Thứ Bảy, ngày 09 tháng 7 năm 2016

Thiếu minh bạch chi 108 tỷ đồng hỗ trợ hạn hán ở Tây Nguyên

--Thiếu minh bạch chi 108 tỷ đồng hỗ trợ hạn hán ở Tây Nguyên

Hơn 108 tỷ đồng hỗ trợ thiệt hại do hạn hán tại các tỉnh Tây Nguyên có dấu hiệu vi phạm.


Tiền hỗ trợ từ Chính phủ vẫn chưa thực sự tạo động lực cho người dân phục hồi và phát triển kinh tế.

Hơn 108 tỷ đồng hỗ trợ thiệt hại do hạn hán tại các tỉnh Tây Nguyên đã được Chính phủ cấp. Tuy nhiên, khi thực hiện, chính quyền cấp dưới lại có dấu hiệu vi phạm, “đẻ” nhiều thủ tục gây khó cho người dân.

Chưa minh bạch

Vừa qua, tại xã Ia Drăng, huyện Chư Prông (Gia Lai), hơn 50 hộ dân thôn An Hòa đã kéo lên trụ sở xã thắc mắc vì sao tiền hỗ trợ của Chính phủ cho người dân thiệt hại trong đợt hạn hán vừa qua chưa minh bạch, công bằng. Trong đó, việc xét duyệt hộ dân nhận hỗ trợ tiền còn quá sơ sài, chủ quan và có tính cá nhân… Theo người dân phản ánh, trưởng thôn An Hòa đã không công tâm trong việc lập danh sách các hộ dân nhận tiền hỗ trợ diện tích bị hạn hán; Không hề có một tiêu chí nào cụ thể, thậm chí cũng chẳng họp dân xem chọn ai, bỏ ai mà đơn giản là người nào gần nhà trưởng thôn thì đương nhiên được đưa vào danh sách trên.

Ông Nguyễn Văn Thịnh phản ánh: “Năm vừa rồi hạn nặng gia đình tôi có hơn 3 ha cà phê do thiếu nước, bị rụng lá không kết được quả, nhiều cây phải cưa bỏ nên mất trắng. Trước đó, tôi nghe nói trên UBND xã phát tiền hỗ trợ cho các hộ bị thiệt hại đợt hạn vừa rồi nên chạy lên xem. Tuy nhiên, cán bộ xã bảo không có tên trong danh sách. Tôi hỏi ra mới biết cả 20 hộ được nhận tiền hỗ trợ đều ở gần nhà ông trưởng thôn, trong danh sách này, có nhiều hộ thiệt hại không bằng gia đình tôi”, ông Thịnh nói. Còn ông Lê Quyết Chí, người cùng thôn An Hòa bức xúc hơn: “Nhà tôi có gần 2ha cà phê, tiêu bị hạn cũng không có tên trong danh sách nhận tiền hỗ trợ. Trong khi đó, hộ cạnh nhà cà phê đủ nước tưới, thậm chí còn bán nước cho những hộ khác (500 nghìn đồng/ha) thì được nhận đền bù”.


Trả lại tiền cho Trung Ương?

Một lãnh đạo Sở Tài chính tỉnh Đắk Nông cho rằng: “Do lần đầu triển khai thực hiện nên có sự nhầm lẫn về văn bản, toàn bộ số tiền này là để hỗ trợ mua giống khôi phục sản xuất chứ không phải hỗ trợ thiệt hại, tỉnh sẽ thu hồi số tiền còn lại trả về Trung ương sau khi mua xong giống hỗ trợ cho dân. Số tiền giống cây trồng này khoảng 1 tỉ đồng”.

Lý giải việc này, ông Lê Hoàng Anh, Trưởng thôn An Hòa (xã Ia Drăng, Chư Prông) cho hay: “Việc lập danh sách này là công tác thường niên, năm nào cũng vậy, theo biểu mẫu của cán bộ nông nghiệp xã đưa về”. Khi được hỏi, tại sao không họp dân công khai việc hỗ trợ này để bầu chọn hoặc khảo sát đánh giá mức độ thiệt hại, ông Anh trả lời: “Không có hướng dẫn, các thôn khác cũng lập danh sách như vậy thôi!”.

