Chủ Nhật, 17 tháng 1, 2010

Trung Quốc là gì của Việt Nam?

60 năm quan hệ Việt-Trung--- BBC
Ông Dương Danh Dy nhìn lại 60 năm trong quan hệ giữa hai nước láng giềng.


Trung Quốc là gì của Việt Nam?
Từ xưa đến nay, quan hệ Việt-Trung luôn phức tạp. Để có chiến lược ứng xử thích hợp, đã đến lúc phải thảng thắn trả lời câu hỏi: Trung Quốc là gì của Việt Nam?
<<<::: lại mất rùi, như ma ấy nhỉ , ah lại đổi tên rùi, kỳ lạ thiệt >>>

Việt - Trung: Nương vào nguyên tắc bình đẳng để phát triển
Từ xưa đến nay, quan hệ Việt-Trung luôn phức tạp. Để có chiến lược ứng xử thích hợp, đã đến lúc phải thẳng thắn trả lời câu hỏi: Trung Quốc là gì của Việt Nam?
Định vị lại Trung Quốc

Khi xem xét chiến lược ứng xử với Trung Quốc, có ý kiến cho rằng, với Việt Nam, Trung Quốc đồng thời là: người thầy vĩ đại, người bạn thân thiết và đối thủ nguy hiểm.
Nhìn vào lịch sử quan hệ và những ảnh hưởng qua lại giữa hai nước, thì thấy rằng Trung Quốc đã từng đóng tất cả các vai ấy trong mối quan hệ thăng trầm với Việt Nam.
Tuy nhiên, vào thời điểm hiện nay, nếu coi đây là xuất phát điểm cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc thì cần phải xem xét lại.
Nguồn ảnh: Peopledaily.cn
Nếu coi Trung Quốc là người thầy vĩ đại, thì sẽ có xu hướng bắt chước thầy, chịu sự chỉ dẫn của thầy với tư cách học trò. Khi xảy ra tranh chấp, điều đã từng xảy ra nhiều lần trong lịch sử, thì trò khó lòng có thể thắng được thầy.
Còn nếu coi Trung Quốc vừa là người bạn thân thiết, vừa là đối thủ nguy hiểm thì lại tự mâu thuẫn nhau. Đã là bạn thì không thể là kẻ thù, vì cơ sở của tình bạn là sự tin tưởng và tôn trọng lẫn nhau. Còn đã coi nhau là kẻ thù thì không thể là bạn.
Nếu coi Trung Quốc vừa là thầy, vừa là bạn, vừa là đối thủ của Việt Nam, tất yếu dẫn đến những lúng túng và yếu thế trong chiến lược ứng xử với Trung Quốc. Nói cách khác là gây ra bối rối ngay từ khâu lên kế hoạch, nên thua thiệt là điều khó tránh khỏi.
Một nhận định khác cũng thường được nói đến nhiều: Trung Quốc và Việt Nam là anh em "môi hở răng lạnh". Việc tự coi mình là em đã đặt Việt Nam vào thế bất lợi toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc, tất yếu sẽ rất đến những thua thiệt trong ngoại giao, trao đổi văn hóa, thương mại, thậm chí cả trong bảo vệ chủ quyền và lợi ích hợp pháp của đất nước, v.v.
Vậy Trung Quốc là gì của Việt Nam?
Đối tác bình đẳng
Trong Bình Ngô Đại Cáo, Nguyễn Trãi viết rằng:
"Nước non bờ cõi đã chia,
Phong tục Bắc Nam cũng khác.
Từ Triệu, Đinh, Lý, Trần bao đời xây nền độc lập.
Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương."
Qua đó có thể thấy, Nguyễn Trãi không coi Trung Quốc là thầy, bạn, hay kẻ thù hoặc kết hợp của cả ba thứ này. Nguyễn Trãi cũng không coi Trung Quốc là anh em với Việt Nam. Ông chủ trương Trung Quốc là một đối tác độc lập, bình đẳng trong quan hệ với Việt Nam về mọi mặt.
