LTS: Hôm 29 tháng 9, 2010, tại cuộc hội thảo do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức, với chủ đề “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, 1946-1975,” cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, đã có bài phát biểu dài, và ngay sau đó được cử tọa đặt nhiều câu hỏi liên quan đến kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đặc biệt Việt Nam.
Tòa Soạn xin giới thiệu đến độc giả phần 1 của bản chuyển ngữ tiếng Việt của phát biểu này. Nguyên văn bài phát biểu tiếng Anh được đăng tải trên trang nhà của Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ. Trong phần Diễn Ðàn tiếp theo, chúng tôi sẽ đăng phần tiếp theo của bản chuyển ngữ và các câu hỏi mà cử tọa dành cho Tiến Sĩ Kissinger.
| Cựu Ngoại Trưởng Mỹ Henry Kissinger. (Hình: Chip Somodevilla/Getty Images) |
Rất cám ơn quý vị. Tôi phải chỉ rõ ra rằng tôi giữ một kỷ lục thật khó mà ai thắng nổi, đó là trong thời kỳ tôi vừa là ngoại trưởng vừa là cố vấn Ðặc Biệt khi các quan hệ giữa Bộ Ngoại Giao và Tòa Bạch Ốc mật thiết chưa từng thấy. (Cười)
Giờ đây, tôi sẽ dành ra khoảng 20 phút để đưa ra các nhận định và rồi trả lời các câu hỏi. Khi tôi nghe có ai đó chọn một quyển sách của tôi viết hồi năm 1958 mà rồi bị tám nhà xuất bản và bốn nhà in đại học khước từ và rồi bán được 1,400 quyển thì tôi mới thấy rõ ràng là hầu hết những người có mặt trong phòng này chưa sinh ra khi quyển sách này được xuất bản. Và (Ðặc Sứ) Dick Holbrooke hồi tối hôm qua đã cùng tôi bàn luận về thành phần được dự trù của số cử tọa ngày hôm nay, trong đó có một số người có mặt nơi đây từng trải qua các kinh nghiệm đương thời, đó là những kinh nghiệm, những đam mê, và những biến động độc đáo không thể nào xảy ra lần nữa.
Rồi còn có một nhóm cử tọa khác biết được về các kinh nghiệm đó qua ban giảng huấn tại các đại học mà có thể nói là phần lớn nằm trong phong trào phản đối chiến tranh vào thời đó và họ cũng có quan điểm của họ. Và rồi còn có một thế hệ mới mà đối với họ kinh nghiệm này đã thuộc về quá khứ xa vời. Và đêm hôm qua, khi suy nghĩ về vấn đề này, tôi bỗng nhận thức rằng đối với thế hệ già nua của tôi hồi năm 1940 thì sự sụp đổ của Pháp là một kinh nghiệm choáng ngợp, nhất là đối với những người từng sống dưới chế độ Ðức Quốc Xã.
| Một đơn vị quân đội Mỹ chuẩn bị rút khỏi miền Nam Việt Nam, 1969. (Hình: STF/AFP/Getty Images) |
Nhưng thật sự thì cuộc Chiến Tranh Việt Nam đã quay trở lại với chúng ta cũng xa xưa như là năm 1940 đối với hồi năm 1900 vậy. Ðối với tôi, 1900 chỉ là một thời điểm có liên hệ hết sức nhỏ trong các kinh nghiệm của tôi. Vì thế, tôi nghĩ điều tôi có thể làm là trình bày với quý vị về cách thế nào mà tôi lại liên lụy tới kinh nghiệm (về cuộc chiến) đó, sự liên lụy này có nghĩa gì đối vớ thế hệ của tôi, và rồi sau đó quý vị đặt câu hỏi với tôi về bất cứ đề tài nào mà quý vị nghĩ ra.
Trước hết, quý vị phải hiểu một sự kiện cá nhân của tôi. Tôi từng giữ chức vụ rất đặc biệt là Cố Vấn An Ninh. Chức vụ này cũng có thể có trong thời buổi này. Tôi chưa hề gặp Rchard Nixon khi ông ấy bổ nhiệm tôi. Và tôi đã dành trọn 12 năm trong đời để cố giữ cho ông ấy khỏi trở thành tổng thống. (Cười) Tôi đã là cố vấn chính yếu về chính sách ngoại giao của Nelson Rockefeller. Vì thế, khi tôi đọc một số sách viết về chuyện tôi đã âm mưu tỉ mỉ như thế nào để tiến đến chức vụ kia thì tôi vẫn nghĩ điều quan trọng là người ta phải nhớ rằng tôi từng là một người bạn thân thiết của Nelson Rockefeller, và thực ra thì tôi đã quen biết Hubert Humphrey nhiều hơn. Như thế đó, tôi không biết gì hết về Richard Nixon.
Vì vậy, đây quả là một cuộc phiêu lưu trí thức, một cuộc phiêu lưu có tầm vóc quốc gia để làm sao đối phó với vấn đề này. Ngoài ra, như hầu hết quý vị biết, tôi từng làm làm việc một năm tại Tòa Bạch Ốc dưới thời Kennedy trong giai đoạn có cuộc khủng hoảng Bá Linh, tức là không dính líu gì tới vấn đề Việt Nam mà tới vấn đề Bá Linh. Kết quả của sự thể này là các nhân vật then chốt trong chính phủ trước kia là những nhân vật mà tôi đã biết rồi. Họ đều là bạn của tôi. Tôi tôn trọng họ. Tôi hết sức cảm phục tinh thần ái quốc của (Ngoại Trưởng) Dean Rusk và cách hành xử của ông trong chức vụ của mình. Tôi từng chứng kiến nỗi vật vã của nhiều người khi phải đối phó với vấn đề Việt Nam.
Vì thế, đối với cá nhân tôi, các cuộc tranh cãi tiếp diễn sau đó mang tính cách hết sức đau thương, và tôi chưa bao giờ nghĩ đến tính chất của một cuộc nội chiến trong các cuộc tranh cãi đó như từng xảy ra sau này. Ðối với tôi, tôi biết lý do tại sao thế hệ trước của tôi bước vào cuộc Chiến Tranh Việt Nam. Tôi đồng ý với một số quan điểm của người này; và cũng không đồng ý với các quan điểm của những người kia. Nhưng tôi không nghĩ đây là vấn đề đạo đức gây chia rẽ trong chúng ta. Thực sự, tôi bị tổn hại vì niềm tin sai lạc rằng tôi tham gia chính phủ để có thể góp sức tập hợp các quan điểm khác biệt lại với nhau.
Ðối với tôi, thảm kịch của cuộc Chiến Tranh Việt Nam không phải là vì có những mối bất đồng. Ðiều này không thể nào tránh được trước cái phức tạp của vấn đề. Nhưng đó là sự thể niềm tin cậy lẫn nhau của người Mỹ đã bị hủy diệt trong tiến trình của cuộc chiến. Ðây là lần đầu tiên Hoa Kỳ kinh qua những giới hạn của nền ngoại giao, và đây quả là điều đau thương khi mình phải chấp nhận sự thể đó.
Vì vậy, những gì mà lẽ ra có thể là một sự phê bình tự nhiên các quyết định của chính quyền - mà ai cũng có thể tranh luận từ vị thế của mình - thì lại chuyển hóa thành một vấn đề đạo đức, trước hết là nền ngoại giao của Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không, và kế đến là Hoa Kỳ có đủ đạo đức hay không khi điều hành bất cứ chính sách ngoại giao truyền thống nào. Ðó chính là tấn thảm kịch.
Tuyệt đối tôi không hề dựng lại chủ đề này. Tôi tin rằng hầu hết những gì từng trở nên sai lầm tại Việt Nam là do chính chúng ta tự gây ra. Và trong khi tôi ủng hộ chính sách lúc đó của chính phủ Nixon liên quan tới Việt Nam, trong khi tôi cũng vui sướng nhìn thấy các đại diện của Việt Nam có mặt tại đó, ngày nay tôi nghĩ sao thì lúc đó tôi vẫn nghĩ vậy. Rất có thể là tôi vẫn ưa thích một kết quả khác của cuộc chiến, ít nhất cũng là một kết quả khác không liên hệ một cách riêng tư tới cách thế chúng ta từng dằn xé nhau như vậy. Và quý vị phải hiểu rằng đây là quan điểm của tôi vào lúc đó cũng như bây giờ.