Liên quan vấn đề này, Chủ tịch UBND xã Ia Drăng Phạm Văn Xứng cho biết: Toàn xã nhận được tổng số tiền hỗ trợ là 250 triệu đồng cho 108 hộ có diện tích cà phê, tiêu, lúa nước bị thiệt hại do nắng hạn gây ra. UBND xã đã tổ chức chi trả được hơn 100 triệu đồng, hiện đang tạm dừng việc này sau khi người dân kéo lên xã phản ứng, đòi quyền lợi. “Phản ứng của các hộ dân thôn An Hòa là có cơ sở, trưởng thôn cũng đã nhận khuyết điểm việc lập danh sách theo kiểu “qua loa, đại khái” làm cho có, thiếu chính xác. “Hiện xã đang triển khai họp các thôn, kiểm tra lại các hộ nhận tiền hỗ trợ có đúng theo quy định không, nếu không đúng sẽ vận động thu hồi, lỡ sai rồi thì phải làm lại”, ông Xứng cho biết.

Ông Nguyễn Văn Gặp, Trưởng phòng NNPTNT cho biết theo mức chi trả của tỉnh hộ bị mất trắng được hỗ trợ 4 triệu đồng, thiệt hại từ 30 -70% thì hỗ trợ 2 triệu đồng. Tính đến ngày 25/3 (đợt 1) toàn huyện có 19 xã, thị trấn với tổng diện tích bị thiệt hại hơn 1.118ha, được tỉnh hỗ trợ đợt 1 hơn 2,2 tỷ đồng.


Hàng nghìn ha cây trồng tại các tỉnh Tây Nguyên bị ảnh hưởng sau đợt hạn hán

“Đẻ” thêm quy định làm khó dân?

Niên vụ 2014 – 2015, tại huyện Krông Nô (Đắk Nông), do hạn hán khốc liệt nên diện tích cây trồng bị ảnh hưởng lên đến gần 5.000ha, thiệt hại ước tính khoảng 100 tỷ đồng. Theo ông Ngô Xuân Đông, Phó chủ tịch UBND huyện Krông Nô, ngay sau khi có chủ trương về việc rà soát, thống kê diện tích cây trồng bị thiệt hại nặng, mất trắng, chính quyền đã đề xuất hỗ trợ hơn 26 tỷ đồng. Sau đó, huyện được cho tạm ứng 10 tỷ đồng từ số tiền hỗ trợ hạn hán của Chính phủ. Tuy nhiên, đến nay, huyện chỉ mới nhận được 2,5 tỷ đồng mua giống hỗ trợ bà con sản xuất, số còn lại vẫn chưa thể giải ngân.

Tương tự, một cán bộ phòng NNPTNT huyện Đắk Mil nói: Theo hướng dẫn của Bộ Tài chính thì việc hỗ trợ không phân biệt đối với diện tích thiệt hại nằm trong hay ngoài vùng quy hoạch, nhưng khi gửi về tỉnh lại có thêm quy định khác nên huyện hoàn toàn không biết. Tổng số tiền hỗ trợ được phân bổ cho huyện Đắk Min là 3 tỷ đồng qua tài khoản tạm ứng, nhưng không hề chi hỗ trợ dân đồng nào vì không đáp ứng đúng quy trình, thủ tục đặt ra đồng thời bị “ngâm” nên người dân chịu thiệt”.

Trong khi đó, trao đổi với PV Báo Giao thông đại diện Sở Tài chính tỉnh Đắk Nông cho rằng, ban đầu bị “nhầm” tưởng số tiền này là hỗ trợ nông dân bị hạn hán, khi xem xét lại thì thấy số tiền này chỉ để hỗ trợ mua giống khôi phục sản xuất. Mặt khác, Sở NNPTNT của tỉnh này còn vô cớ tạo thêm “rào cản”: Chỉ hỗ trợ cho diện tích cây trồng “đúng quy hoạch” và “đúng thời vụ”.