Đây là chiến lược sáng suốt của Nguyễn Trãi, dù ra đời đã gần 600 năm. Chủ trương này vẫn còn là kim chỉ nam cho chiến lược ứng xử với Trung Quốc ngày nay, không chỉ trong quan hệ ngoại giao, mà còn cả trong trao đổi văn hóa, thương mại, v.v.
Trong ngoại giao, việc xác định Trung Quốc là đối tác bình đẳng sẽ giúp định ra các chính sách và thái độ ngoại đúng đắn, góp phần củng cố vị thế Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ quyền lợi chính đáng của đất nước, nhất là khi tranh chấp biển đảo giữa Việt Nam và Trung Quốc đang có những diễn biến phức tạp.
Trong văn hóa, việc coi Trung Quốc là đối tác chứ không phải là người thầy, bạn bè, đối thủ hay bậc đàn anh sẽ giúp Việt Nam giữ được bản sắc văn hóa của mình trong khi vẫn sàng lọc được những điều hay cần học hỏi.
Trong mậu dịch, Việt Nam đang yếu thế so với Trung Quốc: cán cân thương mại Trung Quốc-Việt Nam đang có những mất cân đối nghiêm trọng. Nhập siêu từ Trung Quốc đang ở mức đáng lo ngại và tăng liên tục: ước tính khoảng 11 tỷ USD năm 2008, so với 200 triệu USD năm 2001. Cơ cấu mậu dịch cho thấy Việt Nam chủ yếu xuất khẩu tài nguyên và sản phẩm thô, ước tính khoảng 80% tổng giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc, trong khi nhập về chủ yếu hàng công nghiệp. Do đó cần phải có chiến lược điều chỉnh thích hợp, phấn đấu đưa Trung Quốc trở thành đối tác thương mại ngang hàng với Việt Nam.
Tất cả những điều đó chỉ có thể thực hiện từ xuất phát điểm: coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em của Việt Nam.
Việc coi Trung Quốc là đối tác bình đẳng còn giúp Việt Nam tận dụng được sức mạnh của hệ thống pháp lý và sự ủng hộ của cộng đồng quốc tế. Vì một lẽ đơn giản, tất cả các nước đều bình đẳng trước các cam kết và hệ thống pháp lý quốc tế. Và cộng đồng thế giới ủng hộ sự bình đẳng này.
Do đó, Việt Nam cần phải nương vào nguyên tắc bình đẳng và sự hỗ trợ này để vươn lên vị trí bình đẳng toàn diện trong quan hệ với Trung Quốc.
Bước vào thập kỉ mới - thập kỉ bản lề ẩn chứa nhiều cơ hội và thách thức cho sự phát triển của Việt Nam, nhất là trong quan hệ với Trung Quốc - câu hỏi Trung Quốc là gì của Việt Nam cần phải được trả lời dứt khoát: Trung Quốc là đối tác bình đẳng với Việt Nam trên mọi lĩnh vực, chứ không phải là thầy-bạn-đối thủ hay anh-em như nhiều người đã và đang nghĩ.
(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả. Mời độc giả cùng tranh luận)

Ngoại giao để giữ đất dưới thời vua Lý Nhân Tông
Ngọc Thu



Do điều kiện địa lý nước ta nằm sát ngay bên dưới nước láng giềng phương Bắc nên suốt chiều dài lịch sử nước ta đã trải qua nhiều cuộc chiến tranh lớn nhỏ cùng với những lần tranh chấp đất đai. Cha ông ta anh hùng không những thể hiện qua những lần chống giặc ngoại xâm mà chúng ta còn thấy được qua những lần đối đáp, tranh luận với sứ giả phương Bắc để giữ từng tấc đất của tổ tiên để lại.

