Thứ Năm, 7 tháng 10, 2010

Tưởng nhớ Đặng Phong, một trí tuệ và một tấm lòng

Giáo sư Đặng Phong - Ảnh tư liệu
Tưởng nhớ Đặng Phong, một trí tuệ và một tấm lòng (Nguyễn Gia Kiểng) (TL 251)

“… Đặng Phong chỉ viết lịch sử kinh tế như là một phần của lịch sử, để trả lại sự thật cho lịch sử, để chuẩn bị viết lịch sử thực sự.…”

Tôi gặp Đặng Phong lần đầu cuối hè 1996, ít lâu sau đại hội 8 của ĐCSVN. Đặng Phong nói về đại hội này và tôi nhận xét anh là người rất có óc khôi hài. Nhận xét này càng rõ hơn sau này, khi chúng tôi thân nhau hơn.

Đặng Phong nhờ một người bạn giới thiệu với tôi sau khi đọc một số bài viết của tôi trên Thông Luận. Khi chúng tôi gặp nhau Đặng Phong cười một cách vui vẻ: "Hay quá nhỉ, tôi cứ tưởng anh phải ngoài 70". Đây là lần duy nhất tôi thấy Đặng Phong cười thành tiếng và nói tương đối lớn. Bình thường Đặng Phong nói nhỏ nhẹ chỉ vừa đủ nghe và có cái cười đặc biệt, tươi nhưng không thành tiếng, ngay sau một câu nói, cái cười tự nhiên nhưng hơi chấm biếm và pha chút khinh bạc. Chỉ vài phút sau khi gặp nhau chúng tôi đã như thân quen từ lâu.

Chúng tôi khám phá ra một cách thích thú là có cùng một chuyên môn, kinh tế, và hơn thế nữa đã từng quan tâm tới một vấn đề cụ thể: giá cả. Đặng Phong đang dạy tại Đại Học Kinh Doanh Công Nghệ (sau này anh làm khoa trưởng kinh tế) và làm phó tổng biên tập tạp chí Giá cả & Thị Trường, anh rất thích thú khi được biết tôi từng làm chủ tịch ủy ban vật giá tại bộ kinh tế miền Nam trước 1975 và cũng từng dạy kinh tế tại Sài Gòn.

Đặng Phong, một trí tuệ, một tấm lòng

Anh cho biết đang viết một cuốn sách về chính sách đổi mới kinh tế và hỏi tôi: "Theo anh thì chính sách đổi mới bắt đầu năm nào?". Tôi đáp: "1979!". Đặng Phong cười đưa tay bắt tay tôi : " Đúng! Chính xác là cuối năm 1978". Rồi anh cụng ly với tôi nói tiếp: "Các ông chuyên gia đều nói là đổi mới kinh tế bắt đầu năm 1986!".

Tôi hỏi Đặng Phong: "Trong bộ chính trị mới có ngôi sao nào sáng không?". Đặng Phong đáp: "Không có sao nào sáng cả, chỉ có sao mờ". Kế tiếp là một câu khôi hài làm tôi phì cười và còn nhớ mãi. Tôi nói rằng đại hội này xui xẻo, vừa bầu xong bộ chính trị thì mất ngay ủy viên trí thức nhất, ông tiến sĩ Nguyễn Đình Tứ, chết đột ngột vì nhồi máu cơ tim. Đặng Phong nói: "Còn xui xèo hơn thế nữa chứ! Một đồng chí đại biểu khác đi chơi gái giữa đại hội bị công an bắt được, Đỗ Mười nổi giận đuổi về. Thế là mất hai ông, một ông nhồi máu cơ tim, một ông nhồi máu cơ chim!". Đặng Phong sẽ còn giỡn mặt tôi như vậy trong tất cả những lần gặp gỡ về sau và mỗi lần chọc quê tôi như vậy anh tỏ ra rất khoái chí. Anh ưa nói đùa, nhưng cái đùa của anh không bao giờ có ác ý.

Hôm đó chúng tôi ăn cơm trưa với nhau gần ba giờ, sau đó còn rủ nhau đi uống cà phê. Mới đầu chúng tôi nói chuyện về kinh tế. Tôi nhận ra là anh có rất nhiều dữ kiện, đúng là một cuốn tự điển sống về lịch sử kinh tế. Trên những diễn biến kinh tế và hậu quả của chúng lên các chính sách chúng tôi gần như đồng ý 100%. Sau đó chính Đặng Phong chuyển câu chuyện qua chính trị. Tôi nhận ra là anh thích nói chuyện chính trị hơn là kinh tế, có lẽ một phần là vì anh thấy không có nhiều điều mới để nói với tôi, nhưng lý do chính là vì Đặng Phong rất quan tâm đến tình hình chính trị, anh theo sát tình hình đảng cộng sản và chăm chú tiên liệu những gì có thể sẩy ra; điều này có lẽ ít người nhận thấy nơi anh.

Lối nhận định chính trị của Đặng Phong không lý thuyết và hàn lâm. Nó có cái cô đọng của một con người nắm vững vấn đề. Thí dụ như về ban lãnh đạo cộng sản sau đại hội 8 anh nói: "Không ổn, không thể duy trì một chế độ chuyên chính với những lãnh tụ mờ nhạt". Tôi hỏi anh : "Như vậy theo anh thì chế độ này còn kéo dài được bao lâu nữa?". Đặng Phong nhìn tôi rồi chậm rãi đáp: "Tôi không biết. Đọc những bài viết của anh thì thấy như là nó sắp mãn phần rồi nhưng tôi không tin như vậy. Nó vô lý, nó vớ vẩn thực đấy nhưng nó vẫn kéo dài, bởi vì những người có thể thay đổi, nghĩa là những người cầm quyền, thì không muốn thay đổi, còn những anh muốn thay đổi thì không dám đấu tranh để thay đổi". Rồi anh nói tiếp: "Hèn cả, ai cũng hèn, tôi cũng hèn!". Thấy anh không vui tôi lái câu chuyện sáng hướng khác. Đặng Phong nói cho tôi nghe về cuộc sống hàng ngày trong nước, không khí trong trường đại học nơi anh giảng dạy và ngược lại hỏi tôi cách làm việc tại các nước phương Tây và những chuyện của miền Nam ngày trước.

Từ đó chúng tôi gặp Đặng Phong khá thường, hầu như mỗi năm một lần. Ngoài ra chúng tôi liên lạc e-mail. Đặng Phong đi nước ngoài khá nhiều trong những chuyến công tác và những lần đi thỉnh giảng tại các trường đại học Mỹ và Châu Âu, và đặc biệt thích nước Pháp. Có lần anh đi công tác ở Cuba và gọi tôi khi tới Paris. Tôi hỏi anh ghé Paris có chuyện gì, anh cười đáp: "Thực ra chẳng có chuyện gì quan trọng bắt buộc phải sang Pháp, chỉ có vài chuyện nhỏ giải quyết qua thư tín cũng được nhưng vẫn muốn ghé Paris gặp anh em uống rượu nói phét chơi, nhất là gặp anh để ăn con cá hấp và uống vang trắng". Đặng Phong thích uống rượu và hình như có cảm tình đặc biệt với rượu vang Pháp. Anh có tửu lượng cao, càng uống càng sáng suốt, nói chuyện vàng vui. Mỗi lần gặp nhau Đặng Phong đều làm tôi ngạc nhiên vì anh luôn luôn có một tác phẩm mới. Sức viết của Đặng Phong thật là phi thường. Riêng hai tập Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam của anh đã dày hơn hai ngàn trang. Các tác phẩm của anh, trên một chục cuốn biên khảo, đều rất phong phú về tài liệu, kèm theo những nhận định chính xác và sắc bén.

