cái hướng có lợi cho đất nước.


Trong cuộc đấu tranh ấy, nhiều nhà cách mạng đã chấp nhận tinh thần cởi mở, cùng hợp tác mà tương dung sự khác biệt chứ không coi nhau là kẻ thù. Điển hình là phải có độc lập rồi mới canh tân được như theo Phan Bội Châu. Hoặc ngược lại, phải duy tân thì mới giành lại được độc lập, là lý luận của Phan Chu Trinh.


Người cộng sản xuất hiện thì đòi làm cả hai. Nhưng trước hết là tiêu diệt bất cứ những ai nghĩ khác, ở trong đảng và trong nước. Rồi họ chọn giảỉ pháp tệ hại nhất cho dân tộc.


Đó là “quốc tế giáo” của ngoại bang.


Cho nên khi các nước thuộc địa Đông Á đều giành được độc lập thì Việt Nam vẫn bị nạn đao binh tương tàn, cho quyền lợi ngoại bang, không là Liên bang Xô viết lại là Trung Cộng. Đấy là trường hợp bệnh lý tâm thần từ đầu não khi tưởng mình là cái này mà lại làm điều kia!


Xin nhắc lại, con bệnh phân liệt tâm thần ưa có hành vi trái ngược mà bao giờ cũng cho là đúng.


Trong chế độ toàn trị thì cả nước mắc bệnh vì phải tin và nói rằng đảng đi đúng hướng dù đi ngược với những gì người dân đang thấy ở ngoài đời. Đảng dối trá làm người dân cũng dối trá và cùng gọi đó là “đạo đức cách mạng” với hai ý trái ngược!


Tình trạng phân tâm, sống trong hai trạng thái trái ngược, nổi bật ở hai khía cạnh “xóa” và “xây”.


Từ lý luận, chủ nghĩa cộng sản không thể định nghĩa “xây dựng xã hội chủ nghĩa” là gì. Nhưng người cộng sản lại được dạy là muốn xây dựng cái mới thì phải xóa bỏ cái cũ qua tiến trình “cải tạo”. Sự phân liệt tư duy ấy mới dẫn đến một nghịch lý kinh hãi trong mọi chế độ cộng sản.


Khi đảng nói “xây dựng” thì đấy là lúc ra tay tàn phá - mà thế giới và nhất là người Mỹ lại không hiểu. Khi kinh tế suy sụp thì đảng phải sửa sai, không để xây dựng mà để tìm phương tiện bảo vệ chế độ. Vì vậy, thành phần bảo vệ chế độ là công an, vốn có nhiều thông tin nhất về sự lụn bại ở dưới, đều có vẻ thực tiễn hơn thành phần lý luận đầy ảo giác ở trên. Nên càng dễ lừa được thế giới.


Nhưng bao giờ việc xóa bỏ cũng dễ hơn xây dựng cho nên tiến trình cải tạo tại Việt Nam là sự xóa bỏ triệt để, làm kinh tế kiệt quệ, xã hội khủng hoảng và quốc gia lại trôi vào một tranh chấp nữa, giữa hai nước lãnh đạo cộng sản, giữa Liên Xô và Trung Quốc.


Nói về tranh chấp là nhìn ra một sự phân liệt hai mặt khác.


Ban đầu, người cộng sản tranh đấu cho quốc tế cộng sản của Liên Xô mà gọi đó là đấu tranh vì độc lập dân tộc, bên trong là thanh trừng nội bộ cho độc quyền chân lý. Giữa cuộc chiến ngụy danh độc lập, lãnh đạo đảng lại chống Liên Xô vì chủ trương “xét lại” của Moscow, đòi tiến hành cải tạo theo kiểu Mao Trạch Đông và sát hại bằng vu cáo tội chống đảng bất cứ ai không đồng ý với chủ trương ấy.