Năm 1076, theo lệnh vua Tống Thần Tông, Quách Quỳ cùng Triệt Tiết đem quân sang đánh nước ta. Sau khi bị Lý Thường Kiệt đánh bại trên sông Như Nguyệt, quân Tống rút về nước. Mặc dù rút quân về nước nhưng nhà Tống vẫn còn cho quân chiếm giữ phần đất của nước ta sát biên giới Việt – Tống là châu Quảng Nguyên (1) cùng một số đất đai, hang động, trong đó có hai động Vật Dương và Vật Ác do thổ dân Đại Việt vì sợ sệt nên khi chiến tranh xảy ra đã đem nộp cho nhà Tống.

Năm 1078, vua Lý Nhân Tông sai Đào Tống Nguyên đem tặng 5 con voi cho vua Tống với mục đích đòi nhà Tống trả lại đất đai cho Đại Việt mà họ đang chiếm giữ. Vua Tống đồng ý trả lại châu Quảng Nguyên nhưng vẫn không chịu trả những vùng đất khác, viện cớ do thổ dân Đại Việt đã tự ý dâng nộp đất chứ không phải nhà Tống chiếm giữ trái phép. Vua Lý Nhân Tông đã viết tờ biểu đòi lại hai hang động này, trong đó có đoạn:
Nước tôi có đất Vật Dương, Vật Ác, gồm hai động và tám huyện, vẫn tiếp liền với phần đất tỉnh [Quảng Tây]. [Những đất ấy] trước sau đều bị bọn đầu mục thổ dân làm phản, bỏ đi, đem theo về với Trung Quốc. Đất Vật Dương thì năm Bính thìn (1076) bị sát nhập vầo đất quý tỉnh; đất Vật Ác thì năm Nhâm tuất (1082) cũng bị sát nhập và đặt thành ải Thông Khang.
Mặc dầu đấy chỉ là mảnh đất nhỏ nhưng vẫn khiến lòng tôi đau xót, luôn luôn nghĩ đến cả trong giấc mộng. Quả thực tổ tiên tôi xưa kia đã phải đánh dẹp phường tiếm nghịch, xông pha gian nguy, không tiếc tính mạng mới có được đất ấy. Nay tôi phận con cháu, đã không kế tục được cơ nghiệp được [cha ông] thì dám đâu dự vào hàng mộ nước phên dậu, cầu lấy cái sống tạm bợ trong chốc lát”. (2)
THỈNH HOÀN VẬT DƯƠNG, VẬT ÁC NHỊ ĐỘNG BIỂU


Vua Lý Nhân Tông mặc dù tỏ ra nhún nhường qua cách sử dụng từ ngữ khi tự nhận nước mình là một nước “phên dậu”, tức là nước nhỏ so với nước Tống, thế nhưng ông đã dùng lý lẽ cứng rắn khi đòi đất. Ông đã chỉ ra rằng vùng đất ấy là do “thổ dân làm phản” nên đã lấy đất của Đại Việt đem nộp cho nhà Tống chứ không phải là đất mà những thổ dân kia làm chủ sở hữu, vì vậy họ không có quyền dâng nộp cho nước Tống. Thêm một điểm khéo léo nữa là Vua Lý Nhân Tông đã nói với nhà Tống rằng, đất đai của tổ tiên để lại, phận làm vua của một nước mà không giữ được thì đâu còn xứng đáng làm nước “phên dậu” của Tống.

