Sao lại gây tranh cãi, thưa ông?
Tôi nghĩ thời điểm hiện nay đã chín muồi để bỏ câu kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Tôi cũng xin lưu ý, trên khắp thế giới không đâu có câu đó cả. Ngay cả ở Trung Quốc họ cũng không nói kinh tế Nhà nước là chủ đạo. Vấn đề ở đây là phải thực hiện tăng trưởng bền vững, có hiệu quả. Muốn như vậy phải phát huy tối đa mọi nguồn lực của người dân. Phát triển khu vực kinh tế dân doanh.
Chúng ta rất cần những tập đoàn nhưng phải là thực chất, chứ không phải như lâu nay các tập đoàn hình thành từ sự lắp ghép hành chính. Các số cộng hành chính này không đem lại một sức mạnh thật. Trái lại, nó còn gây ra quá nhiều vấn đề. Cũng phải nói, muốn cải cách tập đoàn, phải cải cách cả thể chế thị trường và thể chế quản lý của chúng ta. Hiện các doanh nghiệp tư nhân muốn tiếp cận tín dụng rất khó. Còn nhà nước muốn cấp tín dụng thì chỉ cần chỉ định. Như Vinashin vừa rồi, dù bị lỗ như vậy cũng được chỉ định cấp tín dụng thêm trong khi nền kinh tế thiếu hụt vốn rất lớn.
Cần phải nhìn thẳng vào sự thật rằng kinh tế nhà nước có thực sự chủ đạo hay do được người ta khoác cho cái áo đẹp, trong khi thực chất không phải như thế. Kết quả của nền kinh tế thực cho thấy rất rõ: Doanh nghiệp nhà nước sử dụng nhiều tín dụng, nhiều tài sản nhưng giá trị xuất khẩu, hiệu quả sử dụng lao động, kinh tế thấp. Như kiểu Vinashin, vừa làm mất của vừa mất người (hiện đã có 7 người bị khởi tố-PV). Số nợ của Vinashin tương đương 4,8% GDP của Việt Nam. Đây là số nợ khổng lồ.
Vậy theo ông, nếu bỏ cụm từ kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo thì nên sửa thế nào?
Theo tôi chỉ cần bỏ cụm từ Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo là được, chẳng cần thêm cái gì. Bỏ cụm từ đó cũng không làm mất gì cả mà chỉ giúp nền kinh tế phát huy được sự cạnh tranh hiệu quả, phát triển kinh tế dân doanh. Đặc biệt, sẽ tạo tiền đề cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Chứ hiện nay, một mặt Đảng, Nhà nước luôn khẳng định xây dựng môi trường pháp lý cạnh tranh bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, trong khi lại bảo ông doanh nghiệp nhà nước là chủ đạo. Như vậy là mâu thuẫn.
Nhưng về mặt pháp lý, từ sau 1-7-2010, Luật Doanh nghiệp nhà nước đã hết hiệu lực, các doanh nghiệp cùng chơi chung sân Luật Doanh nghiệp rồi, thưa ông?
Đứng về mặt pháp lý thì bình đẳng còn trong hành động thực tế thì chưa bình đẳng. Muốn cải thiện việc này thì phải cải cách cả bộ máy nhà nước. Trong đó có cải cách việc nhà nước không nên trực tiếp tham gia vào việc kinh doanh nhiều như hiện nay. Nhà nước hãy làm thật tốt y tế, giáo dục rồi tổ chức kết cấu cơ sở hạ tầng. Nhà nước không phải tự đứng ra làm mà chỉ đứng ra tổ chức đấu thầu thu hút vốn trong, ngoài nước, còn kinh doanh thì để cho doanh nghiệp tự làm.
Ở nước ngoài, quan chức chỉ là quan chức hành chính. Đã là quan chức nhà nước thì chỉ làm theo những gì luật pháp cho phép. Không thể để một ông vừa làm thứ trưởng vừa là chủ tịch HĐQT của doanh nghiệp hoặc bộ trưởng lại đi kiêm chủ tịch HĐQT của Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC). Giờ ông phải khoác thêm áo kinh doanh thì không biết trong người ông có mấy trái tim, vừa có trái tim kinh doanh lỗ lãi vừa có trái tim làm theo pháp luật. Như thế là rất tréo ngoe.
Chúng ta phải có can đảm nhìn vào sự thật, thấy những điều gì không phù hợp thực tế và không chứng minh được thì phải loại bỏ.
Thay đổi tư duy quản lý
Nhưng nếu kinh tế Nhà nước không là chủ đạo thì ai là chủ đạo, vì thực tế kinh tế dân doanh chưa thực sự mạnh, lại thêm cả lo ngại không quản được việc điều tiết về giá?
Các mệnh đề nói doanh nghiệp Nhà nước phải điều tiết, ổn định kinh tế vĩ mô đến nay cả về khoa học kinh tế và thực tế đều không được chứng minh. Tôi nghĩ hãy để doanh nghiệp là doanh nghiệp. Còn sử dụng các công cụ như quản lý giá thì tổ chức điều tra cạnh tranh xem ai bán hàng kém chất lượng, gian dối thì phạt tới bến. Khi đó tình hình sẽ ổn hơn hiện nay.
Tôi lưu ý từ thời kế hoạch hóa tập trung, quản lý giá bằng hành chính cũng không phát huy tác dụng gì cả. Thụy Điển là một nước có phúc lợi xã hội cao hơn của chúng ta nhiều lần mà họ có để kinh tế nhà nước là chủ đạo đâu. Hãy xem xét kinh nghiệm của các nước trước khi chúng ta tự tìm ra con đường riêng cho mình.
Nhìn vào thực lực khối tư nhân hiện nay, theo ông đã đủ sức làm những việc các doanh nghiệp nhà nước đã làm?
Lịch sử không thể thay đổi, sang trang chỉ sau một đêm. Phải có quá trình, qua từng bước phát triển. Cũng cần nhấn mạnh không phải mọi doanh nghiệp tư nhân ở ta hiện nay đều ngon lành. Những đại gia tư nhân của chúng ta hiện nay là thế nào. Họ có đóng góp gì vào tiến bộ khoa học công nghệ? Có như Bill Gates làm ra các phần mềm cả thế giới dùng? Có đóng góp vào tăng năng suất lao động, xuất khẩu không?
Phần lớn các đại gia đó đều có mối quan hệ với quan chức và được tiếp cận đất đai, mỏ tài nguyên, các nguồn khác và họ giàu lên rất nhanh từ những cái có sẵn này. Những đại gia này đều không có khả năng cạnh tranh quốc tế. Vì vậy không nên quá ảo tưởng hay nghĩ rằng doanh nghiệp tư nhân đã thay thế được. Nhưng không vì thế mà phủ định họ, khối tư nhân phải tiếp tục được coi trọng, cạnh tranh bình đẳng với các doanh nghiệp nhà nước.
Có nghĩa khu vực tư nhân chưa được ngon lành nên vẫn phải dựa vào doanh nghiệp nhà nước?
Theo tôi cần có lộ trình cắt giảm. Không ai cai sữa cho một đứa bé chỉ qua một đêm. Dần dần nhưng phải hướng tới môi trường cạnh tranh hơn, tạo điều kiện đòi hỏi các doanh nghiệp đó cạnh tranh hơn. Trung Quốc họ đã làm việc này. Anh muốn làm chủ tịch HĐQT, giám đốc thì phải qua đấu thầu: Mỗi năm tăng năng suất lao động bao nhiêu phần trăm, xuất khẩu, đổi mới công nghệ, giảm chi phí bao nhiêu…
Khi đó môi trường bổ nhiệm trong sáng hơn nhiều, tránh được vừa bổ nhiệm xong lại miễn nhiệm. Chúng ta cũng nên học các nước trong việc công khai minh bạch, áp dụng các tiêu chuẩn, tổ chức xét tuyển công khai và có chế độ đánh giá nghiêm ngặt hằng năm.
Dân mong Đảng không giáo điều, áp đặt tư duy(VietNamNet) - Mong muốn Đảng đổi mới tư duy, vượt qua chính mình là suy nghĩ được phần đông bạn đọc chia sẻ sau loạt bài của ông Bùi Đức Lại.-- Dân chủ là chìa khóa, là đòn bẩy cho sự nghiệp đổi mới (Tiền phong) Cựu Bộ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Đình Lộc--- Góp ý với dự thảo cương lĩnh 2011 – Phần 1: Cần một phương pháp luận mới cho xây dựng cương lĩnh (SGTT). Phần 2: Mấy vấn đề về chủ nghĩa xã hội.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội (BCHTƯ-ĐCSVN)
“…Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm …”
I- Quá trình cách mạng và những bài học kinh nghiệm
1. Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, đưa đất nước tiếp tục từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp thực tiễn Việt Nam.
Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, khó khăn, thách thức còn nhiều; trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.
2. Từ thực tiễn phong phú của cách mạng, Đảng đã rút ra những bài học lớn:
Một là, nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội - ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau.
Hai là, sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Chính nhân dân là người làm nên những thắng lợi lịch sử. Toàn bộ hoạt động của Đảng phải xuất phát từ lợi ích và nguyện vọng chân chính của nhân dân. Sức mạnh của Đảng là ở sự gắn bó máu thịt với nhân dân. Quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân sẽ dẫn đến những tổn thất không lường được đối với vận mệnh của đất nước.
Ba là, không ngừng củng cố, tăng cường đoàn kết: đoàn kết toàn Đảng, đoàn kết toàn dân, đoàn kết dân tộc, đoàn kết quốc tế. Đó là truyền thống quý báu và là nguồn sức mạnh to lớn của cách mạng nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công.
Bốn là, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tế. Trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng cần kiên định ý chí độc lập, tự chủ và nêu cao tinh thần hợp tác quốc tế, phát huy cao độ nội lực đồng thời tranh thủ ngoại lực, kết hợp yếu tố truyền thống với yếu tố hiện đại.
Năm là, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố hàng đầu quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng phải nắm vững, vận dụng sáng tạo và góp phần phát triển chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, không ngừng làm giàu trí tuệ, bản lĩnh chính trị và năng lực tổ chức để đủ sức giải quyết các vấn đề do thực tiễn cách mạng đặt ra. Mọi đường lối, chủ trương của Đảng phải xuất phát từ thực tế, tôn trọng quy luật khách quan. Phải phòng và chống những nguy cơ lớn: sai lầm về đường lối, bệnh quan liêu và sự thoái hoá, biến chất của cán bộ, đảng viên.
II- Quá độ lên Chủ nghĩa Xã hội ở nước ta
3. Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc.
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hoá diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên tiếp tục diễn ra phức tạp. Khu vực châu Á - Thái Bình Dương và Đông Nam Á phát triển năng động, nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định. Tình hình đó tạo thời cơ phát triển, đồng thời đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước đang và kém phát triển.
Trong quá trình hình thành và phát triển, Liên Xô (trước đây) và các nước xã hội chủ nghĩa khác đã đạt những thành tựu to lớn về nhiều mặt, từng là chỗ dựa cho phong trào hoà bình và cách mạng thế giới, góp phần quan trọng vào cuộc đấu tranh vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu sụp đổ là một tổn thất lớn đối với phong trào cách mạng thế giới, nhưng một số nước theo con đường xã hội chủ nghĩa vẫn kiên định mục tiêu, lý tưởng, tiến hành cải cách, đổi mới, giành được những thành tựu to lớn, tiếp tục phát triển; phong trào cộng sản và công nhân quốc tế có những bước hồi phục. Tuy nhiên, các nước theo con đường xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản và cánh tả vẫn còn gặp nhiều khó khăn, các thế lực thù địch tiếp tục chống phá, tìm cách xoá bỏ chủ nghĩa xã hội.
Hiện tại, chủ nghĩa tư bản còn tiềm năng phát triển, nhưng về bản chất vẫn là một chế độ áp bức, bóc lột và bất công. Những mâu thuẫn cơ bản vốn có của chủ nghĩa tư bản, nhất là mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hoá ngày càng cao của lực lượng sản xuất với chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa, chẳng những không giải quyết được mà ngày càng trở nên sâu sắc. Khủng hoảng kinh tế, chính trị, xã hội vẫn tiếp tục xảy ra. Chính sự vận động của những mâu thuẫn nội tại đó và cuộc đấu tranh của nhân dân lao động các nước sẽ quyết định vận mệnh của chủ nghĩa tư bản.
Các nước độc lập dân tộc và các nước đang phát triển, kém phát triển phải tiến hành cuộc đấu tranh rất khó khăn, phức tạp chống nghèo nàn, lạc hậu, chống mọi sự can thiệp, áp đặt và xâm lược để bảo vệ độc lập, chủ quyền dân tộc.
Nhân dân thế giới đang đứng trước những vấn đề toàn cầu cấp bách có liên quan đến vận mệnh loài người. Đó là giữ gìn hoà bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, hạn chế sự bùng nổ về dân số, phòng ngừa và đẩy lùi những dịch bệnh hiểm nghèo... Việc giải quyết những vấn đề đó đòi hỏi sự hợp tác và tinh thần trách nhiệm cao của tất cả các quốc gia, dân tộc.
Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp nhiều khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hoá của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội.
4. Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh.
Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Đây là một quá trình cách mạng sâu sắc, triệt để, đấu tranh phức tạp giữa cái cũ và cái mới nhằm tạo ra sự biến đổi về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước phát triển, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen. Tuy nhiên, chúng ta có nhiều thuận lợi cơ bản. Đó là: có sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, có bản lĩnh chính trị vững vàng và dày dạn kinh nghiệm lãnh đạo; dân tộc ta là một dân tộc anh hùng, có ý chí vươn lên mãnh liệt; nhân dân ta có lòng yêu nước nồng nàn, cần cù lao động và sáng tạo, luôn ủng hộ và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; chúng ta đã từng bước xây dựng được những cơ sở vật chất - kỹ thuật rất quan trọng; cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, sự hình thành và phát triển kinh tế tri thức cùng với quá trình toàn cầu hoá kinh tế và hội nhập quốc tế là một thời cơ để phát triển.
Mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hoá phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh.
Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành một nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để thực hiện thành công các mục tiêu trên, toàn Đảng, toàn dân ta cần nêu cao tinh thần cách mạng tiến công, ý chí tự lực tự cường, phát huy mọi tiềm năng và trí tuệ, tận dụng thời cơ, vượt qua thử thách, quán triệt và thực hiện tốt các phương hướng cơ bản sau đây:
Một là, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức.
Hai là, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
Bốn là, bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia.
Năm là, thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế.
Sáu là, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố và mở rộng Mặt trận dân tộc thống nhất.
Bảy là, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân.
Tám là, xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn như: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hoá, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;... Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí.
III- Những định hướng lớn về phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội, quốc phòng, an ninh, đối ngoại
5. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế. Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và theo nguyên tắc thị trường; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.
Phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm; thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Thường xuyên coi trọng phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Bảo đảm phát triển hài hoà giữa các vùng; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn. Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
6. Xây dựng nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hoá gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hoá nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Phát triển, nâng cao chất lượng sáng tạo văn học, nghệ thuật; khẳng định và biểu dương các giá trị chân, thiện, mỹ, phê phán những cái lỗi thời, thấp kém, đấu tranh chống những biểu hiện phi văn hoá, phản văn hoá. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân. Phát triển các phương tiện thông tin đại chúng đồng bộ, hiện đại, thông tin chân thực, đa dạng, kịp thời, phục vụ có hiệu quả sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.
Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Kết hợp và phát huy đầy đủ vai trò của xã hội, các đoàn thể, nhà trường, gia đình, từng tập thể lao động và cộng đồng dân cư trong việc chăm lo xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước; có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân; có tri thức, sức khoẻ, lao động giỏi; sống có văn hoá; có tinh thần quốc tế chân chính. Xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc, thật sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường trực tiếp, quan trọng giáo dục nếp sống và hình thành nhân cách. Đơn vị sản xuất, công tác, học tập, chiến đấu phải là môi trường rèn luyện phong cách làm việc có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất và hiệu quả cao, bồi đắp tình bạn, tình đồng chí, đồng đội, hình thành nhân cách con người và nền văn hoá Việt Nam.
Giáo dục và đào tạo có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư phát triển. Đổi mới toàn diện, mạnh mẽ giáo dục và đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo định hướng chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.
Khoa học và công nghệ giữ vai trò then chốt trong việc nâng cao trình độ lãnh đạo - quản lý đất nước, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phát triển khoa học và công nghệ nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Phát triển đồng bộ khoa học xã hội, khoa học tự nhiên, khoa học kỹ thuật gắn với phát triển văn hoá và nâng cao dân trí. Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và đẩy mạnh ứng dụng khoa học và công nghệ.
Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái. Phát triển "năng lượng sạch", "sản xuất sạch" và "tiêu dùng sạch". Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu. Bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia.
Chính sách xã hội đúng đắn, công bằng vì con người là động lực mạnh mẽ phát huy mọi năng lực sáng tạo của nhân dân trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Bảo đảm công bằng, bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý phát triển kinh tế với phát triển văn hoá, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách; phát triển hài hoà đời sống vật chất và đời sống tinh thần, không ngừng nâng cao đời sống của mọi thành viên trong xã hội về ăn, ở, đi lại, học tập, nghỉ ngơi, chữa bệnh và nâng cao thể chất, gắn nghĩa vụ với quyền lợi, cống hiến với hưởng thụ, lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội.
Tạo môi trường và điều kiện để mọi người lao động có việc làm và thu nhập tốt hơn. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững. Có chính sách điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Thực hiện tốt chính sách đối với người và gia đình có công với nước. Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của thanh, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi. Hạn chế, tiến tới đẩy lùi và giảm tác hại của tệ nạn xã hội. Bảo đảm quy mô hợp lý và chất lượng dân số.