Quan điểm của tôi là như thế, bởi vì mới đây tôi có đọc một quyển sách được xuất bản tại Hà Nội về các cuộc thương thuyết của tôi với Lê Ðức Thọ mà tôi phải nói rằng chính xác tới 98 phần trăm. Và chỗ nào không chính xác thì không phải là thiết yếu cho chính đề. Nhưng nó cũng còn đúng cả trong hai phần trăm còn lại nữa, và chuyện đó chỉ đơn giản là vì vấn đề quan điểm mà thôi. Và những gì viết trong quyển sách đó đã khơi dậy lại một vấn đề - một lần nữa, khơi dậy lại vấn đề là có một sự khác biệt căn bản: Hoa Kỳ muốn thỏa hiệp trong khi Hà Nội thì muốn chiến thắng.
Ðối với tôi, một trong những điều lý thú nếu ông ấy (Ðại Sứ Brynn, người điều hành cuộc hội thảo) cho phép tôi nói, đó là chuyện tôi phải ngày ngày đối phó với Lê Ðức Thọ, một người coi như cáo già quá mức. Tôi muốn nói rằng ông ta mổ xẻ chúng tôi như là một nhà giải phẫu, sử dụng con dao mổ một cách hết sức tinh xảo, mà lúc nào cũng tỏ ra lịch sự. Nhưng theo quyển sách đó thì thỉnh thoảng ông ta cũng còn được Hà Nội nhắc nhở để nhớ rằng sẽ không thể có thương thuyết nếu như không có thay sự thay đổi cục diện trên chiến trường. Và mục tiêu của ông ta chính là làm sao đưa chúng tôi tới chỗ đó. Tôi nói tới đều này với lòng hết sức tôn trọng ông ta. Ðiều này thì cũng có thể hiểu được thôi. Người Việt Nam (cộng sản) đã chiến đấu suốt 50 năm không phải để thỏa hiệp nhưng là để thống nhất đất nước. Mục tiêu khách quan của Hoa Kỳ là duy trì một Miền Nam Việt Nam có thể sống còn được và sẽ được trao cho cơ hội phát triển bản sắc riêng của mình, và đó chính là mục tiêu mà chúng tôi quan tâm mỗi ngày. Ðó chính là thực tế của đời sống.
Trong tất cả mọi cuộc tranh luận diễn ra về chuyện chúng ta đã làm gì và đã không làm gì trong các cuộc thương thuyết, những gì thêm nữa mà lẽ ra chúng ta đã phải đưa ra và những gì mà lẽ ra chúng ta phải rút bớt lại, thực sự đã có một vấn đề không giải quyết được, đó là: Liệu miền Nam Việt Nam có quyền có bản sắc chính trị riêng của họ hay không, liệu họ có được phép phát triển các cơ chế riêng của họ hay không, hay là ngay từ đầu người ta đã định rằng mục tiêu phải đạt chính là thống nhất đất nước. Tất cả những đề nghị được hai bên sôi nổi tranh luận - một cuộc ngưng bắn và những hệ lụy của nó - thì những đề nghị đó, bằng cách này hay cách khác, đều được giải quyết hết sức mau lẹ. Chỉ có một điều không giải quyết được là liệu chính phủ hiện hữu tại miền Nam Việt Nam có thể sống còn được hay không, có thể được phép tồn tại hay không. Một khi vấn đề này được thỏa thuận rồi thì chúng tôi giải quyết mọi sự rất nhanh. Một số người có mặt trong phòng hôm nay còn nghĩ là qua sức nhanh nữa. Mà rồi tôi sẽ vui sướng được trả lời những câu hỏi về vấn đề này cùng những đề tài liên hệ. Nhưng đó chính là vấn đề cần phải được mọi người thông suốt.
Một lần nữa, khi chính phủ Nixon lên cầm quyền, tình thế ra sao? Cuộc chiến (tại Việt Nam) đã diễn tiến bao lâu rồi thì cũng còn tùy ở cách quý vị tính toán thời điểm, tức là tính từ thời Truman hay thời Kennedy hay từ giai đoạn mà chúng ta gởi quân chiến đấu đến đó. Nếu vậy thì chúng ta có thể có những mốc thời gian khởi đầu cuộc chiến khác nhau, cách biệt nhau từ bốn năm cho tới 15 năm.
Vào thời điểm đó, đã có 550,000 - hay chính xác hơn là 536,000 - binh sĩ Mỹ tại Việt Nam. Vào năm 1968, nửa sau của năm '68, số thương vong (của Hoa Kỳ) là khoảng 400 người một tuần. Và Cuộc Tổng Tấn Công Tết Mậu Thân đã xảy ra vào đầu năm '68. Hầu hết mọi người giờ đây đều coi đó là một chiến thắng quân sự của Hoa Kỳ, nhưng lại là một thất bại về mặt tâm lý vào lúc đó là lúc người ta cũng không coi nó là một chiến thắng quân sự nữa. Nhưng cuộc tổng tấn công này đã chứng tỏ rằng (Hoa Kỳ) không thể thắng được cuộc chiến tranh. Chưa có thương thuyết - vì cuộc thương thuyết mới chỉ bắt đầu. Lập trường chính thức của Hoa Kỳ là cả đôi bên cùng nhau rút quân trong đó cuộc rút quân của chúng ta sẽ tiếp theo sau cuộc rút quân của Cộng Sản Bắc Việt. Và chính phủ vừa ra đi lúc đó đã để lại hồ sơ do (các Ðặc Sứ) Harriman và Vance viết, nói rằng sau cuộc dàn xếp hòa bình thì vẫn còn cần tới 260,000 quân Mỹ ở lại (Nam) Việt Nam.
Tôi muốn giải thích về chiến lược chính của chúng ta, tức là những gì chúng ta cố thực hiện. Lúc ấy có hai trường phái tư duy mà trong đó thật sự chỉ có một trường phái là được cứu xét nghiêm chỉnh mà thôi. Quan điểm cá nhân của tôi là chúng ta phải thực hiện một đề nghị hòa bình rộng khắp và toàn vẹn. Và nếu đề nghị đó bị bác bỏ thì chúng ta hãy gia tăng các hoạt động quân sự để coi chúng ta có thể đạt tới đâu. Ðề nghị này đi xa tới mức yêu cầu cựu Ðặc Sứ Vance đi Moscow để cùng phía (Cộng Sản) Việt Nam thương thuyết tại đó. Và chúng ta đã đưa cho Liên Xô một đề nghị đi xa hơn tất cả các đề nghị vào thời điểm đó. Ðề nghị này đã không bao giờ được trả lời. Người Nga không hề trả lời và phía (Cộng Sản) Việt Nam cũng không hề trả lời.
Thế rồi chúng ta cứ nấn ná nghiên cứu việc gia tăng hoạt động quân sự khiến cho báo chí cứ lấy đó làm đề tài mà điều tra. Nhưng quyết định sau cùng được đưa ra là chúng ta sẽ rút quân từ từ, đồng thời vẫn thương thuyết, với hy vọng đạt tới chỗ Hà Nội sẽ tán thành đề nghị chính trị căn bản của chúng ta. Tôi không muốn đề cập tới tất cả các bước đã thực hiện. Và rồi trong một khoảng thời gian là bốn năm chúng ta đã thực sự đạt mục tiêu ấy.
Một trong các phụ tá của tôi là Winston Lord. Và trong thời gian có cuộc tiến đánh Căm Bốt ông này muốn từ chức. Tôi có nói với ông: “Ðược rồi, ông có thể từ chức và giương biểu ngữ biểu tình bên ngoài tòa nhà này (Bộ Ngoại Giao) hoặc là ông có thể giúp tôi chấm dứt trận chiến đó. Và rồi 20 năm sau thế nào ông cũng phải tự hỏi ông có thể cảm thấy tình thế sẽ tốt đẹp hơn hay không.” Thế là ông ấy ở lại. Và đôi khi có người hỏi tôi rằng giây phút cảm động nhất của tôi trong giai đoạn tham chính là lúc nào thì tôi có thể thưa với quý vị rằng thực ra đó là lúc Lê Ðức Thọ, vào tháng 10 năm 1972, chấp nhận các đề nghị mà chúng tôi đã đưa ra hồi tháng 1 về cấu trúc của chính quyền đó (tại miền Nam Việt Nam). Trên thực tế, chính ông ấy đã đọc một bản tuyên bố nói rằng “sau cùng thì đây cũng chính là những gì mà ông đã đề nghị.” Và khi ông nói xong, tôi đã bắt tay với Ông Winston và nói: “Ðó, chúng ta đã thực hiện được việc này.” Nhưng hóa ra là chúng tôi đã không làm được việc đó vì nhiều ý do. Khách quan mà nói, có thể rằng việc đó không bao giờ có thể đạt được, mặc dù tôi vẫn không nhìn nhận sự thể như vậy. Dẫu sao, những con người có suy nghĩ hợp lý có thể lập luận như thế.