Quyển Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam

Một điều có thể quả quyết là từ trước tới nay chưa ai đầu tư nhiều thời giờ và cố gắng cho lịch sử kinh tế Việt Nam bằng anh. Người ta nể sức viết của Đặng Phong nhưng ít ai biết rằng để viết ra những công trình đồ sộ đó anh đã phải bỏ ra một thời giờ nhiều lần lớn hơn để sưu tập tài liệu. Một lần anh nói với tôi trong lúc nhâm nhi một ly Bordeaux: "Thời giờ bỏ ra tìm và đọc tài liệu gấp mười lần thời giờ ngồi viết". Như thế không có nghĩa là Đặng Phong ham sưu tập hơn viết. Đặng Phong mê viết và chỉ sưu tập để viết. Anh trước hết là một nhà văn, viết đối với anh là một nghệ thuật và một thú vui. Có lần anh gửi cho tôi lời tựa dự định cho một cuốn sách sắp in để hỏi ý kiến. Đó không phải là một bản đánh máy mà là bản chụp của lời tựa viết tay. Đặng Phong không viết từng hàng từ trên xuống dưới mà viết theo cách riêng của anh. Nó gồm những chiếc bong bóng, nối với nhau bằng những mũi tên, trong mỗi bong bóng là một đoạn văn. Chữ viết rất đẹp, những chiếc bong bóng cũng rất thẩm mỹ, dù chưa phải là bản chót vì có nhiều gạch xóa và thêm bớt. Tôi có thể tưởng tượng ra thú vui của Đặng Phong khi viết. Đặng Phong sử dụng tiếng Việt một cách rất chính xác và duyên dáng, đây là điều rất hiếm có nơi những tác giả Việt Nam, kể cả nhiều nhà văn có tiếng. Viết về lịch sử kinh tế Việt Nam không ai có thể bằng được Đặng Phong. Anh nắm vững lịch sử kinh tế Việt Nam đến độ bất cứ một sự kiện kinh tế ở giai đoạn nào anh cũng có thể đặt ngay vào logic toàn cảnh của nó. Nói chuyện kinh tế với anh là một niềm vui.
Tuy vậy càng về sau, trong những lần gặp mặt cũng như trong trao đổi thư tín và điện thoại, chúng tôi càng ít nói chuyện về kinh tế. Lý do là vì chúng tôi đồng ý với nhau gần như hoàn toàn nên chẳng còn gì để thảo luận; nhưng còn một lý do khác mà có lẽ không ai biết: Đặng Phong không thích kinh tế như người ta có thể tưởng, anh thích chính trị hơn nhiều.

Nhưng tại sao Đặng Phong lại bỏ thì giờ và công sức sưu tập tài liệu kinh tế như vậy, kể cả những tài liệu không còn một giá trị thời sự nào, và thực ra cũng không hề có một giá trị kinh tế nào ngay khi chúng xuất hiện? Lý do hiển nhiên là nghề nghiệp, Đặng Phong là giáo sư kinh tế, hơn thế nữa còn là trưởng khoa kinh tế, anh cũng làm việc cho Viện Kinh Tế Việt Nam. Nhưng đó không phải là lý do chính. Lý do chính là danh nghĩa "nghiên cứu lịch sử kinh tế" cho phép anh tìm kiếm một cách dễ dàng những tài liệu được giấu giếm một cách cẩn mật và cũng cho phép anh viết và công bố những điều cấm kỵ đối với người khác.

Các cấp lãnh đạo cộng sản không quan tâm tới lịch sử kinh tế. Đó là một môn chán và vô ích đối với họ. Công an cũng không quan tâm. Sách của Đặng Phong vì thế không bị cấm. Anh hầu như được tự do, sách của anh chứa đựng những điều không thể tìm thấy nơi khác. Điều mà Đặng Phong thực sự tìm để công bố là lịch sử cận đại. Lịch sử kinh tế chỉ là một lý cớ. Thí dụ, chính anh đã đưa ra một thống kê đầy đủ và chi tiết về đợt Cải Cách Ruộng Đất, trong đó có con số kinh khủng 172.008 nạn nhân. Đó là một cáo trạng. Khi đưa tặng tôi bộ Lịch Sử Kinh Tế Việt Nam Đặng Phong nói: "Trước hết phải đọc chương 3, những chương khác bao giờ có thì giờ thì đọc, mà không đọc cũng không sao vì chỉ có tác dụng tăng cường những nhận định mà anh em mình đã có rồi". Chương 3 chính là chương nói về cuộc Cải Cách Ruộng Đất. Trong cuốn 5 Đường Mòn Hồ Chí Minh xuất bản gần đây Đặng Phong cũng đã phá vỡ huyền thoại lấy "tầm vông vạt nhọn" để kháng chiến chống xâm lăng, lấy chính nghĩa, nội lực dân tộc, quyết tâm và mưu trí để đánh thắng một ngụy quyền được Mỹ cung cấp đủ mọi phương tiện. Anh đưa ra một thống kê chi tiết về các nguồn viện trợ khổng lồ của khối cộng sản cho Hà Nội, trong đó có số lượng hơn bốn triệu khẩu súng cá nhân được chuyển từ Bắc vào Nam theo đường mòn Hồ Chí Minh. Những tài liệu khác trong cuốn sách này cũng cho thấy những phương tiện áp đảo, quân sự cũng như tài chính, của Hà Nội so với Sài Gòn trong những năm cuối cùng. Mọi người đọc đều thấy rõ đây chỉ là một cuộc nội chiến giữa hai phe được các thế lực bên ngoài yểm trợ và sau cùng phe được ngoại bang yểm trợ tận tình đã thắng phe bị đồng minh bỏ rơi. Đặng Phong chỉ viết lịch sử kinh tế như là một phần của lịch sử, để trả lại sự thật cho lịch sử, để chuẩn bị viết lịch sử thực sự.

Trong những trao đổi về sau Đặng Phong nói rất nhiều về chính trị. Anh có niềm tin rằng chế độ chính trị phải thay đổi như một bắt buộc của lịch sử. Chúng tôi chia sẻ với nhau nhận định rằng các dân tộc mà chế độ chính trị không thích nghi với đà tiến hóa, nghĩa là lịch sử nhân loại, sẽ không thể tiếp tục tồn tại, và chúng ta là một trong những dân tộc đang gặp thách đố sống còn đó. Một lần anh hỏi tôi : "Nếu lịch sử thế giới không phải là đấu tranh giai cấp như Marx nói thì là gì?". Tôi đáp rằng tôi không thích những khẳng định kiểu đó, lịch sử phức tạp hơn nhiều, nhưng nếu phải tóm tắt một cách thật giản đơn lịch sử thế giới thì tôi nghĩ đó là cuộc hành trình của con người về tự do, và vì cho tới khi tìm được một công thức mới hay hơn dân chủ là phương thức tổ chức phù hợp nhất để bảo đảm tự do cho nên cũng có thể nói lịch sử là cuộc hành trình của các dân tộc về dân chủ. Đặng Phong gật đầu đưa tay bắt tay tôi. Anh có cách rất đặc biệt để bày tỏ sự đồng tình là cười và bắt tay.

Một lần tôi tiễn anh ra phi trường Charles de Gaulle để về Việt Nam. Chúng tôi tới sớm và ăn cơm trưa với nhau tại phi trường để có thời giờ nói chuyện. Anh hỏi tôi về Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên. Thấy anh có vẻ tán thành tôi hỏi: "Thế anh Phong có bằng lòng nhập bọn với chúng tôi không?". Đặng Phong trả lời bằng nụ cười thân ái và đưa tay bắt tay tôi. Chúng tôi rót rượu đầy ly và uống cạn. Đặng Phong nói: "Phải quy tụ được anh em trong mọi môn ngành. Dân chủ đa nguyên thì ai cũng phải đồng ý rồi nhưng điều cốt lõi là phải thực hiện cho được hòa giải và hòa hợp dân tộc để chuyển hóa về dân chủ một cách hòa bình, hợp tình hợp lý, nếu không thì không có tương lai". Từ đó chúng tôi càng thân nhau hơn.

