Những tâm hồn thấp kém thì không thể thấu hiểu các bậc vĩ nhân. Cũng như những kẻ nô lệ nhe răng cười nhạo khi nghe hai tiếng Tự do. (J.J Rouseau - 1762)
Nhân đại lễ ngàn năm Thăng Long, Hà Nội (HN) được ngắm nghía đặc biệt kỹ.
Chăm sóc nhiều. Khen chê cũng lắm.
Nhiều người không khỏi hoang mang tự hỏi: Văn hiến Thăng Long, còn hay mất?
Nếu mất, ai đã cầm nó trên tay và đánh mất? Bọn “người nhập cư” đã đánh mất lối thanh lịch Tràng An? Hay kẻ nào? Cần phải tìm địa chỉ để “bắt đền” chứ?!
Quan niệm và ứng xử thế nào về khái niệm Người HN trong kỷ nguyên của “người nhập cư”?
Liệu còn làm gì được không để cứu vãn nền văn hiến?
Ta hãy ngắm xem văn hiến còn hay mất.
Thân xác: đế chế kiến trúc “quan tài bê tông và hộp diêm vụn”
Nếu đến HN từ các ngõ vào thành phố, đặc biệt là từ phía sân bay Nội Bài đến cầu Thăng Long, cầu Chương Dương, cầu Thanh Trì, cầu Pháp Vân..., với lợi thế ngắm HN từ trên cao, nhiều người sẽ không khỏi băn khoăn: Lẽ nào, đây là nơi mà chúng ta vẫn tự hào là Thăng Long ngàn năm văn hiến?
HN hôm nay trình diện dưới mắt kẻ qua người lại với vô số nhà cửa như một mớ “hộp diêm” hoặc các “quan tài” bằng bê tông lắp ghép bằng các mảnh vụn đủ mọi kích cỡ rồi được ném vô lối xuống mặt đất thành phố qua bàn tay của đứa trẻ chưa biết suy tính đến hậu hoạ ngàn năm.
Những hộp diêm vô hồn ấy ngự ngạo nghễ trên đất HN. Chân của lũ hộp diêm cắc cớ ấy cắm sâu xuống đất, trơ gan cùng tuế nguyệt. Rồi đây, theo các dự án đã được duyệt, sẽ có tới khoảng mấy trăm cao ốc lừng lững dựng ngược dậy, như cọc bùa yểm linh khí, như chông lởm chởm, cắm vào mảnh đất nội đô vốn đã quá tải, vốn đã méo mó hình thù và vô cùng chật chội.
Rồi đây, HN sẽ còn thêm rất nhiều “hộp diêm”, “quan tài” bê tông và toà cao ốc, những chung cư không linh hồn được xây nên. Có đặc điểm nguy hại mà những nhà quy hoạch không để ý. Mỗi lần họ không để ý là một lần bầu trời hoặc những gương hồ HN bị xẻo đi một miếng, mà toàn là những miếng lớn, không có cơ hội vá víu được. Đó là cho phép những toà cao ốc trấn yểm các ngã ba ngã tư thành phố. Cứ theo đà này, sẽ đến ngày một ngày không xa, người HN ngẩng đầu lên mà ngày không thấy trời, đêm không thấy trăng. Đến mặt trăng và mặt trời mà ngày càng xa lạ với con người, thì đương nhiên tầm nhìn của con người ngày càng chật hẹp và bức bối.
Hậu quả là kiến trúc nội đô HN hiện tại không có cách gì sửa chữa được. Nó khủng bố thẩm mỹ của những kẻ hậu sinh, khiến cho thế hệ này đến thế hệ khác ngày càng xa lạ với văn hiến và nền văn minh. Tự động hình thành một tầm nhìn chật hẹp, manh mún, tạp nham nửa quê nửa tỉnh. Một số nhà chuyên môn còn gọi đó là hiện tượng phỉ nhổ kiến trúc, phỉ nhổ những con đường cây xanh, không khí mơ màng bốn mùa, phỉ nhổ những gương hồ quý giá...
Hầu hết mỗi con đường mới tôn tạo đều như những con đê chắn đường thoát nước. Mỗi ngôi nhà mới xây tương tự một cái chốt khổng lồ làm thương tổn nền đất và mạch nước ngầm, đường dẫn nước thải .
Nếu như năm 2008, mọi người đều quá hoảng sợ khi thấy chỉ sau ba ngày mưa mà HN đã thành sông biển và nhiều người chết đuối ngay trên mặt phố nội đô. Để phòng ngừa, Ngân sách đã phải chi một khoản tiền lớn đầu tư chống úng ngập. Hiệu quả sau khi bơm thêm rất nhiều tiền, hai năm sau, kỷ lục chuyển phố thành sông biển sau mưa ở HN nhanh hơn gấp nhiều lần. Sau trận mưa to kéo dài khoảng hai giờ đồng hồ sáng ngày 13/7/2010, lượng nước mưa ấy không thể tự tiêu. Sau năm giờ đồng hồ các trạm bơm hút cật lực, giao thông HN mới khả dĩ nối lại.
Bên cạnh các đền chùa miếu mạo mà hồn đã lìa khỏi xác, là những khu dân cư lộm nhộm đủ kiểu nhà, đủ kiểu người, đủ kiểu quần áo phơi phóng giăng mắc cơi nới điện mạng nhện lâu nay được điểm tô thêm một cái nốt mụn cóc: đó là tấm biển thô thiển đề “Khu dân cư văn hoá”. Hoàn thiện thêm bức tranh ấy, tiếng loa phóng thanh theo lối thời chiến ngày hai ba lần bất thần nổ ra trên đầu toàn thể cư dân, theo cách tuyên truyền áp đặt, buộc tất cả nam phụ lão ấu và khách nước ngoài đều phải nghe những nội dung tuyên truyền nghèo nàn, chủ yếu là mục chính quyền cơ sở tự khen mình, những bài hát chiến tranh đã cũ mèm, những nội dung thông tin xa rời sự thật, góp phần làm hỏng thẩm mỹ và tâm hồn nhiều thế hệ.
Có thể gọi kiến trúc HN mấy chục năm qua cho đến hiện tại là đế chế kiến trúc “quan tài bê tông và hộp diêm vụn”. Loại ô nhiễm môi trường ở tầm vĩ mô.
Dường như người Việt Nam, đặc biệt là HN, có một năng lực đặc biệt trong việc làm xấu đi những ân sủng do thiên nhiên ban tặng. Quy hoạch đô thị từ mấy chục năm nay vẫn là manh mún và chắp vá, luôn chỉnh sửa theo ý chí của nhiều vị lãnh đạo có khi chỉ mới tốt nghiệp tiểu học, trung học cơ sở hoặc không có kiến thức gì về quy hoạch. Theo một số kiến trúc sư cho biết, năm 1972-1973, một đại diện của Hội Mỹ thuật đã đề nghị “nên vẽ một HN hình nắm đấm hướng về phía Nam để thể hiện ý chí “đánh cho Mỹ cút...”.
Còn vùng HN mới xây và đang xây có duyên không? Có “văn hiến” không?
Có một HN mới được tính từ khu Mỹ Đình và mở rộng ra các vùng lân cận ngoại thành HN, một chuỗi những khu đô thị vệ tinh sắp hình thành nay mai.
Nhưng bằng vào tất cả những gì đã xuất hiện, lại đã thấy cái thẩm mỹ trọc phú, manh mún vụn vặt, vô hồn, bắt chước kiến trúc la liệt chung cư của một số TP biên giới của Trung Quốc mà bây giờ người ta đã nhận ra sai lầm và đang cố khắc phục mà không nổi. Bắt chước lối kiến trúc ấy nhưng lại kém xa về thẩm mỹ và về nhịp không gian thư giãn so với Trung Quốc. Những ngôi nhà chọc trời ganh đua mọc trên một diện tích chật hẹp là thứ kiến trúc đã bị nhiều nước tẩy chay, bỗng trở nên mới mẻ và thịnh hành ở HN và Việt Nam. Ta đã thấy kết quả tội nghiệp của việc nhặt nhạnh kiến trúc Trung Quốc Hàn Quốc, những toà nhà không linh hồn được đua nhau đẩy lên cao hết cỡ để kiếm lợi nhuận tối đa bất luận hậu quả thế nào.
Sự tham nhũng gần như không bị ngăn cản của một hệ thống vận hành ráo riết khiến cho mỗi toà nhà cao tầng có thể biến thành những lò nướng người nếu có xảy ra hoả hoạn. Theo thống kê của ngành phòng cháy chữa cháy, khoảng 90% toà nhà cao tầng đã xây hiện nay không trang bị hoặc trang bị rất hời hợt về thiết bị báo cháy, chống cháy và thoát hiểm, nhìn chung là rất ít khả năng vận hành. Các nhà đầu tư và quản lý cao ốc đã kiếm rất nhiều tiền và còn tiếp tục móc túi người tiêu dùng bằng nhiều lối bội tín.
Linh hồn: Đốt đuốc đi tìm bản sắc
Trong phố HN mà chúng ta vẫn mơ mòng nựng tai mình bằng các mỹ từ: thanh lịch, ngàn năm văn hiến, hào hoa..., thì trớ trêu thay, lại cứ có những “hiện vật” nhỡn tiền giễu cợt đám mỹ từ đó, khiến cho người ta cứ phải hoang mang trăn trở.
Nói chuyện Thăng Long, đương nhiên phải kể đến Hồ Gươm. Thiên nhiên đã hào phóng đeo chiếc nhẫn ngọc lục bảo quý giá ấy cho HN. Hồ Gươm còn duyên bội phần bởi là nơi duy nhất có các cụ rùa thiêng ngộp thở thỉnh thoảng lên phơi nắng, tha hồ cho lũ con cháu kẻ tưởng bở kẻ lo sợ, khấp khởi đoán già đoán non.
Nhưng Hồ Gươm lâu nay lại là nơi chiếm hữu của những chúng nhân quần đùi áo may ô, đồ bộ, quần lửng nhàu nát mướt mồ hôi... của lũ lượt những người đi tập thể dục ngày vài ba bận dưới cái nhìn ngỡ ngàng của du khách.
Văn hiến và thanh lịch đó chăng? Người HN xung quanh Hồ Gươm, quanh các dẫy phố cổ ăn mặc thế sao? Đâu rồi những bóng áo dài? Kể cả áo dài của những người xay thóc giã gạo và buôn thúng bán mẹt thuở trước? Cái thuở HN còn rất nghèo, còn rất quê mùa, chỉ là nơi ở của những người đánh cá trồng hoa trồng lúa nước và buôn bán vặt vãnh nhưng hễ bước chân ra khỏi ngõ, người ta coi việc ăn vận không tươm tất là một sự tự xỉ nhục.
Thanh lịch đâu rồi? Khi những hậu sinh của họ lâu nay, trên môi luôn trề dài hai chữ “nhà quê “ để miệt thị những người không làm vừa mắt họ?