Trên căn bản, đó chính là sự kết hợp cả hai vụ Watergate và tình trạng chia rẽ trong nội bộ đất nước chúng ta - sự kết hợp giữa vụ Watergate và chia rẽ nội bộ khiến viện trợ cho (Nam) Việt Nam bị cắt đến hai phần ba giữa lúc giá dầu đang tăng cao - đã ngăn cấm mọi trợ giúp quân sự cho (Nam) Việt Nam, điều mà chúng ta không yêu cầu các đồng minh của mình nên làm vào bất cứ lúc nào. Ðó là cảm tưởng của tôi về những gì đã xảy ra.
LTS: Hôm 29 tháng 9, 2010, tại cuộc hội thảo do Bộ Ngoại Giao Hoa Kỳ tổ chức, với chủ đề “Kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, 1946-1975,” cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ, Henry Kissinger, đã có bài phát biểu dài, và ngay sau đó được cử tọa đặt nhiều câu hỏi liên quan đến kinh nghiệm Hoa Kỳ tại Ðông Nam Á, đặc biệt Việt Nam.
Hôm nay, Tòa Soạn đăng tiếp phần 2, cũng là phần cuối tham luận của Tiến Sĩ Henry Kissinger, và phần hỏi-đáp với cử tọa.
| Cựu Ngoại Trưởng Hoa Kỳ Henry Kissinger, đọc tham luận tại Ðại Hội Thường Niên lần thứ Tám, “Global Strategic Review,” hôm 10 tháng 9, 2010, tại Geneva. (Hình: Fabrice Coffrini/AFP/Getty Images) |
Dĩ nhiên là trong tiến trình thương thuyết có nhiều giai đoạn. Tôi chỉ đề cập tới một giai đoạn mà thôi. Trung Hoa và chúng tôi đã có một thỏa thuận về Căm Bốt mà theo dự tính thì sẽ có hiệu lực ngay sau khi ông Hoàng Sihanouk đi công du trở về. Một phần trong thỏa thuận đó là việc chấm dứt cuộc ném bom Căm Bốt của Hoa Kỳ, nhưng cuộc ném bom vẫn được thực hiện bởi vì Khmer Ðỏ không chịu tôn trọng lệnh ngưng bắn.
Vì thế, Thượng Nghị Sĩ Magnuson phải đến thăm Trung Hoa, và ông đã hội kiến với Chu Ân Lai, và họ Chu đã than phiền về việc Hoa Kỳ ném bom Căm Bốt, đang là một đề tài trong cuộc thảo luận. Và ông Magnuson nói: “Xin đừng lo chi chuyện này. Quốc Hội Mỹ vừa mới ra lệnh ngưng oanh tạc.” Tới đó thì Chu Ân lai bỗng nổi giận và lấy tay đập bàn, bởi vì hóa ra chuyện này làm cho thỏa thuận mà họ Chu đạt được (với phía Mỹ) đã chẳng tạo được hiệu quả nào. Và đây là một trong các giai đoạn trong tiến trình thương thuyết đó. Ðiểm chủ yếu mà tôi muốn đưa ra là: Hoa Kỳ không thể chịu đựng nổi tình trạng một quốc gia chia rẽ khi lâm chiến. Chúng ta phải tự mình giữ vững niềm tin, ít nhất cũng là vào thiện chí của chính phủ của mình. Chúng ta không thể biến những vấn đề đó trở thành một cuộc cạnh tranh về đạo lý giữa những con người coi mình có độc quyền về thiện chí và những kẻ cứ đưa ra những nhận định không những là không đúng mà còn vô luân nữa.
Có một số những bài học mà chúng ta phải học. Khi chúng ta nghĩ tới chuyện lâm chiến, chúng ta cần có một bản phân tích chiến lược toàn cầu giải thích cho chúng ta rõ ý nghĩa của việc tham gia chiến tranh. Mục đích của cuộc chiến tranh là một chiến thắng nào đó; còn đi đến bế tắc thì không phải là chiến lược, và chiến thắng phải được định nghĩa là kết quả có thể thực hiện được trong một khoảng thời gian mà công luận Mỹ có thể chịu đựng nổi.
Tôi không thích từ ngữ “chiến lược rút chân ra.” Chúng ta không nên nhảy vào cuộc chiến nếu tất cả những gì chúng ta muốn là rút chân ra. Chiến lược đó phải được trình lên tổng thống, coi như là một chính sách ngoại giao căn bản có thể đứng vững được. Ngoại giao và chiến lược phải được coi là một tổng thể, chứ không phải là các giai đoạn nối tiếp nhau trong chính sách. Và trên hết là chính phủ Mỹ cũng như những giới chỉ trích phải thực hiện các cuộc tranh luận với sự tự chế do hiểu được rằng tình đoàn kết của đất nước này đã, đang và sẽ là niềm hy vọng của thế giới.
Và tôi muốn nói rằng tôi rất vui sướng khi ông Dick Holbrook đang theo bước chân tôi, bởi vì cả hai chúng tôi chia sẻ một số những kinh nghiệm đó không phải luôn luôn vì chúng tôi có quan điểm giống nhau, nhưng luôn luôn với lòng tôn kính lẫn nhau. Chúng tôi đã gặp nhau ở Hà Nội, ở Sài Gòn khi chúng tôi còn là những người trai trẻ với tương lai đầy hứa hẹn, ông ta còn hơn là tôi nữa. (Cười) Và khi tôi còn ở vào tuổi đó, tôi vẫn hay nghĩ là những người cùng lứa tuổi với mình đã được đưa đẩy vào thế giới này trong vị thế là những con người già cỗi - (cười) - cho nên họ mới xử sự như thế.
Vậy thì, xin cám ơn quý vị đã cho tôi cơ hội có mặt nơi đây. Thật là một kinh nghiệm lạ thường và cảm động trong đời tôi. Và tôi muốn được bày tỏ lòng kính trọng đối với những người Việt Nam hiện diện nơi đây cùng với niềm vui sướng của tôi rằng quan hệ giữa hai nước chúng ta đang vững mạnh. Nhưng sự thể này cũng không làm thay đổi tâm trạng buồn phiền của tôi về cách thức cuộc Chiến Tranh Việt Nam bị bắt buộc phải diễn tiến như thế.
Xin cám ơn quý vị nhiều. Và tôi xin được đón nghe các câu hỏi. (Vỗ tay)
Phần hỏi-đáp với cử tọa
Ðể trả lời câu hỏi về cảm nghĩ của cựu Ngoại Trưởng Kissinger đối với sự thất bại của chiến lược “khoảng giữa thích nghi” (decent interval) của chính quyền Nixon - theo đó nếu Hoa Kỳ hoàn tất việc rút quân vào một thời điểm nhất định (sau Hiệp Ðịnh Paris 1973, chẳng hạn) thì bắt buộc phải có một khoảng giữa thích nghi (giữ vai trò vật đệm) đặng miền Nam Việt Nam có thể tồn tại và xoay xở tiếp, và khoảng giữa đó sẽ nằm sau lúc Hoa Kỳ rút quân và trước thời điểm phỏng định quân Cộng Sản có thể mở cuộc tổng tấn công sau cùng để đánh chiếm miền Nam - cựu Ngoại Trưởng Kissinger nói:
“Tại Hoa Kỳ, người ta vẫn tranh cãi về chuyện Hoa Kỳ rút quân khỏi miền Nam Việt Nam. Có người nói: ‘Các ông phải rút ra ngay bây giờ. Các ông là kẻ vô luân lý khi can thiệp vào đó.’ Rồi khi Hoa Kỳ cho thấy là đang rút quân đi thì lại bị buộc tội là bán đứng miền Nam Việt Nam, bởi vì lẽ ra thì Hoa Kỳ phải tiếp tục chiến đấu để cho dân chúng miền Nam Việt Nam có cơ hội sống còn.”
“Lúc đó thì chúng tôi tiên liệu những gì sẽ xảy đến? Chúng tôi đã biết đó là một thỏa hiệp bấp bênh (precarious). Chúng tôi hiểu rằng Bắc Việt không phải đã chiến đấu suốt 50 năm để rồi cuối cùng cũng chỉ có được một nước Bắc Việt mà thôi, vì thế chúng tôi đã nghĩ rằng cuộc tranh đấu sẽ vẫn còn tiếp diễn. Chúng tôi cũng nghĩ - và chúng tôi có thể đã nghĩ sai - rằng miền Nam Việt Nam hồi năm 1972 từng chứng tỏ rằng khi Bắc Việt mở cuộc tấn công toàn diện thì họ vẫn chịu đựng nổi cơn sóng gió để sống còn cả về mặt chính trị lẫn quân sự.”