Về sau này cuộc sống của trí thức trong nước, nhất là những người có một vị trí nào đó trong xã hội như anh, đã được cải thiện nhiều, tuy vậy cá nhân Đặng Phong vẫn sống một cách rất thanh đạm. Anh cho tôi biết là thu nhập của anh trên dưới 1500 đô la mỗi tháng, anh có thể kiếm nhiều tiền hơn nếu chịu đảm nhận những công trình nghiên cứu đầu tư nhưng anh dành thì giờ để đọc và viết sách. Một người bạn tôi về Hà Nội nghiên cứu thuật lại cho tôi hay là anh ta rất ngạc nhiên khi Đặng Phong ăn mặc xuềnh xoàng đi một chiếc xe gắn máy cũ đến gặp anh ta. Đặng Phong sống như một người Việt Nam trung bình. Khi sang Pháp anh luôn luôn ở nhà một người bạn chứ không ở khách sạn. Lần cuối tôi gặp và ăn cơm trưa với anh tại nhà cụ Hoàng Khoa Khôi, anh cho tôi ăn món chả cá đem từ Việt Nam qua.

Đặng Phong là thế. Anh không quan tâm tới danh vọng, hình thức và tiện nghi. Anh sống nhiều bằng nội tâm; hạnh phúc của anh là được uống rượu và chuyện trò với những người hợp ý. Đặng Phong không có nhiều bạn, anh chỉ có những người bạn thân. Một lần tôi hỏi anh về một số trí thức tên tuổi trong nước, Đặng Phong đáp là anh không quen biết họ và cũng không muốn quen vì không thấy gặp họ có ich lợi gì cho những việc anh đang làm. Như thế phải chăng là mâu thuẫn với ý kiến của anh là phải qui tụ anh em thuộc mọi môn ngành? Đặng Phong nghĩ là họ không thực sự muốn đấu tranh để thay đổi, họ chỉ nói ra những điều có vẻ phản kháng vì đó là những điều đúng và có nói ra cũng không hại gì; họ bon chen và anh không thích bon chen.

Còn những người đối lập thực sự và trực diện? Đặng Phong cũng không có nhu cầu gặp họ, anh không phải là người móc nối và tổ chức, anh đóng góp trong cương vị của một nhà nghiên cứu. Và quả là Đặng Phong đã đóng góp cho cuộc vận động dân chủ một cách rất hiệu quả trong cương vị của một học giả. Tất cả mọi tác phẩm của anh đều là những bản cáo trạng gay gắt đối với những sai lầm của chế độ và đều khiến người đọc hiểu rằng những sai lầm đó đã xảy ra vì không có dân chủ. Chúng càng có tác dụng mạnh hơn bởi đó là những tác phẩm do một cơ quan nhà nước, Viện Kinh Tế Việt Nam, xuất bản chứ không phải do "những phần tử phản động". Đặng Phong đã đóng góp nhiều lắm. Những năm gần đây anh còn tìm được một cách đóng góp khác. Không hiểu bằng cách nào anh trở thành rất thân với ông Võ Văn Kiệt. Anh giải thích: "Hắn có tiếng nói và muốn nói, mình có những điều cần nói nhưng khó nói và nếu nói được cũng không có tác dụng bằng nếu hắn nói. Đó là một hợp đồng". Ít ai biết rằng những bài viết và nói trong những năm cuối đời của ông Kiệt đều là của Đặng Phong. Anh có gửi cho tôi xem trước khi chúng được đưa ra trước dư luận.

Đặng Phong muốn viết sử, anh mê môn sử và viết lịch sử kinh tế chỉ để chuẩn bị viết sử. Cũng có thể anh đã bắt đầu viết từ lâu rồi. Hè 2008 anh rủ tôi viết chung với anh bộ sử này. Dĩ nhiên là tôi nhận lời ngay vì tôi rất tán thành quan điểm về lịch sử của anh. Đặng Phong phê phán các sử gia Việt Nam là quá tập trung vào các vua chúa và Đảng; theo anh những chuyện dân gian, những gia phả, những phong tục tâp quán, ca dao tục ngữ phải được coi là nguồn sử liệu quan trọng. Nói là "viết chung" nhưng thực ra anh viết hết, tôi chỉ được phân công viết phần tổng luận về lịch sử Việt Nam, nghĩa là cuốn đầu, khoảng 100 trang.

Tinh thần hòa giải

Bẵng đi mấy tháng liền không có tin anh, thư tôi gửi đi không có hồi âm. Rồi một hôm nhân được tin xét đánh: Đặng Phong báo tin cho tôi là anh bị ung thư, bác sĩ Việt Nam cho là không cứu chữa được nữa, anh phải sang Trung Quốc điều trị bằng phương pháp phối hợp tây y và đông y, đó là lý do khiến mấy tháng liền anh bặt tin. Anh có vẻ lạc quan, bác sĩ Trung Quốc nói là có nhiều hy vọng qua khỏi. Tôi cố chia sẻ sự lạc quan của anh nhưng trong thâm tâm tôi rất lo ngại. Đầu năm nay Đặng Phong thông báo là sẽ sang gặp tôi vào tháng 7. Anh sẽ ở nhà tôi hai tuần và muốn tôi hướng dẫn thăm lại một vài địa điểm đặc biệt tại vùng Paris, rồi sau đó chúng tôi sẽ ngao du châu Âu bằng xe hơi và đi thăm người con gái anh ở Bắc Âu. Anh nói :"Chúng mình sẽ có đủ thời giờ để thảo luận về bộ sử". Và anh thêm một câu khiến tôi suy nghĩ: "Nhân tiện cũng báo để anh biết tôi vừa bán căn nhà ở làng Yên Phụ được 300.000 USD nên bây giờ rất thoải mái về tài chính, chúng ta không cần phải tiết kiệm gì cả trong chuyến du lịch này". Ba trăm ngàn đô la là một số tiền đáng kể nhưng cũng không phải là một số tiền lớn, nó chỉ lớn đối với một người nghĩ rằng mình không còn nhiều thời gian để tiêu xài. Có lẽ Đặng Phong cũng không tin lắm rằng anh sẽ qua khỏi. Có một cái gì đó khiến tôi lo âu rằng chuyến du lịch Châu Âu này sẽ không thực hiện được. Tuy vậy tôi vẫn sắp xếp như nó sẽ có, những nơi chúng tôi sẽ đi qua, những người bạn chúng tôi sẽ gặp, những gì chúng tôi sẽ bàn với nhau dọc đường về bộ sử.

Rồi đến đầu tháng 6 Đặng Phong gửi thư cho tôi biết là anh không thể qua Châu Âu. Bác sĩ cho biết là bệnh tình của anh đòi hỏi một giai đoạn điều trị đặc biệt. Đặng Phong có một ý kiến khác là tôi về Việt Nam gặp anh. Chuyện tôi về Việt Nam từ lâu đã là ý kiến của Đặng Phong, anh đã vận động mấy lần nhưng đều không kết quả. Chính quyền chỉ đồng ý để tôi về thăm quê hương nhưng không kèm theo những đảm bảo mà một người hoạt động chính trị đối lập như tôi cần có khi về nước. Lần này thì khác. Đặng Phong cho biết đã gặp những người bạn –"những người đang cầm quyền chứ không phải những người đã về hưu hay chỉ quen biết những người cầm quyền như tôi", Đặng Phong nhấn mạnh- và họ đã chấp nhận để tôi về nước sau khi nghe anh trình bày lý do. Đặng Phong liệt kê những điều kiện của chuyến về nước này. Nói chung là khá dễ dãi nhưng vẫn có những điều phải nói lại cho rõ, Đặng Phong lại phải dàn xếp tiếp. Công việc đang tiến hành tuy chậm nhưng khả quan thì anh đột ngột cho tôi biết là anh phải nhập viện vì bệnh tình biến chuyển. Tự nhiên tôi có linh cảm là sẽ không gặp được anh nữa. Rồi tôi nhân được tin của thân nhân cho biết anh đã qua đời. Trong đám tang anh có một vòng hoa với dòng chữ "một người bạn ở xa".