Sau đó, người dân miền Bắc là công cụ của đảng và đảng là công cụ của hai cường quốc cộng sản để thúc đẩy chiến tranh trên cả nước. Rồi khi đã thắng miền Nam thì vừa cải tạo làm cho cả nước tan hoang lại vừa lao vào một cuộc chiến khác tại Cam Bốt khiến Trung Quốc càng có lý cớ xâm lược. Khi Liên Xô tan rã thì từ năm 1991, đảng lại tìm chỗ tựa ở Bắc Kinh mà hy sinh cả độc lập.


Đã vậy, bệnh phân liệt tâm thần mãn tính trở thành nguy kịch với tiến trình “đổi mới”.




***




Vì duy ý chí, giỏi xóa hơn xây mà chẳng biết xây cái gì thì đúng, sau 1975 đảng làm xứ sở kiệt quệ, lại còn phao phí tài nguyên cho 10 năm chiếm đóng Cam Bốt. Khi chế độ khủng hoảng thì đảng biết mình sai mà chẳng biết thế nào là đúng.


Đại hội VI vào cuối năm 1986 mở ra năm năm “đổi mới” (Kế hoạch Năm năm 1986-1990) mà chủ yếu chỉ là nới lỏng bàn tay kiểm soát và bóc lột để dân chúng ở dưới có một chút tự do về kinh tế hầu nhà nước còn có thể trưng thu. Nội dung vẫn chỉ là một tập hợp của nhiều khẩu hiệu không thực chất. Nhưng về lý luận thì vẫn là hiện tượng tâm thần phân liệt - vì đảng vẫn có lý.


Đấy là lúc xã hội có một chút thay đổi từ dưới lên, gần như tự phát.


Khi các nước Đông Âu vùng dậy và Liên Xô tan rã (1989-1991) thì đảng ôm lấy Trung Quốc từ mật nghị tại Thành Đô của tỉnh Tứ Xuyên: tiến hành đổi mới có bài bản hơn, từ trên xuống. Và lại tiếp tục bệnh phân liệt thần kinh.


Chủ nghĩa cộng sản đã phá sản và kinh tế thị trường mới là giải pháp phổ quát cho toàn cầu. Đảng phải áp dụng giải pháp đó - mặc nhiên công nhận sự bất lực của xã hội chủ nghĩa - nhưng lại dùng kinh tế thị trường để… xây dựng chủ nghĩa xã hội. Bệnh tâm thần được che giấu dưới khẩu hiệu “kinh tế thị trường theo định hướng nhà nước” rồi “định hướng xã hội chủ nghĩa” mà chẳng ai biết được hoặc nói ra định hướng đó là gì.


Họ không thể nói ra vì định hướng thật chỉ là theo Trung Quốc để bảo vệ quyền lực đảng – và quyền lợi đảng viên. Nghĩa là con bệnh tiếp tục có hành vi đi trái với lời nói. Lại còn bắt cả nước phải theo cái chân lý quái đản ấy và đàn áp những ai nghĩ khác, nói khác.


Nhìn như vậy thì hiện tượng tâm thần phân liệt đã có từ đầu nguồn, gần một thế kỷ trước, khi đảng Cộng sản được thành lập dưới nhiều tên gọi khác nhau, cho những mục tiêu trái ngược với tôn chỉ. Rồi đảng tiếp tục qua thời chiến đến thời bình với hai diện phân thân đã thành truyền thống, nói một đàng làm một nẻo.


Kết cục thì tương lai của đảng cũng là một sự phân tâm loạn trí - mà họ cho là rất sáng.


Các đảng viên chỉ có thể thăng quan tiến chức nhờ cái tài rất gần với bệnh lý học. Khi họ lên tới đỉnh thì đóng gông cả nước vào cái khung “bốn tốt - 16 chữ vàng” của Bắc Kinh để nắm giữ quyền lực, mà tích cực trưng thu và rút ruột cả nước để chiếm đoạt tài sản - rồi tẩu tán ra ngoài.