Ông Kissinger nói thêm: “Chúng tôi đã nghĩ, và chúng tôi vẫn kỳ vọng, rằng nếu xảy ra một cuộc tấn công toàn diện thì chúng tôi sẽ đến trợ giúp miền Nam Việt Nam, ít nhất cũng bằng không lực và hải lực. Nhưng các biện pháp cứu nguy này đã bị Quốc Hội ngăn cấm chỉ sáu tháng sau đó. Và khi quý vị đã ký thỏa ước với ai đó rồi mà quý vị lại không thể yểm trợ cho người đó bằng viện trợ kinh tế cũng như bằng sức mạnh quân sự thì, trên thực tế, quý vị đã đầu hàng kẻ địch rồi.”
Ðáp lại câu hỏi ông Kissinger nghĩ gì về vai trò của báo chí truyền thông trong giai đoạn cuối của cuộc Chiến Tranh Việt Nam, vị cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ thời đó nói:
“Báo chí truyền thông trở nên cực kỳ thù địch và đều chấp nhận lời xác quyết rằng cả chính quyền Johnson lẫn chính quyền Nixon nối tiếp đều nói dối và lường gạt (công chúng Mỹ) bởi vì họ đã cam kết thực hiện các chính sách hiếu chiến. Và tình trạng này khiến cho việc thi hành chính sách quốc gia cực kỳ khó khăn... Khi đã quá sức rõ rệt rằng (quân Cộng Sản) Bắc Việt đang hoạch định một cuộc tổng tấn công vào mùa Xuân 1972 và mọi dấu hiệu đều chứng tỏ như thế thì chúng tôi lại cắt giảm nỗ lực yểm trợ vì chúng tôi không muốn bị cáo buộc là đã kích động cho đối phương hành động đúng theo như những gì mà họ đã hoạch định... Vì thế, vai trò của báo chí truyền thông (trong thời điểm đó], dĩ nhiên, là hết sức tai hại... Những người như (Ngoại Trưởng) Dean Rusk, (Bộ Trưởng Quốc Phòng) McNamara, và (Tổng Thống) Johnson, theo như tôi biết, thì đều cực kỳ thiết tha mong muốn chấm dứt cuộc chiến.”
Ðáp một câu hỏi khác của cử tọa, ông Kissinger nói rằng: “Trong phần phụ lục cuốn sách White House Years (Những Năm Tháng Tại Tòa Bạch Ốc), tôi đã bày tỏ sự dè dặt đối với sách lược Việt Nam Hóa Chiến Tranh (Vietnamization strategy) và nhiều điều khác nữa... và tôi nghĩ rằng đường lối mà chúng tôi theo đuổi có lẽ là đường lối khả dĩ duy nhất.”
Nhân khi trả lời câu hỏi tại sao chính quyền Nixon vừa tuyên bố “hòa bình sắp tới rồi” (peace is at hand) thì Hải và Không Quân Mỹ lại mở cuộc oanh tạc dữ dội vào Bắc Việt trong dịp Giáng Sinh năm 1972, cựu Ngoại Trưởng Kissinger đã tiết lộ một chi tiết lý thú liên quan tới chuyện Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu từng chống đối và không chịu chấp nhận Hiệp Ðịnh Paris 1973. Ông nói:
“Chúng tôi đã đạt tới sự hiểu biết chung với phía Bắc Việt tại Paris. Rõ ràng là đối với Sài Gòn thì chúng tôi không thể đem thi hành những thỏa thuận chung đó được. Chúng tôi luôn giữ lập trường rằng Sài Gòn sẽ phải đồng ý mới phải. Nhưng chúng tôi đã sai lầm trong phán đoán như vậy. Chúng tôi cứ yên chí rằng (Tổng Thống) Thiệu sẽ hết sức sung sướng trước sự kiện ông được giữ nguyên chức vụ, rằng chính phủ của ông vẫn được giữ lại, rằng ông sẽ không mặc cả gì về tất cả những điều khoản phụ (trong văn bản Hiệp Ðịnh Paris)... Chúng tôi đã phải thuyết phục Sài Gòn rằng chúng tôi nhất định cứ xúc tiến (việc ký Hiệp Ðịnh Paris).”
Trả lời một câu hỏi của Rich Rusk (con trai thứ hai của cố Ngoại Trưởng Dean Rusk thời các chính phủ Kennedy và Johnson) liên quan tới câu nói của Tiến Sĩ Kissinger rằng “hầu hết những gì trở nên sai lầm tại Việt Nam thì đều do chính chúng tôi - các chính quyền Mỹ liên tiếp nhau-gây ra hết,” vị cựu ngoại trưởng Hoa Kỳ nói:
“Chúng tôi tự mình gây ra cả, và dĩ nhiên những sai lầm đó bao gồm luôn cả những xét đoán, rõ ràng là các xét đoán từng được đưa ra. Có một số các sai lầm, như những xét đoán về liên hệ giữa chiến thuật của Liên Xô và của Trung Hoa, giữa chiến lược của Trung Hoa và Bắc Việt mà trước tiên là đã khiến chúng ta phải dính líu tới cuộc chiến này. Theo quan điểm của tôi thì đó là các xét đoán phát xuất từ thời kỳ trước đó qua sách lược kiềm chế (containment) Cộng Sản tại Âu Châu. Và đây là những xét đoán có thể hiểu được dù chúng sai lầm trên một số khía cạnh. Theo ý tôi, ngay cả những xét đoán sai lầm đó cũng không thể biện minh được những đắng cay và ác độc của những cuộc tranh cãi nhau (bên trong nội bộ nước Mỹ) sau này.
Ông Kissinger nói thêm - cũng vẫn để trả lời cho Rich Rusk - về những khó khăn mà Hoa Kỳ phải đối diện trong thời điểm dầu sôi lửa bỏng đó: “Khi chúng tôi (chính quyền Nixon) nhận lãnh trách nhiệm, đã có mặt 540,000 binh sĩ Hoa Kỳ (tại Nam Việt Nam). Chúng tôi đã rút quân theo nhịp độ 150,000 binh sĩ một năm. Và còn có vấn đề rút quân ra nữa - mà tôi chắc là các bạn Việt Nam của tôi sẽ hiểu - khi có tới 800,00 quân Bắc Việt tại Nam Việt Nam. Chúng ta có tới một triệu quân Nam Việt Nam có thể trở thành thù địch nếu họ có cảm tưởng chúng ta đang bỏ rơi họ. Và chúng ta có tới 540,000 quân Mỹ nằm trong bối cảnh đó. Vì vậy, tình hình lúc đó thật tế nhị - và dĩ nhiên là trong tiến trình này thì phải phạm sai lầm thôi... Và tiến trình này một khi đã bắt đầu rồi thì quý vị không thể đảo ngược lại được, y như lời thân phụ của anh (cố Ngoại Trưởng Dean Rusk) thường nói vậy. Ông ấy nói: “Chuyện này đâu có giống như là chuyện tắt đi một chương trình truyền hình.”
“Vì thế tôi nhớ lại đâu đó có một lời tuyên bố của (Tổng Thống) Johnson khi ông nói: 'Tôi không đủ sức chiến thắng (tại Việt Nam) mà lại không thể rút lui.' Ðó là chỗ tiến thối lưỡng nan mà Hoa Kỳ phải đối phó trước từng quyết định một - mà dĩ nhiên là tôi không hề muốn phải đưa ra. Có những sai lầm gây hậu quả tai hại mà tôi được biết trong giai đoạn tôi phục vụ, mà dù sao thì chúng tôi cũng không có sự chọn lựa nào khác để có thể rút chân ra (khỏi Việt Nam) ngay lập tức. Ðó không phải là sự chọn lựa mà mọi người có thể hiểu được. Ngay cả thành phần cứng rắn nhất trong Ðảng Dân Chủ cũng chưa bao giờ để nghị như thế. Vì vậy, một khi chúng tôi quyết định sẽ rút lui từ từ thì tiến trình này có thể được xúc tiến cho nhanh thêm hay không? Tôi cũng không biết nữa. Tôi cho rằng cách duy nhất để xúc tiến nhanh (việc rút quân đội Mỹ về nước) là lật đổ chính phủ (Nam Việt Nam). Mà điều này thì chúng tôi không sẵn lòng thực hiện. Liệu đó có phải là một sai lầm hay không? Tôi không nghĩ như thế.”
“Và tôi càng có thêm cảm tình đối với những người từng đưa ra các quyết định ban đầu dẫn tới việc áp dụng một mô thức không thích hợp cho vùng Ðông Nam Á. Những người này không hiểu rằng Liên Bang Xô Viết và Trung Hoa và Việt Nam là các thực thể khác biệt nhau, và rằng một nước Việt Nam chiến thắng ít có khả năng trở thành kẻ thù của chúng ta hơn là những nước khác. Vì thế, dĩ nhiên là chính phủ sẽ luôn phạm những lỗi lầm. Nhưng vấn đề của đất nước chúng ta là liệu chúng ta có chịu nghiêm chỉnh tranh luận về những sai lầm đó hay không, hay là chúng ta là biến những sai lầm đó trở thành một cuộc nội chiến. Ðối với tôi, dường như đây mới chính là vấn đề tôi muốn trình bày với quý vị.”