Những người không làm vừa mắt họ thì quá nhiều. Có thể là những người lao động nhập cư dạt về thành phố kiếm sống và đang phục vụ nhu cầu thuê mướn của người thành phố với giá rẻ mạt và bị chính sách hộ khẩu đã lỗi thời gạt ra rìa xã hội. Cũng có thể là những chúng sinh thành công hơn họ kể cả về địa vị và tài chính do nỗ lực, do có ý chí và dám thay đổi nên nắm bắt được thời cơ... Cái từ nhà quê thường trực nhả ra trên môi nhiều người HN và cách nhìn kỳ thị ghen tị không những không làm cho họ thanh lịch lên mà còn thể hiện một sự tự ti thảm hại.
Rất nhiều người từ nơi khác đến đã thốt lên: ở xa nghe phố Hàng Đào Hàng Ngang, tưởng tượng đó là dãy phố hào hoa đẹp đẽ, mang bản sắc HN ghê lắm, đến nơi mới biết trông chẳng khác gì dãy phố chợ quê với rất nhiều hàng rởm hàng nhái và chủ yếu là hàng Trung Quốc.
Nhiều người, dù đã ở HN vài ba đời và kiếm được nhiều tiền nhưng vẫn nói ngọng và chửi tục, nhiều hộ gia đình dùng chung những “chuồng xí” thời đổ thùng cách đây vài thế kỷ và luôn đùn đẩy trách nhiệm vệ sinh cho nhau. Họ vận quần áo xộc xệch nhếch nhác đi quanh phố. Họ thà chen vai thích cánh cắn rứt nhau mười mấy người trong vài chục mét vuông, còn hơn là đồng lòng chung sức ra khỏi ngõ hẻm chật hẹp, tìm một lối thoát mới.
Thử vào quán ăn, nhà hàng, công sở, đường phố nào ở HN mà xem, tai bạn thường khi sẽ chứa đầy những tiếng văng tục chửi thề miệt thị mang tính côn đồ. Thậm chí, HN là nơi gần như duy nhất trên cả nước cho phép tồn tại và nhiều người còn vui vẻ chấp nhận kiểu chủ quán ăn tha hồ chửi bới khách hàng. Miếng ăn phải trả tiền ở đây thực sự là mua miếng nhục. Thế mà người HN còn ngồi ăn, ăn đi ăn lại, và nhăn nhở cười! Đó là một dạng bạo lực tinh thần không thể chối cãi.
Nhiều người Sài Gòn và khách nước ngoài lấy làm ngạc nhiên về điều này lắm, hỏi bạn bè rằng, có phải người HN lấy văng tục chửi thề và khạc nhổ làm đầu vị để khẳng định bản sắc không?
Ta có thể tựa vào đám di tích văn hoá lịch sử của cổ nhân để lại để kể lể về bản sắc và hồn cốt dân tộc? Những chùa đình miếu mạo sau trùng tu tổn phí biết bao mồ hôi nước mắt của dân, đang nói lên điều gì?
Theo nhận định của nhiều người trong giới báo chí và giới chuyên môn, thì cần phiên dịch lại cho đúng khái niệm. “Tôn tạo” cần được hiểu là “đổ tiền dân vào để phá nốt”.
Đa phần các di tích đành ngậm ngùi lâm cảnh mất mát rất nhiều cổ vật, với những những đường nét, nghi trượng mới tạo nên bằng bê tông với những bàn tay thô vụng, đứng tẽn tò phô sự giả tạo trước khách thập phương.
Sự hãi hùng quyền lực trong lề thói cầu cúng, không khí hối lộ và mua chuộc, tham lam khẩn thiết xin xỏ vật chất đã hoàn toàn thoán đoạt tín ngưỡng và tôn giáo thuần khiết. Thật đáng sợ khi vào các đền chùa đình miếu ở khu vực HN.
Khấn lạy van vái quyền lực ở cõi dương khốn khổ nhục nhã thế chưa đủ, người ta hăng hái hối lộ cõi âm, dùng cả đến những hành vi bỉ ổi do đám buôn thần bán thánh xúi giục, nhét cả tiền vào tay các pho tượng thần phật để cầu lợi. Những hòm công đức mọc lên như nấm tại các đền chùa miếu mạo là thí dụ cực kỳ nhục nhã đối với sự xuống cấp của nhân cách sống, thế giới tinh thần và tín ngưỡng của HN và người Việt Nam nói chung.
Rồng sẽ bay trên bầu trời nào? Liệu có còn thấy được rồng bay?
Còn làm gì được nữa với một HN cũ – nhiều người nói vớt vát rằng nó cổ. Không nhúc nhích được. Không sửa chữa được. Định mệnh của những kẻ sinh ra và sống ở HN này là mở mắt ra là phải nhìn thấy cái xấu, cái vỡ vụn, cái quái thai hậu quả của một nền giáo dục và kiến trúc, văn học nghệ thuật được chăng hay chớ, thiếu thẩm mỹ cho đến nay đã phát tác đến đỉnh.
Theo khảo sát của ngành du lịch thì hơn 85% du khách đến HN chỉ một lần, không quay lại. Những ưu điểm như cảnh sắc thiên nhiên phong phú tươi đẹp, giá sinh hoạt còn rẻ so với giá ở những nước phát triển, tàn tích của lối sống lộn xộn quê kiểng ở một xứ sở còn nhiều mông muội pha lẫn sự hối hả ban đầu của thời kỳ tư bản hoá còn có thể nhìn thấy ở VN không đủ kéo du khách trở lại bởi sự bẩn thỉu cổ lỗ của những phương tiện đi lại, sự thiếu linh hồn văn hoá và không giữ chữ tín của dịch vụ cùng tai nạn giao thông rình rập.
Phác thảo bức tranh HNM
Để mô tả bức tranh HN ngày nay, lại là những nét phác thảo “nhát gừng”, làm nhức mắt người xem.
HN là:
Là khoảng 700 cái hồ tự nhiên hồi đầu thế kỷ 20 nay đã bị ám sát gần hết, chỉ còn khoảng 44 chiếc, và đang biến thành ao.
Là mấy dòng sông đẹp đựơc biến thành cống rãnh.
Là phố cũ HN bẩn thỉu, nhếch nhác được tự an ủi thành phố cổ và mấy chục năm nay vẫn chưa biết nên bảo tồn và tôn tạo thế nào.
Là hầu hết di tích gặp nạn trùng tu tôn tạo mà hồn lìa khỏi xác.
Là một nền học thuật và văn hoá phong tục lễ nhạc dựa vào chữ Hán và văn hoá Trung hoa làm gốc và ngày nay nhiều người còn nô lệ tới mức khấn khứa cầu xin van vái cũng phải bằng chữ nho (chữ Hán), trong khi 99,9% thần phật ông bà cha mẹ tổ tiên ngự ở trên kia không biết lấy một chữ Hán bẻ đôi.
HN là nơi nhiều người tham nhũng nhất nước. HN là nơi tỉ lệ người cân gian đong thiếu, trộm ngày cướp ngày, nói năng tục tĩu và nói xấu sau lưng nhau nhiều nhất nước và văn hoá thô tục được người ta sử dụng như một cách khẳng định cá tính và ăn trên ngồi trốc thiên hạ.
Những đường phố thơ mộng của HN xưa, nay là những dòng sông người ăn mặc xấu xí bởi áo chống nóng khăn bịt mặt vì quá ô nhiễm, như cả một thế giới khủng bố, một thế giới nặc danh, đi lại hết đờ đẫn là náo loạn trong tiếng động cơ xe rền vang và tiếng còi xé tai. Xê dịch như một đàn kiến đã bị tước bỏ lý trí.
Những công trình chào mừng ngàn năm Thăng Long chủ yếu mang tính hình thức, chủ yếu đầu tư vào lễ hội và công trình xây dựng tốn kém đáng ngờ, mang tính đối phó ăn xổi ở thì...
Cái đẹp và văn hiến Thăng Long, đương nhiên chưa phải đã chết. Nhưng khi cái đẹp chỉ còn rơi rớt đâu đó mà ngoi ngóp ngộp thở trong cái xấu, cái thô lậu, con người vin vào đâu để đảm bảo cho sáng tạo tương lai?
Văn hiến là gì? Có thể có nhiều cách hiểu.
Nhưng không thể quan niệm văn hiến như một mớ thư tịch, khuôn phép, trước tác ...đã định hình và được đóng thành khuôn mẫu. Văn hiến được xây dựng, bồi đắp từ các cư dân trong cộng đồng, luôn vận động và thích ứng để cuối cùng, phục vụ cho nền văn minh và chất lượng sống của con người. Về đại thể, văn hiến chỉ trạng thái phát triển của mỗi dân tộc. trạng thái đó bộc lộ khả năng khắc phục tình trạng sơ khai, thấp kém lạc hậu để vươn tới sự tiến bộ, cao đẹp hơn, với sự phong phú của đời sống tinh thần. Văn hiến còn bao gồm một nội dung hết sức quan trọng khác, là phải tạo môi trường đào tạo được những con người ưu tú cả về trí tuệ, phẩm cách, tài năng cho đất nước.
Một khi nền văn hiến suy vi, đương nhiên ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng sống của con người.
Ám sát văn hiến, cũng có nghĩa là một nền văn minh và tương lai bị ám sát.
Lâu nay, người lạc quan nhất thì cũng nhận thấy rằng nền văn hiến HN đã suy vi tột độ. Thì phải có thủ phạm chứ.
Nếu nhận diện không trúng thủ phạm, lại tự an ủi bằng cách đổ quanh cho nhau, thì nền văn hiến lại cứ bị “ám sát” tiếp.
Ai?
Dân nhập cư đã “ám sát” văn hiến?
Một số người HN thường hay nói rằng, chúng tôi vốn thanh lịch lắm, chúng tôi làm nên nền văn hiến Thăng Long, chẳng qua dân nhập cư tứ chiếng đến đây bê nguyên những thói hư tật xấu của họ về làm xấu mặt thủ đô đấy thôi.
Có đúng không? Phải chăng người HN đã bắt được thủ phạm ám sát nền văn hiến Thăng Long và chỉ đích danh: dân nhập cư!
Vậy, dân nhập cư là ai?
Quan niệm về dân nhập cư càng ngày càng mở rộng nội hàm. Dân nhập cư bao gồm những người đến từ các địa phương trong cả nước và cả đến từ các quốc gia khác trên thế giới.
Ta hãy xét xem, có phải dân nhập cư là thủ phạm ám sát nền văn hiến không?
HN, vốn xưa là Đại La thành, dân cư thưa thớt, đánh cá buôn bán nhỏ và cày ruộng. HN năm 2010 dân số khoảng 5 triệu người. Và trong một tương lai gần, HN là thủ đô có tới khoảng 10 triệu dân.
Ta có thể nhìn rõ trong dân số hùng hậu đó, tỉ lệ cơ bản là người nhập cư.
Về cội nguồn, HN từ trước đến nay, là TP của người nhập cư. Ngay cả Lý Thái Tổ – tức Lý Công Uẩn – người sáng lập kinh thành Thăng Long lại càng đích thị là dân nghèo nông thôn từ ngôi làng heo hút Cổ Pháp, Tiên Sơn, Hà Bắc nhập cư về kinh đô Hoa Lư (Ninh Bình) rồi về HN. Đến Hồ Chí Minh – người khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hoà – cũng là dân nhập cư. Và hiện nay, tỉ lệ những người nhập cư chiếm phần lớn trong hầu khắp các cấp lãnh đạo đảng và chính quyền VN, chưa kể các tầng lớp văn nghệ sĩ và các nhà khoa học, nhà kinh doanh...