Không đồng tình với yêu cầu trên của Sở NNPTNT tỉnh, ông Đông cho hay: “Nếu chiếu theo điều kiện này thì hầu hết nông dân bị thiệt hại sẽ không thể được hỗ trợ. Lý do là phần lớn các địa phương chưa được phê duyệt quy hoạch chi tiết. Do đó, huyện cũng không thể biết được diện tích nào là trồng đúng quy hoạch để hỗ trợ cho dân”.
Tây Nguyên: Rừng chưa bình yên
“Xin” sớm kết luận sai phạm tại Vinacafe Nam Tây Nguyên
Làng Cù Lần: Khu du lịch trải nghiệm đậm chất Tây Nguyên



Theo Baogiaothong.vn-

Nước mội, rừng xanh và sự sống
Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.



Nước mội, rừng xanh và sự sống


Nguyên Ngọc




Câu chuyện này nói vào đầu xuân có thể hơi buồn, nhưng nghĩ kỹ lại có lẽ cũng có chỗ thích hợp, bởi vì đây là câu chuyện về màu xanh, màu của mùa xuân xanh. Của sự sống
Quê tôi ở vùng Nam Trung bộ, đúng cái đoạn mà một nhà thơ từng thống thiết gọi là "dằng dặc khúc ruột miền Trung". Ở đấy, miên man mấy trăm cây số ven biển là những cồn cát lớn, nơi trắng phau một màu trắng tinh khiết đến khó tin, nơi vàng rộm ngon lành trong nắng cháy. Làng cũng là làng trên cát ; con người sống trên cát, tử sinh cùng với cát. Tôi có đọc một ít lịch sử và tôi biết, lạ vậy, toàn cát vậy, nhưng đấy vốn không phải là một vùng đất nghèo. Từng có cả một vương quốc thịnh vượng trên dải đất này. Một vương quốc nông nghiệp và hải dương. Có lẽ một trong những bí quyết thịnh vượng của vương quốc ấy là nước, mà thiên nhiên đã rất thông minh giữ và giành cho dải đất thoạt nhìn thật khô cằn này, và con người thì cũng thật thông minh hiểu được món quà quý của đất trời, biết tận dụng lấy cho mình.
Cho đến chỉ cách đây đâu khoảng chưa đến nửa thế kỷ, ở quê tôi vẫn còn một kỹ thuật nông nghiệp rất đặc biệt, tinh tế và thú vị, gọi là kỹ thuật "tưới nước mội", người Việt học được của người Chăm khi đi vào Nam. Nước mội là nước rỉ ra từ các chân đồi cát, trong veo, mát lạnh, tinh sạch đến mức có thể bụm vào lòng bàn tay, ngửa cổ uống ngay ngon lành. Ở đây người ta vỡ ruộng ngay trên cát, các đám ruộng được gọi là "thổ", những đám thổ trồng đủ các loại hoa màu. Ở góc thổ bao giờ cũng có một chiếc ao nhỏ, cạn thôi, nhưng quanh năm lúc nào cũng đầy ắp nước, tát đi lại đầy ngay, cả trong những mùa nắng hạn gay gắt nhất. Nước mội từ trong lòng cát rỉ ra, nhẹ nhàng, chậm chạp, từ tốn, mà bất tận. Những chiếc ao nước mội, những con mắt ngọc xanh rờn, mát rợi của đất đai, làng mạc, đồng ruộng quê tôi. Nhỏ nhoi và thầm lặng, chính chúng nuôi sống nền nông nghiệp từng trù phú của vương quốc xưa, và của cả cha ông chúng tôi nữa khi họ đi về Nam …