Sau khi Đặng Phong mất đã chỉ có rất ít bài viết về anh và các tác giả cũng không tỏ ra biết rõ Đặng Phong. Anh là một người ít ai biết đến, có thể ở Việt Nam người ta cũng không đánh giá cao Đặng Phong vì không biết được giá trị thực của anh. Anh không phải là một người nổi tiếng và cũng không tìm cách để được dư luận biết đến.

Tôi hỏi người thân của Đặng Phong nét đậm nhất của anh là gì và được trả lời đó là tinh thần hòa giải dân tộc. Đúng như thế. Đặng Phong là người chủ trương hòa giải dân tộc ngay từ đầu, khi nhiều người còn huênh hoang trong men chiến thắng và nhiều người khác còn điên cuồng trong thù hận, và anh đã liên tục đóng góp một cách tận tình và quả quyết cho lập trường hòa giải và hoà hợp dân tộc. Đó cũng là một trong những lý do chính khiến chúng tôi thân nhau.

Nhưng Đặng Phong không phải chỉ là thế. Dưới một bề ngoài giản dị xuềnh xoàng anh là một học giả lớn và trí thức lớn. Những tác phẩm anh viết ra tuy rất ít người đọc nhưng là cả một kho tàng tư liệu quý báu cho những ai còn quan tâm đến cái trở thảnh của đất nước và dân tộc này, một đất nước và một dân tộc mà anh đã yêu một cách tha thiết. Anh đã phân biệt được cái chính và cái phụ, cái tạm bợ và cái lâu dài, sự cao cả thực sự và sự hào nhoáng. Anh đã không chấp nhận làm một sản phẩm của thời thế mà đã đóng góp thay đổi thời thế. Anh đã đến với đất nước này và đã ra đi sau khi đã cố để lại một đất nước lành mạnh hơn, đã sống thực và đã sống xứng đáng. Chúng ta vừa mất một trí tuệ và một tấm lòng.
Nguyễn Gia Kiểng
Thông Luận số 251, tháng 10-2010

© Thông Luận 2010

"Sử gia" Đặng Phong và thông điệp về tư duy... (TVN 6-9-10) Mỗi con người chỉ có một cuộc đời để sống. Đặng Phong đã sống như ông muốn, khi cặm cụi bên bàn phím như một kẻ nô lệ của chữ nghĩa, để hiểu thấu chiều sâu và sức đột phá của hai chữ "tư duy", khi như một khách lãng du trên những chân trời xứ lạ, và giờ, ông trở về Đất Mẹ như một đứa con đã tròn vai bổn phận

Hồi ức của giáo sư Chu Hảo về sử gia kinh tế Đặng Phong Tuan Viet Nam

"Một người làm nghiên cứu khoa học, dù có nghiêm chỉnh, sâu sắc đến đâu mà thiếu cảm thụ hài hước thì mất đi rất nhiều thú vị. GS Đặng Phong không những uyên thâm về mặt khoa học mà còn rất dí dỏm"- GS Chu Hảo đã nói về sử gia kinh tế Đặng Phong như vậy.

Đặng Phong: Nói chuyện với các bạn trẻ -- 11/2008 (viet-studies 22-8-10) -- Lê Ngọc Sơn ghi lại ◄◄

Cầu nối Đặng Phong (PLTP 22-8-10)

Nhà Kinh tế học Đặng Phong qua đời talawas blog

Nhà Kinh tế học Đặng Phong qua đời vào ngày 20.8.2010. Theo Tuổi trẻ,

“GS Đặng Phong sinh năm 1939 tại Hà Tây (cũ), là tác giả của nhiều công trình nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam, đặc biệt ông đã dày công nghiên cứu về thời kỳ bao cấp, về chặng đường đầu của sự nghiệp đổi mới kinh tế ở Việt Nam, về tư duy kinh tế và những cuộc “phá rào” về kinh tế trong khoảng thời gian 15 năm sau ngày thống nhất đất nước.”

Sau đây là một số bài liên quan đến Giáo sư Đặng Phong:

Hai cuốn sách kinh tế của Đặng Phong: Tư duy kinh tế thời bao cấp và phá rào, “những bài học lịch sử từ những mũi đột phá”

Đặng Phong – “pho sử sống” kinh tế đi vào lịch sử

Di sản của Giáo sư Đặng Phong

Vĩnh biệt ‘một tư duy kinh tế Việt Nam’”

Cầu nối Đặng Phong

Giai đoạn trăn trở và khai phá

Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay

Đặng Phong - "pho sử sống" kinh tế đi vào lịch sử (VNN 21-8-10) -- Bài dài của Phan Thế Hải. Di sản của GS Đặng Phong (BBC 21-8-10) -- Bài Mai Kim Đỉnh. Đọc thêm, những cảm nhận và nhiều hình của một bạn trẻ (Lê Ngọc Sơn): Vĩnh biệt một "tư duy kinh tế Việt Nam" (viet-studies)

Sử gia kinh tế hàng đầu Đặng Phong qua đời

Giáo sư Đặng Phong vừa qua đời sáng sớm hôm nay (20/8) tại nhà riêng, hưởng thọ 73 tuổi.

Tưởng nhớ Đặng Phong: Đọc lại bài Tư sản hôm qua, hữu sản hôm nay (Ngườì Đô Thị 5/2008)

Tác giả “Những cuộc phá rào trong kinh tế” qua đời

TT - Sáng sớm 20-8, chị Đặng Lệ Chi - con gái GS Đặng Phong - báo tin GS đã qua đời lúc 1g45 cùng ngày sau nhiều tháng lâm trọng bệnh. Giáo sư Đặng Phong qua đời (TT 20-8-10)--

GS Đặng Phong sinh năm 1939 tại Hà Tây (cũ), tốt nghiệp khoa lịch sử Đại học Hà Nội năm 1960, tốt nghiệp Đại học Kinh tế quốc dân năm 1964, tốt nghiệp khóa đào tạo nâng cao Học viện Kinh tế Địa Trung Hải (IAM, Montpellier, Pháp) năm 1991.

GS Đặng Phong được nhiều nhà kinh tế đánh giá là một “cây cổ thụ” trong giới nghiên cứu về lịch sử kinh tế Việt Nam. Trong những công trình nghiên cứu được xuất bản ở những năm cuối đời của ông, nổi bật là các công trình về giai đoạn lịch sử kinh tế Việt Nam 15 năm sau ngày đất nước thống nhất. Đó là những công trình đã được xuất bản như Tư duy kinh tế Việt Nam 1975-1989, Phá rào trong kinh tế vào đêm trước đổi mới”...Không đơn thuần như những cuốn sách sử kinh tế khác, bước vào thế giới nghiên cứu của GS Đặng Phong, bạn đọc sẽ thấy tác giả không những đã dày công nghiên cứu, sưu tầm được khối tư liệu khổng lồ, mà còn tiếp cận được với rất nhiều nhân vật từng giữ những cương vị cấp cao của Đảng và Chính phủ, cũng như đông đảo các chuyên gia từng đảm đương trách nhiệm cố vấn, trợ lý của tổng bí thư, chủ tịch nước, thủ tướng... Qua sự tiếp cận của mình, GS Đặng Phong đã dựng lên được bức tranh lịch sử kinh tế đầy sinh động về những năm tháng đã qua.