Năm 1084, vua Lý Nhân Tông phái Lê Văn Thịnh sang bàn chuyện với sứ giả nhà Tống để đòi lại vùng đất cương vực mà nhà Tống chiếm giữ. Cũng với lý do thổ dân nước ta tự ý nộp đất cho Tống nên sứ giả nhà Tống không chịu trả lại những vùng đất này. Lê Văn Thịnh đã trả lời sứ giả như sau:
Đất thì có chủ; bọn thuộc lại giữ đất đem dâng nộp và trốn đi, thì đất ấy thành vật ăn trộm của chủ. Coi giữ đất cho chủ lại tự ý lấy trộm tất không tha thứ được, mà ăn hối lộ và tàng trữ (của ăn trộm) pháp luật cũng không dung. Huống chi, (bọn chúng) lại có thể làm nhơ bẩn cả sổ sách của quý tỉnh hay sao”? (3)
DỮ TỐNG SỨ TRANH BIỆN

Lê Văn Thịnh đã đại diện cho một quốc gia đưa ra lý lẽ rành mạch khi trả lời sứ nhà Tống. Khi các thổ dân được vua giao canh giữ đất đai vùng biên giới thì họ không có quyền sở hữu để đem bán hay dâng nộp cho một nước khác. Nếu một vật được giao giữ hộ mà người giữ vật ấy đem bán hoặc đem cho người khác thì người giữ hộ trở thành kẻ ăn cắp và người nhận vật ấy cũng trở thành người giữ đồ gian. Lê Văn Thịnh đã khôn khéo gài sứ thần nhà Tống rằng, với một nước lớn như nước Tống mà giữ những mảnh đất ấy, tức giữ đồ ăn trộm thì sẽ bị mang tiếng nhơ khó rửa!
Nhờ ý thức giữ gìn từng tấc đất do tổ tiên để lại của triều đình nhà Lý, đứng đầu là vua Lý Nhân Tông, cộng với tài ngoại giao khéo léo của của Lê Văn Thịnh, cuối cùng nhà Tống đành phải trả lại châu Quảng Nguyên cùng với 6 huyện và 3 động cho nước ta (4). Người Tống có thơ rằng:
Nhân tham Giao Chỉ tượng
Khướt thất Quảng Nguyên kim
Nghĩa là:
Vì tham voi Giao Chỉ
Bỏ mất vàng Quảng Nguyên
Qua việc đòi đất dưới thời vua Lý Nhân Tông, chúng ta thấy rằng triều đình thời bấy giờ nhận thức rất rõ trách nhiệm giữ gìn từng tấc đất của tổ tiên để lại. Cha ông ta ngày xưa mặc dù mềm dẻo trong vấn đề ngoại giao nhưng đã không tỏ ra nhu nhược và nhất là không để nước láng giềng phương Bắc lấn ép đất đai. Một khi đã xác định chủ quyền những vùng đất bị nhà Tống chiếm giữ là của mình, thì vua tôi nhà Lý quyết đòi lại cho bằng được bởi vì hơn ai hết, triều đình nhà Lý hiểu được rằng họ đang sống trên mảnh đất có chủ quyền, họ là người làm chủ và họ có trách nhiệm phải giữ gìn những mảnh đất thiêng liêng ấy.
Suốt mấy ngàn năm lịch sử, nước Việt của chúng ta bao giờ cũng nhỏ hơn nước Trung Hoa, dân số nước ta bao giờ cũng ít hơn dân Trung Hoa cả chục lần, thế nhưng nước ta chưa bao giờ phải nhượng một tấc đất khi bị người phương Bắc lấn ép cương vực. Dân tộc ta chưa bao giờ chịu cúi đầu trước kẻ thù xâm lược cho dù kẻ thù đó đông hơn ta, có vũ khí mạnh hơn ta gấp bội phần.
Đọc chuyện xưa mà nghĩ tới chuyện nay, những năm gần đây nước Việt chúng ta đã để mất đi những vùng lãnh hải, lãnh thổ vào tay người phương Bắc, kể cả những địa danh lịch sử đã đi vào lòng người. Phải chăng những người có trách nhiệm giữ gìn những mảnh đất kia đã không học được gì từ những bài học lịch sử mà cha ông ta để lại hay đã học nhưng vì những lý do nào đó, họ đã chấp nhận để người phương Bắc lấn ép, chiếm giữ đất đai của chúng ta?
Và rồi mai đây, vài chục năm hoặc vài trăm năm sau, con cháu của chúng ta sẽ nghĩ sao khi biết được trong giai đoạn lịch sử này, những người đang nắm giữ vận mệnh đất nước đã từng để mất những mảnh đất mà cha ông của chúng ta hàng ngàn năm qua đã đổ biết bao máu xương để gìn giữ cho đến ngày nay?