Champa cũng là một vương quốc biển, từng dong thuyền đến những đại dương xa, và từng có những cảng quốc tế rộn rịp trên suốt dọc bờ biển của mình. Những người có đôi chút kiến thức về giao thương biển đều biết rằng một trong những điều kiện đầu tiên và quan trọng nhất của một cảng biển quốc tế là nước ngọt, phải rất dồi dào nước ngọt. Những con tàu lang thang nhiều tháng trời trên các đại dương mặn chát, lắm khi chẳng vì mua bán gì cả, vẫn phải ghé lại các cảng ven bờ để "ăn" nước ngọt. Và trên dải cồn cát miên man của mình, người Chăm là những người thiện nghệ nhất thế gian về nghề tìm mạch nước, đào và thiết kế giếng nước ngọt. Họ như có con mắt thần, có thể nhìn thấy đường đi của nước ngọt âm thầm trong lòng đất, những dòng nước mội. Chính hệ thống giếng nước ngọt thánh thiện và tuyệt vời – từ nước mội bất tận rỉ ra mà có – đã tạo nên vương quốc đại dương Champa, tôi nghĩ nói thế cũng chẳng hề quá đáng đâu …
Từ nhỏ, là dân vùng cát cháy miền Trung, tôi đã có hạnh phúc được biết nước mội, nếm nước mội, ăn nước mội, sống và lớn lên bằng cây cỏ được nuôi bằng nguồn nước mội ân huệ bất tận.
Của Trời.
Rồi về sau, cuộc đời lại đã cho tôi một may mắn khác : tôi hiểu hóa ra "Trời" đó không phải là một đấng trừu tượng thần bí nào, mà là một thực thể sống động, khổng lồ, cường tráng, hùng vĩ…, mà lạ thay, cũng lại rất mong manh, hết sức mong manh, ngày càng đang trở nên cực kỳ mong manh !
Trường Sơn. Tây Nguyên.
Tôi đã được đi đến nơi đó và gắn bó hơn nửa cuộc đời của mình ở đó.
Hóa ra có một "bí mật" to lớn : ngọn nguồn của nước mội tuyệt diệu tưới tắm cả vùng cát dằng dặc ven biển miền Trung chính là nơi đó, Tây Nguyên, rừng đại ngàn, rừng nguyên sinh, rừng nhiệt đới Tây Nguyên. Chính rừng Tây Nguyên, từ trên Trường Sơn rất xa xôi kia, đêm ngày, hằng triệu triệu năm nay, như một người Mẹ vĩ đại, bao dung và tần tảo, hứng lấy tất cả các nguồn nước của đất trời, cất lấy, " để dành", tằn tiện, tuyệt đối không phí mất một giọt nào, để từng ngày từng ngày chắt chiu mà bất tận cung cấp cho đứa con đồng bằng của mình, cho sự sống có thể sinh sôi, nảy nở, trường tồn trên dải đất cát trông chừng rất khắc nghiệt kia. Cho các vương quốc, các triều đại, các nhà nước, các chế độ ra đời, phát triển, nối tiếp. Và sống còn... Nước mội chính là những dòng nước nhỏ, liên tục, không bao giờ dứt, đi âm thầm và vô hình trong lòng đất, từ những đỉnh Trường Sơn xa xôi kia, đến tận những cồn cát tưởng chẳng thể có chút sự sống này.
Vậy đó, Tây Nguyên, ý nghĩa của Tây Nguyên và rừng Tây Nguyên, dù chỉ mới là qua một khía cạnh rất nhỏ của nó, nước.
Có lẽ cũng cần nói thêm một chút nữa về điều này : không chỉ cho dải đất cát cháy miền Trung đâu. Trường Sơn có một đặc điểm quan trọng về địa hình : đường phân thuỷ ở đây không chạy đúng giữa mà sát ngay về phía đông của rặng núi dằng dặc này, nghĩa là sườn phía tây của Trường Sơn rộng hơn sườn phía đông rất nhiều, có thể đến bốn năm lần. Tức nước từ Tây Nguyên đổ về phía tây cũng nhiều hơn về phía đông có thể đến bốn hay năm lần. Mà đổ về phía tây tức là về Mékông, về Nam Bộ. Về toàn miền Nam. Trong một chừng mực nào đó, Tây Nguyên, rừng Tây Nguyên có ý nghĩa quyết định đối với toàn miền Nam về tất cả các mặt. Nếu chỉ nói một mặt nước thôi, thì có lẽ cũng nên nhớ : nước ở miền Tây Nam bộ, ở Cà Mau kia, cũng có thể là nước mội từ Mẹ Rừng Tây Nguyên chắt chiu đưa về đấy, cho mênh mang vùng đất lúa của cả nước ấy không bị nhiễm mặn…