Mỹ - Chiến tranh Việt Nam: Trời đã sinh Kissinger, sao còn sinh Lê Đức Thọ (ĐV 1-10-10) -- Nên đọc nguyên văn của Kissinger: The American Experience in Southeast Asia: Historical Conference (State Department 29-10-10) ... nhưng đừng có tin ông tổ nóí láo này!- <– Super ‘K’ Takes On Vietnam, Again » (New York Daily News)
- Vũ Tường: Thông tin thêm về Báo Học Tập, Nội san Đảng bộ Liên Khu 4 — (talawas).
Trời đã sinh Kissinger, sao còn sinh Lê Đức Thọ (Đất Việt)-01/10/2010 “Tôi đã có thể làm tốt hơn nếu như người đối diện trên bàn đàm phán Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở miền Nam Việt Nam không phải là ông Lê Đức Thọ”, Bộ trưởng Ngoại giao thời Tổng thống Richard Nixon là Henry Kissinger vừa thừa nhận.
Chưa dừng lại, ông Kissinger còn bày tỏ sự thán phục với ông Thọ bằng cách ca ngợi tài năng và lòng trung thành mà ông theo ông Kissinger, là vượt trội so với người Mỹ.
“Ông Thọ “mổ xẻ” chúng tôi như một người bác sĩ phẫu thuật tài năng với đôi tay cầm dao mổ điêu luyện”, ông Kissinger nhớ lại.
Cựu Ngoại trưởng Mỹ còn cho biết, những buổi đàm phán kéo dài với ông Thọ quả là “cân não”. “Tôi đã có thể làm tốt hơn nếu như người đối diện không phải là ông Thọ”, ông Kissinger khẳng định.
Sau buổi đàm phán, Henry Kissinger có nói với ông Lê Đức Thọ rằng: “Dù mới chỉ gặp được 45 phút nhưng ông hoàn toàn khiến chúng tôi bối rối”.
| Washington và Hà Nội ký Hiệp đình hòa bình vào tháng 1/1973. Ông Henry Kissinger (phải) và ông Lê Đức Thọ cùng được nhận giải Nobel Hòa bình năm đó nhờ đóng góp trong đàm phán. Tuy nhiên, ông Thọ từ chối nhận giải. |
Cũng trong bài phát biểu trong hội thảo về lịch sử liên quan đến Đông Nam Á của Mỹ tại Bộ Ngoại giao Mỹ ngày 29/9 vừa qua, ông Henry Kissinger còn thừa nhận Mỹ đánh giá thấp sự kiên cường của các nhà lãnh đạo miền Bắc Việt Nam thời bấy giờ; rằng người dân đất nước hình chữ S quá kiên cường và không hề nao núng trước kẻ địch. “Washington muốn thỏa hiệp nhưng Hà Nội nhất định giành chiến thắng”, ông thừa nhận.
Trong buổi hội thảo, ông Kissinger còn bày tỏ sự thất vọng và tiếc nuối vì cuộc chiến đã “chôn vùi” cả một thế hệ người Mỹ.
Cùng tham gia buổi hội thảo, Bộ trưởng Ngoại giao Hillary Clinton, người từng phản đối chiến tranh Việt Nam khi còn là sinh viên, nhớ lại cuộc chiến đã ảnh hưởng thế nào tới cách nhìn về thế giới của thế hệ bà. “Giống như mọi người vào thời đó, tôi cũng có bạn bè phải nhập ngũ và cũng có những người không làm theo mệnh lệnh. Chúng tôi cho rằng cuộc chiến là phi lý”, bà Clinton cho biết.
Chưa dừng lại, Ngoại trưởng Hillary Clinton còn tán dương quan hệ Mỹ - Việt Nam sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao được 15 năm. Bà nhấn mạnh, quan hệ hữu nghị giữa hai nước trở thành nền tảng cho an ninh và ổn định trong khu vực.
Ông Kissinger: Thất bại ở Việt Nam là do chính người Mỹ gây ra - (VOA)
Cựu ngoại trưởng Henry Kissinger, người góp phần lèo lái chính sách của Hoa Kỳ về vấn đề Việt Nam trong những năm đen tối nhất của cuộc chiến, cho biết ông tin rằng hầu hết những gì làm cho Hoa Kỳ thất bại ở Việt Nam là do chính người Mỹ làm ra, bắt đầu với việc đánh giá thấp sự kiên trì của giới lãnh đạo Bắc Việt.
Theo tin của hãng thông tấn AP, ông Kissinger đã cho biết như thế hôm thứ tư tại Washington trong cuộc hội thảo do Bộ Ngoại giao Mỹ tổ chức với chủ đề “Kinh nghiệm của Mỹ tại Đông Nam Á, 1946-1975.”
Ông Kissinger nói rằng vấn đề cốt lõi đối với Mỹ là mục tiêu chính là duy trì một nhà nước độc lập và khả tồn ở miền Nam Việt Nam là không thể đạt được và địch thủ của Mỹ nhất định không chịu thay đổi lập trường. Theo lời ông Kissinger, “Nước Mỹ muốn thỏa hiệp, Hà Nội muốn chiến thắng.”
Ông Kissinger từng giữ chức cố vấn an ninh quốc gia và Bộ trưởng ngoại giao dưới thời Tổng thống Richard Nixon và tiếp tục giữ chức ngoại trưởng trong chính phủ của Tổng thống Gerald Ford.
Tại cuộc hội thảo hôm thứ Tư, ông Kissinger đã tán dương ông Lê Đức Thọ, đối thủ của ông trong cuộc hòa đàm, về việc đã khéo léo và trung thành thực hiện những chỉ thị của chính phủ ở Hà Nội. Ông nói nguyên văn rằng “Ông ấy đã mổ xẻ chúng tôi như một bác sĩ giải phẩu với con dao mổ – với sự khéo léo vô cùng.”
Washington và Hà Nội đã ký kết một hiệp định hòa bình vào tháng giêng năm 1973, và trong năm đó ông Kissinger và ông Lê Đức Thọ đã được trao giải Nobel Hòa bình vì vai trò của họ trong cuộc điều đình. Ông Lê Đức Thọ từ chối không nhận giải.
Hiệp định này dọn đường cho Hoa Kỳ rút khỏi Việt Nam nhưng làm cho miền nam Việt Nam gặp nguy cơ bị miền bắc thôn tính.
Ông Kissinger nói rằng “Chúng tôi biết đó là một hiệp định chông chênh” và cuộc xung đột chưa thật sự kết thúc. Tuy nhiên, Washington cũng tin rằng nếu không có một cuộc xâm lăng toàn diện thì miền nam có khả năng chống cự với phe Cộng Sản ở miền bắc.
Trong bài diễn văn đọc tại cuộc hội thảo sử học được chiếu trên trang web của Bộ Ngoại giao Mỹ, Ngoại trưởng Hillary Clinton đã tán dương mối quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam sau khi hai nước bình thường hóa quan hệ ngoại giao được 15 năm. Bà nói rằng mối quan hệ thân hữu giữa hai nước đã trở thành căn bản cho an ninh và ổn định trong khu vực.
Nguồn: AP, US Department of State
TS Henry Kissinger: Lỗi lầm trong cuộc chiến VN do người Mỹ gây ra RFA 30.09.2010
Tiến sĩ Henry Kissinger, nguyên cố vấn an ninh quốc gia, nguyên ngoại trưởng Hoa Kỳ dưới thời tổng thống Richard Nixon, là nhân vật nòng cốt trong việc chính sách của Washington vào những năm cuối của cuộc chiến Việt Nam, hôm nay tuyên bố rằng, những lỗi lầm trong cuộc chiến ấy là do chính người Mỹ gây ra.
Ông Kissinger đưa ra nhận định này tại hội thảo về chiến lược và lịch sử cận đại của Hoa Kỳ tổ chức hôm qua tại bộ Ngoại giao Mỹ trong thủ đô Washington.
Theo ông thì người Mỹ muốn thương thuyết hầu chấm dứt cuộc chiến đó, nhưng phía Hà Nội thì nhất định phải đạt chiến thắng. Cộng Sản Việt Nam ấp ủ, tiến hành mục tiêu đó để thống nhất hai miền Nam Bắc từ khi họ đánh đuổi người Pháp ra khỏi Đông Dương vào năm 1954.