© Ba Sàm 2010


—–
(1) Châu Quảng Nguyên: vùng đất thuộc tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn ngày nay.
(2) Bản dịch của Thanh Băng – Hoàng Lê.
(3) Bản dịch của GS Hoàng Xuân Hãn.
(4) Xem Đại Việt Sử Ký Toàn Thư, phần Nhân Tông Hoàng Đế.



Việt Nam sẽ chào bán 1 tỷ USD trái phiếu
Chính phủ Việt Nam cũng thuê một tổ hợp các nhà bảo lãnh có tên tuổi hàng đầu thế giới (có trụ sở tại Anh, Mỹ và Đức) để thực hiện đợt chào bán này.



Thuê bao điện thoại đã vượt xa dân số Việt Nam
Theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, cả nước hiện có 130,4 triệu thuê bao điện thoại, đạt mật độ 152,7 máy trên 100 dân. Trong đó, thuê bao di động chiếm 85,4%.



Dự án tận thu cát nhiễm mặn xuất khẩu: Lợi bất cập hại
TP - Năm 2009, tỉnh Quảng Ngãi chấp thuận cho Cty Cổ phần SaPhia Quốc tế, Cty Cổ phần Trường Phát Lộc, Cty TNHH Sản xuất Thương mại dịch vụ (TMDV) Ngọc Việt thực hiện dự án nạo vét, thông luồng kết hợp với tận thu cát nhiễm mặn xuất khẩu tại cửa Đại, cửa Lở - sông Vệ và cửa biển Mỹ Á.