Hàng nghìn đời nay có những con người đã sống ở đây, gắn bó ruột thịt với rừng và đã tạo nên cả một nền văn hoá đầy minh triết bắt nguồn chính từ sự gắn bó ấy. Để bày tỏ đôi lời thật giản lược về nền văn hoá ấy và những con người ấy, chắc có thể nói vắn tắt như thế này : người Tây Nguyên không bao giờ coi rừng là tài nguyên. Không bao giờ có khái niệm khai phá, chinh phục, chiếm lĩnh tự nhiên, rừng. Đơn giản, Rừng đối với họ là Tất cả, là Mẹ, là cội nguồn của sự sống. Mà họ kính trọng và tôn thờ.
Chúng ta, những người tự coi là rất văn minh, rất khoa học, chúng ta biết nước là nguồn gốc của sự sống, nhưng chúng ta không biết, biết bằng hành vi cụ thể chứ không phải bằng lý lẽ to tát, rằng không có rừng thì cũng chẳng có, chẳng còn nước, nghĩa là cũng chẳng còn có sự sống, chúng ta không biết cái chân lý sơ đẳng và đơn giản ấy. Nhìn thấy rừng là con mắt ta hau háu nhìn thấy gỗ, gỗ, gỗ… Và hết gỗ rồi, bây giờ, thấy tài nguyên khác. Hau háu, hung hăng, hỗn hào chặt phá,và hết chặt phá, chẳng còn gì để chặt phá nữa thì đào bới…
Ở quê tôi, nay đã kiệt nước mội rồi. Chi tiết rất nhỏ ấy thôi, vậy đó, lại đang là tai hoạ tày trời !
Chắc chưa ai quên vụ lũ kinh hoàng ở Phú Yên vừa rồi. Cả thành phố Tuy Hoà, thị xã Sông Cầu chìm trong nước sâu. Gần trăm người chết. Ruộng đồng tan hoang… Một vị có trách nhiệm rất cao và trực tiếp giải thích : Ấy là vì biến đổi khí hậu toàn cầu, và lại nữa, vì nhân dân mất cảnh giác. Tại Trời và tại dân, Trời thì ngày càng tai ác, còn dân thì mãi ngu dốt ! Có một chi tiết hẳn ở cương vị của ông ấy, ông ấy ắt phải biết nhưng lại không thấy ông nói : năm nay, 2009, ở Phú Yên áp thấp nhiệt đới gây mưa 330 li ; năm 1991, cũng tại chính Phú Yên này, mưa 1300 li, gấp hơn ba lần. Năm 1991 không có gì đáng kể, năm 2009 lại tai hoạ khủng khiếp, vì sao ?
Ở miền Trung – mà ở cả nước đều vậy – ngày xưa chỉ có lụt và lụt là mùa rất vui, thậm chí thân thiết, mỗi năm lại trở lại một lần, người ta chờ nước lụt, nước lên từ tốn, ruộng đồng được tưới tắm phù sa, cũng là lúc làm ăn rộn rã, có lẽ cũng tương tự như mùa nước nổi ở Nam Bộ thuở nào. Ngày nay không còn lụt, chỉ có lũ. Lũ rất khác lụt, lũ là nước đột ngột đổ ập xuống, như thác, hung bạo, nhanh và dữ cho đến nổi, như vừa rồi, có người đã leo lên trần nhà rồi còn chết ngạt trong ấy vì không kịp dở mái để leo lên nữa ! Lũ không mang phù sa đến, lũ quét sạch tất cả những gì nó gặp trên đường đi, và kéo đất đá từ trên rừng xuống lấp hết ruộng đồng. Tất nhiên ngày xưa cũng có lũ, nhưng chỉ trong những năm mưa đặc biệt lớn, cả đời một con người chỉ chứng kiến vài lần. Ngày nay hễ đài vừa báo áp thấp nhiệt đới, thậm chí chỉ áp thấp, là cả nước đã rùng rùng lo chống lũ, sập núi, trôi rừng…
Con số 1300 li năm 1991 và 330 li năm 2009 là con số hùng hồn, nó nói rằng vụ Phú Yên vừa rồi không phải chủ yếu do biến đổi khí hậu toàn cầu, không phải do trời, như lời giải thích uyên bác của vị quan chức nọ.