Nhiều công trình được GS hoàn thiện trên giường bệnh, trong đó có thể kể đến nghiên cứu Lịch sử ngàn năm Thăng Long qua một đường phố: Đường Lê Duẩn ở Hà Nội, dự kiến được xuất bản trong dịp kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long, nhưng chưa kịp thì GS đã đi xa... GS Đặng Phong còn dự định thực hiện công trình nghiên cứu lịch sử kinh tế VN từ thời nguyên thủy đến nay, trong đó nhiều thời kỳ lịch sử kinh tế đã được ông hoặc viết xong hoặc lên đề cương chi tiết.

Ngoài sự nghiệp nghiên cứu lịch sử kinh tế Việt Nam, GS Đặng Phong đã kinh qua nhiều công việc như: ủy viên Hội đồng khoa học, trưởng Phòng lịch sử kinh tế Viện Kinh tế Việt Nam, chủ nhiệm khoa kinh tế Trường đại học Kinh doanh và công nghệ Hà Nội... GS Đặng Phong được mời thỉnh giảng từ nhiều đại học như Đại học Aix-en-Provence (2007), Đại học Cambridge (2005), Đại học Quốc gia Monterey Bay (California, 1997)...

Trong số những tác phẩm đã được xuất bản của GS Đặng Phong có: So sánh đổi mới kinh tế Việt Nam và cải cách kinh tế Trung Quốc (cùng nhiều tác giả, xuất bản 2003), Long An - mũi đột phá vào kinh tế thị trường (cùng Ngọc Thanh, xuất bản 2006), Những bước đột phá của An Giang trên con đường đổi mới kinh tế (xuất bản 2006), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1955-1975 (xuất bản 2005), Kinh tế miền Nam 1954-1975 (xuất bản 2004), Lịch sử Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam 1963-2003 (xuất bản 2003), Lịch sử kinh tế Việt Nam 1945-1954 (xuất bản 2002), 21 năm viện trợ Mỹ ở Việt Nam (xuất bản 1991), Kinh tế thời nguyên thủy ở Việt Nam (xuất bản 1970)...

Ngoài ra GS Đặng Phong còn nhiều công trình đang nghiên cứu, dự định xuất bản như Tư duy kinh tế Việt Nam 1990-2005...

------------------
Đặng Phong
Lời tòa soạn Diễn Đàn: Cố tổng bí thư đảng Cộng sản Việt Nam Lê Duẩn hiển nhiên là một nhân vật đã để lại dấu ấn lớn trong lịch sử Việt Nam nửa thế kỉ vừa qua. Nhưng người ta vẫn chưa thấy được - cả trong và ngoài nước - một cuốn sách, thậm chí một bài viết, nghiên cứu nghiêm chỉnh (không chỉ để ngợi ca hay chê bai một chiều) về ông. Bài viết của tác giả Đặng Phong mà chúng tôi xin giới thiệu dưới đây có lẽ là bài báo duy nhất được đăng trong nước nhân dịp kỉ niệm 100 năm ngày sinh của ông (7.4.1907) không rơi vào loại bài "lược sử các vị thánh (hay quỷ)". Từ một tư liệu tìm được trong văn khố, tác giả nêu ra được một số câu hỏi cho nhà nghiên cứu. Tất nhiên, người đọc có thể không chia sẻ những phân tích của ông, và đặt ra những câu hỏi khác, nhưng đó cũng là chuyện bình thường...

Trong số các tài liệu tôi tìm thấy trong Phòng lưu trữ của Viện Kinh tế Việt Nam, có một văn bản mang tên: “Đồng chí Lê Duẩn phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24”. Thời điểm được ghi là: 13/08/1975. Tài liệu được in roneo, dày 14 trang. Căn cứ theo lời văn thì thấy rằng đây là bản gỡ băng trực tiếp từ một bài nói của ông, nhằm chuẩn bị cho những cuộc thảo luận tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24. Câu đầu tiên của bài phát biểu là: “Tôi phát biểu một số ý kiến để các đ/c tham khảo trước khi đi vào thảo luận…”.

Đây là một tài liệu rất thú vị, vì qua đó có thể thấy được những suy nghĩ của nguyên Bí thư thứ nhất Lê Duẩn vào những ngày tháng đầu tiên sau khi giải phóng Miền Nam.

Trong Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, năm 1975, không thấy có tài liệu này. Có lẽ vì đó là bài văn nói, mà muốn chuyển thành văn viết thì tất nhiên phải được chính ông xem lại. Nhưng đến khi chuẩn bị cho Văn kiện Đảng toàn tập thì ông đã không còn nữa, mà không ai có thể làm thay ông việc này. Vì vậy trong Văn kiện Đảng Toàn tập năm 1975 (xuất bản năm 2001) chỉ có Báo cáo của Bộ Chính trị trước Hội nghị Trung ương lần thứ 24 và sau đó là có Nghị quyết của Hội nghị, được ghi là: Ngày 29/09/1975. Như vậy bài phát biểu kể trên có lẽ chỉ là bài nói có tính chất gợi ý của ông trước khi đi vào thảo luận tại Hội nghi TƯ 24.

Vì đây là bài phát biểu trực tiếp và được gỡ băng trung thực với văn nói, nên nó chưa được “hoàn chỉnh” về mặt văn vẻ. Nhưng có lẽ chính vì thế nó lại có ưu điểm là phản ảnh khá trung thực những suy nghĩ rất tức thì và cũng rất bộc trực của bản thân ông sau những ngày trực tiếp quan sát thực tế ở Miền Nam.

Điều rất có ý nghĩa đối với giới nghiên cứu lịch sử hiện nay là: Khi xem xét những phân tích và đánh giá của Lê Duẩn về tình hình Miền Nam và những chủ trương của ông đối với kinh tế cả nước sau giải phóng, chúng ta thấy rằng nó có nhiều khía cạnh hơi khác so với những văn kiện chính thức của Hội nghị Trung ương 24 hơn một tháng sau đó và càng không giống với những văn kiện chính thức của Đại hội Đảng lần thứ IV/1976 hơn 1 năm sau đó. Ngược lại, nó gần gũi hơn với sự đánh giá tình hình kinh tế của Đại hội Đảng lần thứ VI/1986, trong đó chứa đựng rất nhiều những cách nghĩ về một nền kinh tế thị trường, một nền kinh tế mở, một nền kinh tế nhiều thành phần, nhấn mạnh tới việc sử dụng tối đa những tiềm lực của mọi thành phần kinh tế để phát triển…

Hiện nay, chúng tôi chưa có điều kiện để tìm hiểu kỹ hoàn cảnh hình thành những tư duy đó của ông và cũng chưa có điều kiện để tìm hiểu những lý do nào đã làm cho những tư tưởng này của ông không được quán triệt đầy đủ, hoặc đã được điều chỉnh, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, mà phải tới gần 10 năm sau đó nó mới đi vào đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước.

Như chúng ta biết, Lê Duẩn là con người mà nhiều người cho là “suốt đời suy nghĩ, tìm tòi”. Đúng. Ông có bản tính không thoả mãn với những gì cũ kỹ, có sẵn. Trong tư duy của ông luôn thể hiện những cố gắng cao độ trong sự vận động tìm tòi, phát hiện, phủ định cái cũ, nhiều khi phủ định chính mình, nhằm mở ra những hướng mới (tất nhiên cái mới và cái đúng không phải luôn luôn đồng nghĩa)…

Tài liệu ngắn ngủi này phản ảnh một cung đoạn rất sắc nét trong những dòng suy nghĩ của Lê Duẩn về những vấn đề kinh tế Việt Nam.