Trước khi cuộc chiến kết thúc hồi năm 1975, ông Kissinger cũng ca ngợi phía Hà Nội là khôn khéo nên đã thành công trong việc đàm phán với Mỹ.
Tuy nhiên qua những lời nhận lỗi cho rằng thất bại hoàn toàn về phía Hoa Kỳ, ông đã làm lu mờ những chiến công mà từ phía đối thủ Bắc Việt, luôn cho đó là một chiến thắng “thần thánh” giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước về một mối.
Dư luận vẫn chưa quên phát biểu của ông sau ngày 30 tháng tư, 1975, khi nói rằng “thời gian sẽ trả lời ai thắng ai.”
- Kissinger: Vietnam failures `we did to ourselves’ (AP)--- ĐẠO LUẬT ĐẶT CỘNG SẢN RA NGOÀI VÒNG PHÁP LUẬT SỚM NHẤT THẾ GIỚI: LUẬT 10/59 “Luật 10/59 kết án tử hình không bào chữa nội trong 3 ngày những người cộng sản, những người có liên hệ với cộng sản và những người có thể xâm phạn đến an ninh quốc gia. Theo bản tiếng Anh thì không phải là như thế. Theo điều 16 thì bắt buộc phải có luật sư. Tất nhiên đấy là trên giấy tờ, trong thực tế ra sao thì không biết” (blog Phạm Viết Đào).
Những phút giây hồi tưởng của người tạo dựng nên Singapore
"Tôi không nói rằng mọi thứ tôi đã làm là đúng," ông nói, "nhưng tất cả mọi thứ tôi đã làm đều có một mục đích cao cả. Tôi đã phải làm một vài điều tồi tệ như bỏ tù đồng môn mà không cần xét xử." Và mặc dù lá đang lìa cành, ông nói, những câu chuyện về Lý Quang Diệu có thể vẫn chưa dứt. Ông trích dẫn một câu tục ngữ Trung Quốc: Đừng phán xét một người cho đến khi áo quan của người đó được khép lại.
Nguồn: Seth Mydans, The New York Times
Cymbidium, X-Cafe chuyển ngữ
10.09.2010
Lý Quang Diệu, người đã tạo nên Singapore qua hình ảnh nghiêm nghị và cứng rắn của chính mình, hỏi "Thế thì khi nào chiếc lá cuối cùng rời cành?” lúc gần đến ngày sinh nhật thứ 87 của ông và cái tuổi trầm ngâm, yếu ớt, và mất mát.
Ông Lý, một trong những nhân vật chính trị có ảnh hưởng nhất của Á châu với mô hình tăng trưởng kinh tế và kiểm soát xã hội chặt chẽ theo kiểu “Singapore", tuyên bố "Tôi có thể cảm thấy sinh lực suy giảm dần dần. Và nói chung, tôi muốn nói là mỗi năm, khi người ta biết sức khoẻ không như năm ngoái. Nhưng đời là vậy."
Tuần trước, trong một cuộc phỏng vấn dài và sâu xa một cách khác thường, ông nói về những đau nhức vì tuổi tác và cách làm thuyên giảm qua thiền, về những khó khăn của ông để xây dựng một quốc gia thịnh vượng trên hòn đảo nghèo tài nguyên này, và mối quan tâm của ông sợ rằng thế hệ mai sau có thể thụ hưởng những thành tựu của ông như là điều tất nhiên và để chúng trượt mất đi.
Ông mặc quần áo giản dị với cái áo chắn gió và đôi giày thể thao trong văn phòng to lớn, sáng sủa. Tinh thần ông vẫn minh mẫn nhưng rõ ràng ông trông già hơn với cái lưng hơi khom khom. Ông không còn kiểm soát công việc hằng ngày nhưng, khi nào còn sống, ông vẫn là nhân vật nổi bật của quốc gia mà ông đã tạo ra.
Nhưng ông nói trong những năm cuối cùng này, cuộc sống của ông đã trở nên tăm tối vì bệnh tình của người vợ và người đồng hành trong 61 năm. Bà ta nằm liệt giường và bị câm sau một loạt cơn đột quỵ.
Ông nói "Tôi cố gắng làm bản thân bận rộn, nhưng đôi khi trong những lúc nhàn rỗi, tâm trí của tôi trở lại với những ngày hạnh phúc chúng tôi sống bên nhau." Với cách tiếp cận bất khả tri và thực tế của ông trong cuộc sống, ông nói chuyện với một sự ganh tị với những người tìm thấy nghị lực và niềm an ủi trong tôn giáo. Ông hỏi "Làm thế nào để tôi tự an ủi? Ừ thì, theo tôi, đời chỉ là thế. '"
Ông nói "Cái gì sẽ đến, tôi không biết. Có ai sống lại bao giờ."
Là Thủ tướng của Singapore từ ngày thành lập vào năm 1965 cho đến khi nhường ngôi vào năm 1990, ông Lý đã tạo nên cái mà ông gọi là "một ốc đảo thế giới thứ nhất trong một khu vực thế giới thứ ba" - được khen ngợi với cách cai quản có hiệu quả và trong sạch của mình, nhưng ông lại bị các nhóm tranh đấu cho nhân quyền cáo buộc là hạn chế quyền tự do phát biểu chính kiến và đe dọa đối thủ bằng cách thưa về tội phỉ báng.
Chức vị của ông bây giờ là bộ trưởng cố vấn, một vai trò rất có quyền trong chính phủ hiện nay được dẫn dắt bởi Thủ tướng Lý Hiển Long, con trai ông. Ngày nay, một câu hỏi vẫn lẩn quẩn ở Singapore là một khi ông ta qua đời, mô hình của ông sẽ tồn tại trong bao lâu và dưới dạng thái nào.
Lúc nào trông cũng khỏe mạnh, ông Lý tranh đấu chống sự suy tàn của tuổi tác với một thời khoá biểu bơi lội, đạp xe và đấm bóp, và có lẽ quan trọng hơn hết là một lịch trình theo từng giờ hàng ngày của các cuộc họp, diễn văn và hội nghị ở cả Singapore lẫn ngoại quốc. Ông nói "Tôi biết nếu tôi nghỉ ngơi, sức khỏe của tôi sẽ tụt dốc nhanh chóng". Sau một giờ phỏng vấn, câu chuyện chuyển từ tự kiểm thảo đến địa chính trị, những năm tháng dường như lướt qua và ông càng trở nên mạnh mẽ và cương quyết, quan điểm thế giới của ông vẫn bao xa, đầy đủ chi tiết và phổ quát.
Tuy vậy, ông nói đôi khi ông có một cái nhìn khác về những cuộc vật lộn chống già nua và nhận ra cái mà ông gọi là "sự vô lý của nó." Ông nói "Tôi sắp 87 tuổi, cố gắng giữ gìn sức khoẻ để có một thân thể cường tráng, đó là một nỗ lực, nhưng nỗ lực đó có bõ không? Tôi tự cười mình vì cố gắng để giữ một diện mạo hùng tráng. Nó trở thành thói quen của tôi. Tôi chỉ cứ thế mà làm."
Những khoảnh khắc khó khăn nhất của ông là mỗi chiều khi ông ngồi bên cạnh giường vợ, bà Kha Ngọc Chi, 89, người đã không thể cử động hoặc nói chuyện được trong hơn hai năm qua. Bà ta luôn ở bên cạnh ông, như là một người thân tín và cố vấn từ lúc hai người còn là sinh viên luật ở Luân Đôn.
Ông nói "Bà ta hiểu khi tôi thủ thỉ với bà ấy, điều mà tôi làm hằng tối. Bà ấy thức chờ nghe tôi kể về công việc sau mỗi ngày của tôi và đọc những bài thơ yêu thích của bà ta." Ông mở một tờ giấy lớn để khoe danh sách mà ông đã đọc, sách của những tác gỉa Jane Austen, Rudyard Kipling và Lewis Carroll cũng như các bài thơ ngắn của Shakespeare.
Gần đây, ông nói, ông ôn lại những lời nguyện trong hôn nhân Kitô giáo và để ý đến dòng chữ: "Để yêu thương, gìn giữ và ấp ủ khi ốm đau và khỏe mạnh, trong mọi tình huống tốt hay xấu cho đến khi cái chết chia đôi chúng ta."
"Tôi nói với bả ta ‘Anh sẽ cố gắng mãi mãi ở bên em.’ Đời là thế. Bà ta hiểu." Nhưng ông cũng nói "Tôi không biết ai đi trước, bà ta hay tôi."
Ông nói vào ban đêm, khi nghe các tiếng rên rỉ của vợ ông trong phòng bên cạnh, ông tự làm tĩnh tâm bằng cách thiền 20 phút, miệng niệm câu kinh "Ma-Ra-Na-Tha" mà một người bạn Kitô giáo chỉ ông.