Hình thành một cộng đồng xã hội văn minh, trong đó các giai cấp, các tầng lớp dân cư đoàn kết, bình đẳng về nghĩa vụ và quyền lợi. Xây dựng giai cấp công nhân lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng; là giai cấp lãnh đạo cách mạng thông qua đội tiên phong là Đảng Cộng sản Việt Nam, giai cấp tiên phong trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Xây dựng, phát huy vai trò chủ thể của giai cấp nông dân trong quá trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Đào tạo, bồi dưỡng, phát huy mọi tiềm năng và sức sáng tạo của đội ngũ trí thức để tạo nguồn lực trí tuệ và nhân tài cho đất nước. Xây dựng đội ngũ những nhà kinh doanh có tài, những nhà quản lý giỏi. Quan tâm đào tạo, bồi dưỡng thế hệ trẻ - chủ nhân tương lai của đất nước. Thực hiện bình đẳng giới và hành động vì sự tiến bộ của phụ nữ. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc dân tộc, chấp hành tốt pháp luật các nước sở tại, hướng về quê hương, góp phần xây dựng đất nước.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc, tạo mọi điều kiện để các dân tộc cùng phát triển, gắn bó mật thiết với sự phát triển chung của cộng đồng dân tộc Việt Nam. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hoá, ngôn ngữ, truyền thống tốt đẹp của các dân tộc. Chống tư tưởng kỳ thị và chia rẽ dân tộc. Các chính sách kinh tế - xã hội phải phù hợp với đặc thù của các vùng và các dân tộc, nhất là các dân tộc thiểu số.
Tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo - nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đấu tranh với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo làm tổn hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
7. Mục tiêu, nhiệm vụ của quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, giữ vững hoà bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Củng cố quốc phòng, giữ vững an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội là nhiệm vụ trọng yếu thường xuyên của Đảng, Nhà nước và toàn dân, trong đó Quân đội nhân dân và Công an nhân dân là nòng cốt. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, kết hợp chặt chẽ với thế trận an ninh nhân dân vững chắc. Phát triển đường lối, nghệ thuật quân sự chiến tranh nhân dân và lý luận, khoa học an ninh.
Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. Xây dựng Quân đội nhân dân với số quân thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên, dân quân tự vệ hùng hậu, có sức chiến đấu cao. Xây dựng lực lượng Công an nhân dân vững mạnh toàn diện; kết hợp lực lượng chuyên trách, nửa chuyên trách, các cơ quan bảo vệ pháp luật với phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong điều kiện mới. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.
Tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội, Công an nhân dân và sự nghiệp quốc phòng - an ninh.
8. Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hoà bình, hợp tác và phát triển; đa phương hoá, đa dạng hoá quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước; vì lợi ích quốc gia, dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước không phân biệt chế độ chính trị - xã hội khác nhau trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế.
Đảng Cộng sản Việt Nam trước sau như một ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại. Đảng Cộng sản Việt Nam mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, các đảng cầm quyền trên thế giới trên cơ sở độc lập, tự chủ, vì hoà bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển.
Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam với nhân dân các nước trên thế giới.
Phấn đấu cùng các nước ASEAN xây dựng Đông Nam Á thành khu vực hoà bình, ổn định, hợp tác và phát triển phồn vinh.
IV- Hệ thống chính trị và vai trò lãnh đạo của Đảng
9. Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hoá bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm.
Nhà nước quy định và bảo vệ các quyền công dân, quyền con người đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người.
10. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước định ra luật pháp và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Không ngừng hoàn thiện hệ thống tổ chức nhà nước.
Nhà nước gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân; có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó.
11. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.
Các đoàn thể nhân dân tuỳ theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ các quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.
12. Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động, lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức; thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.
*
Cương lĩnh này là ngọn cờ chiến đấu vì thắng lợi của sự nghiệp xây dựng đất nước Việt Nam từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội, định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷ tới. Thực hiện thắng lợi Cương lĩnh này, nước nhà nhất định trở thành một nước xã hội chủ nghĩa phồn vinh.
Đảng kêu gọi tất cả những người cộng sản, toàn thể đồng bào ở trong nước và ở nước ngoài mang hết tinh thần và nghị lực phấn đấu thực hiện thắng lợi Cương lĩnh, vững bước đi tới tương lai. Ban Chấp Hành Trung Ương Đảng Cộng Sản Việt Nam
Hà Nội, ngày 2 tháng 4 năm 2010
----------
Có phải “Ý Đảng – Lòng dân” trong việc xây dựng các văn kiện của Đại hội Đảng XI.[18/09/10] Người dân tích cực, hào hứng, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng chỉ khi có lòng tin của họ và mong muốn của Đảng được xây dựng trên nền tảng dám nhìn thẳng vào sự thật, thảo luận một cách công khai và dân chủ cùng với cả nước để tìm lối đi cho đất nước.
CÓ PHẢI “Ý ĐẢNG-LÒNG DÂN” TRONG VIỆC XÂY DỰNG CÁC VĂN KIỆN CỦA ĐẠI HỘI ĐẢNG XI? Tô Văn Trường
Trong bài viết “Cảm xúc tháng tư” ngày 1/4/2010, tôi đã phân tích Thông báo số 316-TB/TW ngày 15-3-2010 của Bộ Chính trị các văn kiện công bố lấy ý kiến nhân dân gồm các dự thảo: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 10 năm 2010-2020, và Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương khoá X. Trong đó, có đề cập phải sau hơn 6 tháng, nghĩa là đến 15-10-2010, các văn kiện mới được công bố để lấy ý kiến nhân dân. Như vậy, việc lấy ý kiến chỉ diễn ra trong vòng một tháng (từ 15 tháng 10 đến 15 tháng 11 năm nay) là quá muộn, dễ trở thành hình thức. Nếu phải chờ đến tận ngày 15/10 mới được góp ý với Đảng, chắc nhiều người không đủ kiên nhẫn, để nghiên cứu, suy nghĩ, vắt óc hiến kế trong khung cảnh hẹp cả về thời gian và cả lòng tin vào lãnh đạo. Người dân tích cực, hào hứng, tham gia đóng góp ý kiến với Đảng chỉ khi có lòng tin của họ và mong muốn của Đảng được xây dựng trên nền tảng dám nhìn thẳng vào sự thật, thảo luận một cách công khai và dân chủ cùng với cả nước để tìm lối đi cho đất nước. Phát huy dân chủ là tạo cơ chế để người dân, đặc biệt giới trí thức tham gia vào mọi mặt của cuộc sống, nhất là phản biện xã hội. Phản biện cần phải được thực hiện trong quá trình hình thành, tạo ra cơ chế, đường lối, chính sách chứ không phải sau khi đã ban hành để tránh không còn phải xé rào!
Ngay khi tổng kết rút kinh nghiệm Đổi mới từ năm 1986 người dân đã được biết qua bài viết của GS Đặng Phong cho đến nay vẫn còn nguyên tính thời sự “Những cuộc điều tra thăm dò khách quan, vai trò của báo chí, vai trò của Quốc hội, các cơ quan nghiên cứu độc lập đã không có điều kiện để phát huy hết hiệu quả. Có nơi, chúng chỉ mang nặng tính chất hình thức, như những vật làm cảnh hơn là những công cụ hữu hiệu của xã hội. Thay vào đó là một hệ thống những kênh thông tin khép kín, vừa chậm chạp, vừa nghèo nàn và méo mó. Trong nhiều trường hợp, sự méo mó đó cộng với quyền uy đã dẫn tới những sai lầm mang nặng tính chủ quan, duy ý chí, mà sau này Đại hội Đảng lần thứ VI đã kiểm điểm và phê phán nghiêm khắc.” Có thể nhiều ý kiến của nhân dân, đặc biệt của các vị lão thành cách mạng, ít nhiều đã tác động đến những người có thẩm quyền, cho nên Ban chấp hành Trung ương mới công bố các dự thảo văn kiện trình đại hội Đảng XI sớm hơn 1 tháng so với thông báo trước đây. Trong thời gian vừa qua, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có nhiều người viết góp ý với Đảng tùy theo chỗ đứng, góc nhìn về những điều mình mong muốn nhất hoặc thấy rõ nhất. Có nhiều bài viết chỉ 1 đến 3 trang nhưng có bài viết công phu đến hơn 40 trang, rất tâm huyết, quan tâm, trăn trở lo lắng về vận mệnh của đất nước. Nhiều phân tích, đề xuất sắc sảo, thẳng thắn mang tính đột phá về tư tưởng và hành động của các vị lão thành cách mạng, cán bộ nghỉ hưu, cựu chiến binh, giới trí thức, tiếc rằng vẫn chưa được làm rõ nét trong Dự thảo văn kiện!
Phải chăng do ngôn ngữ bất đồng theo nghĩa nói bằng thứ tiếng khác nhau hay là do các vấn đề liên quan về phương thức, cách thức lắng nghe tiếp thu ý kiến?! Theo thiển nghĩ của tôi, nếu tiếp tục cất công làm phép quy chiếu, đem so sánh kết cấu, từng câu chữ, để tranh luận tìm ra vài ý mới hay nhiều chỗ thụt lùi so với văn kiện cũ, chẳng giải quyết được vấn đề gì, bởi vì gò bó vào câu chữ sẽ bị cuốn theo lối mòn. Dù có viết góp ý hay đến mấy cũng thế thôi khi mà cốt lõi của vấn đề là người ta viết văn kiện vẫn theo lối tư duy, thói quen xưa nay là “ý Đảng, lòng Dân” vừa không chuẩn, vừa quá cảm tính. Thực ra, phải đặt ngược lại: Nguyện vọng của nhân dân phải trở thành ý chí của Đảng. Nhận thức là cả quá trình, tiếc thay cho đến tận ngày nay, người ta vẫn coi câu khẩu ngữ “ý Đảng, lòng Dân” như sự phát kiến vĩ đại. Ý là nói về lý trí, lý tính, duy lý có tính chất rất quan trọng, mang tính trí tuệ, thể hiện trong tư duy, định hướng, tầm nhìn, phương pháp luận, giải pháp v.v… Lòng có thể hiểu là thể hiện tình cảm, mong muốn. Chỉ khi nào viết văn kiện phù hợp với thực tế đúng đắn, sáng tạo, phong phú, sâu sắc được xây dựng trên quan điểm “ý Dân, lòng Dân” thì mới có giá trị đi vào cuộc sống.
Ngày xưa, Tư Mã Thiên có nói đại ý như sau: “Người phụ nữ làm đẹp vì người mình yêu, còn kẻ sỹ dốc sức vì tri kỷ.” Ngày nay, suy rộng ra, nếu Đảng với Dân là tri kỷ thì Đảng phải nghe Dân và Dân sẽ dốc lòng vì Đảng. Tôi chỉ đơn cử một vài ví dụ về quan điểm và các giải pháp đưa ra cần phải xem xét lại vì không logic, không được lòng dân. Trong lĩnh vực giáo dục mà lâu nay chỉ nói về đổi mới cơ bản và toàn diện, không nói về cải cách. Trong bối cảnh hội nhập, cần quan điểm mới, chính sách mới mà nhiều nước trên thế giới đã thực hiện cải cách giáo dục, có gì mà phải né tránh. Trong chiến lược phát triển giáo dục của nước ta vẫn chỉ chạy theo số lượng, chưa quan tâm đến chất lượng. Xin thử xem số liệu sau:
| Năm | 2006 | 2020 | Tốc độ tăng năm |
| Dân số | 84.155.800 | 97.208.267 | 1,5% |
| Độ tuổi 18-22 | 8.127.069 | 6.492.855 | -2,2% |
| Số sinh viên | 1.666.200 | 4.374.372 | 10,1% |
| Số sinh viên/10.000 dân | 195 | 450 | 8,7% |
Theo đó, số sinh viên phải tăng 10,1% một năm thì mới có thể đạt 450 sinh viên trên 10 ngàn dân. Vậy thử hỏi phải làm các biện pháp gì, như thế nào, khi nào để có thể tăng số giáo sư ở mức độ hiện nay lên, để ít nhất là giữ được chất lượng như hiện nay? Nếu muốn giữ chất lượng cao hơn, tức là giảm số sinh viên trên 1 giáo sư thì tốc độ tăng phải cao hơn nhiều. Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 2011-2020 có viết "Nhà nước tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng đường bộ và đường sắt cao tốc Bắc-Nam, một số cảng biển và cảng hàng không đạt đẳng cấp quốc tế, hạ tầng đô thị tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh”. Trong thời gian vừa qua, người dân, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã phân tích thấu đáo, chỉ rõ những bất cập, không hiệu quả về kinh tế, xã hội, thậm chí ảo tưởng, phiêu lưu về dự án đường sắt cao tốc Bắc Nam – Kim tự tháp của Việt Nam. Mặc dù chịu sức ép từ nhiều phía, Quốc hội đã sáng suốt, dũng cảm, bỏ phiếu bác bỏ dự án này, thể hiện ý chí, nguyện vọng của cử tri.
Thật khó hiểu, trong chiến lược phát triển kinh tế của Đảng đến 2020 (chỉ còn 10 năm nữa) trong lúc rất khó khăn về kinh tế, nhân lực hạn chế, nợ công, “nợ ngầm” đã đến mức báo động lại vẫn cứ đưa ra kế hoạch tập trung nguồn lực xây dựng đường sắt cao tốc Bắc-Nam!? Lâu nay, nhiều vụ khiếu kiện gây bất ổn trong xã hội chính là liên quan đến vấn đề cho nhà nước toàn quyền phân phối "quyền sử dụng đất"! Câu hỏi được đặt ra là tại sao một chính quyền dù ở bất cứ vị trí nào từ trung ương đến địa phương có quyền lấy đất canh tác của dân để giao cho một doanh nghiệp khi cả hai về mặt luật pháp là hai thực thể kinh tế độc lập và giống nhau!? Ở các nước, chỉ có thể lấy lại đất tư nhân nếu như sử dụng để xây dựng công trình công cộng như đường sá, công viên, sân bay, bến cảng v.v… chứ không có quyền lấy đất giao cho doanh nghiệp. Làm như thế là phân biệt đối xử, vi phạm hiến pháp. Nếu vì lý do kinh tế mà lấy lại thì phải có cơ chế bảo đảm không có phân biệt đối xử, thí dụ thông qua quyết định của cộng đồng và sau khi nhà nước lấy lại, phải có đấu giá để mọi người tham dự. Một trong những vấn đề quan trọng, cốt tử liên quan đến sự ổn định và phát triển của đất nước là việc lựa chọn nhân sự thì Đảng lại không hỏi dân!? Nguyên Phó thủ tướng Đồng Sỹ Nguyên, một vị tướng đáng kính của nước nhà cũng bày tỏ quan điểm lựa chọn người lãnh đạo, rất hay, rất đẹp nhưng xin thưa rất khó thực hiện. Trong cơ chế hiện nay, và văn hóa của người Việt, đòi hỏi người đương chức, đương quyền tự đổi mới mình là việc rất khó. Suy cho cùng cái "thói quen" (như Lenin nói) và tư duy nhiệm kỳ vẫn còn hằn sâu trong nếp nghĩ của không ít người có thẩm quyền. Muốn có giống nòi tốt, những hạt nhân để quy hoạch đào tạo nguồn nhân lực cho đất nước thì phải đổi mới cơ chế bầu cử, cơ chế nhân sự, có tranh cử thực sự, hay nói theo cách khác là phải từ bỏ một tập tục "lấy nhau" trong đảng, giống như tập tục lấy nhau giữa những người cùng huyết thống.
Cách làm cán bộ lãnh đạo cũ chọn hay chỉ định cán bộ mới ra để bầu cử, không phải tranh cử, tức là chọn những người giống mình, cùng suy nghĩ như mình, tệ hơn là sẵn sàng "hẩu" với mình. Cách chọn người lãnh đạo như thế thì dù có để mọi người bầu hay đại biểu bầu cũng thế thôi bởi vì sẽ không thể loại được cái gọi là sự xuống cấp của gene. Do chọn lựa trong nhóm quá nhỏ bé, và nếu phải gene tồi thì cái xã hội nhỏ bé đó sẽ lập lại cái gene tồi đó ở mức cao hơn và rộng hơn. Ở một xã hội rộng lớn hơn thì gene mạnh sẽ đánh bật gene yếu theo thuyết Darwin. Ở một tập thể ngày càng teo lại thì làm gì có gene mạnh để được tuyển chọn. Trong bối cảnh nguồn nhân sự và cách bầu cử như hiện nay, người dân chỉ mong sao có cơ chế phân bổ quyền lực, kiểm tra, kiểm soát hữu hiệu để những người được bầu vào cương vị lãnh đạo nhà nước ở trung ương cũng như địa phương luôn biết tự vấn, nhìn lại mình, hiểu được rõ năng lực và uy tín của mình đối với xã hội. Thực tế, trong cơ chế hiện nay, chúng ta không thể tìm được vĩ nhân, lãnh tụ như Hồ Chủ Tịch, hay những người học trò xuất sắc của Bác thời xưa, có tư duy chính trị, văn hóa, năng lực, phẩm chất trí tuệ, luôn đấu tranh, biết hy sinh vì nền độc lập và quyền lợi cho dân tộc, cho đất nước. Bởi thế, càng cần có thể chế xã hội phải làm sao để tự nó vận hành trong khuôn khổ pháp luật, giúp cho người lãnh đạo thời nay hiểu được rằng làm công bộc của dân không phải dễ và khi họ có làm sai cũng hạn chế tối đa mức độ gây thiệt hại cho xã hội. Từ trước đến nay, chúng ta quen nói đến “ý Đảng, lòng Dân”. Lịch sử cũng đã chứng minh rằng sức mạnh của Đảng là nằm trong khối đại đoàn kết toàn dân, thành công của Đảng là bởi các quyết sách của Đảng đưa ra phù hợp với “lòng Dân”. Bởi vậy đã đến lúc phải nhận thức rằng “ý Đảng” cũng là “”ý Dân”, từ đó có thể nói cụm từ quen thuộc trên thành “Ý Dân, lòng Dân” vừa đúng nghĩa vừa sâu sắc hơn. Để văn kiện của Đảng thực sự có sức sống, nội dung phải được xây dựng trên tinh thần cầu thị, dân chủ lấy “Dân làm gốc”. Các vấn đề Đảng nêu ra xuất phát từ ý Dân, lòng Dân sẽ được sự ủng hộ của Dân, chỉ khi đó nội dung văn kiện, các câu chữ, khẩu hiệu mới biến thành sức mạnh vật chất để toàn Đảng, toàn Dân phấn đấu đạt mục tiêu cho đại hội Đảng lần thứ XI.