Chính bản thân người nhập cư, bằng mồ hôi nước mắt và máu của mình, đã làm nên HN, từ thuở bán khai, từ thuở Đại La thành, rồi cho đến khi Lý Thái tổ dời đô từ Kinh Hoa Lư về, năm 1010, đặt tên là Thăng Long thành.
Bởi thế, sẽ thậm vô lý, nếu quan niệm HN tách rời khỏi những người nhập cư và ngược lại.
HN là Kẻ chợ. Cội nguồn HN là Tứ chiếng. Động mạch nuôi sống kinh đô là hợp lưu của những dòng máu tứ chiếng. Bản chất của kinh đô là dung nạp. Là cái miệng phễu tham lam không đáy thu hút nhân tài tứ chiếng đem về xây dựng, tôn tạo nên nền kinh tế, nền văn hiến và cuối cùng là để tạo nên nền văn minh Thủ đô, tạo nên một kinh thành ánh sáng về mọi mặt, để làm đầu tàu cho cả nước đi tới tương lai tươi sáng.
Nếu một thủ đô, một thành phố, ngay cả một vùng nông thôn, mà không thu hút được người nhập cư, để thu hút tài năng, kinh nghiệm, sức sáng tạo của tứ xứ về làm giàu và làm vui cho vùng đất mình, thì đó là một xứ sở tù đọng và rất dễ chết yểu do bế quan toả cảng và tăm tối.
Đất thủ đô thời phong kiến là nơi tổ chức những cuộc thi đình và nhiều cuộc thi khác để chọn người tài. Nơi đây trong nhiều năm là cơ hội rồng mây của những hàn sĩ thức chảy máu mắt, dùng ánh sáng đom đóm để học hành tu luyện. Qua lối mở của cách quản lý nhân khẩu và cư trú, qua những cuộc sát hạch ngặt nghèo, người nghèo có năng lực cũng được ngang bằng cơ hội với những công tử, những phú hào trong việc được vua giao những trọng trách gánh vác sơn hà xã tắc và trở nên sang quý bằng kiến thức và ý chí.
Tiếp nối truyền thống đó, đất thủ đô trong chừng ấy năm cho đến ngày nay, đã vớt vát được nhiều học sinh nghèo thực sự có năng lực và bền bỉ. Bằng thi cử, bằng nỗ lực, họ đã có nhiều cơ hội gia nhập vào đội ngũ trí thức và tầng lớp kinh doanh, tầng lớp lao động công nghệ cao, làm nên dưỡng chất nuôi sống HN cả về tinh thần và vật chất.
Cần phải phân định rõ rằng, nếu nền văn hiến HN có bị suy vi, hay những tình trạng tồi tệ đó xảy ra ở bất kỳ nơi đâu tại VN và trên thế giới, thì hoàn toàn không chỉ do dân nhập cư, cũng không chỉ do dân sở tại( cần nói rõ là dân HN gốc là dân nhập cư sớm hơn so với dân HN mới nhập cư gần đây). Đổ tội cho dân nhập cư là đổ tội cho chính mình. Đó là một nhầm lẫn khiến cho tình trạng càng thêm thảm hại.
Và do nhầm lẫn về nhận định “thủ phạm”, nên gần đây, có một số biện pháp từ phía những người có trách nhiệm thể hiện một thái độ phân biệt đối xử rất rõ ràng với người nhập cư HN.
Cụ Lý Công Uẩn bị từ chối nhập cư
UBND TP HN hiện có dự án Luật Thủ Đô (DL) trình Quốc hội (đã soạn thảo đến lần thứ 4 – dự dịnh ban hành nhân kỷ niệm ngàn năm Thăng Long nhưng có nhiều ý kiến phản đối nên tạm hoãn, dự định thông qua và công bố năm 2010). Trong bản DL có nhiều vấn đề bất cập.
Thứ nhất là, có cần phải ban hành luật Thủ Đô không?
Trước hết, ban hành Luật Thủ Đô là không hợp hiến. Theo ông Trần Thế Vượng, Trưởng Ban dân nguyện của Quốc hội, Hiến pháp không có quy định riêng về Thủ đô. Ý kiến của nhiều luật gia và đại biểu Quốc hội là có một số điều DL trái với Hiến pháp. Chẳng hạn quy định cho HĐND TP HN quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật, trong khi Hiến pháp quy định chỉ có Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Rõ ràng, nếu ban hành Luật thủ đô thì các thành phố khác cũng có cớ để xin ban hành luật riêng cho các tỉnh, thành phố của họ. Chẳng hạn, TP Sài Gòn, là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, đóng góp phần lớn GDP, họ có lý do để đề nghị ban hành Luật TP đặc thù? Điều này sẽ dẫn tới tình trạng khu biệt và cát cứ quyền lực, dễ bị lạm dụng.
Theo công bố của Bộ Tư pháp, trên thế giới rất hiếm nước có luật thủ đô, chỉ trừ một số nước theo mô hình Liên bang như Canađa, Ấn Độ... Cho một thủ đô, chỉ cần quy chế là đủ.
Thứ hai, DL có những quy định ngăn trở quyền tự do đi lại và tự do cư trú của công dân như điều 68, điều 55 của Hiến pháp và điều 5 Bộ luật lao động VN. Bên cạnh đó, những quy định này cũng vi phạm điều 23 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền và Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá mà VN đã gia nhập và ký cam kết thực hiện từ nhiều năm nay.
Theo DL, người nhập cư phải tạm trú liên tục 5 năm mới có hy vọng được chấp nhận thường trú HN, trong khi Luật cư trú quy định một năm là đủ điều kiện. Chưa kể một bất công khác: khoản 2 điều 19 dự thảo quy định về điều kiện làm việc tại HN phải có Giấy phép lao động do Sở Thương binh Xã hội của thành phố cấp. Đây là một điều khoản gây kinh hoàng cho những công dân đã thấm thía thế nào là thủ tục hành chính và nạn giấy tờ ở HN nói riêng và VN nói chung!
Trên thực tế, việc phân biệt đối xử ấy cũng sẽ không ngăn cản được dòng công dân nhập cư về HN do điều chỉnh tự nhiên của chuyển dịch cơ học dân số. Dẫu cho số người này sẽ họ bị bần cùng hoá do bị phân biệt đối xử, con cái của họ bị gạt ra ngoài lề xã hội không được vào các trường học, bệnh viện, các loại bảo hiểm và phúc lợi xã hội khác như đã từng xảy ra... Như thế, chẳng những không kiểm soát được mà còn là ngược đãi người lao động lương thiện và làm cho bộ mặt thủ đô càng nhếch nhác hơn.
Xét về phương diện hợp hiến cũng như hợp tình hợp lý, việc ban hành Luật thủ đô là không cần thiết, là xác định sai thủ phạm “ám sát” nền văn hiến và văn minh HN, gây phân biệt đối xử, nạn giấy tờ, nạn sách nhiễu, ảnh hưởng đến quyền con người và hạn chế sự phát triển tự nhiên của Thủ đô.
Để xây dựng một Thủ đô HN có văn hiến và văn minh, không thể dùng các biện pháp hành chính thô bạo, hẹp hòi, những luật lệ riêng biệt để hạn chế người nhập cư và ngăn trở cơ hội thi thố tài năng, cơ hội việc làm của những người nghèo trong cả nước.
Hầu hết các đế vương khởi nghiệp tại Việt Nam đều xuất thân từ con nhà nghèo và từ những miền xa tới, do tài năng mà “nhập cư” về kinh đô. Giả sử thời đó, các đế chế, hoặc những vị cai quản đất Hoa Lư, đất Thăng Long hay đất Huế...mà có chủ trương hạn chế người nghèo nhập cư như bây giờ, thì lịch sử VN đã không là những trang sử anh hùng quật cường như thế này.
Một so sánh có thể khập khiễng, nhưng không phải không có cớ để liên tưởng, dù là một giả tưởng hài hước. Nếu hồi cuối thế kỷ 10, đầu thế kỷ 11, tại kinh đô Hoa Lư, thời Lê Ngoạ Triều – vị vua nổi tiếng tàn ác nhất trong lịch sử VN – mà áp dụng những điều khoản hạn chế người nhập cư tương tự dự luật Thủ đô bây giờ, thì Lý Công Uẩn sẽ bị trục xuất ra khỏi nội đô Hoa Lư. Không có cơ hội Lý Công Uẩn vào kinh, lĩnh chức Tả thân vệ Điện tiền chỉ huy sứ, có dịp lên ngôi vua khi Lê Ngoạ Triều chết. Thế càng không có chuyện dời đô, sáng lập kinh thành Thăng Long vào mùa xuân 1010!
Máu và nước mắt cùng trí tuệ, tài năng của dân tứ xứ đã để lại, đã hoà nhập cùng người HN bản địa để làm nên kinh đô này từ bao đời. Phân biệt đối xử, bạc đãi họ bằng những quyết định hành chính vội vàng, vi hiến là xoá bỏ cơ may duy nhất còn lại của HN, và quan trọng hơn, xoá bỏ điều kiện sinh tồn cốt tử của đất Kẻ chợ này.
Vậy thủ phạm “ám sát” nền văn hiến là ai?
Về trình độ văn hoá mà nói, thì trình độ cư dân HN hiện nay cao hơn rất nhiều so với cái thời còn gọi là Tràng An. Thời đó dân HN nội đô còn lội bùn, răng đen mắt toét, nhiều người mù chữ. Cái lối “giấy rách giữ lề”, ăn mặc cử chỉ thanh lịch, chỉ xuất phát từ trong số rất ít các nhà nho, nhà quan lại...
Số lượng người này chỉ đếm trên đầu ngón tay. Thế nhưng ảnh hưởng của lề thói ấy lại có sức lan truyền lớn đến xã hội, khiến cho những người mù chữ nơi thôn quê cũng tự thấy thuyết phục bởi cái hay, cái đẹp mà làm theo.
Cái hay, cái đẹp trong văn hoá và lề thói không phải bao giờ cũng đi cùng với cái tiện lợi và điều kiện vật chất. Chẳng hạn như thói quen mặc áo dài (có thể là áo tứ thân với nữ, áo lương khăn xếp với nam...) khi đi ra cộng đồng. Thời ấy, người dân VN còn rất nghèo, nhiều khi cả mấy người trong nhà mới chung nhau may được một manh áo lành, mà công việc lao động thì rất lam lũ, nặng nhọc, đường sá thì lẩy lội. Còn ngày nay, khi vải vóc và điều kiện mua sắm, điều kiện lao động, giao thông đi lại được cải thiện lên hàng vài chục lần, thì người HN và nhiều nơi trong cả nước lại ăn mặc xốc xếch, đồ bộ quăn queo, quần đùi áo may ô đi ra đường và đua nhau nói tục chửi bậy, đua nhau côn đồ lừa lọc.