Có thể nêu lên mấy suy nghĩ rất quan trọng sau đây trong bài phát biểu của ông:

Thứ nhất, ông thẳng thắn nói lên một sự thật tuy rất bình thường, thậm chí là tất yếu, nhưng không phải ai cũng có thể nói ra: Ông cho rằng trước một thực tế rất mới mẻ của Miền Nam sau ngày giải phóng, thì những cách suy nghĩ, những cách đánh giá, cách phân tích, cách lựa chọn giải pháp của mỗi người tất nhiên không thể một lúc giống nhau. Sự khác nhau đó là bình thường. Đó là phép biện chứng của nhận thức, của tư duy. Nhưng từ lâu chúng ta có thói quen ngại nói ra những cái gì là không giống nhau trong suy nghĩ. Từ cái ngại đó mà đã có thói quen ngộ nhận hoặc cố tình tạo ra ngộ nhận rằng luôn luôn có sự nhất trí cao giữa những bộ óc chủ chốt trong những vấn đề chủ yếu của đất nước. Nhưng sự nhất trí như thế không bao giờ là cái “tự thân”, mà chỉ có thể là kết quả của những gặp gỡ, đối thoại, thuyết phục và điều chỉnh giữa những ý kiến khác nhau. Lê Duẩn đã nói được điều đó ngay trong đoạn mở đầu của bài phát biểu:

Chúng ta xưa nay tưởng đã nhất trí với nhau, nhưng thực ra chưa phải nhất trí lắm đâu… Chính những cái gì rất chung và rất quan trọng đó mà ta nắm giống nhau, thì khi đi vào cụ thể càng dễ giống nhau hơn”. [1]

Thứ hai, ngay sau khi giải phóng Miền Nam khoảng 2 tuần, Lê Duẩn đã trực tiếp vào Nam quan sát và tìm hiểu tình hình. Chỉ trong một thời gian rất ngắn, ông đã có một cách nhìn khá độc lập về thực trạng kinh tế Miền Nam, không lệ thuộc vào những khung lý thuyết có sẵn. Ông đánh giá khá tích cực về hàng loạt ưu điểm của nền kinh tế thị trường ở Miền Nam. Chẳng hạn: Ông không quá nhấn mạnh vào cái gọi là chủ nghĩa thực dân mới với những tính chất ăn bám, mục nát, phồn vinh giả tạo, với những bản chất phản động của giai cấp tư sản mại bản… Ngược lại ông lưu ý tới những sự thật không thể chối cãi được là cách làm ăn có hiệu quả của kinh tế tư nhân, kể cả kinh tế tư bản, với năng suất lao động cao hơn, dù là bóc lột thì người bị bóc lột cũng có đời sống khá hơn…. Ông nói:

Tại sao chúng nó là tư bản, chúng nó bóc lột người ta dữ, mà năng suất của nó vẫn cao. Vì nó là tư bản nhưng nó đi theo quy luật của nó, nó bóc lột nhưng mà vẫn tiến lên… Bây giờ nông dân ở miền Nam họ làm rất khá, mà nông dân thì phần nào hoá tư sản rồi”.

Thứ ba, qua thực tế của mô hình kinh tế Miền Nam, ông đã so sánh trở lại với mô hình kinh tế Miền Bắc và ông thẳng thắn thừa nhận nhiều nhược điểm của mô hình kinh tế ở Miền Bắc trong thời kỳ xây dựng CNXH. Ông nói:

Xưa nay ở miền Bắc chúng ta có một số sai lầm, là vì chúng ta đã đi sai quy luật… Nay có được miền Nam là để chúng ta thấy lại cho rõ hơn nữa. Còn ta chủ nghĩa xã hội nhưng chưa đi đúng quy luật xã hội chủ nghĩa của ta, đúng mặt này nhưng không đúng mặt kia, cho nên ta cứ chập chờn mãi, chòng chành mãi.” [2]

Tại sao người thợ ở ngoài này không bằng người thợ ở trong kia? Mình trả lời làm sao? Anh là chủ nghĩa xã hội mà tại sao anh lại không được bằng trong kia, anh trả lời làm sao? Đảng ta phải có trách nhiệm về những điều sai như vậy. Có thể vì chiến tranh, vì nhiều thứ, tôi đồng tình như vậy, nhưng trong đó cũng có khuyết điểm của mình chứ không phải không có khuyết điểm đâu” [3].

Thứ tư, từ cách nhìn nhận về kinh tế Miền Nam và nhìn nhận về những nhược điểm của nền kinh tế Miền Bắc, Lê Duẩn đã đưa ra những gợi ý về phương hướng và chính sách kinh tế cho Miền Nam và cho cả nước. Quan điểm của ông lúc đó là không nên vội vã tiến hành cải tạo đối với công thương nghiệp tư doanh. Còn đối với nông nghiệp, chưa nên cưỡng ép nông dân Miền Nam vào các hợp tác xã. Việc đó sẽ tạo ra sự bất mãn của nông dân và sự sa sút của sản xuất nông nghiệp. Ông nói:

Miền Bắc trước đây phải hợp tác hoá ngay lập tức... Nhưng miền Nam bây giờ không thể làm như vậy. Miền Nam bây giờ phải để cho giai cấp tư sản phần nào đấy, phải cho nó phát triển phần nào đã. Phải để kinh tế gồm mấy thành phần thì nông dân mới theo ta, liên minh mới chặt chẽ. Bắt hợp tác hoá là không đúng, năng suất thấp xuống thì hỏng hết cả, họ sẽ không theo giai cấp vô sản nữa, không thống nhất được đâu. Người nông dân làm ra những sản phẩm, người ta muốn bán, nếu chúng ta không cho bán thì nông dân chọi lại với chúng ta, nguy hiểm lắm, không thể được. Nếu chúng ta không có một hình thức kinh tế để kéo nông dân đi tới thì ta không thống nhất được. Vì vậy Bộ Chính trị sau khi nghiên cứu thấy rằng cần phải để mấy thành phần kinh tế là quy luật cần thiết trong giai đoạn bước đầu này.” [4]

Những nhận định đó của ông đã được thực tiễn những năm 1978-1979 chứng minh là đúng: Sau khi vội vàng ép buộc nông dân vào các tập đoàn sản xuất thì nông nghiệp sa sút một cách nghiêm trọng: 13,5 triệu tấn năm 1976 xuống 12,2 triệu tấn năm 1988. Khi áp đặt hệ thống thu mua theo giá kế hoạch thì nông dân phản ứng gay gắt, đã “ chọi lại chúng ta” và sản lượng lương thực huy động đã giảm sút với mức độ còn nghiêm trọng hơn mức giảm sút của tổng sản lượng lương thực: Từ trên 2 triệu tấn năm 1976 xuống 1,6 triệu tấn năm 1978 và năm 1979 chỉ còn 1,4 triệu tấn. Đó chính là lúc mà Tp Hồ Chí Minh phải ăn bo bo thay cho gạo, là điều chưa từng có trong lịch sử thành phố 300 năm trước đó…

Rất tiếc là những ý tưởng kể trên của Lê Duẩn đã không được thực hiện. Đến nay chúng ta vẫn khó hiểu được những lý do nào đã khiến cho chỉ ngay sau đó ít lâu, trước hết là ngay tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24, đã có những nhận định và kết luận khác đi, thậm chí trái ngược với những gợi ý trong bài phát biều khai mạc của Lê Duẩn.