Ban Tuyên giáo chỉ đạo việc lấy ý kiến về văn kiện (VietNamNet)- Báo chí không đăng ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên CNXH, về học thuyết Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Ban Tuyên giáo chỉ đạo việc lấy ý kiến về văn kiện (VNN 21-9-10) -- "Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng.." Ô hô!Các dự thảo văn kiện cần được thông tin chính xác, trung thực, đầy đủ, tránh mọi sơ xuất, việc công bố thực hiện theo đúng lộ trình, thời gian.
- Điều kiện tiên quyết là nghiêm từ trên “Các nước tiết kiệm và chống lãng phí có nhiều sáng kiến phong phú, ý thức tôn trọng giữ gìn tiền dân đóng thuế rất cao, nhiều quyết định hợp với lòng dân, nổi bật vẫn là kỷ cương phép nước rất nghiêm, trước hết từ bên trên, khác hẳn ở nước ta” (Đại ĐK).-- Góp ý cho Đảng đâu chỉ là việc của cựu quan chức! (blog Da vàng). “Tại sao có sự im lặng đến khó hiểu của những người đang là Đảng viên nói riêng và đang là quan chức nói chung?”
Bùi Quang Vơm - Góp ý với đảng: Hãy giải tán Quốc Hội
Cho nên hoặc giải tán Quốc hội để khỏi mang nhục là Quốc hội bù nhìn, chỉ "để thực hiện đường lối chính sách đã chỉ ra trong nghị quyết đảng", nhận Cương lĩnh đảng thay cho Hiến pháp, hoặc là phải hạ bệ cái tổ chức nằm bên trên Quốc hội ấy xuống. Giải phóng Hiến Pháp khỏi sự lệ thuộc vào Cương lĩnh. Còn giữ cái cũi, cái lồng Cương lĩnh ấy thì bàn thêm chuyện sửa đổi Hiến pháp để làm gì. Chạy đi đâu cũng vẫn trong cái lồng ấy .
Bùi Quang Vơm gửi 22.09.2010
Chuyện sửa đổi Hiến pháp đã khuấy động dư luận từ nhiều năm nay. Nhiều ý kiến đóng góp của nhiều nhân vật quan trọng, nhiều quan chức cao cấp, nhiều đầu óc thông tuệ ... không thiếu tâm huyết và chắc cũng mất không ít thời gian, công sức. Từ Trung tướng Ủy viên Bộ chính trị Đồng Sĩ Nguyên, tới nguyên Chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Văn An, từ cựu Bộ trưởng Tư pháp Nguyễn Đình Lộc, TS Tường Duy Kiên ,Trung tâm Nhân quyền - Học viện Chính trị quốc gia, GS Đào Trí Úc ,ĐH Quốc gia Hà Nội, PGS Đinh Ngọc Vượng ,Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam tới... Báo chí cũng đăng rất nhiều ý kiến của công dân đủ mọi thành phần, lứa tuổi, đủ mọi trình độ. Tuần báo Vietnamnet có thể đã tập hợp được hàng nghìn chất vấn và kiến nghị.
Nói chung, sửa và sửa một cách triệt để Hiến Pháp là một nguyện vọng vừa nung nấu, vừa cháy bỏng. Vì nó chứa đựng hy vọng đổi đời. Đời của một dân tộc trong đó có đời của mỗi công dân. Và đặc biệt là hy vọng không bị liệt vào những kẻ khác người, có thể đi lẫn với xung quanh mà không xấu hổ, không bị coi là lập dị. Phải đảm bảo quyền tự do, tự quyết, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật những hành vi cá nhân của mình. Phải đảm bảo quyền dân chủ trực tiếp, quyền phúc quyết hiến pháp của dân, quyền quyết định vận mệnh của Chính phủ, của chế độ.v.v..
Nhưng chuyện chẳng đi đến đâu cả, và sẽ chẳng đi đến đâu hết.
Tại sao? Ai cũng biết, nhưng không ai dám nói ra. Đó là sự hèn đớn, suy sụp của tinh hoa dân tộc, sản phẩm của một khủng hoảng đức tin và đạo đức, sinh ra từ một hệ tư tưởng và một hệ thống giáo dục tội lỗi.
Ông Nguyễn Đình Lộc nguyên Bộ Trưởng Tư pháp thắc mắc: "Vì sao chỉ trong 46 năm từ 1946 đến 1992 mà ta có đến 4 hiến pháp - không kể những lần sửa đổi? Nước Mỹ 200 năm qua chỉ có một Hiến pháp. Hiến pháp 1980 dự định là Hiến pháp của cả thời kỳ quá độ, nhưng chưa kịp thi hành đã bị thay thế bằng Hiến pháp 1992, rồi 2001 lại sửa, giờ lại sửa tiếp. Không lẽ việc sửa đổi Hiến pháp đã trở thành truyền thống?".
Không có gì khó hiểu. Và chính ông cũng biết. Hiến pháp phải thay đổi vì Cương lĩnh chính trị của đảng thay đổi. Bởi vì, Hiến pháp chỉ là công cụ để thể chế hóa, luật pháp hóa quyền lực của đảng. Nhận thức của đảng thay đổi, lợi ích của Đảng thay đổi, nghĩa là Cương lĩnh của Đảng thay đổi thì đương nhiên Hiến Pháp phải thay đổi. Thậm chí, chỉ cần tương quan sức mạnh trong nội bộ đảng thay đổi, thì vũ khí hay công cụ quyền lực phải thay đổi tương ứng . Hiến Pháp trước hết phải bảo vệ Đảng, tức là bảo vệ sự tồn tại của Đảng, bảo vệ quyền và lợi ích của Đảng. Và vì vậy, khi đảng cần nó có hình thù như thế nào, nó phải biến đổi để có hình dạng như vậy. Còn nó có hợp lòng dân, hợp với thời đại hay không, thì tùy cơ ứng biến. "Trình độ dân trí của ta còn thấp ", nói thế nào chả được, thế nào dân chả nghe.
Nhưng cái xảo trá lập lờ của những người soạn thảo Cương lĩnh( lần này là Nguyễn Phú Trọng và Tô Huy Rứa) là lúc nào cũng núp dưới danh nghĩa "trung thành với lý tưởng XHCN ", nhằm tìm kiếm lá chắn của chính nghĩa. Chính vì vậy mà dự thảo sửa đổi đầy rẫy những "xã hội chủ nghĩa " : "quá độ xã hội chủ nghĩa ", "kinh tế thị trường định hướng xã hôị chủ nghĩa ", nhà nước "pháp quyền xã hội chủ nghĩa ", "dân chủ tập trung "xã hội chủ nghĩa, nhân quyền xã hội chủ nghĩa ... và phải hiểu rằng, chữ xã hội chủ nghĩa ở đây có nghĩa là "sự giám sát và điều khiển của Đảng ". Kinh tế thị trường do đảng chỉ đạo, nhà nước pháp quyền do đảng điều khiển, dân chủ tập trung do đảng quyết định, nhân quyền nhưng phải được đảng chấp thuận.
Và muốn sửa Hiến pháp phải có chỉ đạo của Đảng. Không phải dân muốn sửa là sửa.
Từ tháng 10/2007, ông Uông Chu Lưu, phó chủ tịch Quốc hội đã nói : "... phải tổ chức việc nghiên cứu, tổng kết việc thực hiện các chế định của Hiến pháp, làm cơ sở cho việc thực hiện một số chủ trương, đường lối, chính sách đã đề ra trong nghị quyết của Đảng".
... việc sửa đổi hiến pháp "cần chờ ĐH Đảng toàn quốc để sửa đổi cương lĩnh, trên cơ sở đó, đặt vấn đề sửa đổi Hiến pháp thì sẽ đáp ứng được nhiều yêu cầu hơn. "Bây giờ nếu chúng ta sửa Hiến pháp, rồi sau khi Đảng sửa cương lĩnh, lại đặt vấn đề sửa Hiến pháp nữa thì rất phức tạp".
Theo ông Nguyễn văn thuận, chủ nhiệm UB Pháp luật: "Kinh nghiệm chúng ta có, cách làm cũng có, chỉ vướng ở chỗ chủ trương sửa đổi Hiến pháp là của Ban chấp hành TW, cho nên nếu đưa ngay ra QH lần này thì không ổn vì TW chưa cho chủ trương, nhưng phải có cách nào đó để báo cáo trình vào thời điểm thích hợp để có thể sau đợt này sẽ báo cáo Bộ Chính trị".
Quốc hội họp ngày 17/06/2010 nói: "Việc sửa đổi Hiến Pháp phải tiến hành trên cơ sở cập nhật cương lĩnh chính trị, chiến lược phát triển KT-XH 2011 – 2020 mà ĐH Đảng toàn quốc lần thứ XI sẽ thông qua".
Rõ ràng là chẳng có gì mà không hiểu! "...các chế định của Hiến pháp" chỉ để "làm cơ sở để thực hiện đường lối, chính sách đã đề ra trong nghị quyết của Đảng". Phải chờ đảng cho phép. Phải chờ đảng ra luật Mẹ trước. Hiến pháp không phải là Đạo luật gốc của mọi đạo luật, không phải là khung của hệ thống pháp lý, không phải là Luật mẹ của các luật con. Không phải Quốc hội là cơ quan lập pháp cao nhất. Bên trên Hiến pháp là Cương lĩnh của Đảng cộng sản. Bên trên Quốc hội là Bộ Chính trị. Hiến pháp nằm bên dưới và bên trong cái cũi Cương lĩnh. Hiến pháp bị Cương lĩnh giam hãm. Quốc hội bị cầm tù hay chỉ là một con rối .
Sửa cái gì và sửa như thế nào, không phải là quyền và là việc của dân. Nếu cứ gọi là Quốc hội là Dân, Đại diện cho Dân, là của Dân, đáng lẽ là cơ quan cao nhất quyết định mọi chuyện hệ trọng nhất của đất nước, thì lại phải "trình", phải "xin chỉ đạo của Bộ chính trị".
Chuyện tày đình, chuyện quan hệ tới vận mệnh và phát triển đất nước như "nền tảng chủ nghĩa Mác-Lê", như "phát triển theo con đường tiến tới xã hội chủ nghĩa " là việc riêng của đảng, đảng lựa chọn và quyết định áp đặt cho đất nước, dân không được động đến. Ngày 10/09/2010, Ban Tuyên giáo TƯ đã có hướng dẫn cụ thể: “Không đăng và phát trên các phương tiện thông tin đại chúng những ý kiến phản bác chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, về con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, về học thuyết Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh, về vai trò lãnh đạo của Đảng”.
Như vậy còn gì nữa mà đòi. Không được đụng đến học thuyết Mác- Lê và vai trò lãnh đạo của Đảng. Nghĩa là điều 4 của Hiến pháp 1992 không được bàn đến. Nghĩa là tất cả vẫn nằm dưới sự kiểm soát và cai trị của đảng cộng sản. Nghĩa là vẫn còn nguyên hệ thống kìm kẹp. Mọi chuyện bàn cãi, tranh luận mà đảng kêu gọi, báo chí háo hức đều là chuyện vô bổ, chuyện giả dối như những đại hội trước, chẳng để làm gì.
Ông Nguyễn Đình Lộc nói: "năm 2001 lúc sửa Hiến pháp, đưa được vào Hiến pháp điều Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân thì rất mừng, sướng quá, xem đó như một thắng lợi. Nhưng 10 năm trôi qua, giờ nhìn lại thấy giật mình hỏi: chỉ đưa vào từng đó là đủ, là hết à? Rõ ràng là không phải, vì cả 5 chương về bộ máy nhà nước chúng ta vẫn quy định theo cách cũ ".
Thật tội nghiệp cho một vị Bộ trưởng, người đứng đầu ngành Tư Pháp của một đất nước, mà thấy "đưa được vào Hiến pháp điều Nhà nước ta là nhà nước pháp quyền của dân do dân vì dân" thì "sướng quá, xem đó như một thắng lợi ". Thế tức là từ năm 2001 trở về trước, Đảng đã "cướp đoạt "mất Nhà nước của Dân. Bộ trưởng là quan chức cao cấp của Đảng mà "sướng quá " thì sự ấm ức, uất hận về một sự đè nén, áp bức và bất công, đúng là đã có từ lâu. Và "xem đó như một thắng lợi ". Ai thắng ai đây? Có phải Bộ trưởng muốn nói: dân thắng Đảng? Nghĩa là từ trước tới nay Đảng chống lại dân. Từ trước tới nay dân và Đảng là hai phía đối lập? Dân phải liên tục đấu tranh, giành giật từng «thước đất " mà Đảng cướp mất?
Có vẻ đúng là vậy. Từ sau đổi mới, trong dân gian, người già thường hay nói: "Con ơi nhớ lấy câu này, cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan". Đảng đã biến chất. Đảng đã sợ dân, và ghét dân. Còn dân thì không còn ai tin đảng nữa. Ngoài đường phố, danh từ "đảng" có nghĩa là "xấu". Người ta nói: "Thằng cha ấy đảng viên nhưng mà tốt" hoặc "Hắn là Bí thư nhưng không ăn cắp ".
Chính Bộ trưởng Nguyễn Đình Lộc nhớ lại: "Ông Lộc ơi, ông ở bộ Tư pháp, gần đây chúng tôi có nghe một từ lạ lắm là thị trường nhân sự. Nhân sự hiện nay trở thành thị trường để mua bán, và từ mua bán đó cho nên bộ máy chúng ta tiêu cực đi đến hư hỏng. Vì có chức có quyền, mua chức mua quyền đều có giá của nó từ cao đến thấp."
Nhân sự là một loại thị trường! Ai, cái gì tạo ra loại thị trường này? Đó là cơ chế đảng lãnh đạo. Tổ chức nhân sự là độc quyền của đảng. Đã là độc quyền thì không còn giám sát. Độc quyền phải đem lại đặc lợi. Và đặc lợi là mục đích của mọi thứ thủ đoạn và tội ác.
Và đúng là dân đã phải chiến đấu chống lại đảng. Nhưng bao giờ dân cũng thua. Ông Lộc nói: “Bây giờ nhìn lại mớ chua xót. Mười năm trôi qua mà cả 5 chương về bộ máy nhà nước vẫn quy định theo cách cũ ". Nghĩa là chẳng có gì thay đổi về chuyện "tam quyền phân lập ". Và tới đây nữa, cũng chẳng có gì thay đổi. Vẫn là "nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ", tức là pháp quyền dưới sự cai trị thống nhất của Đảng, bởi vì chủ nghĩa Mác- lê là Chuyên chính vô sản, là độc chiếm chính trị và quyền lực chính trị, phân quyền chỉ là hình thức, vẫn chỉ là chuyện "treo đầu dê, bán thịt chó ". Còn cái chuyện Tòa Hiến pháp thì còn lâu. "Hãy chờ đấy !". Định xét lại cả Hiến pháp à ! Không thể được, vì có điểm nào của Hiến pháp hiện nay là hợp Hiến đâu, bỏ hết à ? Nhưng Hiến pháp thực chất là Cương lĩnh. Xét xử Hiến pháp là xét xử Cương lĩnh. Ai cho quyền xét xử Cương lĩnh đảng. Xét xử cương lĩnh là xét xử Bộ Chính trị. Không thể được. Bộ chính trị là cha mẹ dân, là người xỏ mũi lịch sử.
Tóm lại là Hiến pháp không việc gì phải sửa đổi. Bởi chính bản thân Hiến pháp thực chất không tồn tại, nó chỉ là cái bóng vụng về, chắp vá và đầy mâu thuẫn của Cương lĩnh. Cho nên kỳ Đại hội này, xin kiến nghị với Đảng giải tán Quốc hội bù nhìn đi. Với tư cách cơ quan lập pháp tối cao, thì Bộ Chính trị và Ban bí thư là đủ rồi và đấy mới là Quốc hội thực thụ, vả lại dưới Ban bí thư là hệ thống các ban nghiên cứu, các học viện đủ loại, làm sao phải cần các Ủy ban nào của ai nữa !
Và với tư cách là căn cứ cao nhất tạo khung cho pháp luật, thì chỉ cần Cương lĩnh của Đảng là đủ . Đây chính là Hiến pháp của nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Thật là nhất cử mà tiện cho vạn sự. Không phải lo cưỡng ép gượng gạo điều 4 vào Hiến pháp để lập lờ đánh lận Đảng và Dân tộc. Cứ cái gì của dân tộc cũng vơ vào là của đảng. Rồi cứ cái gì cuả đảng cũng lợi dụng danh nghĩa dân tộc. Quân đội, Công an và Tòa án là của dân thì đảng kêu là của Đảng, phải trung thành tuyệt đối với đảng, chấp hành mệnh lệnh của đảng đàn áp thẳng tay những gì chống lại đảng. Còn cả bộ máy khổng lồ của riêng đảng, không làm gì, không tạo ra gì cho dân cho nước thì đảng cố tình gán ghép là từ "nhân dân mà ra ", "do dân nuôi dưỡng" để lập lờ sống nhờ tiền thuế của dân .
Giải tán Quốc hội thì Đảng sẽ bớt cho đất nước một tổ chức vô công rồi nghề, ăn tốn tiền của của dân của nước. Mọi việc hiên nay của quốc hội, đều do ban bí thư đề xuất và trực tiếp chỉ đạo, có ý kiến sát sạt của Bộ chính trị, tại sao còn phải cần một Ủy ban thường vụ Quốc hội với đầy đủ các loại ủy ban bên dưới nữa. Thừa. Không cần và không nên lãng phí của dân! Và như vậy, dân sẽ không cần đòi phải phúc quyết Hiến pháp.