Như thế, vấn đề nằm ở đâu?
Để trả lời câu hỏi này, cần những công trình khảo cứu nghiêm túc của các nhà chuyên môn để đề ra những biện pháp hữu hiệu cứu vãn.
Một điều mà mọi người đều thừa nhận, là chính những người có vị thế, có trách nhiệm, các chức sắc, các nhà quản lý văn hoá, các văn nghệ sĩ, trí thức trong xã hội, trước hết, phải có trách nhiệm trở thành những hình mẫu đẹp, thanh lịch, có trí tuệ, phẩm cách, ứng xử đẹp... Sự tuỳ tiện, tham nhũng, thiếu thẩm mỹ, kém văn hoá, tính vật chất thực dụng thô thiển ở nhiều người trong đội ngũ tầng lớp trên này đã khiến dân chúng tuyệt vọng, thậm chí còn muốn phá bĩnh như một cách đối phó hoặc xả bớt nỗi tức giận.
Cần phải thừa nhận một thực tế rằng, thủ phạm của việc ám sát văn hiến, trước hết nằm ở chính những người có trách nhiệm.Với cây quyền trượng trong tay, những người lãnh đạo có thể xây dựng văn hiến hoặc nhanh chóng ám sát văn hiến.
Để cứu vãn: cần cam kết một Khế ước văn minh
Với thời đại mang vận tốc chóng mặt như hiện nay, nếu để tính dã thú tự do khuynh loát, thì không khác gì ta mua chiếc máy bay phản lực rồi đặt một dã thú lên ghế điều khiển bay. Dã thú di chuyển với tốc độ máy bay phản lực, tác hại là khôn lường.
Nếu những người quản lý xã hội không kiềm chế được tính dã thú, thì mọi nỗ lực của cộng đồng sẽ bị vô hiệu hoá và mỗi ngày qua là lùi một bước trở về thời dã man. J.J.Rouseau, nhà văn, nhà triết học thuộc trào lưu Khai sáng ảnh hưởng đến cuộc Cách mạng Pháp 1789, ngay từ năm 1762 đã cay đắng mà viết rằng “Những tâm hồn thấp kém không thể thấu hiểu các bậc vĩ nhân. Cũng như những kẻ nô lệ thì nhe răng cười nhạo khi nghe hai tiếng Tự do...”.
Một đất nước muốn phát triển, đạt đến mục tiêu hạnh phúc cho mỗi người, thì đất nước ấy không thể thiếu những nhà lãnh đạo và công dân có tri thức, có lương tri, có lòng cao thượng và văn minh. Sự tăm tối và giáo điều, sự nô lệ trong hành xử và tư tưởng, nhất là trong thời đại ngày nay, chắc chắn sẽ đưa đến thảm hoạ.
Nhiều kinh thành sở dĩ trở thành Kinh đô ánh sáng, chính vì trước hết, bao nhiêu thế hệ các điền chủ, các chức sắc, các nhà quý tộc và các tổng thống, các Thủ tướng, lãnh đạo chính phủ và các địa phương, thành phố sau này đã biết chịu học hành, rèn luyện, học cách thưởng thức cái đẹp, trau dồi nhân cách và thẩm mỹ, bổ sung và cập nhật kiến thức về văn hoá, khoa học,văn học nghệ thuật.
Trong cuộc đời của họ, nhiều người đã đầu tư phần lớn tài sản cho các công trình kiến trúc, nghệ thuật, bảo trợ sáng tác cho các hoạ sĩ, nhà văn, nhạc sĩ, nhà khoa học… có thực tài và sau đó, những công trình này lập tức trở thành tài sản quốc gia.
Họ hiểu rất rõ một chân lý: sự sang trọng và quý phái, trước hết và cuối cùng, chỉ là sự sang trọng về văn hoá và văn minh chứ không nằm ở tiền bạc. Trọc phú là một tình trạng đáng xấu hổ. Paris hẳn đã khác nếu các nhà chức sắc của Pháp chỉ quan tâm đến việc tiệc tùng, vui chơi giải trí, ăn nhậu hưởng lạc, làm nô lệ cho tiền bạc và không hiểu biết gì về văn học nghệ thuật...
Rõ ràng, trình độ văn hiến và văn minh của một địa phương nào đó tự nó quảng cáo hoặc tố cáo, tự nó phơi bày tầm nhìn, khả năng lường trước vấn đề, trình độ, trách nhiệm và thẩm mỹ của những chức sắc - những người có trách nhiệm - giai cấp lãnh đạo - tầng lớp trên của địa phương đó. Thực trạng ấy, dẫu có dùng các phương tiện vật chất để che đậy cũng không có tác dụng và càng che đậy chỉ càng thảm hại mà thôi.
Trụ đỡ cho văn hiến, hạnh phúc cho mỗi công dân cũng như của mỗi quốc gia, chính là mọi người phải cam kết một Khế ước văn minh và hành động. Trước hết từ phía những nhà quản lý rồi tới các công dân.
Trong quá khứ, cha ông ta rất cần cù lao động, nhưng đã để lỡ cơ hội đổi mới và phát triển để theo kịp đà tiến của những nước như Nhật Bản. Nhật Bản đã từ một nước kiệt quệ, phong kiến bảo thủ, lệ thuộc giáo lý Khổng Tử và Trung Quốc, trở nên một cường quốc đứng thứ ba thế giới về kinh tế, xã hội cũng như các phát minh sáng tạo, tự do dân chủ và phúc lợi cho người dân. Cũng nhờ thế, Nhật Bản là nơi có nền văn hiến bền vững thuộc loại nhất nhì thế giới. Có được điều đó là nhờ tinh thần khai sáng quyết liệt, mang tên “Thoát Á luận” mà Nhật Bản đã tận dụng rất hiệu quả trong những năm đầu thế kỷ XX. Đặc biệt tinh thần khai sáng này được hưởng ứng và nhân rộng trong giới trí thức và văn nghệ sĩ Nhật Bản, được sự thực hiện mạnh mẽ của vua Minh Trị.
Như thế, nhờ những cam kết văn minh, nhìn thẳng vào thực trạng của chính mình và nhận thức rõ những điều kiện và thách thức của thời đại mà Nhật Bản đã thoát khỏi cái vỏ chật hẹp, vươn mình lớn dậy thành người khổng lồ. Cũng chỉ cần một khởi đầu quyết liệt khai sáng như vậy, cả trăm năm nay, Nhật Bản đã vững bước tiến trên con đường phát triển, mang vận tốc nằm trong tốp các nước tiền phong nhất của thời đại.
Trong khi đó, rất nhiều nước trong phần còn lại của thế giới, cho đến nay, vẫn tiếp tục trong mớ bòng bong tự mãn của mình, chưa thôi bị giam hãm trong những chiếc “túi da” chật hẹp, luôn sợ hãi và chỉ trích kẻ khác chỉ để cố thủ, chỉ loay hoay cố gắng trong việc bắt chước, mô phỏng từ văn hoá tới công nghệ, bán sức lao động rẻ mạt hoặc cho thuê, bán đất đai tài nguyên ngày càng cạn kiệt. Càng sợ hãi càng cố thủ, những đất nước phát triển theo kiểu ấy càng dễ mất danh dự, thời cơ, biến thành bãi thải công nghệ của các nước phát triển, hoặc bằng mọi giá cung cấp hàng hoá và sức lao động giá rẻ nhưng kém phẩm chất, mang tính lừa đảo, cho đến lúc bị thế giới tẩy chay.
Việt Nam đang cần một sự khai sáng quyết liệt. Một cam kết thực hiện Khế ước văn minh. Nếu không bắt đầu từ bây giờ, sẽ là quá muộn và tất cả chúng ta đều bị tổn thương, đều bị lụi tàn bởi tình trạng dã thú này, kể cả những người ở tầng lớp có quyền lực lớn.
Có những vận hội mới. Nếu biết tận dụng, sẽ vãn hồi nền văn hiến, đem lại văn minh, hạnh phúc và danh dự cho người Việt Nam.Võ Thị Hảo
Nguồn: - Nhà văn Võ Thị Hảo: Tìm thủ phạm “ám sát” văn hiến — (boxitvn) , ngày 23/10/2010
- Dịch và Giới Thiệu Văn Học Cổ Việt Nam: Những Điều Bất Cập (Việt văn Mới)-
- Một kẻ lạ trên phố phường Hà Nội (VOA).-Teen giả "hành sự" rồi quăng lên mạng(Bee)-Dù chỉ là trò đùa, nhưng khi biết tới những hành vi lệch lạc đó, nhiều người vẫn không khỏi sốc.-- Bắt giữ hơn 500 xe “đi bão” (Tuổi trẻ).
- Nhìn lại LHP Quốc tế VN: Quá nhiều bài học (Đất Việt).-- Đẹp & buồn như cánh đồng bất tận (TT&VH)- Lặng lẽ triển lãm tranh của những danh họa (TT&VH).
-Kiểm nghiệm văn hoá (TVN) -Mỗi dân tộc, mỗi nền văn hoá có tỷ lệ vàng của riêng mình. Hà Nội có cái tỷ lệ vàng ấy, của sự nhỏ nhẹ, cân đối, thanh lịch, tinh tế, do bao nhiêu thế hệ cực kỳ giỏi giang tích tụ, gìn giữ, để lại, mà nay thế hệ chúng ta đang đánh mất, phá tan bằng sự huênh hoang thô lỗ.-"Phố vẫy" ở Hà thành (Bee)-Đội quân ở những "phố vẫy" như Trấn Vũ, Trúc Bạch, Tống Duy Tân, Cao Bá Quát… chỉ làm mỗi một việc là đứng vẫy rồi "túm cổ" khách lại...-Cắt nghĩa quy hoạch đô thị kiểu “Thánh Gióng” của Việt Nam(VNR500) - Chúng ta hay vẽ những quy hoạch "Thánh Gióng" mà giới chuyên môn thường không tin rằng sẽ thực hiện nổi 1/3, TS. Khuất Việt Hùng, Viện trưởng Viện Quy hoạch và Phát triển Giao thông vận tải, chia sẻ.- SGGP Việc xây dựng các rạp hát hiện đại ở TPHCM: Bao giờ thành hiện thực? - cần hiểu rằng đổ tiền dân ra cho mấy thứ trang sức kiểu đó, trong khi bản chất thực của nền văn hóa nghệ thuật thì rỗng, lai căng và kệch cỡm, thì liệu có cứu được nó không? Hay tốt hơn là nên trợ giúp, khuyến khích hơn nữa những sân khấu ca nhạc, kịch của các nghệ sĩ đang tự lo bươn chải?
- Liên hoan phim: Khi văn hóa không đạt tầm văn hóa (TVN)Ban Tổ chức LHP có lẽ "lực bất tòng tâm" hay vì với một sự kiện văn hóa tầm quốc tế nên bị ngợp, đuối sức, không bao quát được...
- LHP Quốc tế Việt Nam: “Đóng” LHP – “mở” ra điều gì? (TT&VH). - Cho Bock Rey – nhà phê bình điện ảnh Hàn Quốc: Làm phim tại Việt Nam – tại sao không? (Lao động).-- Nhìn lại LHP Quốc tế VN: LHP mà thiếu chuẩn bị về phim (TT&VH).