Thí dụ:

Về tình hình quốc tế, Hội nghị TW lần thứ 24 đã nhận định:

Sự suy yếu toàn diện và địa vị quốc tế giảm sút của chủ nghĩa đế quốc Mỹ là một xu thế không thể đảo ngược được... Hệ thống tư bản chủ nghĩa đang lâm vào một cuộc khủng hoảng toàn diện mới.” [5]

Chính sách đối ngoại lúc này được xác định là:

Tư tưởng cơ bản phải thấu suốt trong lĩnh vực đối ngoại là: chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chủ nghĩa đế quốc đứng đầu là đế quốc Mỹ, bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin và sự thống nhất của Đảng ta”. [6]

Trong việc đánh giá thực trạng kinh tế Miền Nam, văn bản của Nghị quyết 24 đã nhận định rằng:

Miền Nam là cái túi tập trung bọn địa chủ, tư sản mại bản, bọn tay sai của đế quốc, bọn chống đối cách mạng ngoan cố nhất ...và tầng lớp tư sản quan liêu quân phiệt khá đông đảo nhờ bóc lột nhân dân, lũng đoạn kinh tế, sống giầu có xa hoa trên xương máu của đồng bào ta… Chúng căm thù chế độ mới, ngoan cố không chịu thuần phục chính quyền, một số đang điên cuồng chống lại cách mạng… Chủ nghĩa thực dân mới đã tạo ra một xã hội ăn bám và thối nát…

Về con đường phát triển của kinh tế Miền Nam, Nghị quyết 24 đã chủ trương:

Phải xoá bỏ tư sản mại bản bằng cách quốc hữu hoá cơ sở kinh tế của họ, biến thành sở hữu toàn dân do nhà nước quản lý.

Đối với kinh tế tư sản dân tộc, thực hiện cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng hình thức công tư hợp doanh, bắt đầu từ những cơ sở sản xuất kinh doanh quan trọng”.

Trước mắt cần xây dựng một số hợp tác xã thí điểm để rút kinh nghiệm. ở những nơi chưa đủ điều kiện xây dựng hợp tác xã thì ra sức phát triển các tổ đổi công vần công”.

Đối với thương nghiệp nhỏ, cần tích cực cải tạo xã hội chủ nghĩa bằng cách tổ chức đăng ký kinh doanh, có chính sách thuế và chế độ kiểm kê, kiểm soát, chuyển phần lớn tiểu thương sang sản xuất, lựa chọn để sử dụng một số người làm kinh tiêu.” [7]

Dòng tư duy đó tiếp tục đi từ Hội nghị Trung ương lần thứ 24 tới Đại hội Đảng lần thứ IV, với những chủ trương còn toàn diện và triệt để hơn:

Việc hợp nhất các tính nhỏ hiện nay thành những tỉnh mới là nhằm xây dựng các tỉnh thành những đơn vị kinh tế, kế hoạch và đơn vị hành chính có khả năng giải quyết đến mức cao nhất những yêu cầu về đẩy mạnh sản xuất, tổ chức đời sống vật chất, văn hoá của nhân dân, về củng cố quốc phòng, bảo vệ trị an và có khả năng đóng góp tốt nhất vào sự nghiệp chung của cả nước.

Tiến hành cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với tư bản tư doanh, đối với nông nghiệp, thủ công nghiệp, tiểu thương nghiệp và thương nghiệp nhỏ… sử dụng và hạn chế tư bản tư doanh, hợp tác hoá nông nghiệp đi đôi với xây dựng huyện, đưa nông nghiệp lên sản xuất lớn xã hội chủ nghĩa; cải tạo thủ công nghiệp và tiểu công nghiệp bằng con đường hợp tác hoá là chủ yếu, cải tạo thương nghiệp nhỏ chủ yếu bằng cách chuyển dần tiểu thương sang sản xuất” [8].

Xây dựng nông trường quốc doanh; gắn liền xây dựng hợp tác xã với xây dựng huyện thành đơn vị kinh tế nông – công nghiệp” [9]

Từ đó Việt Nam sẽ:

Vươn lên những đỉnh cao của thời đại, biến đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề thành một nước văn minh, giầu mạnh, thành trì bất khả xâm phạm của độc lập dân tộc, dân chủ và chủ nghĩa xã hội ở Đông Dương và Đông Nam Á”. [10]

* * *Đối với sử học, người nghiên cứu cần và có thể khác với người làm công tác tuyên truyền ở chỗ: Mỗi khi có dịp kỷ niệm một nhân vật lịch sử nào đó, không nhất thiết chỉ lựa chọn những gì là hay là tốt để nói. Vừa qua, nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, hàng trăm bài viết ca ngợi ông như nhà lý luận kiệt suất, sáng tạo, dường như ông bao giờ cũng đúng, cũng đi đầu… Trong lịch sử làm gì có những nhân vật thần thánh như thế!. Trong các giới nghiên cứu, trong cả những nhà điều hành cùng thời với ông mà tôi được gặp, và cả trong dư luận xã hội mà tôi thường được nghe, không thấy ông được nhìn nhận một cách phiến diện như vậy. Ông được nhiều người kính trọng, thậm chí sùng kính. Đó là sự thật. Ông đã có những nhìn nhận rất sáng trong thời chiến tranh, về cách đánh Pháp, đánh Mỹ. Về mặt đó, quả ông là một nhà chiến lược có tài. Nhưng trong việc định hướng cho kinh tế và cho xã hội, trong việc lượng định những thế cờ quốc tế, và về nhiều mặt khác trong đời sống , về phong cách lãnh đạo…, không phải ông không có những điều mà đến nay thấy là cần được suy ngẫm thêm để rút kinh nghiệmi, và thực tế là đất nước đã làm khác đi để chữa bệnh duy ý chí, để lấy dân làm gốc, nhờ đó mới đi lên như ngày nay.

Tất nhiên văn hóa nghiên cứu không bao giờ cho phép những trò phê phán phi lịch sử. Nhưng sẽ là và chỉ là có ích nếu nói lên được một cách khách quan và công bằng những gì đã đạt được và cả những gì còn hạn chế ở mỗi nhân vật lịch sử, phân tích những nguyên nhân và hoàn cảnh của những suy nghĩ và quyết định của nhân vật đó, cả những cái đúng và những cái chưa đúng. Đó là vẻ đẹp của lịch sử và của các nhân vật lịch sử.

Theo văn hóa nghiên cứu đó, đối với sự nghiệp của Lê Duẩn, con người có tầm ảnh hưởng rất lớn trong suốt nửa sau thế kỷ XX của Việt Nam và của cả một số sự kiện quốc tế, thì tìm hiểu về ông cũng là tìm hiểu bản thân con đường và những bước ngoặt lớn trong lịch sử Việt nam.

Theo nghĩa đó, có nhiều câu hỏi vẫn còn là thách đố đối với giới nghiên cứu. Thí dụ như:

- Một người có vị trí hàng đầu trong Đảng và có uy tín cao nhất nước vào lúc đó như Lê Duẩn, nếu quả đã có sẵn những tư duy kinh tế sáng suốt và đúng đắn như trong bài phát biểu kể trên, thì tại sao vẫn không vượt qua được những rào cản của cả một bề dày tư duy cũ kỹ, bảo thủ, trì trệ, mà chính ông cũng đã coi là “nguy hiểm lắm”, và thực tế là đã dẫn tới những khó khăn và tổn thất không nhỏ của đất nước trong hàng thập kỷ sau đó?