Câu kinh đó là tiếng Aram, ở phần cuối của bài truyền đạo mà Thánh Paul gởi cho các con chiên người Corinth, và có thể được dịch theo nhiều cách. Ông Lý nói rằng người ta nói câu kinh khổ đó có nghĩa là "Hãy đến với tôi, Ôi Chúa Giêsu," và mặc dù ông không phải là một tín đồ, ông thấy các âm thanh nghe thanh thoát.
Ông nói "Cái khó khăn là giữ cho tâm trí bất an khỏi nghĩ ngợi loạn xạ. Một khi bạn được thanh thản, những áp lực và lo âu trong ngày được tẩy sạch. Sau đó dễ ngủ hơn."
Ông bỏ ngoài tai những lời của Catherine Lim, một nhà văn và nhà phê bình xã hội nổi tiếng người Singapore, người đã mô tả ông ta là có "một cách cư xử độc đoán và thực tế không để tình cảm chi phối."
Ông phản đối "Cô ấy là một tiểu thuyết gia, vì vậy, cô ta đơn giản hoá cá tính của con người," để tạo nên cái mà ông gọi là một "hình ảnh biếm họa của tôi. Nhưng làm gì ai cũng dễ dãi hay đơn giản như thế?"
Ông nói những căng thẳng về bệnh tật của vợ ông lúc nào cũng hiện diện, làm ông suy nghĩ nghiều hơn là những căng thẳng mà ông phải đối diện trong những năm tháng trong chính trường. Nhưng nhiều lần, khi nhìn lại cuộc đời của mình, ông trở về thời điểm của nỗi đau đớn lớn nhất, đó là việc trục xuất của Singapore ra khỏi Malaysia vào năm 1965, khi ông đã khóc trước công chúng.
Nỗi đau thương này đã tạo nên một thử thách mà nó đã định rõ cuộc đời của ông: tạo lập và phát triển của một quốc gia ổn định và thịnh vượng, luôn luôn cảnh giác chống mọi xung đột trong dân số hỗn hợp người Trung Quốc, Mã Lai và Ấn Độ của nó.
Trong một cuộc phỏng vấn với tờ International Herald Tribune cách đây ba năm, ông nói "Chúng tôi không có các thành phần của một quốc gia, các yếu tố căn bản như nhân chủng đồng nhất với một ngôn ngữ, văn hóa và vận mệnh chung."
Ông lo lắng về giới trẻ với đòi hỏi của họ cho sự cởi mở chính trị nhiều hơn và sự tự do trao đổi tư tưởng, với cuộc sống an toàn của họ trong một Singapore hiện đại. Ông nói "Họ đã đến lúc tin rằng tình trạng trong nước là điều tự nhiên mà họ có thể tự tiện sử dụng. Họ nghĩ rằng tình trạng có thể được cài vào thể thức tự động. Tôi biết là điều đó không bao giờ được như vậy."
Ông tiếp “Lối tranh chấp chính trị mở mà họ đòi hỏi tất sẽ đưa đến nền chính trị dựa trên chủng tộc, và "xã hội chúng ta sẽ bị xé nát."
Theo phương pháp của ông, một người thích tranh chấp về chính trị, ông thường xuyên tấn công đối thủ bằng những thưa gửi về tội phỉ báng để đưa họ đến tình trạng thân bại danh liệt. Ông cho những vụ thưa gửi đó là cần thiết để bảo vệ thanh danh của ông, và ông bác bỏ những chỉ trích của các phóng viên phương Tây "nhẩy vào nhẩy ra Singapore” và cho họ là "rác rưởi tuyệt đối."
Ông tuyên bố, trong trường hợp nào đi nữa, không phải các phóng viên này hay các bài cáo phó mà họ có thể viết về bản án cuối cùng của những hành động của ông, mà chính là những học giả tương lai, những người sẽ nghiên cứu các hành động đó trong bối cảnh thời điểm của họ.
"Tôi không nói rằng mọi thứ tôi đã làm là đúng," ông nói, "nhưng tất cả mọi thứ tôi đã làm đều có một mục đích cao cả. Tôi đã phải làm một vài điều tồi tệ như bỏ tù đồng môn mà không cần xét xử. "
Và mặc dù lá đang lìa cành, ông nói, những câu chuyện về Lý Quang Diệu có thể vẫn chưa dứt. Ông trích dẫn một câu tục ngữ Trung Quốc: Đừng phán xét một người cho đến khi áo quan của người đó được khép lại.
Ông kết thúc "Đóng quan tài, sau đó quyết định, rồi đánh giá người ta. Tôi vẫn có thể làm điều ngu xuẩn gì đó trước khi nắp quan tài của tôi được đậy lại. "
- Office of Historian, Bureau of Public Affairs Release of Foreign Relations, 1969-1976, Volum IX, Vietnam, October, 1972-January 1973 (U.S. Department of State). Bộ Ngoai giao Hoa Kỳ hôm nay đã đưa ra tài liệu Các mối quan hệ đối ngoại của Hoa Kỳ, 1969-1976, Tập IX, Việt Nam, tháng 10-1972-tháng 1-1973. Có một số vấn đề dính líu với Tổng thống Richard M. Nixon và Cố vấn An ninh quốc gia của ông là Henry A. Kissnger. This volume was compiled and edited by John Carland. The volume and this press release are available on the Office of the Historian website at http://history.state.gov/historicaldocuments/frus1969-76v09. Copies of the volume will be available for purchase from the U.S. Government Printing Office online at http://bookstore.gpo.gov (GPO S/N 044–000–02636–8; ISBN 978–0–16–082999–4), or by calling toll-free 1–866–512–1800 (D.C. area 202–512–1800).
Võ Văn Kiệt - Người đi đầu đổi mới ở Việt Nam
- ‘Tôi viết từ tiếng lòng’ (Đất Việt). “…cuốn sách viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh của Tiến sĩ Việt kiều Nguyễn Đài Trang đã có tác động tích cực đến chính giới, nhân dân đất nước Canada và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài”. . – Nguyễn Hoàng Đài Trang và sách vinh danh Hồ Chí Minh (TTHN/DCV)- Hội thảo khoa học “80 năm Xô Viết Nghệ Tĩnh” (HN Mới)-
Sử: When heads rolled in Vietnam (Asia Times 15-9-10) -- Về máy chém của Ngô Đình Diệm
Thuyền trưởng tàu không số ẩn danh Tuan Viet Nam
Những nguồn chi viện lớn cho cách mạng Việt Nam QĐND - Thứ Bẩy, 03/05/2008
Singapore: Days of Reflection for Man Who Defined Singapore (NYT 11-9-10) -- Lý Quang Diệu hồi tưởng-
Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị--05-06-1973
Mô tả: Vai trò của Trung Quốc và Việt Nam trong cuộc cách mạng Campuchia; cũng như thảo luận tình hình hiện tại ở miền Nam Việt Nam.
Chu Ân Lai: Thế giới hiện đang trong tình trạng hỗn loạn. Trong giai đoạn sau khi Hiệp định Paris, các nước Đông Dương nên dành thời gian để thư giãn và xây dựng lực lượng của mình. Trong thời gian 5-10 năm tới, miền Nam Việt Nam, Lào, và Campuchia nên xây dựng hòa bình, độc lập, và trung lập. Tóm lại, chúng ta phải để dành thời gian và chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh kéo dài.
Mỗi nước có kẻ thù của riêng mình. Nên mỗi nước phải chuẩn bị, bằng cách tăng gia sản xuất và đào tạo lực lượng vũ trang. Nếu chúng ta không thận trọng, kẻ thù sẽ khai thác điểm yếu của chúng ta. Nếu chúng ta chuẩn bị tốt, chúng ta sẽ sẵn sàng cho bất kỳ hành động nào của kẻ thù.
Hiện tại, lệnh ngừng bắn được chấp hành tốt. Vấn đề Campuchia không được giải quyết. Tuy nhiên, người dân, sau 20 năm chiến đấu chỉ mong muốn thư giãn. Cho nên, rất cần thiết để các ông khôi phục sản xuất và sử dụng lực lượng lao động có hiệu quả. Đây là những điều lớn cần làm. Chúng tôi đồng ý với các ông rằng, chúng tôi phải khôi phục sản xuất và đào tạo lực lượng vũ trang cùng một lúc.