Bệnh phân liệt tâm thần này dẫn đến một tình trạng phân công lao động bi hài.


Bắc Kinh bảo vệ và răn đe chế độ tại Hà Nội, đảng bảo vệ quyền cướp nước của Bắc Kinh. Trung Quốc có cướp phá - cướp ở ngoài và phá ở trong - Việt Nam vẫn nín thinh. Còn đảng viên thì có sẵn tài sản và bãi đáp ở nước ngoài cho con cái, để khi ra ngoài thì chúng cũng ăn nói hỗn hào và phét lác như cha mẹ. Được cái là có tiền.


Bệnh tâm thần phân liệt không là một chứng tật truyền nhiễm, hay lây, mà là một bệnh từ trên truyền xuống. Truyền đây là tuyên truyền, là mệnh lệnh.




***




Y khoa có thể nói đến hiện tượng di truyền di chủng, khoa học xã hội chỉ ra một hiện tượng khác: di truyền chính trị xuất phát từ ách độc tài.


Chúng ta đừng tự ái. Một dân tộc văn minh như người Đức vẫn có thể chấp hành chủ nghĩa Đức quốc xã và có hành động diệt chủng man rợ. Người Nga có văn hóa vẫn có thể vì chủ nghĩa cộng sản mà tiêu diệt văn hóa của mình. Họ sống trong tình trạng phân liệt, làm trái với bản năng hay thiên lương mà vẫn nghĩ rằng đúng.


Việt Nam cũng không khác.


Trong cái thế phân công của cõi phân tâm toàn quốc, người dân vẫn phải tin, nghĩ và ít ra nói rằng ta đã có tự do hơn trước, trong một nước độc lập mà chẳng có chủ quyền và quyền dân lại càng không có vì chưa từng có. Nhưng mọi người vẫn cứ làm như thật và linh động thỏa hiệp với thực tế quái đản mà đau lòng để giành được một chút quyền lợi cho bản thân và gia đình. Nếu họ thành công trong màn kịch đó thì còn có hy vọng cho con cái đi học ở bên ngoài để có một tương lai khá hơn quá khứ của họ.


Quyền tự do có hạn chế chỉ làm nảy sinh phản ứng tiêu cực - là tự do làm bậy. Xóa dễ hơn xây vốn là quy luật tự nhiên. Vì vậy, người thành công về tiền tài lẫn tinh thần trong bệnh xá mênh mông này chỉ là thiểu số.


Đa số thì sống trong xã hội băng hoại luân lý, đạo đức và kỷ cương. Điều ấy cũng hợp quy luật vì chế độ độc tài chỉ có thể tồn tại nhờ cái xấu ở dưới. Công an chỉ khác với đầu gấu ở bộ đồng phục trong một xã hội đen đang tràn ra ngoài và hòa vào màu đỏ của đảng. Mọi người đều than, rồi im.


Hóa ra người dân cũng mắc bệnh tâm thần phân liệt mà chẳng biết. Thậm chí còn nghĩ rằng đấy là lẽ sinh tồn của kẻ khôn ngoan biết giữ im lặng để tránh hủi!


May là một số người đã can đảm nhìn lại, nói ra và viết xuống về những gì xảy ra từ thời 1945. Họ nối nhịp cầu với người Việt ở hải ngoại và nhờ đó tác động ngược vào trong nước qua phương tiện truyền thông để cảnh tỉnh đồng bào. Nhưng vẫn còn bức tường trùng điệp của hệ thống chân lý nhà nước. Và cả sự thờ ơ của những người mắc bệnh.


Tương lai rồi sẽ ra sao?