- Từ bài phát biểu khai mạc tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 cho tới bản thân Hội nghị Trung ương 24 và những kết luận chính thức của Hội nghị đó, đã có những diễn biến hay chuyển biến lịch sử như thế nào? Trong đó bản thân Lê Duẩn có những thay đổi gì trong suy nghĩ không? Nếu có thì thay đổi vì sao và như thế nào? Tại sao ở ông có cả những suy nghĩ khá cấp tiến, nhưng không phải không có những quyết định mà kết quả là ngược lại với ý nguyện của ông? Có thể giả thiết như thế này không: Vào cuối thập kỷ 70 và đầu thập kỷ 80, những bức xúc của ông về sự ách tắc của mô hình kinh tế cũ cùng những ý tưởng của ông về một mô hình mới có lẽ cũng mới chỉ là những ý nghĩ đột xuất, như những phản ứng tức thời trước một thực tế còn quá khó khăn, phức tạp, chứ chưa thành cả một hệ thống tư duy chiến lược có tính chất cương lĩnh? Nếu như ở ông đã có được điều đó, thì với uy tín lớn và ở cương vị cao của ông lúc đó, chắc tình hình đã diễn ra khác đi với những gì đã diễn ra trong 10 năm sau giải phóng. Có một lần, giáo sư Trần Phương - một trong những trợ lý kinh tế thân cận nhất của Lê Duẩn - đã dành cho tôi cả một ngày để trao đổi về Lê Duẩn, thì chính giáo sư cũng thừa nhận rằng: Vào thời kỳ đó Lê Duẩn chưa có đủ thời gian để hoàn thiện những suy nghĩ về con đường kinh tế của Việt nam…

- Trong những chủ trương và quyết sách như thống nhất về mô hình kinh tế trên cả nước, về việc tiến nhanh, tiến mạnh lên sản xuất lớn XHCN, về việc bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa, về việc đưa nhanh các HTX lên cấp cao, về việc cải tạo công thương nghiệp Miền Nam một cách ồ ạt và rất phi kinh tế, về tư tưởng làm chủ tập thể, về việc sắp xếp lại giang sơn, về việc sáp nhập hơn 60 tỉnh của cả nước thành 29 tỉnh và thành phố,về việc xây dựng cấp huyện thành những pháo đài kinh tế…, thì Lê Duẩn đã có một vai trò như thế nào?

- Trong một bài viết gần đây trên Thời báo Kinh tế (ngày 6/4/07), giáo sư Trần Phương có kể lại rằng một lần tại nhà nghỉ Đồ Sơn, có mặt cả thủ tướng Phạm văn Đồng, vì quá bức xúc trước cảnh kinh tế sa sút và đời sống khó khăn, Lê Duẩn đã nói bằng một giọng gay gắt: “Chúng ta cầm quyền mà không lo nổi rau muống và nước lã cho dân thì nên từ chức đi”. Điều đó quả đã thể hiện rõ cả quyền uy, cả tính cách trung thực và tinh thần trách nhiệm của ông, mà giáo sư Trần Phương gọi là “một trái tim nhân hậu”. Nhưng chưa rõ ông quan niệm cái phạm trù “chúng ta cầm quyền” là gồm những ai?

- Và sau khi ông qua đời, Đại hội Đảng lần thứ VI đã nghiêm khắc phê phán căn bệnh chủ quan duy ý chí và bệnh xa rời thực tế, xa rời nhân dân, không coi dân là gốc…, là những căn bệnh được nhìn nhận là đã diễn trong suốt một thời gian khá dài trước đó, cũng tức là chính trong thời Lê Duẩn là Tổng bí thư. Vậy thì Lê Duẩn đã có vai trò thuận hay nghịch và đến mức nào đối với những căn bệnh đó?

- Sau này, khi nghiên cứu kỹ về lịch sử cơ chế khoán Hải phòng, tôi được biết khu nhà nghỉ của Trung ương ở Đồ Sơn là một trong những nơi đã hình thành và phát triển những tư tưởng lớn như làm chủ tập thể, sản xuất lớn, HTX cấp cao… Rất gần đó, có HTX Đoàn Xá (mà theo đường chim bay chỉ cách nhà nghỉ Đồ Sơn có 12 km thôi, từ trên nhà nghỉ có thể nhìn thấy rõ lúc trời quang), sau khi đưa HTX lên cấp cao năm 1977, đã có hơn 50 hộ nông dân xã viên không còn gì để ăn nữa , phải bỏ ra thành phố đi ăn mày… Vậy những gì đã tạo ra sự ngăn cách giữa “trái tim nhân hậu” nơi Lê Duẩn với những nghịch cảnh kinh tế, mà Đoàn Xá là một trong vô vàn ?

- Rồi đến khi Đảng ủy Đoàn Xá phải “nhắm mắt làm ngơ” cho khoán chui để dân khỏi đói, và do đó mà Đoàn Xá trở thành cái nôi nổi tiếng của khoán Hải phòng, thì khi biết chuyện, Lê Duẩn đã tuyên bố ngay với lãnh đạo thành phố: “Tôi đồng ý, cứ cho làm ngay đi, không phải hỏi ai nữa cả!”. Lời nói đó là một cú hích góp vào những khởi sắc của phong trào khoán, giúp nó lan toả trên cả nước sau đó, góp phần cứu nông nghiệp và nông dân cả nước khỏi cảnh bần hàn, sa sút. Sự kiện đó hẳn đã khẳng định rõ thêm “trái tim nhân hậu” và tư duy độc lập của ông. Nhưng mặt khác, phải chăng nó cũng phản ảnh cái dự cảm của ông về khả năng “chưa nhất trí lắm đâu” trước một vấn đề hệ trọng và nhạy cảm như vấn đề khoán? Và phải chăng cũng vì thế mà trong trường hợp này, rút kinh nghiệm từ khoán Vĩnh Phúc, ông đã phải “đi trước một bước” bầy tỏ sự đồng tình triệt để trước khi có thể có một sự cản phá?(**)

Đặng Phong

___________________________

Chú thích:

[1] Đồng chí Lê Duẩn, Bí Thư thứ nhất phát biểu tại Hội nghị Trung ương lần thứ 24 Ban chấp hành Trung ương, ngày 13-8-1975. Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng. VK. 36. 42. tr.1.

[2] Như trên, tr. 16.

[3] Như trên, tr. 16-17.

[4] Như trên, tr. 8-9.

[5] Văn kiện Đảng toàn tập, tập 36, đd, tr. 385.

[6] Như trên, tr. 387.

[7] Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr.332, 412 -415.

[8] Báo cáo chính trị của Ban chấp hành TW đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. NXB Sự thật, HN 1977, tr. 108-109.

[9] Diễn văn khai mạc Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV. Văn kiện đảng toàn tập. Tập 37, tr. 570.

[10] Diễn văn của đồng chí Lê Duẩn trong buổi lễ mừng chiến thắng. Văn kiện đảng Toàn tập, tập 36, 1975, tr 212

(*) Bài đã đăng trên tạp chí Xưa và Nay, số tháng Tư, ra ngày 15 tháng 4 năm 2007… Bản do tác giả gửi Diễn Đàn có bổ sung và sửa chữa một đôi chỗ.

(**) Theo nhưng người trợ lý thân cận nhất của ông kể lại thì thái độ của ông đối với khoán ở Vĩnh Phúc (1966-1968) khác với nhiều người lúc đó. Nhưng ông chưa kịp can thiệp thì đã có lệnh đình chỉ, mà đã có lệnh rồi thì không thể đảo ngược lại được. G/s Trần Phương kể (cũng trong Thời báo KT kể trên) rằng sau khi có một bài trên Báo Nhân dân phê phán gay gắt khoán của Kim Ngọc, ông đọc xong và cầm tờ báo đi vào phòng các trợ lý, quẳng tờ báo xuống bàn, nói bằng một giọng rất không vui vẻ: "Đấy, các anh đọc đi", rồi ông nhếch mép cười bỏ đi… Ông Đậu ngọc Xuân là trợ lý của ông kể lai: Khi Khoán Vính phúc đã bị đình chỉ, ông chỉ còn biết lên thăm Kim Ngọc và bày tỏ sự đồng tình với những tìm tòi của Kim Ngọc, an ủi về việc những sáng kiến quá mới như thế thường không dễ đi ngay vào cuộc sống….

---

Tin liên quan:

TS Lê Kiên Thành: 35 năm và những giấc mơ riêng, chung

Tổng số lượt xem trang