Xem:
- Tội nghiệp cho sao Việt (Công luận).-- “Im thin thít” phim dự kiến chiếu dịp Đại lễ (Dân trí).- Đôi điều so sánh văn hoá Việt-Nhật (SK&ĐS).
- Các vương phủ Huế (TT&VH).--Cụ bà Trịnh Văn Bô: Vẻ đẹp đàn bà Hà Nội xưa (TVN) -Đã ngoài 90 tuổi, cụ bà Trịnh Văn Bô (tên thật là Hoàng Thị Minh Hồ) vẫn trả lời nhiều phỏng vấn báo chí với các câu chuyện hay về một giai đoạn Cánh mạng huy hoàng của dân tộc, về đời sống Hà Nội một thời…Lem nhem công trình mừng Đại lễ (LĐ 21-10-10)-- Tư Tưởng “Tam Giáo Đồng Nguyên” Ở Việt Nam Thể Hiện Từ Trong Chiếu Dời Đô 1.000 Năm Trước (Việt văn Mới)
- Giới trẻ được gì từ Liên hoan phim Quốc tế Việt Nam lần I? (TT&VH). – Khui chuyện bên lề LHPQT Việt Nam (VNN). – Biết rồi, nói mãi… hãy làm đi! (Lao động).- “Mơ” về nền công nghiệp điện ảnh Việt (Tổ quốc).-- ‘Cánh đồng bất tận’ khiến khán giả rơi lệ (VNE). – “Đâu phải nhiều tiền là có phim hay!” (SGTT)-
-Không còn gì để nói./ (Quê choa)
7. Tất cả có thể hiểu trừ chuyện này. Đây là cái gì? Nó là cái mặt trống đồng được làm nắp cống hay là cái nắp cống được mô phỏng theo mặt trống đồng, không biết nữa. Tiện tay hay cố tình đây?
8. Tấm ảnh này do Cá Gỗ gửi cho bọ, với email: “Trưa nay đi ngang đường Ngô Quyền, ngay trước cửa Thành uỷ Hà Nội, tui ngỡ ngàng khi nhìn thấy cái hình trống đồng biểu tuợng 4000 năm văn hiến của dân ta, đêm nào cũng xoay xoay trên TV ở chuơng trình thời sự, ngạo nghễ hiên ngang ở phòng khánh tiết lắm cơ quan…vậy mà người ta đúc để làm nắp cống! Tui không biết họ tinh tế ở mô, văn hóa chỗ nào mà lại đến nông nỗi này.”
Kết quả bình chọn: 20/10/ 2010 9pm
Qua 10 ngày Đại lễ 1000 năm Thăng Long Hà Nội, theo bạn các sự kiện diễn ra:
| Xuất sắc | 673 (5%) | |
| Đạt yêu cầu | 1858 (13%) | |
| Phô trương hình thức | 11338 (82%) |
'Trèo tường lửa' ở Sài Gòn (NV 19-10-10) ◄- Giới trẻ bàn về bộ phim Lý Công Uẩn — (VOA). “Huy: Tôi đã xem trailer của phim, cũng như các bài phản ảnh về phim này, ngay cả trên các báo trong nước. Tôi thấy dàn diễn viên này trang phục y chang của Trung Quốc chứ không phải của người Việt Nam. Nông dân Việt Nam trước đây không mang giày. Trong phim họ được cho mang giày vải của Trung Quốc, đội nón chụp của Trung Quốc. Người Việt Nam truyền thống xa xưa để tóc búi tó phía sau đầu, đội khăn đóng, trong phim thì khác. Áo của nông dân Việt Nam là áo nâu. Trong phim, áo nông dân may theo kiểu chéo qua như đồng phục học võ, màu sắc lại đa dạng, tay áo lại dài.”
- Xin chào – quảng bá du lịch Việt – vở diễn “được xây dựng bởi Laura Bruke – nhà sản xuất người Mỹ đã có hơn 30 năm kinh nghiệm trong lĩnh vực biên kịch và đạo diễn” (Tuổi trẻ). - Có cần tác phẩm lớn? (Người đại biểu).
Nhã Phương và sự thật về cái chết của Lê Hựu Hà (Bee)-"Có một số người không hiểu rõ về sự ra đi đột ngột của anh Hà nên gièm pha, chê trách, thậm chí còn nguyền rủa tôi".
- Tạ Chí Đại Trường: Sử Liệu Quốc Nội và Nền Sử Học Dân Tộc Chủ Nghĩa Việt Nam-Phần 1 (Da màu). Phần 2.
- Nhân vụ Trái Phá & Tình Yêu, bàn về chuyện chữ nghĩa, câu cú, dịch thuật, và phê bình (Da màu)
- Làm phim lịch sử phải có cứ liệu lịch sử (Tuổi trẻ).
- Làm phim ở Việt Nam, tại sao? (Tiền phong). – Sự kiện thảm đỏ: Hấp dẫn nhưng vắng khán giả (TT&VH). – Phía sau thảm đỏ, “sao” Việt diễn cả trong đời thường (Vietnam+). – Chơi vơi cả một nền điện ảnh (SGTT). – Liên hoan phim quốc tế Việt Nam thiếu tính chuyên nghiệp (CAND).
- Thanh Hóa: lưu giữ bốn sắc phong quý có từ triều Nguyễn (Tuổi trẻ).
- Tư liệu đặc biệt về quê ngoại nhà Lý: Ngàn năm thương nhớ… đất Hoa Lâm (Kỳ cuối) (ĐS&PL). Kỳ 1 , Kỳ 2.
-- “Xung quanh những kỷ lục…to của Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội ” - Họa sĩ Lê Thiết Cương: Nào cùng thi, xem ai… to hơn! (TVN). “Tôi thấy một điều rằng, người Việt mình đang phát một căn bệnh, mà bệnh này có chiều hướng càng ngày càng nặng: Thích phô trương, cụ thể là thích… to!” Đây là hệ quả của cái gốc văn hóa 'rỗng' và tự ti. Giống như người tự ti vì lùn quá, cứ phải cố kiễng lên cho bằng người khác.
- Vũ Trà My – Chiêu PR phản tác dụng của Trung tâm Băng nhạc Thuý Nga — (talawas).
Ngôi nhà 5 tầng đổ ập ngay giữa khu phố cổ
(VTC News) - Khoảng 3h sáng nay, 19/10, một vụ sập nhà nghiêm trọng đã xảy ra trên phố Hàng Mã, phường Hàng Mã, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội. Một căn nhà 5 tầng đã đổ sập sang nhà bên cạnh đang đào móng ngay giữa khu phố cổ. Tại hiện trường vụ sập nhà, ...Sập nhà trong đêm khuya, cả khu phố hoảng loạnLao động
Hà Nội: Hoảng loạn vì nhà sập24 giờ-Sập nhà, hàng trăm người thoát nạnTiền Phong Online
- Bà Vũ Thị Thanh viết hồi ký về Tố Hữu – chồng mình (PLTP).anhbasam: Trong khi đó thì phu nhân của cố TBT Lê Duẩn cũng có hồi ký tương tự về người bạn đời vĩ đại của mình, nhưng … chỉ được (?) lưu hành trong bạn bè, người thân.
Cũng phải nhắc lại về tập tài liệu được cho là trao đổi giữa Tố Hữu và Nhật Hoa Khanh cách đây nhiều năm, sau đó bà Thanh đã có ý kiến phản bác về độ xác thực của nó trên báo Văn nghệ, Công an ND: Mượn danh nhà thơ Tố Hữu truyền bá quan điểm riêng. Nhưng tới nay, đây là vẫn còn những bí ẩn đằng sau.
Ăn trộm xong...lại quả cho khổ chủ (Đất Việt)-Sau khi ăn trộm máy tính của một giáo sư, tên trộm cẩn thận chuyển tất cả dữ liệu trong máy sang một USB, sau đó gửi về cho chủ nhân của nó.<:: chuyện nước khác>>
- Thơ Xuân Quỳnh dịch sang tiếng Pháp (TT&VH).- Phục dựng (TT&VH) “Hà Nội sau đại lễ bình yên trở lại. Mười ngày – có thể mượn ca từ của cụ Nguyễn Đình Thi trong ca khúc Người Hà Nội (công nhận cụ tài) để tả: Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời (do vụ pháo hoa ở Mỹ Đình), Hà Nội ầm ầm rung (bởi muôn loa công suất lớn)… đã trôi qua”.
- Bệnh phô trương hình thức quá đáng! “Đừng nghĩ cứ nhìn thấy vẻ mặt hiếu kỳ của người xem, rồi phỏng vấn thì người trong nước và nước ngoài đều nói hay, nói tốt cả; nhưng sau đó là cái gì?” (Lao động).
- Một góc nhìn thứ hai với bộ phim nổi tiếng về cuộc chiến tranh VN – “Apocalypse Now” vừa được chuyển vào đĩa DVD định dạng Blu-ray – A Second Look: ‘Apocalypse Now’ (The Baltimore Sun)
Giữ thể diện quốc gia từ cái bắt tay!Tuan Viet Nam-Bảo vệ vị thế của người Việt trước cộng đồng quốc tế không chỉ là lòng tự trọng dân tộc mà còn là trách nhiệm và mệnh lệnh công dân của bất cứ ai thuộc dải đất hình chữ S này...Thế giời giờ đây đã "phẳng" với báo chí nói riêng và truyền thông nói chung. Ai mà dám chắc được mẩu tin nói trên sẽ không đến tai Bill Gates và khi đọc tin này ông sẽ không thốt lên "À, thế mà tôi cứ tưởng..."!
Nhưng nói rộng ra, thì vấn đề không dừng lại ở việc trách cứ một cá nhân cụ thể. Chúng ta trách cứ không chỉ giáo sư N với "sáng kiến" không nên khoe ra của ông mà còn là những người có những hành động kiểu ấy đang ngày một đông hơn ở nước ta. Lòng yêu nước, sự tự trọng dân tộc, trách nhiệm và mệnh lệnh công dân đòi hỏi chúng ta phải chú ý giữ gìn trước cộng đồng quốc tế ngay từ những việc tưởng như rất nhỏ: Từ cái bắt tay !
- Nhà nghiên cứu, phê bình, “triết gia” mạnh miệng Nguyễn Hoàng Đức, từng được gán cho biệt danh “anh hề triết học”, “chàng Đông-Ky-Sốt văn chương”: “Hậu” Đại lễ: Hãy biết tự sỉ để nâng cao mình lên(TVN). Sự ích kỷ của người Việt còn phô bày rất nặng. Công dân lập hiến đã hàng ngàn năm tuổi rồi, lẽ ra người ta phải biết sống "công lý". "Công lý" tức là giá trị lập hiến của chung, và phải biết tôn trọng những gì là của chung, nhưng chủ yếu chúng ta vẫn sống kiểu "đèn nhà ai nhà ấy rạng".
| Một ngàn năm là gì? Đó là thời gian gần bằng một nửa thời gian lịch sử có ghi chép của nhân loại. |
VIỆT NAM - PHÁP : Báo chí Pháp ca ngợi vẻ đẹp của Hà Nội (RFI)- Tuần báo Le Nouvel Observateur dành hai trang giới thiệu vẻ đẹp Hà Nội. Với tựa đề : « Hà Nội Nghìn Năm tuổi », bài viết nhận định : Có thể nói rằng thủ đô Việt Nam là thành phố đẹp nhất và quyến rũ nhất trong các thành phố Đông Nam Á.