***




Từ 1975 đến nay, hai thế hệ đã xuất hiện tại Việt Nam và có chung một điểm: biết rất ít về quá khứ thật vì lịch sử đã bị xóa bỏ. “Chúng ta không có lịch sử” là lời than của một trí thức tiến bộ ở trong nước. Nghĩa là nhận thức về lịch sử của lớp trẻ được “cải tạo” ngay từ sách báo và giáo trình, chỉ tập trung vào công lao của đảng. Lớp trẻ được đi học cũng chẳng nhớ gì về 10 năm khủng hoảng của “xây dựng chủ nghĩa xã hội” sau 1975, và lý do tại sao. Nhưng họ rất mừng là nước nhà đã “đổi mới”, còn coi đó là một sự sáng tạo của đảng.


Một triệu chứng của bệnh tâm thần phân liệt là nhận thức lệch lạc về thực tế. Đảng đã cấy bệnh đó vào trí não của giới trẻ.


Về chuyên môn thì Việt Nam đào tạo ra một thế hệ trẻ có hiểu biết hơn cái thời cha ông phải học lý luận Mác-Lenin. Họ đang có cơ hội làm việc với đồng lương khá hơn cha mẹ thời xưa, nhưng với đa số, ý thức chính trị thì viển vông nông cạn. Lỗi không tại họ vì các em cũng mắc bệnh tâm thần phân liệt – mà không biết.


Chúng ta có một lớp trẻ thành thị biết rất rõ về mọi trào lưu hưởng thụ của thế giới, thậm chí tôn sùng các thần tượng âm nhạc hay phim ảnh Hàn quốc, Mỹ quốc, mà không biết gì về sự thật lầm than ngay trong xã hội. Không ít người chỉ mong được xuất ngoại đi học, và trăm người đi được thì có bao nhiêu người trở về để sẽ thành rường cột cho đất nước trong thập niên tới? Rất ít.


Một thiểu số ưu tú hơn cả đã hiểu ra điều ấy nên từ bỏ sự an toàn và tính giả dối.


Họ tranh đấu cho quyền làm chủ thật sự của mọi người và xuống đường lên tiếng khi chủ quyền quốc gia bị Trung Quốc xâm phạm. Họ bị chế độ đàn áp, cầm tù bằng thủ đoạn bẩn thỉu. Nhưng chuyện ấy lại xảy ra trong sự thờ ơ không biết hoặc không cần biết của người đồng tuổi.


Các thế hệ đi trước thì đã cúi đầu rồi. Duy nhất có khả năng thay đổi là lớp trẻ về sau. Việt Nam chỉ có tương lai là ở thành phần này. Nhưng họ chỉ có tương lai nếu ý thức được hiện tượng tâm thần phân liệt ngay trong trí não của mình. Cho nên câu trả lời cho ước vọng bao giờ ta có tự do là một sự dè dặt.


Bao giờ các em ra khỏi ảo giác và nhìn vào những người đang hy sinh trong lao tù vì tự do cho các em?

**************

Phát Triển Đất Nước và Sự Thành Lập Hai Xã Hội Độc Lập: Cộng Sản và Phi Cộng Sản

Vật Chất Đạo


1) Bản Chất và Nền Tảng của Chế Độ Cộng Sản

Chủ Nghĩa Cộng Sản là một cấu trúc kinh tế xã hội và hệ tư tưởng chính trị ủng hộ việc thiết lập một xã hội phi nhà nước, không giai cấp, công bằng, bình đẳng, không có áp bức, bóc lột, dựa trên sự sở hữu chung và điều khiển chung đối với các phương tiện sản xuất và tài sản nói chung. Karl Marx chưa bao giờ miêu tả chi tiết về việc chủ nghĩa cộng sản sẽ vận hành như thế nào trong vai trò một hệ thống kinh tế.

Chủ nghĩa Cộng Sản được xây dựng dựa trên nền tảng Chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng, Chủ nghĩa Duy Vật Chất Lịch sử và Chủ nghĩa Xã hội Khoa học. Cốt lõi của Chủ nghĩa Duy Vật Biện Chứng là Chủ nghĩa Duy Vật kết hợp với Phép Biện Chứng.