Hoặc có cách khác, thực tế hơn, nghiêm túc hơn là rút bỏ Cương lĩnh. Bởi vì, cương lĩnh chính trị của một đảng chỉ có giá trị quy phạm hay dẫn dắt đối với những thành viên của nó, tức là những người tự nguyện thừa nhận tôn chỉ, lý tưởng và các quy tắc hoạt động của nó. Không có ràng buộc pháp lý. Không có giá trị gì với những người theo đảng phái hay đức tin khác. Càng không thể là hướng đạo cưỡng bức một dân tộc. Nếu muốn được thừa nhận, cương lĩnh của đảng phải được đưa ra Trưng cầu dân ý.
Trên thế giới, mọi chính phủ, thực chất vẫn do một đảng lãnh đạo. Nghĩa là tất cả đều là đảng cầm quyền. Nhưng không phải đảng độc quyền. Đảng sẽ cầm quyền khi thắng cử, bằng cương lĩnh tư tưởng và chương trình hành động của mình. Cương lĩnh và chương trình hành động của họ phải cọ sát công khai với các cương lĩnh và chương trình của các đảng phái khác. Người mà họ chọn lọc giới thiệu là hạt nhân ưu tú và xuất sắc nhất của họ. Những đối thủ lọt vào vòng chung kết phải đối chất công khai trước công chúng. Sau đó phải trực tiếp và đích thân giải thích chương trình và trả lời chất vấn của công chúng trên phương tiện truyền thông đại chúng. Về nguyên tắc, càng nhiều chương trình cạnh tranh công khai trước toàn thể công chúng quốc gia bao nhiêu, càng có xác xuất lựa chọn tối ưu nhất, hoặc ít sai sót nhất. Nghĩa là càng có nhiều đảng phái hay tập hợp chính trị khác nhau ganh đua lành mạnh thì càng tốt. Nhân dân và quốc gia là người thụ hưởng và giám sát cuối cùng. Cơ chế dân chủ không thể thông qua Mặt trận do đảng lãnh đạo hiệp thương. Các lực lược chính trị tự chọn lựa, giới thiệu và bảo vệ ứng cử viên của mình. Bên trong cái vòng đảng lãnh đạo thì không thể có cơ chế nào là dân chủ thực sự. Đừng tìm ở Mặt trận.
Cho nên hoặc giải tán Quốc hội để khỏi mang nhục là Quốc hội bù nhìn, chỉ "để thực hiện đường lối chính sách đã chỉ ra trong nghị quyết đảng", nhận Cương lĩnh đảng thay cho Hiến pháp, hoặc là phải hạ bệ cái tổ chức nằm bên trên Quốc hội ấy xuống. Giải phóng Hiến Pháp khỏi sự lệ thuộc vào Cương lĩnh. Còn giữ cái cũi, cái lồng Cương lĩnh ấy thì bàn thêm chuyện sửa đổi Hiến pháp để làm gì. Chạy đi đâu cũng vẫn trong cái lồng ấy .
Theo cá nhân tôi, thì giải pháp nào cũng được. Miễn là không thừa, không dẫm đạp lên nhau, tiêu tốn tiền của của dân.
* Mọi trích dẫn in nghiêng đều lấy từ vienamnet.vn
- Bùi Đức Lại: Đảng lãnh đạo trong chế độ dân chủ nhân dân.
Thứ Tư, 22/09/2010 (GMT+7) - Cần sớm đổi mới chế độ bầu cử theo hướng đảm bảo thực sự dân chủ; bãi bỏ các quy định và việc làm hạn chế ứng cử, đề cử, thực hiện quyền tranh cử công khai...
LTS: Trong các dự thảo văn kiện được công bố để lấy ý kiến nhân dân, dự thảo Cương lĩnh bổ sung sửa đổi Cương lĩnh 1991 được xem là văn kiện quan trọng nhất, bởi Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, xác lập con đường xây dựng, lãnh đạo đất nước trong 10 năm tới.
Trong bài viết mới đây, Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên.
Ông Bùi Đức Lại, từng công tác nhiều năm tại Ban Tổ chức Trung ương đã gửi tới VietNamNet loạt bài góp ý cho dự thảo Cương lĩnh. Góc nhìn của một chuyên gia cao cấp trong lĩnh vực tổ chức, nhân sự của Đảng, có thể có nhiều chỗ cần phải tranh luận, bàn thảo thêm để làm sáng tỏ vấn đề. Nhưng như ông Bùi Đức Lại đã nhấn mạnh, với tư cách một đảng viên gắn bó sâu sắc với Đảng, ông cũng mạnh dạn đưa ra, như một sự xới xáo vấn đề một cách nghiêm túc và xây dựng, trên tinh thần tôn trọng những ý kiến khác biệt mà người đứng đầu Đảng luôn kêu gọi.
VietNamNet giới thiệu bài viết thứ ba của ông Bùi Đức Lại. Mời bạn đọc cùng tranh luận.
Sự suy thoái của đảng cộng sản cầm quyền là nguyên nhân chính trị quan trọng và trực tiếp nhất dẫn đến sự sụp đổ của mô hình cũ của chủ nghĩa xã hội. Các khuyết tật có bản chất như nhau đã phát sinh khá phổ biến trong nhiều đảng, chứng tỏ rằng cần tìm nguyên nhân suy thoái trong những vấn đề tầm nguyên lý, nguyên tắc. Tất nhiên không thể bỏ qua trách nhiệm của tập đoàn lãnh đạo và cá nhân người đứng đầu về những sai lầm, thậm chí tội lỗi họ phạm phải, nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc tìm và quy trách nhiệm cá nhân thì không thể chỉ đúng nguyên nhân cơ bản, không tránh được nguy cơ lặp lại sai lầm tương tự.
Ngăn chặn nguy cơ suy thoái
1- Trong mô hình cũ của CNXH, đảng lãnh đạo trên thực tế hoạt động như một thực thể chính trị nắm toàn bộ quyền lực, đứng trên hiến pháp, luật pháp và các cơ quan nhà nước, làm thay nhà nước; các cơ quan nhà nước (lập pháp, hành pháp, tư pháp) trở thành công cụ chấp hành trực tiếp thực hiện ý chí của đảng; các tổ chức đoàn thể chính trị xã hội trở thành cánh tay nối dài của đảng. Nhiều việc, nhiều mối quan hệ vốn mang tính đặc thù, là giải pháp tình thế trong giai đoạn giành chính quyền được thể chế hóa, nâng lên thành thể chế, thành nguyên lý, nguyên tắc tổ chức quyền lực trong điều kiện xây dựng xã hội thời bình. Nắm trọn quyền bố trí, sử dụng cán bộ trên tất cả các lĩnh vực hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội là công cụ quan trọng nhất để ban lãnh đạo áp đặt và thực hiện thể chế này, vô hiệu hóa những mẩu vụn dân chủ còn sót lại trong luật pháp và các định chế xã hội.
Được coi là bộ phận ưu tú của giai cấp tiên phong nhất, cách mạng nhất - giai cấp công nhân, là trí tuệ và lương tâm của thời đại, đảng xem trọng tâm lãnh đạo là khai hóa, giáo dục giai cấp công nhân và nhân dân lao động, tổ chức, dắt dẫn họ đấu tranh cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới theo đường lối do mình đề ra.
Trong một hệ thống như vậy, sớm muộn đảng trở thành nhà nước (quan liêu) trong một nhà nước, đứng trên nhân dân, trên mọi thiết chế chính trị, thành quyền lực vô hạn không bị giám sát và không thể giám sát, trừ sự giám sát của bản thân đảng đối với các cá nhân và tổ chức của mình.
Nhưng chính sự giám sát đó đã dần bị vô hiệu hóa bởi bộ phận lãnh đạo của đảng nhân danh sự tập trung, biến nguyên tắc tập trung dân chủ thành tập trung quan liệu, thành sự phục tùng vô điều kiện của cấp dưới đối với cấp trên, chủ yếu là với người đứng đầu; các thiết chế dân chủ và giám sát trong đảng dần bị bóp nghẹt, không vận hành được, chế độ lãnh đạo tập thể bị biến dạng, trên thực tế bị xóa bỏ; đại hội đảng chỉ còn là cơ quan lãnh đạo trên hình thức. Nắm trong tay quyền lực nhà nước, ban lãnh đạo đảng không ngần ngại sử dụng quyền lực đó để xử lý các mối quan hệ nội bộ đảng, thủ tiêu phê bình, đàn áp về tinh thần và thể chất mọi người có ý kiến khác.
Bước cuối cùng là hình thành một cấu trúc chính trị độc đoán, độc tài của một vài cá nhân trên đỉnh chóp quyền lực, với một bộ máy trung thành với cá nhân đó, nắm quyền hành từ trên xuống dưới. Họ cấu thành một tập đoàn cai trị, một tầng lớp đặc quyền, có các lợi ích ngày càng tách rời thậm chí đối lập với nhân dân, với giai cấp, với đa số đảng viên của đảng, nhưng lại nắm quyền hành động và phát ngôn nhân danh đảng, nhân danh lợi ích giai cấp và nhân dân. Họ đưa đảng đến đáy của sự suy thoái, bị giai cấp công nhân và nhân dân quay lưng, dẫn đến sự sụp đổ của chế độ. Nói cho đúng ra, giai cấp công nhân đã bị mất chính đảng của mình, nhân dân đã bị mất người lãnh đạo chân chính từ trước khi diễn ra sụp đổ.
![]() |
| Đại hội đảng bộ huyện Gia Lâm, Hà Nội tháng 8/2010. Ảnh: LAD |
Đó là sự thật và bài học lịch sử không thể bác bỏ. Các đảng cầm quyền chân chính cần tìm mọi cách để tránh rơi vào vết xe đổ này.
Đề ra và thực hiện đường lối đổi mới, Đảng Cộng sản Việt Nam trong các văn kiện chính thức, quan trọng nhất như Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các Nghị quyết Đại hội đã dựng lên một hệ quan điểm cơ bản về đảng lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, về nguyên tắc khác với các quan điểm về một đảng cầm quyền kiểu cũ nói trên. Một số nội dung chính của hệ quan điểm này là:
- Đảng tự xác định là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong (của nhân dân lao động và) của dân tộc Việt Nam.
- Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là một bộ phận trong hệ thống ấy (gồm Đảng, Nhà nước, các đoàn thể nhân dân). Đảng lãnh đạo không làm thay công việc của nhà nước (và các tổ chức khác trong hệ thống chính trị). Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Đảng chịu sự giám sát của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng.
- Nhân dân là người chủ đích thực của xã hội; Đảng lãnh đạo là để thực hiện quyền làm chủ của nhân dân. Dân chủ vừa là mục tiêu vừa là động lực phát triển.
Một cấu trúc chính trị được hình dung và thiết kế với vị thế của đảng lãnh đạo như vậy là phù hợp với bản chất dân chủ của thể chế chính trị mà chúng ta chủ trương, phù hợp và đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ mới, phù hợp với xu thế thời đại.
Thực thi một cấu trúc như vậy giúp cho tránh được những khuyết tật đã nêu trên, đáp ứng nguyện vọng của nhân dân, góp phần to lớn củng cố khối đại đoàn kết đân tộc, giải phóng sức sáng tạo của xã hội.
Nó cũng chính là biện pháp quan trọng nhất ngăn chặn nguy cơ suy thoái của đảng lãnh đạo, đảm bảo sự gắn bó của đảng với nhân dân.
Đó chính là những quan điểm cơ bản có tính nguyên tắc về đảng lãnh đạo trong chế độ dân chủ nhân dân.
Không trì hoãn đổi mới chính trị
2- Qua gần một phần tư thế kỷ thực hiện đường lối đổi mới, những quan điểm nói trên dần được bổ sung, điều chỉnh, hoàn thiện. Một số nội dung đã được thực hiện một phần, tạo ra chuyển biến tích cực nhất định trong đời sống chính trị đất nước, góp phần vào thành tựu chung, được nhân dân thừa nhận và ủng hộ.
Tuy nhiên, xét tổng quát, việc cụ thể hóa, thực hiện các quan điểm nói trên còn chậm; trên nhiều phương diện còn bị chi phối bởi tư duy và cách làm cũ.
Chưa làm rõ nội hàm cụ thể của quan điểm đảng lãnh đạo là bộ phận của hệ thống chính trị, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, nên chưa luật hóa, chưa hình thành chuẩn mực luật pháp để thực hiện và kiểm tra việc thực hiện quan điểm này trong thực tế. Nhiều việc tổ chức đảng còn làm thay các cơ quan nhà nước, ra các quyết định từ bên ngoài, từ trên, đưa các cơ quan nhà nước rơi vào vị trí bị động chấp hành quyết định đó.
Chưa có thể chế thực hiện việc nhân dân giám sát Đảng. Quyền làm chủ, quyền dân chủ, tự do của nhân dân còn nhiều hạn chế, chưa được đảm bảo. Các phương tiện thông tin đại chúng chưa làm được chức năng diễn đàn, là nơi nhân dân bày tỏ ý kiến, nguyện vọng, yêu cầu, phê bình, chất vấn… Sự xuất hiện các loại chủ đề “nhạy cảm”gần đây - nhiều khi quá rộng, có phần tùy tiện - thực chất là khoanh vùng cấm đối với sự tham gia giám sát của nhân dân và dư luận xã hội.
Sinh hoạt trong Đảng, nhất là tự do tư tưởng, đảm bảo quyền của đảng viên thảo luận dân chủ về đường lối, chính sách; phê bình, chất vấn tổ chức đảng và đảng viên ở mọi cấp; bảo lưu ý kiến… hầu như chưa có chuyển biến. Đại hội đảng các cấp vẫn chưa làm được vai trò cơ quan lãnh đạo, hoạt động hình thức, không ít trường hợp quá lệ thuộc vào cấp ủy.
Công tác cán bộ chậm đổi mới, nhất là chậm đổi mới bầu cử, nhân tố quan trọng bậc nhất đảm bảo quyền dân chủ. Tiếng nói quyết định trong việc lựa chọn người lãnh đạo chưa thuộc về những người đi bầu - một yêu cầu cơ bản của bầu cử dân chủ - mà vẫn chủ yếu thuộc về cấp trên - một việc dễ dẫn đến tập trung quan liêu.
Bộ máy ngày càng phình to, chấp lượng và hiệu quả hoạt động giảm sút. Tệ quan liêu, tham nhũng không giảm mà diễn biến phức tạp, nghiêm trọng hơn. Ngày càng hiển hiện nguy cơ hình thành bộ phận đặc quyền, đặc lợi, câu kết với nhau, thâu tóm quyền lực, chi phối các hoạt động lãnh đạo, quản lý, chiếm đoạt của cải xã hội.
3- Vì sao các quan điểm về đổi mới trên lĩnh vực chính trị đã được đề ra, nhưng chậm được thực hiện? Có thể điểm ra một số nguyên nhân như:
Một là, về nhận thức. Chưa thực sự thấy tính tất yếu và cấp bách của yêu cầu từ bỏ mô hình cũ, thực hiện những quan điểm đổi mới đã đề ra. Tuy phải thừa nhận những đổi mới cơ bản trên lĩnh vực kinh tế, nhưng nhiều người không thực tâm tán thành đổi mới trên lĩnh vực chính trị, muốn duy trì thể chế chính trị cũ, do tình thế bắt buộc thì chỉ chịu “lùi từng bước” hoặc chỉ chấp nhận thay đổi kiểu “bình mới rượu cũ”, sẵn sàng quay lại thực hiện thể chế cũ nếu có điều kiện.
Với họ, giữ vững “ổn định chính trị” gần như là duy trì hệ thống chính trị cũ, chứ không phải là chủ động tạo ra các điều kiện phù hợp cho công cuộc đổi mới phát triển thuận lợi, tránh được những xung động xã hội gay gắt. Họ không chịu thừa nhận rằng, sự phát triển đã đến giai đoạn không thể giữ vững ổn định chính trị nếu không thực sự đổi mới trên lĩnh vực chính trị.
Họ giải thích sự biến thái của đảng lãnh đạo trong mô hình cũ của CNXH bằng những nguyên nhân như sai lầm cá nhân, khuyết điểm trong việc lựa chọn cán bộ…Từ đó, họ đề cao quá mức các biện pháp giáo dục chính trị, nâng cao đạo đức cá nhân, nhưng lại phản đối mọi biện pháp mở rộng và thực hành dân chủ rộng rãi trong công tác cán bộ, nhất là dân chủ bầu cử.
Hai là, về bản lĩnh, kiến thức. Đổi mới trên lĩnh vực chính trị là việc rất khó khăn, mỗi sai lầm đều có thể gây tổn thất lớn, rất cần thiết sự thận trọng cao nhất. Nhưng là việc không thể trì hoãn, không làm thì không thể tránh khỏi tổn thất lớn nhất. Đề ra được các quan điểm mới là việc khó, nhưng thực hiện đúng các quan điểm đề ra khó hơn nhiều, đòi hỏi bản lĩnh và năng lực cao của lãnh đạo.
Nếu thiếu bản lĩnh, thiếu kiến thức, sợ trách nhiệm thì không thể nhìn ra và nắm bắt những tiền đề khách quan đã hình thành, nhưng hướng đi mà “cuộc sống đã gợi ý” cho hành động. Trái lại, họ bị nhiều nỗi sợ ám ảnh. Sợ mở rộng dân chủ thì “tuột tay”; sợ các “thế lực chống đối” lợi dụng; sợ nhân dân chưa sẵn sàng, đảng viên chưa “trưởng thành” đủ mức để sử dụng đúng đắn quyền dân chủ; sợ bị “tấn công” ngay từ nội bộ, bị chụp mũ là dao động, là mất phương hướng, là chịu ảnh hưởng của “các thế lực thù địch”; sợ đổ vỡ... Không thể bỏ qua hoặc xem thường những yếu tố đó, nhưng cũng không thổi phồng quá mức để tự hù dọa mình và người khác, không dám hành động vì thiếu lòng tin vào sức mạnh của nhân dân, của đông đảo đảng viên, của lương tri lành mạnh.