Tháp Rùa - Hồ Gươm, Hà Nội, một chiều thu-Đức Tâm/RFI
- Tin Phát hiện văn bản quy định văn minh kinh doanh từ thời Minh Mạng mà chưa có hình (Tuổi trẻ)
- “Giao lộ định mệnh” quá giống… “Shattered”! (Thanh niên)
- Cuộc gặp gỡ của các “đại gia” đồ cổ đất Hà thành (Lao động). Triển lãm “Thú chơi cổ ngoạn của người Hà Nội” được trưng bày trong không gian nhỏ nhưng rất ấm cúng 93 Đinh Tiên Hoàng —
-Lào chuẩn bị cho Đại lễ 450 năm Vientiane(VOV)-Chính phủ và nhân dân Lào đang háo hức chuẩn bị cho Đại lễ 450 năm thành lập Thủ đô Vientiane với kịch bản công phu và hoành tráng.-
- Hội chứng nhà thổ trong trang trí phố xá (TT hàng ngày). – Hội chứng nhà thổ (Tú mỡ).- Nhìn lại Đại lễ kỷ niệm 1000 năm Thăng Long, PGS.TS Nguyễn Thị Minh Thái : Chúng ta cần có chút xấu hổ… (Dân Việt). –
- Chiếc ghế và văn hóa ngồi (Nguyễn Trọng Tạo/Trần Huy Thuận).
- Cao nguyên đá: Gìn giữ, bảo tồn không dễ (Dân Việt).-- Về thăm Thọ Lão, một làng quê Bắc Bộ có từ thời Lý (Phạm Viết Đào).- “Chết đứng” giữa sân khấu Nhà hát Lớn (TT&VH).
- Nhà văn Nguyễn Khắc Phục: Hào khí Đông A và Truyện Kiều là diễm phúc của một dân tộc (Đại ĐK). “Một dân tộc có Hào khí Đông A, có Đức thánh Trần thì không ai có thể khuất phục được dân tộc ấy, không một ai có thể thôn tính được dân tộc ấy.” Nhà văn Nguyễn Khắc Phục bên tượng Đại thi hào Nguyễn Du —- Văn hóa đang “loạn chuẩn”? (CAND) “Một ông diễn viên chèo lại đóng vai Vua Lý Thái Tổ ngất ngưởng đi thuyền, đi ôtô từ Hoa Lư lên Hà Nội rồi lại ngất ngưởng ngồi trên xe hoa đi qua Quảng trường và điều trớ trêu thay là ông “vua” Lý Thái Tổ đó lại chắp tay chào những người dự míttinh”.
-------------
- Về chương trình lưu diễn của Đoàn Xiệc Mới VN tại Pháp: Một tuyệt phẩm của hội nhập văn hoá — (Diễn đàn).
Bảo tàng Hà Nội: Mất trộm chỉ là "hiện tượng" (!?) (Bee)-“Tôi khẳng định, Bảo tàng Hà Nội không hề bị mất trộm trang thiết bị gì, công văn của UBND TP chỉ để nhắc nhở bảo tàng tăng cường quản lý..."-- Người đánh thức những bảo vật ngủ quên (PLTP)- Chuyện về những câu thành ngữ (TT&VH) “Nếu chỉ lí thuyết không thôi mà không ứng dụng vào thực tế thì ngựa cũng thành dê, “cái kia” cũng hóa con sâu…”.-— The great pho challenge (Australian 15-10-10) -- Phở ở Úc-
- Điện ảnh thế giới “chào thua” điện ảnh Việt Nam (TVN). -- Hà Hiển – “Tình ca 1000 năm Thăng Long – Hà Nội”: Thì cứ để cho Tây nó thưởng thức! — (talawas)-- Tư liệu đặc biệt về quê ngoại nhà Lý (Kỳ 2) (ĐS&PL).- Tôi chưa bao giờ là cố vấn sử học! (Người LĐ).-- Hip hop Việt sao giống hip hop Mỹ? (Tuổi trẻ)-
- Học tập người Nhật (TBKTSG).-- Nhà chức trách à! Cởi hết ra (Tuanddk).- Iceland: nam nữ bình đẳng nhất thế giới (Tuổi trẻ) “Việt Nam đứng thứ 72/134 quốc gia”.
- PN & HĐ: Cái khôn- cái họa- cái sợ- cái dại và…
Cái khôn- cái sợ- cái dại đều là những thuộc tính của con người. Những thuộc tính đó lại tác động vào xã hội, chi phối sâu sắc xã hội, tụt hậu hay phát triển, bất hạnh hay hạnh phúc. Phát ngôn và Hành động tuần này xoay quanh câu chuyện về thuộc tính con người, cũng là xoay quanh dâu bể cuộc đời...
Đại lễ- lũ lụt và ..."cái khôn đi trước rước cái sáng suốt đi sau"
Rất kỳ lạ là những ngày đầu tháng 10 vừa qua, tạo hóa như thử thách sức lực và trí khôn của con người. Cùng lúc, cả xã hội được chứng kiến 2 sự kiện như đối lập, và "đối trọng" nhau. Một đầu- Thủ đô Hà Nội tưng bừng chăng đèn kết hoa, rạng ngời các công trình "chào mừng..." và rạng ngời ánh điện chuẩn bị đón Đại lễ 1000 năm mới có một lần.
Một đầu kia, miền Trung nhớn nhác đối mặt với cơn lũ lớn không mời mà đến, mỗi năm không chỉ một lần. Không điện, không nhà, không cửa. Người dân kinh hoàng "đón lũ" trong cái tối om của đêm trường cô tịch, của đói rét, của cái sống, cái chết mong manh không ranh giới. 85 người dân bị chết, bị mất tích và bị thương, cùng 20 vạn ngôi nhà "chìm đắm" trong mênh mông biển nước...Sự hoạn nạn đã lên đến tột cùng điểm đỉnh.
Tại xã Tân Hóa (Minh Hóa- Quảng Bình), hơn 3500 người dân, trong đó có rất nhiều trẻ em, đã phải chui vào hang tránh lũ, và suốt 5 ngày trời không gạo, không muối, không áo quần thay đổi, sống một cuộc đời ...đồ đá. Đói quá, người dân đã phải ăn cả thịt con trâu chết vô tình trôi dạt qua đó (!) Ông Thái Xuân Đào (68 tuổi) có một câu nói thật đau xót: "... Bà con cố gắng kiếp gia súc mà sống thôi..." (Bee.net.vn, 12-10-2010). Có ai đó đã ví, các em học sinh Tân Hóa, khi học bài lịch sử về nguồn gốc loài người, hẳn sẽ rất giỏi bởi những ngày qua, các em đã hiểu thế nào là đời sống người...nguyên thủy. Một sự ví von hài hước mà...cay đắng.
| Đây là một trong những bức ảnh ấn tượng nhất trong trận bão lụt Miền Trung do phóng viên Hữu Khá, báo Tuổi Trẻ chụp: khi theo cano đi cứu hộ, phóng viên thấy hai cảnh tay thò ra từ một mái nhà cầu cứu. Sau khi lũ rút, tác giả quay lại tìm nhân vật trong ảnh. Hai cánh tay đó của hai em ruột Nguyễn Văn Khánh (15 tuổi) và Nguyễn Thị Thùy Linh (8 tuổi) ở huyện Bố Trạch (Quảng Bình) . Sau khi mẹ và em nhó nhất của hai em đã được sơ tán, bố 2 em đưa Khánh và Linh lên gác xép sát mái nhà rồi ông phải đi sơ tán cha mẹ già ở xóm bên. Khi quay lại, nước lũ chảy xiết không thể về được, đành đứng khóc nhìn về nhà. Khánh và Linh sau một đêm kiệt sức vì kêu gào và kinh hãi với dòng nước lũ bốn bề, sáng hôm sau nghe tiếng cano chạy qua 2 anh em lập tức thò tay vẫy gọi. Bức ảnh đã được truyền qua rất nhiều trang báo, diễn đàn, khiến không ít người rơi nước mắt. |
| Nước lũ vừa rút, hai anh em Khánh và Linh phải ra đồng giăng lưới kiếm cái ăn cho cả nhà - Ảnh: Hữu Khá |
Chính vì vậy, Đại lễ 1000 năm Thăng Long- Hà Nội lẽ ra là một lễ hội tưng bừng cả nước hướng về, không phải của riêng Thủ đô, bỗng trở thành "tâm điểm" của những tranh cãi, phê phán. Có cả bình tĩnh và nóng nảy, có cả thấu tình đạt lý và cực đoan...Giữa lúc đó, tai nạn nổ 2 contennơ pháo ở Sân vận động Quốc gia Mỹ Đình, làm 4 người chết (3 chuyên gia nước ngoài, 1 người VN) và 3 người khác bị thương, khiến dư luận xã hội như quả bóng bị bơm căng tròn tột đỉnh.
Chỉ còn 2 ngày nữa là Kỷ niệm Đại lễ. Chiều thứ 6 ngày 8-10, một tin bất ngờ đồng loạt đăng trên các báo, đã như một cái van làm xẹp bớt quả bóng dư luận xã hội bởi 2 sự kiện vô tình như đối cực. Đó là quyết định của Thành ủy, UBND t/p Hà Nội dừng việc bắn pháo hoa tại 29 điểm trên toàn t/p vào đêm bế mạc Đại lễ 10-10, dành số tiền 5 tỷ đồng giúp đỡ đồng bào các tỉnh miền Trung đang phải gắng sức chống chọi thủy thần.
Trả lời phỏng vấn của p/v VietNamNet, ngày 9-10, ông Phạm Quang Nghị- Bí thư Thành ủy Hà Nội khẳng định: "Dừng bắn pháo hoa vì nghĩa vụ và trách nhiệm".
Dư luận báo chí, đặc biệt các trang mạng cá nhân (blog), sau những bức xúc, những chỉ trích, thậm chí phẫn nộ, cũng đồng loạt hoan nghênh quyết định của Thủ đô Hà Nội, là "sáng suốt, được lòng dân".
Tuy nhiên, cũng không ít ý kiến cho rằng, đó mới chỉ là "cái khôn đi trước rước cái sáng suốt đi sau". Bởi nếu là "cái sáng suốt đi trước" thì lẽ ra, quyết định ấy phải "sáng suốt đi trước" hơn rất nhiều, không đến nỗi phải "đi sau rốt" các trang mạng cá nhân lớn tiếng kiến nghị, mở đầu là blog của trannhương.com.
Thôi thì, dẫu "sáng suốt" hay "khôn ngoan" mà cuối cùng, người dân không phải "một bên cười nụ, một bên khóc thầm", thì điều đó đều là "được" cả.