Chủ nghĩa Duy Vật là một hình thức của Chủ nghĩa Duy Vật Lý (physicalism) với quan niệm rằng thứ duy nhất có thể được thực sự coi là tồn tại là vật chất; rằng, về căn bản, mọi sự vật đều có cấu tạo từ vật chất và mọi hiện tượng đều là kết quả của các tương tác vật chất. Với vai trò một học thuyết, Chủ Nghĩa Duy Vật thuộc về lớp bản thể học nhất nguyên.

Bằng cách gạt bỏ năng lực lựa chọn, ra quyết định của yếu tố tinh thần, bác bỏ yếu tố trí tuệ, các phát minh sáng chế cũng như sức mạnh tinh thần và các nhu cầu về tinh thần, vật chất luôn tăng trưởng theo thời gian, xem toàn thể thế giới như là một khối vật chất đang "vận động" theo các quy luật tự nhiên, Chủ nghĩa Duy Vật Chất Lịch sử đã dùng các công cụ toán kinh tế cổ điển để xây dựng mô hình xã hội theo dòng thời gian từ quá khứ đến tương lai.

2) Các Hệ Quả Của Chủ Nghĩa Duy Vật Chất


“Đau đớn tôn giáo là, ở một và cùng thời điểm, sự thể hiện sự đau đớn thực và một sự phản kháng chống lại đau đớn thực. Tôn giáo là tiếng thở dài của loài người bị đàn áp, trái tim của một thế giới không trái tim, và linh hồn của những điều kiện vô hồn. Nó là thuốc phiện của nhân dân.” - Karl Marx (Đóng góp vào Chỉ trích Triết học cánh Hữu của Hegel).


i. Không thể có trái tim, tình cảm, đạo đức hay linh hồn trong chế độ Cộng Sản.

ii. Không được phép tồn tại tôn giáo trong chế độ Cộng Sản.

iii. Không thể tồn tại khái niệm đạo lý, ơn nghĩa, tự do, hạnh phúc, trí tuệ hay thiện - ác trong chế độ Cộng Sản.

iv. Chết là hết, người sống và xác chết toàn thây về cơ bản vật chất là như nhau

v. Chỉ chấp nhận hoạt động sản xuất vật chất

vi. Bác bỏ giá trị lao động dịch vụ, tinh thần: giáo dục, chữa bệnh, an ninh, tư vấn, giải trí, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, mua bán, vận chuyển...

vii. Không hề có sai trái gì trong việc giết người, cướp của, lừa bịp, mỵ dân mà chính nguồn gốc xuất thân và ngành nghề làm việc mới xác định giá trị con người là tốt hay xấu: "Trí-phú-địa-hào, đào tận gốc trốc tận rễ".

3) Sự Bất Lực và Phi Lý Của Chủ Nghĩa Duy Vật Chất

i. Các nhà ngoại cảm đã tiến hành nhiều hoạt động khấn vái, "gọi hồn", "áp vong", gặp và nói chuyện với các liệt sĩ để tìm mộ của họ. Điều này đã chứng tỏ "chết không phải là hết". Chủ thuyết Duy Vật chất chỉ là một ngụy thuyết.

ii. Không thể xác định được giá trị lao động dịch vụ và tinh thần của các nhà lãnh đạo, giáo viên, bác sĩ, nghệ sĩ, cảnh sát, binh lính, vận động viên...

iii. Mặc nhiên loại bỏ các phẩm chất không thể tách rời khỏi con người như lười biếng, hám danh, tham lam, căm ghét, tật đố, gian trá, thương yêu, chia sẻ, đùm bọc, yêu nước, tình cảm, sở thích, thú vui, năng khiếu, năng lực trí tuệ,...

iv. Phù hợp 100% với xã hội robot vô cảm.