Do người. Do cơ chế nước mội tinh tế, tinh vi, thông minh, nhân hậu tuyệt vời của thiên nhiên đã không còn, đã bị phá vỡ, bị đã bị con người triệt diệt bằng cách triệt diệt rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong một cuộc trao đổi ở Liên hiệp các Hội khoa học kỹ thuật trung ương vừa rồi, nhiều chuyên gia đã cảnh báo : không chỉ có nguy cơ lũ quét đâu, sau lũ quét sẽ tiếp đến nguy cơ hạn hán sẽ còn khốc liệt, tai hại hơn. Bởi vì nước mội và lụt hằng năm hiền lành là cùng một cơ chế, cùng một tác giả : Rừng. Rừng Tây Nguyên. Trong hơn 30 năm qua, từ sau 1975 chúng ta đã làm xong một công việc to lớn : cơ bản phá hết, cạo sạch đến tận cùng rừng tự nhiên trên cái mái nhà sinh tử của toàn Đông Dương này. Đã quét sạch xong hết trên mặt đất, bây giờ đang bắt đầu moi sạch nốt dưới lòng đất. Cao su tuyệt đối không phải là rừng, không sinh ra cơ chế nước mội. Các khu công nghiệp của công nghiệp hoá và hiện đại hoá càng tuyệt đối không phải là rừng. Một quy luật vận hành ổn định, điều hoà, thông minh của tự nhiên đã bị triệt diệt, nhanh và cơ bản hơn tất cả mọi giai đoạn từng có trong lịch sử. Một quy luật khác đã được thiết lập, quy luật của hỗn loạn.
Hãy nhìn lên cái mái nhà chung kia mà bao nhiêu thế hệ nhiều nghìn năm qua đã giao lại cho chúng ta, trên ấy đã mất hết màu xanh của sự sống.
Có còn cứu được không ?
Còn, với một điều kiện : biết giật mình, dừng lại, bắt đầu lại.
Cũng cần nói : hầu hết các nước mà ngày nay ta gọi là những nước phát triển đều đã đi qua "con đường đau khổ", đúng hơn là con đường ngu dại này, cũng từng tàn phá hết rừng trên mặt đất và đào bới tàn bạo lòng đất, ở nước họ, rồi ở các nước khác. Chỉ có điều, gần một thế kỷ trước họ đã giật mình dừng lại, và từ đó bắt đầu làm lại, khôi phục lại màu xanh cho đất đai, núi non của họ.
Đi sau, chúng ta có thể khôn ngoan hơn như lẽ ra phải thế. Sự vội vã, kiêu căng, và lòng tham không đáy, đã che mắt chúng ta. Đang còn tiếp tục che mắt chúng ta. Chúng ta vẫn còn hăng lắm trong việc chặt phá nốt đôi chút còn lại và đang bắt đầu một công cuộc đào bới hung dữ.
Cần ngay bây giờ chấm dứt mọi khai phá ở Tây Nguyên. Cần nghĩ đến một con đường sống khác, một kiểu sống khác, một kiểu phát triển khác. Trên cả nước. Trước hết trên mái nhà sinh tử Tây Nguyên. Bắt đầu lại một công cuộc cứu lấy Tây Nguyên. Bắt đầu một sự nghiệp to lớn trồng lại rừng Tây Nguyên, trong một trăm năm, quyết liệt, kiên định, thông minh, với những kế hoạch cụ thể, cho 50 năm, 20 năm, 10 năm, 5 năm, toàn Tây Nguyên, từng tỉnh, từng huyện, từng xã, từng làng.
Khôi phục lại màu xanh cho Tây Nguyên.
Bắt đầu ngay từ hôm nay, mùa xuân, mùa của màu xanh, của sự tỉnh táo, khôn ngoan.
Cho đến một ngày, có thể một trăm năm nữa, con cháu chúng ta sẽ có thể bụm vào lòng bàn tay một ngụm nước mội trong veo mát lạnh rỉ ra từ đất cát và ngữa cổ uống ngon lành. Và biết rằng cha ông chúng từng rất dại dột, nhưng rồi cũng đã từng biết khôn ngoan, để cho sự sống từng sắp bị triệt diệt, lại được cứu, lại sinh sôi, phát triển, trường tồn.
Cuối năm 2009
Nguyên Ngọc

NGUỒN : Bauxite Việt Nam

Tổng số lượt xem trang