Ba là, muốn duy trì đặc quyền, đặc lợi. Về nguyên tắc, Đảng không có đặc quyền, đặc lợi. Điều này cũng đúng trên thực tế đối với đa số đảng viên, những người đã chiến đấu, lao động, sống như mọi công dân khác, không dành cho mình một ưu tiên, ưu đãi nào.
Nhưng trong Đảng còn có một bộ phận khác. Họ lợi dụng chức quyền, tham nhũng, làm giàu cho bản thân và những người cùng phe cánh. Họ rất muốn duy trì tình trạng yếu kém, sơ hở trong lãnh đạo, quản trị để tiếp tục trục lợi. Họ càng muốn giữ mô hình chính trị như cũ để thao túng, tiếp tục giữ quyền lực, che giấu bản chất thật của mình. Họ là thế lực lớn nhất cản trở đổi mới, trước khi để rơi mặt nạ, lộ nguyên hình phản bội khi xã hội rơi vào khủng hoảng.
Đổi mới thể chế bầu cử
4- Thực hiện những quan điểm đã được đề ra về đảng lãnh đạo là vấn đề trọng tâm đổi mới về chínhthành hiện thực trong đời sống chính trị của đất nước. Nếu không làm việc này thì không thể tính tới bất cứ sự đổi mới về chính trị nghiêm túc nào.
Trong 5, 10 năm tới, cần thực hiện xong về cơ bản những quan điểm, chủ trương lớn đó gắn với cải cách Hiến pháp và thể chế chính trị.
Cùng với cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân, cần ra đời bản Hiến pháp mới, bộ luật mới về tổ chức và hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp, về đảng lãnh đạo và về các tổ chức quần chúng. Hiến pháp và luật pháp phải được thực thi nghiêm chỉnh và bình đẳng đối với mọi chủ thể, mọi tổ chức và cá nhân, theo đúng nguyên tắc nhà nước pháp quyền.
Đây là việc khó, nhưng nếu không làm, thì không thể nói đến nhà nước pháp quyền, nói đến việc đảng lãnh đạo hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Những việc trên chỉ có thể thực hiện được nếu đồng thời thực hiện đổi mới công tác cán bộ.
Nhiều việc trong lĩnh vực này còn vẫn làm lối cũ, kìm hãm sự ra đời và phát huy tác dụng của các thể chế gắn với mô hình mới.
Việc đầu tiên cần quan tâm là đổi mới thể chế bầu cử.
Bầu cử dân chủ vốn được xem là một trong những đặc điểm quan trọng nhất của chế độ dân chủ. Ở nước ta, nó là phương thức thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là phương thức có hiệu lực để nhân dân giám sát đảng. Cần sớm đổi mới chế độ bầu cử theo hướng đảm bảo thực sự dân chủ; bãi bỏ các quy định và việc làm hạn chế ứng cử, đề cử, bầu cử; thừa nhận quyền ứng cử ngoài danh sách Mặt trận giới thiệu; thực hiện quyền tranh cử, quyền tự chọn khu vực ứng cử; tiến tới chế độ mỗi khu vực bầu một đại biểu…
Thực hiện bầu cử dân chủ trong Đảng theo đúng tinh thần và lời văn của Điều lệ; đổi mới quy chế đại hội đảng và quy chế bầu cử, tiến tới bãi bỏ mọi quy định hạn chế quyền bầu cử, thực hiện quyền tranh cử công khai, đảm bảo cho đại hội đảng thực sự là cơ quan lãnh đạo, có đủ thẩm quyền và năng lực chủ động quyết định việc bầu ra các cơ quan và chức danh lãnh đạo.
Đổi mới sự lãnh đạo của Đảng trong công tác cán bộ.
| Mời bạn đọc gửi góp ý cho các dự thảo văn kiện của Đảng về địa chỉ banchinhtri@vietnamnet.vn |
Đảng không chỉ lãnh đạo công tác cán bộ, trong phạm vi khu vực công, mà cả trong các khu vực ngoài công, trong các lĩnh vực hoạt động. Dù trong khu vực nào, cán bộ đều có vai trò quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sự dịch chuyển cán bộ giữa các khu vực công và ngoài công cần được khuyến khích, tạo điều kiện, cần xem là một yếu tố quan trọng tăng cường chất lượng cán bộ.
Công tác cán bộ cần theo đúng quan điểm đề ra trong Cương lĩnh “Đảng giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất vào hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo chính quyền và đoàn thể. Đảng không làm thay công việc của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị”.
Đảng lãnh đạo, không làm chức năng quản lý nhà nước, kể cả trong lĩnh vực cán bộ. Tổ chức đảng không thay các cơ quan nhà nước và các đoàn thể nhân dân quản lý đội ngũ cán bộ của họ.
Vì vậy, cần sớm bãi bỏ những quy định không còn phù hợp với quan điểm cơ bản của Đảng, không phù hợp với tính chất nhà nước pháp quyền của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Đồng thời thông qua việc tổng kết những kinh nghiệm thực tiễn, ban hành những quy định, quy chế mới về công tác cán bộ.
- Khái lược về lịch sử dân tộc Việt Nam qua 65 năm (1945 – 2010) (boxitvn). “Qua 65 năm Đảng CS Việt Nam lãnh đạo toàn diện và triệt để dân tộc Việt Nam, từ năm 1945 đến năm 2010, nước Việt Nam vẫn chưa thực sự có độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.”
- Ông Bùi Đức Lại, cựu chuyên gia cao cấp Ban Tổ chức TƯ: Cần một cương lĩnh xây dựng chế độ dân chủ nhân dân(VietNamNet)-Các văn kiện của Đảng và Nhà nước đã đề cập về nguyên tắc những nét cơ bản nhất về một chế độ dân chủ, mọi quyền lực thuộc về nhân dân.--- Ông Bùi Đức Lại, cựu chuyên gia cao cấp Ban Tổ chức TƯ: Cương lĩnh phải vì lợi ích chính đáng của dân tộc (VietNamNet) - Những nước như Việt Nam phải chọn cách đi phù hợp, có một cương lĩnh tạo ra sự mềm dẻo cao nhất vì lợi ích chính đáng của dân tộc mình.
(VietNamNet Thứ Năm, 09/09/2010 (GMT+7)- Các ý kiến hưởng ứng bài viết của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng về định hướng bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 đều mong muốn Đảng phát động tập hợp toàn dân và trí thức.
>> Bổ sung Cương lĩnh phải phản ánh được nguyện vọng của dân
>> Loạt bài: Đóng góp ý kiến cho Đại hội Đảng XI
Tiếp thu thực chất
Ở địa chỉ leduc1144@...., bạn đọc Lê Đức (Hà Nội) nói, nguyện vọng của nhân dân là có được một Đảng trong sạch, đội ngũ đảng viên thực sự là những người tiên phong, lãnh đạo Đảng phải là tấm gương về đạo đức. Đảng nên nhìn vào đòi hỏi cấp bách có tính sống còn đó.
Từ yêu cầu bức xúc này, bạn đọc Minh Cường (Đà Nẵng) ở địa chỉ nmcuong@.... viết: "Nhu cầu cấp bách thể hiện trong Cương lĩnh lần này phải là cải tổ thể chế. Cương lĩnh thể hiện vai trò lãnh đạo của Đảng. Trong nội bộ Đảng phải dân chủ, công khai, minh bạch". Đánh giá việc thực hiện Cương lĩnh cũ là cần thiết, nhưng quan trọng hơn là đường lối phát triển sắp tới.
Nhiều độc giả cho rằng Đảng muốn tồn tại và giữ vững địa vị lãnh đạo thì phải thẳng thắn nhìn rõ sự thật.
Ở nước ta, có được một đảng duy nhất cầm quyền chính là nhờ nhân dân đặt niềm tin hoàn toàn vào Đảng sẽ thực hiện nguyện vọng của mình, ý chí của toàn dân tộc, được phản ảnh trước hết ở chủ trương, đường lối của Đảng là kết tinh mọi nguyện vọng và ý chí đó.
Vì vậy, huy động để toàn dân góp ý cho Cương lĩnh của Đảng là lương tâm, trách nhiệm đối với đất nước.
Đảng đã khẳng định bổ sung Cương lĩnh phải phản ánh được nguyện vọng của dân, nên rất mong nhân dịp này, mọi ý kiến của dân và giới trí thức sẽ được tiếp thu thực chất.
Trong bản dự thảo nêu: "Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo.
Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân".
Giả sử đội ngũ lãnh đạo không tự nguyện đổi mới, tiêu cực, tham nhũng, xa rời quần chúng thì có cơ chế nào để khắc phục?
Nếu chúng ta chỉ trông mong vào sự tự nguyện mà không có ràng buộc trách nhiệm pháp lý, cơ chế điều tiết, thực thi quyền làm chủ của nhân dân, buộc giai cấp lãnh đạo phục vụ cho lợi ích của nhân dân, tuân theo Hiến pháp và pháp luật thì xã hội sẽ bị trì trệ, không thể phát triển nhanh và bền vững được.
Phải có quyết tâm chính trị
Tập trung phân tích nhiều hơn cả là những ý kiến xung quanh sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN.
Theo ông Nguyễn Phú Trọng, thời gian tới, Cương lĩnh vẫn xác định kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực.
Bạn Triên Dương (Gò Vấp, TP.HCM) ở địa chỉ trien_stephan@... góp ý, quan niệm như vậy liệu đã phản ánh đúng nguyện vọng của dân chưa?
Đã có nghiên cứu đánh giá nghiêm túc tính hiệu quả của chủ trương này hay chưa. Nếu kinh tế nhà nước và tập thể không hoạt động hiệu quả, không tạo động lực để thúc đẩy sự phát triển cho cả nền kinh tế thì hậu quả sẽ thế nào? Ai phải chịu trách nhiệm?
Còn bạn Trần Quang Vinh (tqvpktbvn@...) thì viết, phải bổ sung thêm quan điểm: "Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân phải cạnh tranh phát triển bình đẳng. Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa phát triển đa dạng, công bằng".
Theo nhiều bạn đọc, vấn đề cần bàn thảo còn là việc phải định hướng đổi mới quản lý doanh nghiệp nhà nước. "Về việc này, chúng ta đã làm được khá nhiều, nhưng đấy là những phần dễ, Những việc còn lại phải giải quyết mới là phần khó nhất. Nếu không có quyết tâm chính trị cao thì không làm được", bạn đọc Minh Quang (Đà Nẵng) góp ý.
Những định hướng bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991 05/09/2010 20:11:33
Bee trân trọng giới thiệu bài viết của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, với nhan đề "Những định hướng bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991".
Quá trình chuẩn bị
Đại hội VII của Đảng (năm 1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991). Cương lĩnh năm 1991 có giá trị định hướng và chỉ đạo to lớn đối với sự nghiệp cách mạng của đất nước ta trong suốt hai thập kỷ qua. Tuy nhiên, từ khi Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh từng bước được Đảng ta nhận thức và giải quyết có hiệu quả; nhiều vấn đề liên quan đến Cương lĩnh đã có nhận thức mới, sâu sắc hơn; quan niệm về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng rõ hơn; đồng thời cũng có thêm những vấn đề mới đặt ra cần được giải đáp.
Vì vậy, Đại hội X của Đảng đã quyết định: “Sau Đại hội X, Đảng ta cần tiếp tục nghiên cứu, bổ sung và phát triển Cương lĩnh, làm nền tảng chính trị, tư tưởng cho mọi hoạt động của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta trong quá trình đưa nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội”.
Thực hiện Nghị quyết Đại hội X, ngày 04/02/2008, Ban Chấp hành Trung ương Đảng quyết định thành lập Tiểu ban Tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991 và chuẩn bị Báo cáo Chính trị trình Đại hội XI (Tiểu ban Cương lĩnh), do đồng chí Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh làm Trưởng Tiểu ban. Ngày 22-02-2008, Tiểu ban đã họp phiên đầu tiên để xác định quan điểm, tư tưởng chỉ đạo việc tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh.
Ngày 28/02/2008, Ban Bí thư ra quyết định thành lập Tổ Biên tập. Tiểu ban đã chỉ đạo Tổ Biên tập khẩn trương triển khai các công việc (xây dựng đề cương sơ bộ, thành lập các nhóm biên tập theo lĩnh vực; tổ chức nghiên cứu, thảo luận, biên tập…); đồng thời Ban Bí thư giao một số cơ quan khoa học, một số cấp ủy, tổ chức đảng ở Trung ương và địa phương tổng kết lý luận và thực tiễn một số chuyên đề có liên quan.
Tiếp sau đó, Thường trực Tiểu ban đã có 2 phiên và Tiểu ban đã có 4 phiên họp thảo luận Dự thảo Đề cương chi tiết Báo cáo tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh năm 1991 do Tổ Biên tập trình. Tiểu ban đã gửi bản Dự thảo Đề cương chi tiết đến các đồng chí nguyên lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước để xin ý kiến. Bộ Chính trị đã có 2 phiên họp thảo luận Dự thảo Đề cương chi tiết và chỉ đạo tu chỉnh bản Dự thảo trình Hội nghị Trung ương 10 (tháng 6/2009). Tại hội nghị này, Ban Chấp hành Trung ương đã thảo luận nhất trí với mục đích, yêu cầu, tư tưởng chỉ đạo, tên gọi, kết cấu và nhiều nội dung cơ bản của Dự thảo Đề cương chi tiết; đồng thời nhấn mạnh và lưu ý thêm một số nội dung quan trọng. Đối với những vấn đề còn có ý kiến khác nhau hoặc cần được tiếp tục làm rõ, Ban Chấp hành Trung ương giao cho Bộ Chính trị chỉ đạo nghiên cứu, cân nhắc trình Ban Chấp hành Trung ương cho ý kiến tại các kỳ họp sau.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: VNE |
Về tư tưởng chỉ đạo định hướng việc tổng kết, bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991, Trung ương khẳng định:
- Cương lĩnh là tuyên ngôn chính trị của Đảng, mang tầm định hướng chiến lược về con đường phát triển của đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; là ngọn cờ chiến đấu của Đảng và dân tộc ta trong sự nghiệp xây dựng đất nước từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; là nền tảng lý luận, nền tảng tư tưởng và chính trị, định hướng cho mọi hoạt động của chúng ta hiện nay cũng như trong những thập kỷ tới. Do đó, Cương lĩnh phải nêu được những quan điểm cơ bản về đường lối chung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta; phác họa những nét cơ bản về mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà chúng ta cần xây dựng; chỉ ra mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ và mục tiêu phấn đấu cho chặng đường từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI; đưa ra những quan điểm, đường lối và định hướng lớn để thực hiện mục tiêu đó. Cương lĩnh phải có tầm khái quát cao, không đi vào những nội dung quá chi tiết và những chính sách cụ thể.
- Việc tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh cần bám sát tư tưởng chỉ đạo của Đại hội X, các nghị quyết của Ban Chấp hành Trung ương, của Bộ Chính trị. Quán triệt tinh thần và phương pháp khoa học, biện chứng, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển. Phát huy tự do tư tưởng, thẳng thắn và mạnh dạn nêu những suy nghĩ mới có căn cứ và lắng nghe các ý kiến khác nhau trong nghiên cứu, thảo luận. Tạo điều kiện để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, bảo đảm vừa giữ vững nguyên tắc, vừa phát huy tốt dân chủ để tạo sự nhất trí, đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân.
- Bổ sung, phát triển theo tinh thần tiếp tục đổi mới trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng, định hướng cơ bản của Cương lĩnh năm 1991; bám sát thực tiễn của đất nước và thời đại; phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên. Kế thừa những nội dung trong Cương lĩnh năm 1991 vẫn còn nguyên giá trị; bổ sung những vấn đề đã được các Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (từ khóa VII đến nay) kết luận, những nội dung đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng; sửa chữa, bổ sung hoặc viết lại những điểm trong Cương lĩnh năm 1991 đến nay không còn phù hợp; luận giải và làm rõ thêm một số mối quan hệ cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta.
Trên cơ sở kết luận của Hội nghị Trung ương 10, Bộ Chính trị đã chỉ đạo Tiểu ban và Tổ Biên tập hoàn chỉnh bản Đề cương chi tiết, viết Dự thảo Báo cáo tổng kết, đồng thời khẩn trương chuẩn bị Dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), sau đây gọi tắt là Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011). Bộ Chính trị và Tiểu ban đã hai lần thảo luận về bản Dự thảo này và đã gửi xin ý kiến các đồng chí nguyên lãnh đạo của Đảng, Nhà nước. Sau đó nhiều lần cho tu chỉnh để trình Hội nghị Trung ương 11 (tháng 10/2009), Hội nghị Trung ương 12 (tháng 3-2010) và đã được Hội nghị Trung ương 12 bước đầu thông qua để gửi Đại hội đảng bộ các cấp thảo luận và lấy ý kiến đóng góp của nhân dân.
Trong quá trình nghiên cứu, tổng kết, chuẩn bị bản Dự thảo Báo cáo tổng kết cũng như bản Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011), Tiểu ban và Tổ Biên tập đã nghiên cứu, kế thừa các kết quả tổng kết một số vấn đề lý luận - thực tiễn qua 20 năm đổi mới (1986-2006) và các kết quả nghiên cứu về bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 đã được Ban Chấp hành Trung ương khóa IX cho ý kiến khi chuẩn bị Đại hội X. Thu thập và sử dụng các kết quả nghiên cứu mới của các cơ quan lý luận, các nhà khoa học (như một số chương trình, đề tài khoa học của Hội đồng Lý luận Trung ương, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Viện Khoa học Xã hội Việt Nam…). Tập hợp ý kiến của nhiều nhà khoa học và chuyên gia thông qua các cuộc tọa đàm, hội thảo khoa học và mời cộng tác viên viết bài; phát huy trí tuệ, dân chủ thảo luận. Sử dụng kết quả nghiên cứu, tổng kết thực tiễn của 77 cơ quan trung ương và tỉnh ủy, thành ủy. Làm việc trực tiếp với 27 Ban Thường vụ của các tỉnh ủy, thành ủy; nghiên cứu, trao đổi ý kiến với nhiều quận, huyện, phường, xã và doanh nghiệp.