4) Điều kiện để tồn tại một xã hội Cộng Sản không nhà nước, không giai cấp, công bằng và bình đẳng

i. Trong xã hội Cộng Sản, vì không có nhà nước cùng với các dịch vụ công của nhà nước là cảnh sát, quân đội, tòa án, y tế... nên vào lúc đó, mặc nhiên con người không còn hận thù, đố kỵ, ganh ghét, không còn tham lam, hám danh, hám lợi, không còn bệnh tật, uống rượu, chích heroin, mê gái nữa (pêđê)... , những thứ là nguồn gốc của tội phạm, bạo lực, bệnh tật, hiếp dâm, trộm cướp, chiến tranh...

ii. Hoàn toàn thích hợp 100% với xã hội robot vô cảm.

iii. Tương đối phù hợp với xã hội tiền sử, săn bắn, hái lượm.

5) Dấu hiệu của một xã hội phát triển

i. Nhiều nhu cầu cao cấp

ii. Các sản phẩm cao cấp được tạo ra bằng sự chuyên môn hóa và có hàm lượng trí tuệ cao

iii. Đặc biệt là các hoạt động phi vật chất như dịch vụ, giáo dục, giải trí, văn hóa, khoa học, nghệ thuật, an ninh... được phát triển cao độ. Có thực là vực được đạo.

iv. Phát sinh nhiều giai cấp, ngành nghề

Như vậy, một xã hội văn minh, phát triển cao độ là một xã hội đối nghịch với một xã hội Cộng Sản không giai cấp, bình đẳng.

6) Các Mô Hình Xã Hội Cộng Sản Trong Thực Tế

i. Đảng Cộng Sản Trung Quốc: Cách Mạng Văn Hóa, Cải Cách Ruộng Đất, tiêu diệt Pháp Luân Công, thương mại hóa các giá trị tâm linh như chùa chiền, tu viện, tân trang di sản văn hóa lịch sử...

ii. Đảng Cộng Sản Campuchia (Khmer Đỏ): diệt chủng, phi tinh thần hóa toàn dân, tiêu diệt các giá trị văn hóa, tinh thần, tự do, hạnh phúc, tiêu diệt hoàn toàn các hoạt động tôn giáo, dịch vụ (trừ dịch vụ công của nhà nước là quân đội và dịch vụ tra tấn, diệt chủng của nó), giáo dục, mua bán, giải trí, văn hóa, khoa học, nghệ thuật,... Xây dựng một xã hội Cộng sản không giai cấp thuần túy nông nghiệp.

Cả hai mô hình này đều không phải là mô hình xã hội Cộng Sản hoàn chỉnh vì vẫn còn nhà nước và quân đội, cảnh sát,... Tức vẫn còn hình thức người cai trị người.

Sai lầm của cả 2 mô hình này là sự quá ôm đồm nhiều việc khó khăn trở ngại. Thay vì xây dựng một xã hội Cộng sản cho riêng nội bộ hàng chục triệu người đồng chí hướng của mình thì họ lại nỗ lực tìm mọi cách tẩy não, trấn áp, phi tinh thần hóa toàn dân, diệt chủng những kẻ đối nghịch hoặc không có năng lực làm nghề nông. Vì đi ngược lại với nhu cầu tự do, hạnh phúc của người dân, nên nếu không dùng bạo lực, diệt chủng thì không thể tiến đến xây dựng thành công lý tưởng Cộng sản của Marx.

7) So sánh 2 mô hình xây dựng Xã hội Cộng Sản với quá trình phát triển chủ nghĩa Hồi giáo cực đoan

i. Hồi giáo cực đoan chiến đấu, khủng bố chống lại xã hội văn minh, xây dựng một thế giới Hồi giáo với những bộ Luật Hồi giáo cổ xưa.

ii. Tín đồ Vật Chất của Marx quyết xây dựng một xã hội không nhà nước, không giai cấp, công bằng, bình đẳng, không có áp bức, bóc lột bằng cách diệt chủng, cải tạo, tẩy não, phi tinh thần hóa toàn dân.

iii. Cưỡng bức mọi người theo đạo Hồi.