Hàng giả Trung Quốc và nguy cơ của Việt Nam
Lê Diễn Đức

Bài của trang điện tử trong nước Vitifo.com với bài viết Trứng gà “Made in China” chỉ giá 100 VNĐ, cho chúng ta thấy dã tâm, vô nhân đạo của bọn lái buôn Trung Quốc đối với sức khoẻ và sinh mạng của người Việt.
Đây không phải lần đầu tiên bọn lái buôn Trung Quốc tìm mọi cách phá hoại nền kinh tế và đầu độc sức khoẻ của dân chúng Việt Nam.
Trong những năm 80, lợi dụng kinh tế khó khăn và lòng tham vô trách nhiệm của một số ít người Việt, chúng tung tiền dụ dỗ mua mắt trâu nhằm tiêu dệt sức kéo sản xuất của nông dân Việt Nam tại các tỉnh phía Bắc. Chúng cũng đã từng mở chiến dịch thu mua mèo gây nên nạn chuột phá hoại mùa màng…
Việt Nam đang đứng trước nguy cơ nghiêm trọng và chịu di hại lâu dài cho các thế hệ mai sau bởi hàng hoá, thực phẩm kém chất lượng, không đảm bảo an toàn sức khoẻ từ Trung Quốc tràn ngập qua.
Có thực sự rằng, Nhà nước Việt Nam dường như bất lực, không có cách đối phó hay là cố tình làm ngơ hoặc dung túng?
Tôi nhớ lại hồi Ba Lan mới giành được tự do dân chủ năm 1989 – 1990, hàng hoá tiêu dùng thiếu thốn kinh khủng. Khi ban hành chính sách kinh tế thị trường, buôn bán tự do, vào thời gian đầu Ba Lan được ví như cái thùng rác chứa đủ loại hàng hoá nhập vào từ các nước tư bản láng giềng. Hàng hoá kém chất lượng, chủ yếu gần hoặc hết hạn sử dụng, được đưa vào Ba Lan tràn ngập, tưởng như một nan đề khó giải.
Nhưng chỉ một thời gian, các hàng hoá nói trên đã không còn đất sống. Một mặt nhờ thông tin giáo dục, phê phán gay gắt của dư luận qua báo chí tự do. Mặt khác, các cơ quan kiểm dịch và hải quan ngày mỗi thắt chặt kiểm soát và phạt rất nặng những kẻ vi phạm. Song song, hàng chất lượng cao cạnh tranh ác liệt, chứng minh tính hơn hẳn của mình.
Theo tôi, nếu đất nước có kỷ cương pháp luật nghiêm minh, tệ nạn hàng hoá gây tổn hại đến sức khoẻ và đời sống con người hoàn toàn có thể ngăn chặn và được xã hội ủng hộ.
Các bạn đọc bài báo và xem các hình ảnh dưới đây:
“VIT – Những thông tin về trứng gà giả ở Trung Quốc một lần nữa lại rộ lên trước những hình ảnh về quy trình làm giả trứng được đăng tải trên Internet. Các cơ quan dinh dưỡng của Trung Quốc cảnh bảo người dân đề phòng mua phải trứng gà giả. Trứng gà giả không chỉ ảnh hưởng tới sức khỏe người tiêu dùng mà nó còn được xếp vào danh sách các chất độc ảnh hưởng trực tiếp đến hệ thần kinh gây nguy hại cho não bộ.
Các cơ quan chức năng vừa công bố về các nghiên cứu mới nhất về những tác hại do trứng gà giả gây ra. Do được làm từ những chất hóa học cấm chỉ định dùng cho thực phẩm nên trứng gà giả đang là mối đe dọa tới sức khỏe người tiêu dùng.
Người mua cần phải rất thận trọng với các nguồn trứng giả nhập từ Trung Quốc, cũng như nguồn trứng giả sản xuất theo công nghệ Trung Quốc. Các chất độc có trong trứng giả gây độc tác động mạnh tới não nhất là trẻ em.
Trứng gà giả Trung Quốc làm ra từ cacbonat canxi, tinh bột, nhựa, gelatin, phèn và các sản phẩm hóa chất khác; hoàn toàn không có chất dinh dưỡng. Tính theo giá nguyên vật liệu 1 đôla có thể sản xuất được 180 quả trứng gà giả Trung Quốc.
Cả thế giới phải kịt mũ, lắc đầu trước những chiêu “Made in China” như chiêu chế tạo trứng giả này. Không hiểu một khi Trung Quốc làm chủ được tất cả các công nghệ cao, kể cả công nghệ như hạt nhân tên lửa, thì họ sẽ mang lại cho con người những điều gì “tốt đẹp” nữa đây? Khoa học vốn được sáng tạo ra để mang lại hạnh phúc cho con người, tuy nhiên vào tay Trung Quốc thì không chừng phần thế giới còn lại sẽ phải di tản sang thế giới khác chăng?
Sau đây là hình ảnh về qui trình “công nghệ” làm trứng gà giả “Made in China” Trung Quốc.
Nguyên liệu sơ chế trứng gà giả bao gồm : cacbonat canxi, tinh bột, nhựa, gelatin, phèn và các sản phẩm hóa chất khác”.

Khuôn và nguyên liệu - Ảnh: Vitifo.com



Xong "quy trình công nghệ"!

Sản phẩm đưa ra thị trường!

Trứng giả luộc

Trứng giả làm món omelet
Mong những lời bình luận của bạn đọc!
Ledienduc’s Blog


Nhà giàu Trung Quốc "ăn chơi" như thế nào?--- VNN
Theo tạp chí Hồ Nhuận, lĩnh vực được giới giàu Trung Quốc chi tiêu nhiều nhất trong năm 2009 là du lịch, kế đến là hàng hóa xa xỉ.


Tổng số lượt xem trang