Những định hướng bổ sung, phát triển
1. Về tên gọi và kết cấu: Thực hiện nhất quán tư tưởng chỉ đạo của Đại hội X là bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 – tức là Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, không làm thay đổi những quan điểm, tư tưởng, định hướng cơ bản của Cương lĩnh. Vì vậy, vẫn giữ tên gọi “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” đồng thời bổ sung thêm cụm từ (bổ sung, phát triển năm 2011).
Kết cấu cơ bản giữ như Cương lĩnh năm 1991, gồm 4 phần và 12 mục, chỉ có một thay đổi nhỏ là chuyển nội dung nói về giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ trình bày ở phần “phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần” sang phần nói về văn hóa, xã hội, như vậy hợp lý hơn, mang ý nghĩa bao quát hơn (không phải chỉ gắn với phát triển kinh tế).
2. Về quá trình cách mạng Việt Nam và những bài học lớn:
Viết lại một cách cô đọng, khái quát hơn, bổ sung những nhận định cơ bản về giai đoạn từ năm 1991 đến nay, chỉnh lý một số nhận định về các giai đoạn từ 1930 đến 1991 cho chuẩn xác, chặt chẽ hơn, phù hợp với tình hình mới. Bổ sung thêm một số ý về bài học trong thời kỳ đổi mới, nhấn mạnh vấn đề giữ vững ý chí độc lập tự chủ và nêu cao tinh thần tích cực, chủ động hội nhập, hợp tác quốc tế. Cụ thể là Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) viết như sau:
“Từ năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện, đã lãnh đạo nhân dân ta tiến hành cuộc đấu tranh cách mạng lâu dài, gian khổ, vượt qua muôn vàn khó khăn, thử thách và giành được những thắng lợi vĩ đại: Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do; thắng lợi của các cuộc kháng chiến chống xâm lược, mà đỉnh cao là chiến thắng Điện Biên Phủ năm 1954, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, bảo vệ Tổ quốc, làm tròn nghĩa vụ quốc tế; thắng lợi của công cuộc đổi mới, tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế, đưa đất nước tiếp tục từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội với những nhận thức và tư duy mới đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam.
Với những thắng lợi đã giành được trong hơn 80 năm qua, nước ta từ một xứ thuộc địa nửa phong kiến đã trở thành một quốc gia độc lập, tự do, phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; nhân dân ta từ thân phận nô lệ đã trở thành người làm chủ đất nước, làm chủ xã hội; đất nước ta đã thoát khỏi nghèo nàn, lạc hậu, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, có quan hệ quốc tế rộng rãi, có vị thế ngày càng quan trọng trong khu vực và trên thế giới.
Tuy nhiên, khó khăn thách thức còn nhiều. Trong lãnh đạo, Đảng có lúc cũng phạm sai lầm, khuyết điểm, có những sai lầm, khuyết điểm nghiêm trọng do giáo điều, chủ quan, duy ý chí, vi phạm quy luật khách quan. Đảng đã nghiêm túc tự phê bình và sửa chữa khuyết điểm để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên”.
3. Về phân tích, dự báo tình hình thế giới: Cố gắng thể hiện một cách bao quát, chọn lọc, nêu rõ những đặc điểm cơ bản, những xu thế chủ yếu, các phong trào, các nhân tố chi phối sự vận động của thế giới; từ đó chỉ ra những thời cơ và thuận lợi, những thách thức và khó khăn; không sa vào các vấn đề chi tiết hoặc không liên quan trực tiếp đến nước ta.
Với tinh thần đó, Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nhận định: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc. Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, kinh tế tri thức và quá trình toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ, tác động sâu sắc đến sự phát triển của nhiều nước. Các mâu thuẫn cơ bản trên thế giới biểu hiện dưới những hình thức và mức độ khác nhau vẫn tồn tại và phát triển. Hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, hợp tác và phát triển là xu thế lớn; nhưng đấu tranh dân tộc, đấu tranh giai cấp, chiến tranh cục bộ, xung đột vũ trang, xung đột sắc tộc, tôn giáo, chạy đua vũ trang, hoạt động can thiệp, lật đổ, khủng bố, tranh chấp lãnh thổ và tài nguyên tiếp tục diễn ra phức tạp. Khu vực châu Á – Thái Bình Dương và Đông Nam Á phát triển năng động, nhưng cũng tiềm ẩn những nhân tố mất ổn định. Tình hình đó tạo thời cơ phát triển, đồng thời đặt ra những thách thức gay gắt, nhất là đối với những nước đang và kém phát triển”.
Sau khi phân tích những thuận lợi và khó khăn của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào cánh tả, phong trào đấu tranh đòi độc lập dân tộc của các nước đang phát triển, kém phát triển, những vấn đề toàn cầu có liên quan đến vận mệnh loài người (như giữ gìn hòa bình, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, phòng ngừa dịch bệnh hiểm nghèo…), Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) nhận định tổng quát:
“Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn hiện nay của thời đại là các nước với chế độ xã hội và trình độ phát triển khác nhau cùng tồn tại, vừa hợp tác vừa đấu tranh, cạnh tranh gay gắt vì lợi ích quốc gia, dân tộc. Cuộc đấu tranh của nhân dân các nước vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ, phát triển và tiến bộ xã hội dù gặp khó khăn, thử thách, nhưng sẽ có những bước tiến mới. Theo quy luật tiến hóa của lịch sử, loài người nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội”.
4. Về đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ và mục tiêu phấn đấu trong những thập kỷ tới.
Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) có một số điều chỉnh cụ thể như:
- Diễn đạt xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
- Bổ sung, thể hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: “Xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh”. Và căn cứ vào yêu cầu và tình hình thực tiễn ở nước ta, xác định: “Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
5. Về những phương hướng cơ bản quá độ lên chủ nghĩa xã hội
Trên cơ sở 7 phương hướng lớn đã nêu trong Cương lĩnh năm 1991, Dự thảo Cương lĩnh lần này bổ sung, phát triển một số nội dung mới theo tinh thần Đại hội X. Khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “gắn với phát triển kinh tế tri thức”; thay “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần…” bằng “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”; nói rõ thêm “Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; bổ sung: “Chủ động và tích cực hội nhập quốc tế”; nhấn mạnh vấn đề “Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc”; nói rõ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.
Bổ sung thêm một đoạn quan trọng: “Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn như: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; giữa tăng trương kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;… Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”.
6. Về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
- Khẳng định sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đó là nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, nhiều hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.
Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường được tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường, vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa. Khẳng định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có người làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.
Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội, bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và theo nguyên tắc thị trường. Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng luật pháp, chiến lược, quy hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.
![]() |
| Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Ảnh: Vneconomy |
- Xác định rõ thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức. Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ; trong đó phải thường xuyên coi trọng phát triển công nghiệp nặng, công nghiệp chế tạo; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới. Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn. Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ, đồng thời chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế.
7. Về phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện chính sách xã hội.
Khẳng định xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, phát triển toàn diện, thống nhất trong đa dạng, thấm nhuần sâu sắc tinh thần nhân văn, dân chủ, tiến bộ; làm cho văn hóa gắn kết chặt chẽ và thấm sâu vào toàn bộ đời sống xã hội, trở thành sức mạnh nội sinh quan trọng của phát triển. Kế thừa và phát huy những truyền thống văn hóa tốt đẹp của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội dân chủ, văn minh, vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực và thẩm mỹ ngày càng cao. Phê phán những cái lỗi thời, thấp kém; đấu tranh chống những biểu hiện phi văn hóa, phản văn hóa. Bảo đảm quyền được thông tin, quyền tự do sáng tạo của công dân.
Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân.
Thực hiện chính sách xã hội đúng đắn, công bằng, bảo đảm bình đẳng về quyền lợi và nghĩa vụ công dân; kết hợp chặt chẽ, hợp lý tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển, không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân.
Có chính sách điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững. Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội. Thực hiện tốt chính sách đối với những cá nhân và gia đình có công với nước. Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động, làm việc và học tập của các tầng lớp nhân dân. Chăm lo đời sống những người già cả, neo đơn, tàn tật, mất sức lao động và trẻ mồ côi. Hạn chế, giảm tác hại và tiến tới đẩy lùi tệ nạn xã hội. Bảo đảm quy mô hợp lý và chất lượng dân số. Thực hiện bình đẳng giới, chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em. Phấn đấu xây dựng một cộng đồng xã hội văn minh, lành mạnh. Xây dựng gia đình ấm no và hạnh phúc, thực sự là tế bào của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và tổ ấm của mỗi người.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo – nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân. Đấu tranh với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Tạo điều kiện thuận lợi và hỗ trợ đồng bào định cư ở nước ngoài ổn định cuộc sống, giữ gìn bản sắc dân tộc, chấp hành tốt pháp luật của nước sở tại, hướng về quê hương, góp phần xây dựng đất nước.
8. Về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường.
Khẳng định và nhấn mạnh phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế - xã hội; đầu tư cho giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là đầu tư cho phát triển; bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là một tiêu chí và nội dung của sự phát triển bền vững, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam. Đổi mới toàn diện và mạnh mẽ giáo dục - đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân được học tập suốt đời.
Phát triển khoa học và công nghệ bao gồm cả khoa học xã hội, khoa học tự nhiên và khoa học kỹ thuật gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí nhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiên tiến của thế giới. Tăng nhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực khoa học và công nghệ của đất nước. Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và ứng dụng khoa học và công nghệ.
Trong việc bảo vệ môi trường cần kết hợp chặt chẽ giữa ngăn ngừa, khắc phục ô nhiễm với khôi phục và bảo vệ môi trường sinh thái; phát triển năng lượng sạch, sản xuất sạch và tiêu dùng sạch. Coi trọng nghiên cứu, dự báo và thực hiện các giải pháp ứng phó với quá trình biến đổi khí hậu. Bảo vệ và sử dụng hợp lý, có hiệu quả tài nguyên quốc gia.
9. Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại
Xác định đầy đủ hơn các mục tiêu và nhiệm vụ của quốc phòng - an ninh là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta.
Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội là nền tảng của quốc phòng - an ninh. Phát triển kinh tế - xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng - an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh, quốc phòng - an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế - xã hội.
Xây dựng Quân đội nhân dân và Công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin yêu. Chăm lo nâng cao phẩm chất cách mạng, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, chiến sĩ các lực lượng vũ trang; bảo đảm đời sống vật chất, tinh thần phù hợp với tính chất hoạt động của Quân đội nhân dân và Công an nhân dân trong điều kiện mới. Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng, an ninh, bảo đảm cho các lực lượng vũ trang được trang bị kỹ thuật ngày càng hiện đại.
Khẳng định thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; nâng cao vị thế của đất nước, vì lợi ích quốc gia dân tộc, vì một nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa giàu mạnh; là bạn, là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới.
Chủ trương hợp tác bình đẳng, cùng có lợi với tất cả các nước, không phân biệt chế độ chính trị - xã hội, trên cơ sở những nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Ủng hộ các đảng cộng sản và công nhân, các phong trào tiến bộ xã hội trong cuộc đấu tranh vì những mục tiêu chung của thời đại; mở rộng quan hệ với các đảng cánh tả, các đảng cầm quyền trên thế giới trên cơ sở độc lập, tự chủ, vì hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tăng cường hiểu biết, tình hữu nghị và hợp tác giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân các nước trên thế giới. Phấn đấu cùng các nước ASEAN xây dựng Đông Nam Á thành khu cực hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển.
10. Về phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa
- Khẳng định dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước. Xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp. Dân chủ gắn liền với kỷ luật, kỷ cương và phải được thể chế hóa bằng luật pháp, được pháp luật bảo đảm. Nhà nước quy định và bảo vệ các quyền công dân, quyền con người đi đôi với nghĩa vụ và trách nhiệm; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người.
- Nhà nước Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, thể hiện và thực hiện ý chí, quyền lực của nhân dân, trên cơ sở liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo.
Nhiệm vụ của Nhà nước là định ra luật pháp và tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật; giữ nghiêm kỷ cương xã hội, nghiêm trị mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân. Nhà nước thường xuyên liên hệ và gắn bó chặt chẽ với nhân dân, thực hiện đầy đủ quyền dân chủ của nhân dân, tôn trọng, lắng nghe ý kiến của nhân dân và chịu sự giám sát của nhân dân. Có cơ chế và biện pháp kiểm soát, ngăn ngừa và trừng trị tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, vô trách nhiệm, lộng quyền, xâm phạm quyền dân chủ của công dân. Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, có sự phân công, phân cấp, đồng thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất của trung ương. Quyền lực nhà nước là thống nhất; có sự phân công phối hợp giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp; có cơ chế kiểm tra, giám sát trong việc thực hiện ba quyền đó.
11. Về Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
Nhấn mạnh Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể nhân dân có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đại diện cho quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh; giáo dục lý tưởng và đạo đức cách mạng, quyền và nghĩa vụ công dân, thắt chặt mối liên hệ giữa Đảng, Nhà nước với nhân dân.
Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức liên minh chính trị, liên hiệp tự nguyện của tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội và các cá nhân tiêu biểu trong các giai cấp, tầng lớp xã hội, các dân tộc, tôn giáo và người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệ thống chính trị, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam vừa là thành viên vừa là người lãnh đạo Mặt trận. Mặt trận hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, hiệp thương dân chủ, phối hợp và thống nhất hành động giữa các thành viên.
Các đoàn thể nhân dân tùy theo tính chất, tôn chỉ và mục đích đã xác định, vận động, giáo dục đoàn viên, hội viên chấp hành luật pháp, chính sách; chăm lo, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đoàn viên, hội viên; giúp đoàn viên, hội viên nâng cao trình độ mọi mặt và xây dựng cuộc sống mới; tham gia quản lý nhà nước, quản lý xã hội.
Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội.
12. Về Đảng Cộng sản Việt Nam và công tác xây dựng Đảng
Trên cơ sở những luận điểm cơ bản của Cương lĩnh năm 1991 và những kết quả nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn hơn 20 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Dự thảo Cương lĩnh lần này có một số bổ sung và phát triển quan trọng, nhất là về diễn đạt bản chất Đảng và về nội dung, giá trị tư tưởng Hồ Chí Minh. Cụ thể là Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc. Đảng lấy chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; lấy tập trung dân chủ làm nguyên tắc tổ chức cơ bản.
Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại; là di sản tư tưởng và lý luận vô cùng to lớn và quý giá của Đảng và dân tộc ta, mãi mãi soi đường cho sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta giành thắng lợi.
Nói rõ Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng lãnh đạo bằng cương lĩnh, chiến lược, các định hướng về chính sách và chủ trương lớn; bằng công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, tổ chức, kiểm tra và bằng hành động gương mẫu của đảng viên. Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ, giới thiệu những đảng viên ưu tú có đủ năng lực và phẩm chất hoạt động trong các cơ quan lãnh đạo của hệ thống chính trị. Đảng lãnh đạo thông qua tổ chức đảng và đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị, tăng cường chế độ trách nhiệm cá nhân, nhất là người đứng đầu. Đảng thường xuyên nâng cao năng lực cầm quyền và hiệu quả lãnh đạo, đồng thời phát huy mạnh mẽ vai trò, tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm của các tổ chức khác trong hệ thống chính trị.
Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật.
Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tào lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.
(Theo TTXVN)
--
ND - ...Nhân dịp kỷ niệm 85 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam (21-6-1925 - 21-6-2010) và lực lượng báo chí được đón nhận phần thưởng cao quý Huân chương Sao Vàng, thay mặt lãnh đạo Ðảng và Nhà nước, tôi xin gửi tới các vị đại biểu, các đồng chí và qua các đồng chí tới toàn thể anh chị em làm báo các thời kỳ, lời thăm hỏi thân thiết và lời chúc mừng tốt đẹp nhất.
--
Bổ sung Cương lĩnh phải phản ánh được nguyện vọng của dân
Chủ Nhật, 05/09/2010 (GMT+7) - Bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 phải phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên.
>> Loạt bài: Đóng góp ý kiến cho Đại hội Đảng XI
>> Xem toàn văn bài viết của Chủ tịch Quốc hội
"Những định hướng bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991" là nhan đề bài viết của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng được TTXVN đăng tải hôm nay, 5/9 - 10 ngày trước khi các văn kiện Đại hội Đảng XI được đưa ra lấy ý kiến góp ý của nhân dân.
Ông Nguyễn Phú Trọng nhắc lại tư tưởng chỉ đạo định hướng việc tổng kết, bổ sung, phát triển cương lĩnh năm 1991 của Trung ương, trong đó khẳng định việc tổng kết, bổ sung và phát triển Cương lĩnh cần bám sát tư tưởng chỉ đạo của Đại hội X, các nghị quyết của BCH TƯ, Bộ Chính trị. Quán triệt tinh thần và phương pháp khoa học, biện chứng, toàn diện, lịch sử - cụ thể và phát triển. Phát huy tự do tư tưởng, thẳng thắn và mạnh dạn nêu những suy nghĩ mới có căn cứ và lắng nghe các ý kiến khác nhau trong nghiên cứu, thảo luận. Tạo điều kiện để các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu, đông đảo cán bộ, đảng viên và nhân dân tham gia đóng góp ý kiến, bảo đảm vừa giữ vững nguyên tắc, vừa phát huy tốt dân chủ để tạo sự nhất trí, đồng thuận cao trong toàn Đảng, toàn dân.
Bổ sung, phát triển theo tinh thần tiếp tục đổi mới trên cơ sở những quan điểm, tư tưởng, định hướng cơ bản của Cương lĩnh năm 1991; bám sát thực tiễn của đất nước và thời đại; phản ánh được ý chí, nguyện vọng của nhân dân, tạo động lực mạnh để đưa đất nước đi lên. Kế thừa những nội dung trong Cương lĩnh năm 1991 vẫn còn nguyên giá trị; bổ sung những vấn đề đã được các Đại hội, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị (từ khóa VII đến nay) kết luận, những nội dung đã rõ, đã chín, được thực tiễn chứng minh là đúng; sửa chữa, bổ sung hoặc viết lại những điểm trong Cương lĩnh năm 1991 đến nay không còn phù hợp; luận giải và làm rõ thêm một số mối quan hệ cơ bản có ý nghĩa chỉ đạo công cuộc đổi mới, xây dựng CNXH ở nước ta.