iv. Cưỡng bức, phi tinh thần hóa toàn dân theo Chủ nghĩa Duy Vật Chất và Lý Tưởng Cộng Sản.

v. Các chiến binh Hồi giáo đánh bom cảm tử vì niềm tin sẽ được lên thiên đàng

vi. Các chiến binh Duy Vật Chất sống chết vì cái định nghĩa về cái thiên đường trong trí tưởng tượng của thánh tổ sư Marx.

vii. Hạnh phúc của người dân là thứ yếu, đạo Hồi của thánh Ala là trên tất cả.

viii. Tự do, hạnh phúc của toàn dân đồ bỏ, chỉ có lý tưởng Cộng Sản của thánh Marx là trên hết.

8) Phương Án Xây Dựng Thành Công Nhanh Chóng Lý Tưởng Cộng Sản không có nhà nước, không có giai cấp hoàn toàn công bằng và bình đẳng theo tinh thần của Marx.

Với tư cách là những ông chủ muốn biết vận mạng của chính mình, thật là một điều tốt đẹp nếu chúng ta có được một bàn tròn giải trình về các phương cách khả thi đi đến Chủ nghĩa Cộng Sản từ phía giai cấp lãnh đạo, đầy tớ của nhân dân. Trong bàn tròn, hội thảo khoa học này, rất có thể "nhà tù cộng sản là trường học yêu nước" nên công tác Đảng vận này không thể dành cho ai khác ngoài các vị lão thành cách mạng, các vị đảng viên hưu trí sáng suốt. "Kính lão đắc thọ", đây sẽ là một hội nghị Diên Hồng dành cho những vị mà vào thời tuổi trẻ, với lòng yêu nước nồng nàn, họ đã "dậy mà đi", "ra đi là chấp nhận tù đày" trong nhà tù đế quốc. Hy vọng rằng giai cấp lãnh đạo duy vật chất sẽ phần nào nguôi ngoai thói quen tôn sùng vật chất mà lắng nghe những lời trí tuệ, dân chủ của phe mình. Mong rằng không có ai làm đà điểu rúc đầu vào cát để tránh bão.

i. Xác định danh sách tín đồ "Tuyệt Đối Trung Thành với Lý Tưởng Cộng Sản" trong số 3 triệu Đảng viên.

ii. Thành lập Công viên Trung Thành Lý Tưởng Cộng Sản. Công viên sẽ không nằm gần các khu vực trọng yếu an ninh quốc phòng, nơi rất dễ bị các phần tử du kích lạ, chính quy, nói tiếng nước ngoài quấy rối, cũng có thể các du kích Trọng Thủy này đã được nhập tịch dễ dàng nhờ Mỵ Châu trước đó (người Việt không thể nhập tịch Thái lan) nhưng chưa kịp học tiếng Việt. Vì quá sỏi đời hơn đám ngoại đạo nên Mỵ Châu nhất định không chịu rời xa Trọng Thủy. Hơn nữa, lỡ bị Trọng Thủy cài thế nên nuốt phải bả, không chạy thuốc giải, không chịu bị giật dây thì chết sao? Mất nước không chịu kiện đòi lại mà lại ngoan ngoãn chấp nhận chịu mất thêm cái mới. Yêu nước là phạm trù tinh thần, bán nước là phạm trù vật chất.

iii. Mỗi tín đồ sẽ được có 3300 m2 đất, đất được trao đổi bằng toàn bộ tài sản của Đảng viên đến ở.

iv. Được chu cấp hạt giống, lương thực và chăm sóc y tế cơ bản trong năm đầu tiên.

v. Thỏa thuận không xâm phạm vĩnh viễn lẫn nhau với những người phi Cộng Sản.

vi. Cư dân Cộng Sản không cần phải có quân đội.

vii. Những người ngoại đạo Duy Vật Chất phải đảm bảo an ninh đất nước.