Chợt nhớ tối qua, VTV1 đưa một sự kiện thời sự nóng hổi và vô cùng hồi hộp của đất nước Chile, thu hút sự quan tâm, lo lắng theo dõi của cả nhân loại. Cuộc giải cứu 33 thợ mỏ bị "chôn sống" khi sự cố sập lò xảy ra suốt gần 70 ngày qua đã thành công mỹ mãn.
Thật cảm động khi được nhìn thấy hình ảnh của Tổng thống Chile luôn có mặt trong cuộc giải cứu thần kỳ, khi ông ôm hôn rất chặt người trưởng ca- người thợ cuối cùng được đưa lên mặt đất. Phát biểu tại buổi chào đón những người thợ được giải cứu, ông nói một câu thấm thía: Cảm ơn tất cả những người thợ mỏ đã "cho chúng tôi" một bài học về tình người!
Ông - vị Tổng thống Chile, quan chức cao cấp nhất một đất nước, đã không coi đó là sự "cứu giúp", mà ngược lại, ông tự cho đã nhận được ở đó một bài học - bài học vì con người!
Phải văn hóa lắm, phải nhân văn lắm, mới có thể nhận chân giá trị của một vị thế lãnh đạo dường ấy, với nhân dân mình. Ông là người được nhận chứ không phải người "ban cho".
Lẽ dĩ nhiên, chẳng người thợ mỏ, chẳng người dân Chile nào lại muốn có một tai họa kiểu đó, để "cho" chính quyền của họ một bài học về tình người. Nhưng sự cố đó đã xảy ra. Tuyệt vời thay, người lãnh đạo một quốc gia, và những vị quan chức cấp cao của quốc gia Chile, đã "thuộc bài" một cách mỹ mãn, đáng trân trọng.
Và cũng chẳng người dân miền Trung nào lại muốn lũ lụt xảy ra để thử thách sự "thuộc bài" của những người lãnh đạo Thủ đô. Nhưng lũ lụt đã xảy ra, và các quan chức chính quyền Thủ đô cũng đã trả được bài, tuy sự "trả bài" có hơi muộn màng.
| Sau khi chạy lũ về... Ảnh Tuổi Trẻ |
"Con sáo lội sông"... và 2 lần hiểm họa
Khi những con lũ lớn ở miền Trung còn chưa kịp rút, thì xã hội lại tiếp tục chứng kiến những hình ảnh xót xa, cũng về chuyện sông nước, cho dù tưởng như đã quá quen thuộc.
Báo Dân trí ngày 8-10-2010 đưa tin: "Không có cầu, hàng ngày người dân và trẻ em thôn Phú Mưa (xã Jơ Ngây, huyện miền núi Đông Giang, Quảng Nam) muốn sang phía bên kia đường quốc lộ ĐT604 phải bơi qua con sông R'lang đang chảy xiết trong mùa nước lũ. Trên khúc sông, hàng chục em học sinh đứng đợi người thân đến đón sau buổi học sáng ngày 7/10.
Anh Alăng Ting cho biết: "Nhiều năm ni rồi, do không có cầu nên người dân chúng tôi muốn làm chi cũng phải bơi sông lớn. Nhiều lần cũng suýt mất mạng nhưng cũng phải liều mình chứ biết làm răng?". Còn theo Bí thư Chi bộ thôn Phú Mưa, ông Alăng Bảy: "Không có cầu, người dân và các em học sinh thôn Phú Mưa đều phải bất chấp tính mạng của mình mỗi lần có việc phải qua lại".
Nhìn tấm ảnh người cha, tay trái cầm cặp sách học sinh giơ lên quá đầu, cùng với túm quần áo, tay phải dắt đứa con gái bé bỏng, trần truồng, mái tóc đuôi gà bết nước "lội sông", mà đau xót quá.
Bỗng liên tưởng ca khúc trữ tình của nhạc sĩ Trần Tiến (Ngẫu hứng sông Hồng): "Con sáo sang sông bạt gió. Con sít thương ai, lội sông, lội sông...tìm ai!".
| Những 'con sáo' đang sang sông, Ảnh: SGGP |
Nhưng những con sáo bé bỏng này đâu có sự lãng mạn, mà chỉ có sự kinh hoàng khi ngây thơ lội sông để...tìm chữ.
Tôi đã lặng đi rất lâu khi nhìn tấm ảnh khiến trĩu nặng con tim. Và tự hỏi, nếu con tôi, cũng phải sống trong hoàn cảnh đó, liệu tôi có đủ can đảm cho con đi học ngày ngày như thế không? Có lẽ không! Tôi xin nhận là kẻ hèn nhát, kẻ phạm Luật phổ cập Giáo dục tiểu học, bởi tôi không thể...
Bởi tôi vẫn luôn nhớ đến vụ tai nạn sông nước đau lòng ở bến đò Chôm Lôm năm nào, đã cướp đi sinh mạng của biết bao bé thơ. Nhớ đến những em bé, cổ quàng khăn đỏ bay phấp phới, ngày ngày treo mình đu dây vượt dòng sông Poko hung dữ, cũng chỉ để đi ...tìm chữ.
Cái con chữ bé nhỏ, bỗng thành tàn nhẫn thế, khi vô tình nó thách thức, nó "đánh đố" biết bao sinh mạng của những con sáo ngây thơ.
Nhưng con chữ vô tri vô giác nó vô tình hay con người có tim, có óc vô tình? Nó vô cảm hay con người vô cảm?
Thú thật, người viết bài này, rất "dị ứng" với câu nói tưởng là khen ngợi của một vị quan chức trước hình ảnh đu dây của trẻ em bên dòng sông PoKô, vì nó... giả dối quá: "Đó là một sự sáng tạo của người dân", khi nhớ tới gương mặt căng thẳng của các em chuẩn bị treo mình vượt sông, mà vô cùng đau đớn, vô cùng phẫn nộ.
Dường như xã hội chúng ta rất hồn nhiên nên rất chóng quên. Rất chóng quên vụ đắm đò Chôm Lôm. Rất chóng quên chiếc đu dây tử thần mong manh treo trên dòng Poko chảy xiết...Nên câu chuyện lội sông R'lang của trẻ em thôn Phú Mưa (xã Jơ Ngây, huyện miền núi Đông Giang, Quảng Nam) lại tiếp diễn.
Sẽ còn biết bao con sáo thơ ngây ngày ngày lội sông...tìm chữ, ở mọi dòng sông trên đất nước này, chưa được báo chí phát hiện?
Sáng tạo là động lực cho xã hội phát triển. Nhưng nhìn những hình ảnh...sáng tạo vượt sông của những người cha, người mẹ thôn Phú Mưa, chắc những người đọc như chúng ta, chẳng ai mong muốn một sự sáng tạo cay cực đó!
Sông nước mùa lũ luôn là hiểm họa với tính mạng con người, đặc biệt với trẻ thơ, nhất là đất nước ta là đất nước của những dòng sông. Nhưng còn có một dòng sông- một hiểm họa còn lớn hơn, đáng sợ hơn- sự vô cảm của con người có trách nhiệm, chảy lạnh lẽo, âm thầm trong những con tim. Ai đó đã nói, một con người mất đi, là nối bất hạnh với cả gia đình. Nhưng niềm tin mất đi, là nỗi bất hạnh với cả một dân tộc.
Xin cả xã hội chúng ta, trong đó có các ông, các bà...từ quan chức đến tận thường dân, trong đó có tôi, có anh, có chị, có các anh, các chị... đừng để cho nỗi bất hạnh đó, ăn mòn.
| Vụ nổ pháo hoa ở Mỹ Đình, Ảnh Kinh tế Nông thôn |
"Không sợ mất...vợ, chỉ sợ mất ...lập trường"
Đó là câu nói nửa đùa, nửa thật và rất hài hước của GS. TSKH Hồ Ngọc Đại, ám chỉ một đời sống tinh thần có thật từng ngự trị trong không ít con người, mà người viết bài này liên tưởng đến, khi đọc bài viết "Cần có những Kim Ngọc mới) của tác giả Đỗ Chí Nghĩa đăng trên VietNamNet ngày 7-10 mới đây, nhân bộ phim Bí thư Tỉnh ủy, đang phát trên VTV1.
Bộ phim được khái quát, được dựng nên từ cuộc đời của một con người có thực, và đã trở thành một nhân vật lịch sử. Đó là ông Kim Ngọc, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú, một người lãnh đạo ở cơ sở, đi đầu trong công cuộc Đổi mới với chủ trương "khoán hộ" (giao ruộng đất cho nông dân). Sau này, chủ trương đó làm cơ sở cho việc ra đời chính sách "Khoán 10", góp phần kích thích sự phát triển nông nghiệp, đem lại lợi ích cho người lao động.
Nhưng cũng chính vì "đi trước thời đại" mà ông Kim Ngọc, con người có cái tên gọi rất đáng quý, lại bị thời đại của ông- của cơ chế quản lý bao cấp, cho "lên bờ xuống ruộng": Bị kiểm điểm, và phải tự phê bình nghiêm túc. Tháng 5 năm 1977, tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phú lần thứ III, ông xin rút khỏi chức Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú. Năm sau, 1978, ông về hưu.
Những năm tháng của thời bao cấp, hình thức kiểm điểm thì nhẹ nhàng, nhưng "bóng ma" của sự kiện đó thật kinh khủng với một con người từng có quyền chức cao cấp như ông. Chắc chắn, nó ám ảnh không ít những cán bộ lãnh đạo khác có đầu óc sắc sảo, có khát vọng đổi mới, muốn tìm kiếm một lối "thoát nghèo" cho dân tộc, nhưng cũng vì thế mà không dám đánh đổi cả thanh danh lẫn "nồi cơm" của gia đình, vợ con, của chính mình.
Bi kịch một dân tộc chậm phát triển thì rất thực, còn cái ám ảnh thì rất "ảo", nhưng lại mang sức nặng ngàn cân!
Vì thế, cho dù hiện nay, cơ chế quản lý xã hội đã đi được những bước dài trong công cuộc Đổi mới, chúng ta vẫn luôn phải đối mặt với một thực tế đáng buồn này: "Nhiều cán bộ được đánh giá là liêm khiết, trong sạch nhưng nhìn kỹ thì hầu như họ không làm gì, không va chạm với ai, chỉ thủ thế, chờ thời... Thái độ "trung dung" ấy rất "ăn điểm" trong bối cảnh cơ chế, chính sách còn nhiều bất cập...Chính cái "trung dung" ấy lại cản trở sự phát triển, khiến mọi việc chùng chình, thiếu dứt khoát và minh bạch".
Và vì thế, "Những người đứng ở "khoảng giữa", chung chung, vô thưởng vô phạt- cái sản phẩm bao cấp nặng nề đó hoá ra vẫn khá phổ biến trong công tác cán bộ hiện nay. Không ít người sống nhàn nhạt, không bản sắc, không chính kiến, nhưng "sống khoẻ" vì "bên nào" cũng cần họ"
Họ - có thể sống khỏe, rất khỏe. Nhưng dân tộc thì yếu, quốc gia thì yếu - bởi sự trì trệ, không phát triển nổi, không ra khỏi cái "bẫy trung bình".