![]() |
| Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng. Ảnh: LAD |
Liên quan đến những định hướng bổ sung, phát triển Cương lĩnh, ông Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh một số điều chỉnh cụ thể trong dự thảo. Trong đó có diễn đạt xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội " dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới".
Dự thảo Cương lĩnh 2011 cũng nêu bổ sung, thể hiện mục tiêu tổng quát khi kết thúc thời kỳ quá độ ở nước ta là: “Xây dựng xong về cơ bản nền tảng kinh tế của chủ nghĩa xã hội với kiến trúc thượng tầng về chính trị, tư tưởng, văn hóa phù hợp, tạo cơ sở làm cho nước ta trở thành một nước xã hội chủ nghĩa ngày càng phồn vinh”. Và căn cứ vào yêu cầu và tình hình thực tiễn ở nước ta, xác định: “Từ nay đến khoảng giữa thế kỷ XXI, toàn Đảng, toàn dân ta phải ra sức phấn đấu xây dựng nước ta trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa”.
Về những phương hướng cơ bản quá độ lên chủ nghĩa xã hộiCNXH, trên cơ sở 7 phương hướng lớn đã nêu trong Cương lĩnh năm 1991, dự thảo Cương lĩnh lần này bổ sung, phát triển một số nội dung mới theo tinh thần Đại hội X. Khẳng định đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước “gắn với phát triển kinh tế tri thức”; thay “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần…” bằng “Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”; nói rõ: “Xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân”.
Bổ sung thêm một đoạn quan trọng: “Trong quá trình thực hiện các phương hướng cơ bản đó, phải đặc biệt chú trọng nắm vững và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn như: Quan hệ giữa đổi mới, ổn định và phát triển; giữa đổi mới kinh tế và đổi mới hệ thống chính trị; giữa kinh tế thị trường và định hướng xã hội chủ nghĩa; giữa phát triển lực lượng sản xuất và xây dựng, hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất; giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội; giữa xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN; giữa độc lập tự chủ và hội nhập quốc tế; giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ;… Không phiến diện, cực đoan, duy ý chí”.
Dự thảo khẳng định sự cần thiết phải phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.
Con người là trung tâm của chiến lược phát triển. Tôn trọng và bảo vệ quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Có chính sách điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội. Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với giảm nghèo bền vững.
Thực hiện chính sách bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ nhau giữa các dân tộc; tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đấu tranh với mọi hành động vi phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để làm hại đến lợi ích của Tổ quốc và của nhân dân.
Về phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường, bản dự thảo nhấn mạnh phát triển giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu... Đổi mới toàn diện và mạnh mẽ giáo dục - đào tạo theo nhu cầu phát triển của xã hội... Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo và ứng dụng khoa học và công nghệ.
Về quốc phòng, an ninh và đối ngoại, bài viết của Chủ tịch Quốc hội nhấn mạnh, bản dự thảo xác định đầy đủ hơn các mục tiêu và nhiệm vụ của quốc phòng - an ninh là: bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, giữ vững hòa bình, ổn định chính trị và an ninh quốc gia; chủ động ngăn chặn, làm thất bại mọi âm mưu và hành động chống phá của các thế lực thù địch đối với sự nghiệp cách mạng của nhân dân .
Về phát huy dân chủ, xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN, dự thảo bổ sung, phát triển Cương lĩnh khẳng định dân chủ phải được thực hiện trong thực tế cuộc sống ở mỗi cấp, trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra và các hình thức dân chủ trực tiếp.
Liên quan đến Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, bản dự thảo nêu rõ "Đảng tôn trọng tính tự chủ, ủng hộ mọi hoạt động tự nguyện, tích cực, sáng tạo và chân thành lắng nghe ý kiến đóng góp của Mặt trận và các đoàn thể. Đảng, Nhà nước có cơ chế, chính sách, tạo điều kiện để Mặt trận và các đoàn thể nhân dân hoạt động có hiệu quả, thực hiện vai trò giám sát và phản biện xã hội".
Cuối cùng, dự thảo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung, phát triển năm 2011) nói rõ "Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền, lãnh đạo Nhà nước và xã hội... Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận của hệ thống ấy. Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng, chịu sự giám sát của nhân dân, hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật".
Bài viết của Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng nhấn mạnh bản dự thảo nêu: Để đảm đương được vai trò lãnh đạo, Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tự chỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, năng lực lãnh đạo. Giữ vững truyền thống đoàn kết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng. Thường xuyên tự phê bình và phê bình, đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân, chủ nghĩa cơ hội và mọi hành động chia rẽ, bè phái. Đảng chăm lo xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên trong sạch, có phẩm chất, năng lực, có sức chiến đấu cao; quan tâm bồi dưỡng, đào tạo lớp người kế tục sự nghiệp cách mạng của Đảng và của nhân dân.
------
GS,TS Nguyễn Phú Trọng: Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay (SGGP 4-5-10)
GS,TS Nguyễn Phú Trọng
Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội
Đại hội VII của Đảng (tháng 6-1991) đã thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (sau đây gọi tắt là Cương lĩnh năm 1991). Bản cương lĩnh đã phân tích nội dung, tính chất của thời đại, tổng kết quá trình cách mạng Việt Nam, kế thừa và phát triển những quan điểm cơ bản trước đó của Đảng để nêu ra quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội, chỉ ra mục tiêu và những định hướng lớn trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây là văn kiện quan trọng mang tầm định hướng chiến lược, là nền tảng tư tưởng lý luận và ngọn cờ chiến đấu của Đảng ta, dân tộc ta trong giai đoạn mới.
Sau gần 20 thực hiện Cương lĩnh, với sự nỗ lực phấn đấu của toàn đảng, toàn dân và toàn quân, nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử, làm thay đổi hẳn bộ mặt và vị thế của đất nước. Những thành tựu đó khẳng định giá trị to lớn và sức sống mãnh liệt của Cương lĩnh năm 1991, đồng thời cho chúng ta thêm nhiều bài học quý để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.
Tuy nhiên, ngay từ thời điểm ban hành Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta đã chỉ rõ: “Lúc này chúng ta chưa có đủ cơ sở để vẽ ra toàn bộ bức tranh của xã hội tương lai một cách hoàn chỉnh. Nhưng… chúng ta có thể vạch ra những nguyên tắc, phương hướng lớn cho thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta… Sau này khi thực tiễn bộc lộ những vấn đề mới, qua tổng kết, Cương lĩnh sẽ không ngừng được bổ sung và hoàn chỉnh từng bước” * .
Thực tế, kể từ Cương lĩnh năm 1991 ra đời đến nay, tình hình thế giới và trong nước đã có nhiều biến đổi to lớn và sâu sắc. Nhiều vấn đề mới nảy sinh đã được Đảng ta nắm bắt và giải quyết có hiệu quả; nhiều nội dung của Cương lĩnh năm 1991 đã được bổ sung, phát triển hoặc nhận thức đầy đủ, sâu sắc hơn. Từ nội dung tính chất thời đại đến quá trình cách mạng, bài học kinh nghiệm của cách mạng nước ta; từ đặc điểm của thời kỳ quá độ đến đặc trưng của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam; từ mục tiêu, nhiệm vụ đến phương hướng, giải pháp để từng bước quá độ lên chủ nghĩa xã hội; từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị,… ở những mức độ khác nhau đều có sự bổ sung, phát triển về nhận thức.
Trong khuôn khổ của bài viết này, chỉ xin nêu tóm tắt một số luận điểm và nội dung cốt lõi nhất.
1. Quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp
Ngay khi mới ra đời và trong suốt quá trình đấu tranh cách mạng, Đảng ta luôn khẳng định, chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và nhân dân ta; đi lên chủ nghĩa xã hội là yêu cầu khách quan, là con đường tất yếu của cách mạng Việt Nam.
Cương lĩnh năm 1991, sau khi phân tích bối cảnh của tình hình thế giới và trong nước, đã nhận định: “chủ nghĩa xã hội hiện đứng trước nhiều khó khăn thử thách. Lịch sử thế giới đang trải qua những bước quanh co; song, loài người cuối cùng nhất định sẽ tiến tới chủ nghĩa xã hội vì đó là quy luật tiến hóa của lịch sử” **.
Vào những năm cuối thế kỷ XX đầu thế kỷ XXI, mặc dù trên thế giới chủ nghĩa xã hội hiện thực đã bị đổ vỡ một mảng lớn, phe xã hội chủ nghĩa không còn, phong trào xã hội chủ nghĩa đang trong giai đoạn khủng hoảng, thoái trào, gặp rất nhiều khó khăn, nhưng Đảng ta vẫn tiếp tục khẳng định: “Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” *** .
Tuy nhiên, chủ nghĩa xã hội là gì và đi lên chủ nghĩa xã hội bằng cách nào? Đó là điều mà Đảng ta luôn luôn trăn trở, suy nghĩ, tìm tòi, lựa chọn để làm sao vừa theo đúng quy luật chung vừa phù hợp với điều kiện, đặc điểm cụ thể của nước ta. Trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, từ tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận, Đảng ta từng bước nhận thức ngày càng đúng đắn hơn, sâu sắc hơn về chủ nghĩa xã hội và thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta; từng bước khắc phục được một số quan niệm đơn giản, ấu trĩ trước đây như: đồng nhất mục tiêu cuối cùng của chủ nghĩa xã hội với nhiệm vụ của giai đoạn trước mắt; nhấn mạnh một chiều quan hệ sản xuất, chế độ phân phối bình quân, không thấy đầy đủ yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất trong thời kỳ quá độ; đồng nhất kinh tế thị trường với chủ nghĩa tư bản, coi nhẹ những thành tựu, giá trị mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản; muốn nhanh chóng xóa bỏ sản xuất hàng hóa, cơ chế thị trường, xóa bỏ sở hữu tư nhân và kinh tế tư nhân; đồng nhất nhà nước pháp quyền với nhà nước tư sản,…
Cương lĩnh năm 1991 đã đưa ra những quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội và phương hướng xây dựng chủ nghĩa xã hội trong thời kỳ quá độ ở nước ta. Đó là một bước tiến lớn trong tư duy lý luận của Đảng ta, vừa quán triệt tinh thần cơ bản của học thuyết Mác-Lênin về chủ nghĩa xã hội vừa thể hiện sự vận dụng sáng tạo vào điều kiện cụ thể của Việt Nam trong thời kỳ mới.
Trong quá trình thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đảng ta tiếp tục tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, từng bước hoàn chỉnh thêm nhận thức về vấn đề này. Cho đến nay, mặc dù còn một số vấn đề cần tiếp tục đi sâu nghiên cứu, nhưng chúng ta có thể khái quát, xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao, dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu; có nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc; con người được giải phóng khỏi áp bức, bất công, có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tương trợ và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; có nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản; có quan hệ hữu nghị, hợp tác với nhân dân các nước trên thế giới.
Để thực hiện được mục tiêu đó, nước ta phải: Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng tinh thần của xã hội; bảo đảm vững chắc quốc phòng và an ninh quốc gia; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc; xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh.
Càng đi vào chỉ đạo thực tiễn, Đảng ta càng nhận thức được rằng, quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một sự nghiệp lâu dài, vô cùng khó khăn và phức tạp, vì nó phải tạo ra sự biến đổi sâu sắc về chất trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội. Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nước nông nghiệp lạc hậu, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lực lượng sản xuất rất thấp, lại trải qua mấy chục năm chiến tranh, hậu quả rất nặng nề; các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại công cuộc xây dựng đất nước ta, cho nên lại càng khó khăn, phức tạp, nhất thiết phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài với nhiều bước đi, nhiều hình thức tổ chức kinh tế, xã hội đan xen nhau, có sự đấu tranh giữa cái cũ và cái mới.
Nói bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa là bỏ qua chế độ áp bức, bất công, bóc lột tư bản chủ nghĩa; bỏ qua những thói hư tật xấu, những thiết chế, thể chế chính trị không phù hợp với chế độ xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng, chứ không phải bỏ qua cả những thành tựu, giá trị văn minh mà nhân loại đã đạt được trong thời kỳ phát triển chủ nghĩa tư bản. Đương nhiên, việc kế thừa những thành tựu này phải trên quan điểm phát triển, có chọn lọc.
2. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.
Như chúng ta đã biết, sau một thời gian tìm tòi, thử nghiệm, tổng kết thực tiễn, từ Đại hội VI, Đảng ta đã dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”.
Đại hội VIII (tháng 6-1996) đưa ra quan niệm mới, rất quan trọng về kinh tế hàng hóa và chủ nghĩa xã hội: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”. Nhưng vào thời điểm đó, chúng ta mới chỉ nói: “Vận dụng các hình thức kinh tế và phương pháp quản lý nền kinh tế thị trường là để sử dụng mặt tích cực của nó phục vụ mục đích xây dựng chủ nghĩa xã hội chứ không đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Kinh tế thị trường có những mặt mâu thuẫn với bản chất của chủ nghĩa xã hội… Đi vào kinh tế thị trường, phải kiên quyết đấu tranh khắc phục, hạn chế tối đa những khuynh hướng tiêu cực đó” ****.
Phải đến Đại hội IX (tháng 4 năm 2001) khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được nêu trong văn kiện của Đảng”, xem đó là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của cơ chế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (vì mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội), và cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (vì chúng ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở nước ta là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển. Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Ngược lại, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững nếu trong xã hội không có sự công bằng nhất định, đa số dân chúng sống nghèo khổ, thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, và một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Nói giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người không may gặp khó khăn, cơ nhỡ. Điều này vừa thể hiện đúng quy luật của sự phát triển lành mạnh, bền vững trong thời đại ngày nay, vừa nói lên mục đích, bản chất của xã hội ta. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này thì không thể nói đến định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là không hơn gì kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, càng không thể nói đến tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.
3. Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội
Phát triển văn hóa đồng bộ và tương xứng với tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội là một định hướng căn bản của quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, thể hiện sự nhận thức mới, bước phát triển tư duy lý luận của Đảng ta.
Từ nhiệm kỳ Đại hội VIII đến nay, trong nhiều nghị quyết của Đảng đã xác định phát triển văn hóa, xây dựng con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của công cuộc đổi mới; phát triển giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là quốc sách hàng đầu, là động lực phát triển kinh tế xã hội; đầu tư cho giáo dục - đào tạo và khoa học - công nghệ là đầu tư cho phát triển. Bảo vệ môi trường là một trong những vấn đề sống còn của nhân loại, là một tiêu chí và nội dung của sự phát triển bền vững, là nhân tố bảo đảm sức khỏe và chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Nền văn hóa mà chúng ta xây dựng là nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc, một nền văn hóa thống nhất trong đa dạng; phải làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống và hoạt động xã hội, vào từng người, từng gia đình, từng tập thể và cộng đồng, trong mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người. “Văn hóa soi đường cho quốc dân đi” như Bác Hồ đã dạy.
Một luận điểm rất quan trọng thể hiện nhận thức mới của Đảng ta là đã xác định sự gắn kết nhiệm vụ phát triển kinh tế là trung tâm, xây dựng Đảng là then chốt với phát triển văn hóa – nền tảng tinh thần của xã hội, coi đó là “ba chân kiềng” bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước.
Để văn hóa thực sự là nền tảng tinh thần của xã hội phải làm cho chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh giữ vai trò chủ đạo trong đời sống tinh thần xã hội, kế thừa và phát huy những giá trị truyền thống tốt đẹp của tất cả các dân tộc trong nước, tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại, xây dựng một xã hội văn minh lành mạnh vì lợi ích chân chính và phẩm giá con người, với trình độ tri thức, đạo đức, thể lực, lối sống và thẩm mỹ ngày càng cao; phê phán những cái lỗi thời, thấp kém; đấu tranh chống những tư tưởng và hành vi phi văn hóa, phản văn hóa, những khuynh hướng sùng ngoại, lai căng, mất gốc, sùng bái đồng tiền, bất chấp đạo lý; bảo vệ nền văn hóa dân tộc trước sự xâm lăng văn hóa trong điều kiện kinh tế thị trường và mở rộng giao lưu quốc tế. Cùng với việc tăng đầu tư của Nhà nước, cần thực hiện xã hội hóa các hoạt động văn hóa.
Con người giữ vị trí trung tâm trong chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội. Đề cao quyền con người, gắn quyền con người với quyền và lợi ích của dân tộc, đất nước và quyền làm chủ của nhân dân. Tất cả phải vì con người, chăm lo cho hạnh phúc của con người; phát huy nhân tố con người và phát triển nguồn nhân lực trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ và hạnh phúc, làm cho gia đình thực sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là cái nôi nuôi dưỡng và tổ ấm của mỗi người.
4. Giữ vững môi trường hòa bình, độc lập tự chủ, tích cực và chủ động hội nhập quốc tế.
Qua những năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, chúng ta ngày càng nhận thức rõ rằng, một trong những nhiệm vụ cơ bản của cách mạng nước ta là phải ra sức củng cố và giữ vững hòa bình để tập trung xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta đã đổi mới nhận thức về tình hình thế giới và khu vực; chuyển từ cách nhìn thế giới chỉ dưới góc độ một vũ đài đấu tranh sang cách nhìn toàn diện hơn; coi thế giới như môi trường tồn tại và phát triển của Việt Nam.
Sự chuyển biến tư duy quan trọng trong lĩnh vực quốc tế và đối ngoại là quan điểm “thực hiện đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế”, lấy việc bảo đảm lợi ích quốc gia là nguyên tắc tối cao của hội nhập. Trên cơ sở đó đã từng bước hoàn thiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; thực hiện chính sách đối ngoại rộng mở, tôn trọng độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; bình đẳng, cùng có lợi; giải quyết các bất đồng và tranh chấp bằng thương lượng hòa bình, không dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực.