a) Toàn dân đoàn kết quyết tâm "bán kẻ thù hiểm ngàn năm, mua bạn giàu bảo kê" như Nhật vẫn đang làm.

b) Toàn dân đoàn kết làm những chiến sĩ yêu nước bằng hành động, không vô cảm với "sự nghiệp bán nước từ từ" của Mỵ Châu.

c) Mỗi người dân là một chiến sĩ Công An vận, Binh vận, Đảng vận, Dân vận, Địch vận.

d) CÔNG AN NHÂN DÂN, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM, Gia đình có công với sự nghiệp cứu nước của NHÂN DÂN, nhận diện rõ kẻ thù "Tàu lạ", không tiếp tay với Mỵ Châu.

e) CÔNG AN NHÂN DÂN, QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM luôn bận rộn với sự nghiệp bảo vệ an ninh Tổ Quốc, liên tục cảnh giác với kẻ thù ngàn năm như tổ tiên đã làm suốt 4000 năm.

viii. Đây sẽ là trái tim của Lý tưởng Cộng Sản trên thế giới, một Tòa thánh của Đạo Duy Vật Chất giữa lòng đất nước phi Cộng Sản.

9) Lợi ích của việc xây dựng riêng rẽ 2 xã hội Cộng Sản và phi Cộng Sản trong một đất nước

i. Loại bỏ vấn đề nhà nước là nô bộc "của dân, do dân và vì dân" nhưng lại bị Đảng Duy Vật Chất cai trị, lãnh đạo. Nhân dân là tập thể những người phi Cộng sản. Đảng Duy Vật Chất lại là tập thể những người có đồng chí hướng làm "Cộng đồng Sản xuất".

ii. Tránh được sự tồn tại vi hiến của Đảng. Cho đến nay đảng vẫn chưa làm đơn đăng ký lập hội theo quy định của Hiến Pháp và Pháp luật

iii. Các tín đồ Duy Vật Chất đồng chí hướng tha hồ sống độc lập - tự do và làm "Cộng đồng Sản xuất" không nhà nước, không giai cấp, công bằng, bình đẳng như những chú robot vô cảm không cần đạo lý mà họ hằng ước ao.

iv. Đạo ai nấy giữ, Hồn ai nấy gìn. Đẹp đời, đẹp Đạo. Ý đời, Lòng Đạo.

v. Là một cuộc Cách Mạng Vô Sản dễ dàng, nhanh chóng, đầy tính nhân bản (phi vật chất).

vi. Như vậy, với các yêu cầu, thủ tục đơn giản, cực kỳ nhanh chóng, các tín đồ Đạo Duy Vật Chất, những người Cộng Sản chân chính không cần phải tiến hành một cuộc Cách Mạng Vô Sản gian truân, đẫm máu, chết chóc, cuộc diệt chủng nội bộ người Việt hay phải chờ đợi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ 3 để được sống trong một xã hội Cộng Sản thực thụ. Họ chỉ cần phải tiến hành một cuộc Cách Mạng Vô Sản đầy hòa bình và tràn ngập niềm vui của cả 2 bên.

Ta có thể thấy rõ ràng, chỉ có các chế độ phong kiến Á đông lạc hậu mới tồn tại giai cấp thống trị độc tài, các xã hội hiện đại sau phong kiến không còn hình thức độc tài nữa. Do vậy, vì cả 2 nước lạc hậu là Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và Việt Nam Cộng Hòa là những nước đa đảng phái cũng như đất nước Campuchia và 100% các nước văn minh giàu có hay 99% các nước trên thế giới là đa đảng phái, những con người Việt Nam nổi tiếng thông minh, cần cù, tháo vát, có trình độ học vấn cao hơn nhiều mức trung bình của thế giới, và là phi Cộng Sản chắc chắn sẽ biết cách sống tốt mà không cần có Lý tưởng Cộng sản như tổ tiên đã xây dựng và giữ nước suốt 4000 năm.

Tổng số lượt xem trang