Cũng vì thế, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Vĩnh Phú Kim Ngọc không còn sống, nhưng tên tuổi ông, nhân cách lãnh đạo vì dân của ông, vào lúc này, lại được nhắc nhớ đến, được suy ngẫm, không phải chỉ như một con người cụ thể, mà như một "hiện tượng". Người lãnh đạo dám dũng cảm đổi mới tư duy trì trệ, xơ cứng và bảo thủ của chính mình, để hành động trước đòi hỏi của cộng đồng đói nghèo, tụt hậu.
Từ chủ trương "chui" của một địa phương, biến thành chính sách công khai một quốc gia. Sự vinh danh ông - Huân chương Hồ Chí Minh cao quý được nhà nước truy tặng mới đây là sự ghi nhận đúng đắn.
Chúng ta có thể không có nhiều những con người Kim Ngọc cụ thể, nhưng rất cần có những tư duy và phẩm cách Kim Ngọc trong các quan chức lãnh đạo, trước hết là với ngành mình.
Sự đổi thay số phận một cộng đồng dẫn đến đổi thay số phận một dân tộc, bắt đầu từ sự ý thức và dũng cảm nhìn nhận ra những vật cản trong tư duy của chính mình. Sự đổi thay ấy, vẫn rất cần cả trí và dũng. Trí để sáng suốt nghĩ đúng, hợp quy luật phát triển. Dũng để đủ nghị lực, bản lĩnh vì dân, dấn thân...
Nhưng muốn vậy, xã hội ta cũng cần phải có một không khí sinh hoạt tinh thần mới, văn minh và văn hóa, sòng phẳng và minh bạch. Đó là người có thẩm quyền biết lắng nghe và tôn trọng những ý kiến khác biệt, đừng vội vã "quy chụp" cấp dưới.
Bởi mất vợ, có khi nhiều bác càng ...thích, thích lắm, vì biết đâu sẽ có vợ mới (!). Nhưng mất lập trường là mất... "tất cả". Mà rất hiếm ai có thể chấp nhận mất tất cả, để mà "dấn thân".
Chân lý không phải ở kẻ mạnh, chân lý ở thực tiễn. Câu chuyện "ông Kim Ngọc" là bài học lịch sử hiện đại, nhãn tiền rất đắt giá, sâu sắc, thấm thía.
Nhưng đời nay, có nhiều người dám "dấn thân" như ông Kim Ngọc không? Có nhiều người có cả trí và dũng để vì dân, quên thân không?
"Con đẻ", "con rơi" và câu chuyện "khôn nhà dại chợ"
Cơ chế quản lý thị trường trẻ trung đã thay thế cho cơ chế quản lý bao cấp già lão hơn 20 năm rồi. Nhưng hình như chàng kinh tế thị trường vẫn chưa trưởng thành? Mới đây, ngày 7-10, TS Trần Đình Thiên, Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam trả lời phỏng vấn của VietNamNet với những phát ngôn cực kỳ ấn tượng, lý giải sự "chậm lớn" của "chàng".
TS Trần Đình Thiên cho rằng: "Kinh tế tư nhân ở Việt Nam chưa được đối xử như một động lực tăng trưởng. Có lẽ, điều ấy bắt nguồn từ một định kiến, thiên kiến, một sự "đóng đinh" vào quan niệm về vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước.
Bởi theo TS Trần Đình Thiên, "Doanh nghiệp tư nhân chiếm tới 95% tổng số doanh nghiệp (DN) Việt Nam, nhưng vốn liếng chỉ chiếm có 30% thôi, còn lại, 50% là của khu vực nhà nước và còn lại là khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). 90% số doanh nghiệp tư nhân đó lại là nhỏ và vừa, nhưng là theo tiêu chuẩn Việt Nam. Còn nếu theo chuẩn quốc tế, thì đó là những DN siêu nhỏ, li ti".
Nhìn tổng thể, quy mô như thế chứng tỏ trình độ còn yếu, thậm chí rất yếu. Mặc dù vậy, đóng góp của khu vực tư nhân lại có giá trị rất lớn. Khu vực này tạo ra rất nhiều việc làm....Trong khi đó, khu vực nhà nước chỉ tạo việc làm cho chưa đến 10% lao động. Còn nếu tính số làm việc trong DN nhà nước có lẽ chỉ khoảng 5%"...
Rõ ràng, với cách cư xử như vậy, chỉ có thể nói các DN nhà nước hiện vẫn là con đẻ, các DN tư nhân hiện vẫn là... con rơi. Mà con đẻ thì nó có hư có hỗn, có làm thất thoát đến tồi tệ tiền thuế của dân thì vẫn phải thương, phải cho tiền nuôi dưỡng tiếp...
Cũng chính vì được chiều chuộng, ưu đãi, mà những thằng con đẻ này luôn làm xã hội bất an, thậm chí phẫn nộ. Vì có vụ tham nhũng, ăn cắp nào xảy ra tại các DN tư nhân- con rơi không, hay chỉ xảy ra ở các thằng con đẻ- DN nhà nước?
TS Trần Đình Thiên đã chỉ ra cái cốt lõi của "phương pháp đối xử" nhất bên trọng, nhất bên khinh này. Đó là "Vấn đề cơ chế...Xuất phát từ một cái nhìn thiên kiến từ trước để lại. Đến khi chuyển sang thị trường, giải thích cho tường minh khái niệm "vai trò chủ đạo" này lại không rõ ràng, có khi còn bị né tránh, "kiêng kỵ".
Quan niệm lĩnh vực chủ yếu, ngành nghề ưu tiên, ngành mũi nhọn với vai trò chủ đạo của DNNN lẫn lộn nhau quá, thậm chí, đồng nhất nhau. Kết cục là DNNN cứ đương nhiên như là ngành mũi nhọn, ngành chủ lực. Do đó, được ưu tiên, ưu đãi mà không cần phải biện luận gì thêm về hiệu quả... Cách làm như vậy chưa bảo đảm sự minh bạch về thể chế, cơ chế".
Thế nhưng, hệ lụy không dừng ở đó. Việt Nam chúng ta đã gia nhập WTO, nhưng có những chuyên gia kinh tế cho rằng, trên trường quốc tế, Việt Nam vẫn chưa được công nhận có nền kinh tế thị trường. Mà nếu vậy, nếu vẫn tồn tại sự đối xử bất công kiểu con đẻ, con rơi với các thành phần kinh tế, thì có nước ngoài nào dám mạo hiểm "đầu tư" cho sự "chậm hiểu, chậm lớn" của chàng trai kinh tế thị trường Việt Nam không?
Người viết bài này hồi nhỏ rất hay bị cha mẹ mắng vì cái tội đành hanh bắt nạt chị, bắt bẻ em, nhưng ra chợ mua lần nào cũng bị hố: "Chỉ được cái khôn nhà, dại chợ!"
Hu...hu..."Khôn nhà, dại chợ". Các cụ nói cấm có sai!
"Có kiêng...có lợi"
Ngày 7-10, cũng trên VietNamNet có bài viết: "Bệnh trì trệ khi bầu cử vào mùa", nêu hiện tượng: "Cứ gần đến mùa đại hội đảng, bầu cử quốc hội, hội đồng nhân dân...thì "thời tiết chính trị" nóng dần lên, hầu như nhiều hoạt động trong đời sống kinh tế xã hội bị chậm lại do sự trì trệ của các cơ quan quản lý".
Ôi, ôi. Cái "hiện tượng" này nó "trẻ lâu" thế không biết. Vì nó có từ thời bao cấp, khi mà người viết bài này còn rất non dại. Đến giờ, khuôn mặt người viết bài đã có nhiều "nếp gấp thời gian" thì diện mạo "hiện tượng" này, nó vẫn y nguyên. Kính nể!
Còn nhớ ngày xưa, mỗi lần chuẩn bị bầu bán, thì không khí xã hội nó náo nhiệt lắm. Cứ vào chợ, nhìn các hàng thịt thì biết: Thủ lợn, lòng lợn, chân giò lợn...ê hề, mà thông thường mặt hàng này hàng ngày rất khan hiếm. Thì ngược lại, ở các cơ quan công quyền, không khí làm việc của nhiều vị lại "thủ thế" bấy nhiêu. Họ giống như gái đẻ - yếu nên không dám ra gió. Mà gái đẻ thì như các bọ, các mệ nhà ta luôn dặn: "Có kiêng có lành con ạ"
Y hệt nhà báo Trần Trọng Thức đã viết: "Với các vị cho dù biết chắc chắn mình sẽ được "cơ cấu lại" thì vẫn có tâm lý thủ thế. Vội vàng chi việc ký giấy phép cho dự án này, chương trình nọ, bởi một sơ suất nhỏ có khi mất ghế như chơi. Bởi biết đâu ai đó đang lăm le vị trí của mình và đang chờ một cơ hội để ra tay?
Những vị đang vận động và kỳ vọng vào một vị trí cao hơn thì lại càng án binh bất động, chờ sau bầu cử, mọi chuyện yên ổn rồi thì có muộn màng gì đâu chuyện quyền và lợi, lúc này mà sơ sẩy một chút là hư chuyện.
Không chỉ những người có chức có quyền mà ngay doanh nghiệp cũng có những tính toán. Một doanh nhân kinh doanh bất động sản có tầm cỡ lâu nay đã quá quen với chuyện chạy chọt vậy mà giờ đây cũng phải dè dặt trong chuyện chung chi. Bởi có thể "đường dây" làm ăn sắp tới sẽ có sự đổi thay.".
Nhưng cũng không hẳn chỉ hoàn toàn là sự "kiêng cữ".
Ở một vị thế khác, không khí ấy nó hì hục, hối hả, hoan hỉ, háo hức. Hối hả như nhà báo Trần Trọng Thức viết: "Có biết bao doanh nghiệp hưởng lợi từ sự ưu ái của những quan tham sắp bước ra khỏi "vũ đài chính trị". Tâm lý vét chuyến tàu cuối giúp cho cả hai bên cùng có lợi."
Nhưng dù "bước vào" hay "bước ra", thì 'cái ghế" vẫn luôn là nhân vật trung tâm, là miếng nam châm kỳ diệu. Nó lặng lẽ, lạnh lùng, lầm lì, mà quyền lực vô biên. Nó hút tham vọng của con người không giới hạn. Nó cũng lại chi phối không chỉ hành vi, cách xử thế của một quan chức cụ thể, một doanh nghiệp cụ thể, mà còn toàn bộ tâm lý, sức khỏe của xã hội. Ăn thủ lợn, nhưng phải "thủ thế". Thời thế thế thời thời phải thế. Thì cái chuyện trì trệ trong các cơ quan quản lý là chuyện 'đến hẹn em lại lên", các bác ạ!
Gái đẻ, đẻ ra con thì phải kiêng- có kiêng có lành
Cái ghế, đẻ ra...tiền, thì cũng phải kiêng- có kiêng... có lợi
Chỉ không biết diện mạo cái hiện tượng "thủ thế" này nó trẻ đến bao giờ nhỉ?
.