Lê Duẩn: Mỹ nhắm tới các mục tiêu chính trị khi chiến đấu tại Việt Nam. Nói về chiến lược, họ không sử dụng một chiến lược nhất quán. Thay vào đó, trong cuộc chiến chủ nghĩa thực dân mới này, họ đã thay đổi một số chiến lược, từ một cuộc chiến đặc biệt đến chiến tranh giới hạn và “Việt Nam hóa chiến tranh”. Mục tiêu của họ không những biến miền Nam Việt Nam thành thuộc địa của họ, mà còn thực hiện chiến lược toàn cầu của họ ở Việt Nam. Điều đó có nghĩa là, họ muốn kiểm soát miền Nam, sau đó tấn công miền Bắc Việt Nam, do đó làm tổn hại đến hệ thống phòng thủ Chủ nghĩa Xã hội ở Đông Nam Á và đe dọa phong trào độc lập dân tộc trên thế giới.
Chu Ân Lai: Vì vậy cho nên các ông đã chiến đấu và đã không kiên nhẫn như Lâm Bưu khuyên. Kiên nhẫn là câu châm ngôn trong chiến lược của Lâm Bưu. [Ngoài câu đó,] ông này chẳng biết gì khác.
Tôi muốn chia sẻ với các ông một số thông tin tình báo mà chúng tôi vừa nhận được. Mỹ muốn Sài Gòn giảm bớt chiến đấu. [Đại sứ Hoa Kỳ, ông William] Sullivan (2) đã bay tới Sài Gòn để nói như vậy, điều mà ông ta đã nói với Trần Văn Huong (3) – Đại sứ của Sài Gòn ở Washington: Nixon đang gặp khó khăn và Sài Gòn không nên làm cho tình hình phức tạp hơn. Điều này đúng, bởi vì nó giải thích tại sao Kissinger muốn có một tuyên bố chung với các ông.
Tôi cũng muốn nhấn mạnh rằng Hoa Kỳ chắc chắn thả Lon Nol để cho người dân Campuchia tự giải quyết vấn đề của họ. Đây là một cuộc nội chiến Campuchia, do đó Mỹ nên rời khỏi Campuchia. Đối với Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia, cuộc chiến này là để trừng phạt Lon Nol. Vì vậy, chúng tôi phải tham khảo ý kiến của Hoàng thân Sihanouk xem có thương lượng hay không. Cùng lúc, chúng tôi không phải đại diện cho Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia (4).
Lê Duẩn: các đồng chí Campuchia đang tiến bộ rất nhiều. Họ đang làm rất tốt.
Chu Ân Lai: Hiện vẫn không chắc chắn về tình hình. Tôi nhớ lại năm ngoái, Lon Nol đã đến Trung Quốc trong lễ kỷ niệm 20 năm Quốc khánh Trung Quốc và gặp gỡ đồng chí Phạm Văn Đồng. Ông ta đã rất tự tin. Lúc đó, ông ta vẫn còn kiểm soát tất cả việc vận chuyển trang thiết bị cho miền Nam Việt Nam.
Phạm Văn Đồng: Chúng tôi đã không liệu trước rằng mọi thứ sẽ thay đổi trong một thời gian rất ngắn sau đó. Tuy nhiên, ông ta đáng bị vậy.
Chu Ân Lai: Nhiều điều luôn xảy ra ngoài mong muốn của chúng ta. Lúc đó, các ông đã có các căn cứ quân sự và y tế tại Campuchia và chúng tôi đã không biết điều này. Nhưng Lon Nol biết. Và khi Lon Nol đòi tiền lệ phí đường bộ cho việc vận chuyển trang thiết qua Campuchia, chúng tôi đã phải trả tiền.
Lê Duẩn: Chúng tôi muốn nói về chính sách của chúng tôi ở miền Nam. Tình hình sẽ được rõ ràng trong thời gian ba hoặc bốn năm. Bằng mọi giá, chính phủ ở đó cuối cùng phải là một chính phủ dân chủ và quốc gia. Chính phủ này có thể tồn tại trong 10 hoặc 15 năm. Và sau đó có thể đổi tên. Vì vậy, chúng tôi không vội vàng biến miền Nam Việt Nam thành xã hội chủ nghĩa hoàn toàn.
Phạm Văn Đồng: Trong cuộc đấu tranh này, mục tiêu của chúng tôi là độc lập và dân chủ. Chúng tôi không vội vàng với mục tiêu thống nhất quốc gia. Một điều chúng ta nên làm là làm nổi bật vai trò Mặt trận Giải phóng Dân tộc và Chính phủ Cách mạng lâm thời với một chính sách ngoại giao trung lập.
Chu Ân Lai: Và vấn đề chính là sự lãnh đạo của Đảng.
Phạm Văn Đồng: Đúng vậy. Lenin cũng thảo luận vấn đề này trong cuốn sách của ông có tựa đề “Hai chiến lược”. Toàn bộ vấn đề là [vai trò] lãnh đạo. Chúng tôi sẽ làm nổi bật vai trò Mặt trận Giải phóng Dân tộc cả chính sách bên trong nội bộ lẫn bên ngoài.
Lê Duẩn: Khi thực hiện “Việt Nam hóa chiến tranh,” kẻ thù rõ ràng là đang mở rộng chiến tranh. Chúng tôi cho rằng Hoa Kỳ có sức mạnh rất lớn và nó có thể chấp nhận thất bại ở một mức độ nhất định. Rất khó để đánh bại Hoa Kỳ vì nó là một nước mạnh. Các ông đã khuyên chúng tôi giải quyết vấn đề Hoa Kỳ rút quân trước và giải quyết vấn đề Sài Gòn sau đó. Chúng tôi nghĩ rằng điều này đúng.
Ghi chú:
1. Sau đó cùng ngày, Lê Duẩn đã gặp Mao Trạch Đông (Chu Ân Lai và Diệp Kiếm Anh cũng có mặt). Hồ sơ cho thấy việc trao đổi đã diễn ra sau đây:
Lê Duẩn: phán đoán chính xác của Chủ tịch là dành cho chúng tôi một sự khuyến khích to lớn.
Mao Trạch Đông: Bộ Ngoại giao của chúng tôi đã phát hành một thông tư, trong đó nói rằng chiến lược quan trọng của Hoa Kỳ nằm ở Châu Á – Thái Bình Dương. Tôi nói rằng điều này không đúng. Hoa Kỳ có nhiều vấn đề ở châu Âu, Trung Đông, và chính ở Mỹ. Sớm hay muộn họ cần phải rút một số quân, và họ sẽ không ở lại ở châu Á – Thái Bình Dương vĩnh viễn. Do đó, việc đàm phán của đồng chí Lê Đức Thọ tại Paris sẽ có kết quả gì đó.
…
Mao Trạch Đông: Lâm Bưu biết chỉ có chiến tranh du kích với ý định giữ cho Hoa Kỳ sa lầy ở Việt Nam. Tuy nhiên, tôi muốn nhìn thấy các ông chiến đấu trong cuộc chiến di động và tiêu diệt các lực lượng của họ.
Chu Ân Lai: Chúng tôi muốn nói tới lực lượng thường xuyên của họ.
2. William Sullivan Healy (1922 -) là Phó Trợ lý Ngoại trưởng từ khi kết thúc nhiệm kỳ của ông là Đại sứ Mỹ tại Lào năm 1969 cho đến khi ông trở thành đại sứ của Philippines năm 1973; sau này ông phục vụ như là sứ giả ở Iran cho đến khi Cách mạng Iran năm 1978 – 79.
3. Trần Văn Hương (1903 -)(***), cựu thị trưởng Sài Gòn, người đã hai lần làm Thủ tướng Việt Nam Cộng Hòa từ tháng 11 năm 1964 đến tháng 1 năm 1965, và tháng 5 đến tháng 8 năm 1969. Sau này trở thành Phó Tổng thống thời Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và làm Tổng thống trong 7 ngày hồi tháng 4 năm 1975.
4. Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia, có trụ sở tại Bắc Kinh do Sihanouk và Khmer Đỏ thành lập năm 1970.
——
Ghi chú thêm của người dịch:
(*) FUNK: Front Uni National du Kampuchea, tiếng Anh là National United Front of Kampuchea: Mặt trận Dân tộc Thống nhất Campuchia.
(**) GRUNK: Gouvernement Royal d’Union Nationale du Kampuchea, tiếng Anh là Royal Government of National Union of Kampuchea: Chính phủ Hoàng gia Liên minh các Dân tộc Campuchia.
(***) Trần Văn Hương mất năm 1982, thọ 79 tuổi.
Người dịch: Ngọc Thu
Dịch từ:
http://www.wilsoncenter.org/index.cfm?topic_id=1409&fuseaction=va2.document&identifier=5034CF35-96B6-175C-9AC31B62247E1931&sort=Collection&item=The%20Vietnam%20%28Indochina%29%20War%28s%29
Thảo luận giữa Chu Ân Lai, Lê Duẩn, Phạm Văn Đồng và Lê Thanh Nghị