Trước xu thế khách quan toàn cầu hóa kinh tế, chúng ta chủ trương “chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”, “chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, đồng thời mở rộng hợp tác trên các lĩnh vực khác” theo tinh thần phát huy tối đa nội lực, nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế, bảo đảm độc lập tự chủ và định hướng xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích dân tộc, an ninh quốc gia, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc, bảo vệ môi trường.
Đảng ta cũng nhận rõ khả năng vừa hợp tác, vừa đấu tranh trong tồn tại hòa bình giữa các nước có chế độ chính trị - xã hội khác nhau; đổi mới nhận thức trên vấn đề “địch - ta”, “đối tượng - đối tác” theo tinh thần “thêm bạn bớt thù”, khẳng định “những ai chủ trương tôn trọng độc lập, chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác của chúng ta, bất kỳ thế lực nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu của nước ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh”.
Chúng ta đã nhiều lần và từng bước tuyên bố: “Việt Nam muốn là bạn”, “sẵn sàng là bạn”, “là bạn, là đối tác tin cậy” của các nước trong cộng đồng quốc tế; “là thành viên tích cực và có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế”, tích cực tham gia giải quyết các vấn đề toàn cầu, phấn đấu vì hòa bình, độc lập và phát triển.
Trong khi đặt lên hàng đầu nhiệm vụ xây dựng đất nước, Đảng ta vẫn luôn luôn xác định xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau. Chúng ta đã từng bước nhận thức sâu sắc hơn, cụ thể hơn về mối quan hệ giữa kinh tế và quốc phòng - an ninh - đối ngoại; nhận thức toàn diện hơn về khái niệm an ninh quốc gia: an ninh quốc gia không chỉ là an ninh chính trị mà còn là an ninh kinh tế, an ninh văn hóa, an ninh tư tưởng, an ninh xã hội,…
Khái niệm bảo vệ Tổ quốc cũng được xác định đầy đủ hơn: bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ lãnh thổ, biên giới, hải đảo, vùng trời, vùng biển mà còn là bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ thành quả cách mạng, bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân; bảo vệ kinh tế, văn hóa dân tộc, bảo vệ sự nghiệp đổi mới…
Đã nhận thức rõ hơn các nguy cơ đối với an ninh quốc gia, các nhân tố có khả năng gây mất ổn định chính trị - xã hội, phá hoại an ninh quốc gia, nhất là những nhân tố “phi truyền thống”. Chúng ta đã bước đầu xây dựng hệ quan điểm mới về chiến tranh nhân dân, về hậu phương trong điều kiện chiến tranh công nghệ cao; làm sáng tỏ nội dung mới của chiến lược bảo vệ Tổ quốc, chiến lược quốc phòng toàn dân; khẳng định sức mạnh bảo vệ Tổ quốc là sức mạnh tổng hợp của khối đại đoàn kết toàn dân với nền tảng là “thế trận lòng dân”, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, sức mạnh của lực lượng và thế trận quốc phòng toàn dân với sức mạnh của lực lượng và thế trận an ninh nhân dân. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng - an ninh; quốc phòng - an ninh với kinh tế trong các chiến lược, quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội. Phối hợp chặt chẽ hoạt động quốc phòng và an ninh với hoạt động đối ngoại.
Xây dựng quân đội nhân dân và công an nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại; nâng cao chất lượng tổng hợp, sức chiến đấu để lực lượng vũ trang thực sự là lực lượng chính trị trong sạch, vững mạnh, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và nhân dân, được nhân dân tin cậy, yêu mến. Kiên quyết làm thất bại âm mưu và thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ; coi trọng nhiệm vụ bảo đảm an ninh chính trị nội bộ, nâng cao khả năng tự bảo vệ của mỗi người, của từng tổ chức, cơ quan, đơn vị.
5. Phát huy dân chủ, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta. Xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền lực thực sự thuộc về nhân dân là một nhiệm vụ trọng yếu, lâu dài của cách mạng Việt Nam.
Trong những năm đổi mới, chúng ta ngày càng nhận rõ dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, thể hiện mối quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và nhân dân. Khẳng định phải xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa thực sự của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân, trên cơ sở liên minh giữa công nhân, nông dân và trí thức do Đảng cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Nhà nước đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối của Đảng. Mọi đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của nhân dân. Thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, giữ nghiêm kỷ cương xã hội, chuyên chính với mọi hoạt động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân. Có cơ chế để nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên các lĩnh vực của đời sống xã hội, tham gia quản lý xã hội, khắc phục biểu hiện dân chủ hình thức. Nhà nước chăm lo cho con người, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của con người, tôn trọng và thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã ký kết.
Đưa ra chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa là một nhận thức mới của Đảng ta vào những năm 90 so với Cương lĩnh năm 1991. Chúng ta nhận thức rằng, nhà nước pháp quyền không phải là cái riêng có của chủ nghĩa tư bản. Trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội cũng phải thực hiện nhà nước pháp quyền.
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa khác về bản chất với nhà nước pháp quyền tư sản ở chỗ: Pháp quyền dưới chủ nghĩa tư bản, về thực chất, là công cụ bảo vệ và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản, còn pháp quyền dưới chủ nghĩa xã hội là công cụ thể hiện và thực hiện quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ lợi ích của đại đa số nhân dân.
Nhà nước pháp quyền quản lý xã hội bằng pháp luật và các công cụ khác theo quy định của pháp luật. Thông qua thực thi pháp luật, Nhà nước thể hiện nhân dân là chủ thể của quyền lực chính trị, thực hiện chuyên chính với mọi hành động xâm phạm lợi ích của Tổ quốc và nhân dân.
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, thông suốt, thống nhất. Đổi mới tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, làm cho nhà nước thực sự là thiết chế phục vụ nhân dân; hoạt động theo nguyên tắc tập trung dân chủ, việc gì có lợi cho dân, phải hết sức làm; việc gì có hại cho dân, phải hết sức tránh. Có cơ chế giám sát quyền lực nhà nước.
“Đoàn kết dân tộc”, “đại đoàn kết dân tộc”, “đại đoàn kết toàn dân tộc” ngày càng được nhận thức sâu sắc hơn về ý nghĩa, vai trò, là nguồn sức mạnh và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp cách mạng. Đảng ta đã nhiều lần khẳng định, các dân tộc trong đại gia đình Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ; cùng nhau thực hiện thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Thực hiện nhất quán chính sách đại đoàn kết các dân tộc, các tôn giáo, giai cấp, tầng lớp, thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi thành viên trong đại gia đình Việt Nam; lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng; tôn trọng những ý kiến khác nhau không trái với lợi ích chung của dân tộc, xóa bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau hướng tới tương lai.
Tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo khác nhau hoặc không theo tôn giáo, tạo điều kiện làm tròn trách nhiệm công dân, sống “tốt đời đẹp đạo”, phát huy những giá trị tốt đẹp về văn hóa, đạo đức của tôn giáo.
Đồng bào định cư ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là một nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam; khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào nâng cao lòng yêu nước, ý thức cộng đồng, tinh thần tự trọng, tự hào dân tộc, giữ gìn bản sắc văn hóa và truyền thống dân tộc, tôn trọng pháp luật nước sở tại, hướng về quê hương đất nước và góp phần tăng cường đoàn kết hữu nghị với nhân dân các nước.
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội là các tổ chức đại diện cho quyền làm chủ của nhân dân, tiêu biểu cho khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tham gia giám sát và phản biện xã hội đối với đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức dưới sự lãnh đạo của Đảng là nhiệm vụ thường xuyên quan trọng, bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, bảo đảm sự trường tồn và phát triển của dân tộc.
6. Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc.
Một thời gian dài và cả trong Cương lĩnh năm 1991 Đảng ta đã xác định “Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc”.
Trong giai đoạn cách mạng hiện nay, khi chúng ta nêu cao tư tưởng đại đoàn kết, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khi Đảng ta đã trở thành đảng cầm quyền lãnh đạo cả dân tộc, được toàn dân thừa nhận là đội tiên phong lãnh đạo của mình; và trên thực tế, Đảng ta ra đời, tồn tại và phát triển là vì lợi ích không chỉ của giai cấp công nhân mà còn vì lợi ích của nhân dân lao động, của toàn dân tộc, cho nên cần diễn đạt bản chất của Đảng thế nào cho phù hợp hơn.
Đại hội X của Đảng đã quán triệt sâu sắc hơn tư tưởng Hồ Chí Minh, khẳng định: “Đảng cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam”.
Cùng với việc xác định Đảng ta là đảng cầm quyền, luận điểm này là một bước phát triển mới rất quan trọng về nhận thức của Đảng trong 20 năm qua. Nó vừa nói lên được bản chất giai cấp công nhân của Đảng theo chủ nghĩa Mác-Lênin, vừa thể hiện được nét đặc thù của Đảng ta theo sự phát triển sáng tạo của tư tưởng Hồ Chí Minh, phù hợp với thực tế Việt Nam, và đáp ứng được nguyện vọng, tình cảm của nhân dân. Diễn đạt như vậy hoàn toàn không phải là hạ thấp bản chất giai cấp của Đảng, trượt sang quan điểm “đảng toàn dân” mà chính là thể hiện sự nhận thức bản chất giai cấp của Đảng một cách sâu sắc hơn, nhuần nhuyễn hơn. Nó đòi hỏi Đảng ta chẳng những phải trung thành với giai cấp công nhân, nâng cao lập trường, tư tưởng của giai cấp công nhân, mà còn phải học tập, kế thừa, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tăng cường đoàn kết, tập hợp nhân dân phấn đấu vì lợi ích của cả giai cấp công nhân, nhân dân lao động và toàn dân tộc.
Đối với chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh - nền tảng tư tưởng của Đảng và kim chỉ nam cho hành động cách mạng -, Đảng ta luôn luôn kiên định, kiên trì, đồng thời yêu cầu phải vận dụng sáng tạo, có bổ sung, phát triển cho phù hợp với thực tiễn, góp phần làm phong phú và ngày càng hoàn thiện hơn. Chúng ta cũng đã nhận thức đầy đủ và sâu sắc giá trị to lớn và nội dung toàn diện của tư tưởng Hồ Chí Minh.
Tại Đại hội IX, Đảng ta đã tổng kết: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam, là kết quả sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta, kế thừa và phát triển các giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại… Tư tưởng Hồ Chí Minh soi đường cho cuộc đấu tranh của nhân dân ta giành thắng lợi, là tài sản tinh thần to lớn của Đảng và dân tộc ta” *****.
Về công tác xây dựng Đảng, đã bổ sung, phát triển và từng bước làm sáng tỏ lý luận về vai trò lãnh đạo của Đảng trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, xây dựng nhà nước pháp quyền, mở cửa hội nhập quốc tế; làm rõ hơn trách nhiệm của đảng cầm quyền trong việc nghiên cứu, tìm tòi mô hình và con đường, bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với quy luật khách quan. Đã nhận thức sâu sắc hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng Đảng trong điều kiện mới, coi xây dựng Đảng là nhiệm vụ then chốt, nhiệm vụ sống còn trong toàn bộ sự nghiệp cách mạng. Từ đó đặt ra yêu cầu Đảng phải tự đổi mới, tự chỉnh đốn; tăng cường xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, nâng cao trình độ nhận thức, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không ngừng hoàn thiện đường lối đổi mới của Đảng; tăng cường công tác tư tưởng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, đấu tranh chống sự suy thoái, biến chất, tham nhũng, hư hỏng. Đổi mới, kiện toàn hệ thống tổ chức của Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; đổi mới đồng bộ công tác cán bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát; đổi mới phương thức lãnh đạo và lề lối công tác; gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa vào nhân dân để xây dựng Đảng. Đặc biệt đề phòng nguy cơ sai lầm về đường lối và thoái hóa, quan liêu, xa rời quần chúng.
Đảng viên làm kinh tế tư nhân là một vấn đề cụ thể nhưng rất quan trọng, liên quan đến quan điểm, đường lối cơ bản của Đảng, được đặt ra từ nhiều năm, cho nhiều Đại hội. Qua một quá trình nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, đến Đại hội X, Đảng ta đã cho phép đảng viên làm kinh tế tư nhân (bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và tư bản tư nhân) với điều kiện phải gương mẫu chấp hành pháp luật, chính sách của Nhà nước, nghiêm chỉnh chấp hành Điều lệ Đảng và quy định của Ban chấp hành Trung ương.
Chúng ta nhận thức rằng, trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, đất nước còn nghèo, phải tập trung phát triển sức sản xuất, làm ra nhiều của cải cho xã hội. Đảng đã chủ trương phát triển kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa do Đảng cộng sản lãnh đạo thì cũng cần khuyến khích đảng viên làm kinh tế bằng nhiều hình thức ở nhiều loại hình sản xuất, kinh doanh, vừa nâng cao đời sống cho bản thân và gia đình vừa góp phần làm giàu cho xã hội.
Tóm lại, trong những năm tiến hành công cuộc đổi mới, thực hiện Cương lĩnh năm 1991, nhận thức của Đảng ta ngày càng được bổ sung, phát triển trên nhiều vấn đề cơ bản và quan trọng, góp phần từng bước làm sáng tỏ và hoàn thiện đường lối đổi mới, xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta. Đây cũng là cơ sở rất quan trọng để Đại hội XI sắp tới xem xét, quyết định việc bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991./.
* Bài phát biểu của đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh tại Hội nghị lần thứ chín Ban chấp hành Trung ương Đảng, khóa VI (tháng 8-1990); Văn kiện Đảng toàn tập, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2007, t.50, tr.178.
** Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, NXB Sự thật, Hà Nội, 1991, tr.8.
*** Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.83.
**** Văn kiện Đai hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1996, tr.72.
***** Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001, tr.82-83.
thd: Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay (SGGP 4-5-10) -- Bài (rất dài!) của ông Nguyễn Phú Trọng về Đảng của ổng.
-------------------
GS.TS Nguyễn Phú Trọng nói về kinh tế thị trường

Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững
Với nhan đề "Sự phát triển nhận thức của Đảng ta từ Cương lĩnh năm 1991 đến nay", bài viết của Giáo sư, Tiến sỹ Nguyễn Phú Trọng, Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội, đã nêu rõ những luận điểm và nội dung cốt lõi nhất của quá trình phát triển này. Bee xin trích đăng phần 2 bài viết này: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
| TIN LIÊN QUAN |
|---|
Đưa ra quan niệm phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một đột phá lý luận rất cơ bản và sáng tạo của Đảng ta, là thành quả lý luận quan trọng qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, xuất phát từ thực tiễn Việt Nam và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của thế giới.
Như chúng ta đã biết, sau một thời gian tìm tòi, thử nghiệm, tổng kết thực tiễn, từ Đại hội VI, Đảng ta đã dứt khoát từ bỏ mô hình kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp, chủ trương phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần. Cương lĩnh năm 1991 khẳng định: “Phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước”.
Đại hội VIII (tháng 6/1996) đưa ra quan niệm mới, rất quan trọng về kinh tế hàng hóa và chủ nghĩa xã hội: “Sản xuất hàng hóa không đối lập với chủ nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của nền văn minh nhân loại, tồn tại khách quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã hội đã được xây dựng”.
Phải đến Đại hội IX (tháng 4/2001) khái niệm “kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa” mới chính thức được nêu trong văn kiện của Đảng”, xem đó là mô hình kinh tế tổng quát trong suốt thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường. Nó là một kiểu tổ chức kinh tế vừa tuân theo những quy luật của cơ chế thị trường vừa dựa trên cơ sở và được dẫn dắt, chi phối bởi các nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội, thể hiện trên cả ba mặt: sở hữu, tổ chức quản lý và phân phối, nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh.
Đây không phải là nền kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa (vì mục đích của chúng ta là xây dựng chủ nghĩa xã hội), và cũng chưa phải là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa (vì chúng ta còn đang trong thời kỳ quá độ).
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh.
Trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tập thể không ngừng được củng cố và mở rộng; kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế; kinh tế hỗn hợp, đa sở hữu, nhất là các doanh nghiệp cổ phần ngày càng phát triển; kinh tế nhà nước cùng với kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân.
Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội. Nhà nước quản lý nền kinh tế bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất để định hướng, điều tiết, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Một đặc trưng cơ bản, một thuộc tính quan trọng của định hướng xã hội chủ nghĩa trong kinh tế thị trường ở nước ta là phải gắn kinh tế với xã hội, thống nhất chính sách kinh tế với chính sách xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển.
Phát triển xã hội trên nguyên tắc tiến bộ và công bằng đòi hỏi phải có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững, có khả năng huy động các nguồn lực vật chất cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Ngược lại, cũng không thể có một nền kinh tế tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững nếu trong xã hội không có sự công bằng nhất định, đa số dân chúng sống nghèo khổ, thấp kém về trí tuệ, ốm yếu về thể chất, và một bộ phận đáng kể lao động lâm vào cảnh thất nghiệp, nghèo đói, bị đẩy ra ngoài lề xã hội.
Nói giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách và trong suốt quá trình phát triển có nghĩa là: không chờ đến khi kinh tế đạt tới trình độ phát triển cao rồi mới thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, càng không “hy sinh” tiến bộ và công bằng xã hội để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần.
Trái lại, mỗi chính sách kinh tế đều phải hướng tới mục tiêu phát triển xã hội; mỗi chính sách xã hội phải nhằm tạo ra động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, dù trực tiếp hay gián tiếp, trước mắt hay lâu dài; khuyến khích làm giàu hợp pháp phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo, chăm sóc những người có công, những người không may gặp khó khăn, cơ nhỡ.
Điều này vừa thể hiện đúng quy luật của sự phát triển lành mạnh, bền vững trong thời đại ngày nay, vừa nói lên mục đích, bản chất của xã hội ta. Nếu không giải quyết tốt vấn đề này thì không thể nói đến định hướng xã hội chủ nghĩa, tức là không hơn gì kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa, càng không thể nói đến tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.
(Theo TTXVN)




