Nhà cầm quyền Hà Nội rục rịch cho công an điều tra về vụ quan chức nhiều ngành khác nhau đã ăn hối lộ của công ty Việt kiều Mỹ Nexus Technologies. Trong cuộc điều tra của báo Người Việt, tờ báo đọc được từ biên bản vụ án cũng như phỏng vấn các luật sư tham dự vụ án cho thấy cơ quan công tố của Hoa Kỳ không nhận được sự hợp tác từ phía Việt Nam.
Ngày 21 tháng 9 năm 2010 vừa qua, tờ Sài Gòn Tiếp Thị tường thuật cuộc tiếp xúc với báo chí về chuyện kể trên “đại diện các đơn vị bị nêu tên trong bản phán quyết của tòa án Mỹ với vai trò là các đơn vị có cán bộ, nhân viên đã nhận tiền hối lộ” cho biết “không liên quan gì đến vụ việc”.
“…Ông Ðinh La Thăng, chủ tịch hội đồng quản trị PVN nói rằng, ông đã nhận thông tin từ Bộ Công An, đã chỉ đạo kiểm tra, xác minh cùng Bộ Công An nhưng sau khi xác minh đến nay, có thể khẳng định các thông tin liên quan đến hai đơn vị thuộc PVN là ‘chưa chính xác.’” Tờ SGTT viết ngày 21 tháng 9 năm 2010.
Tờ SGTT kể tiếp: “Một quan chức của Bộ Giao Thông Vận Tải cũng cho biết, Trung Tâm Quản Lý Bay miền Nam khẳng định trong bản giải trình lên Bộ Giao Thông Vận Tải là ‘không liên quan đến công ty Nexus Techonogies’ và từ trước đến nay chưa ký bất cứ hợp đồng nào về mua sắm thiết bị với công ty này.”
Trả lời phóng viên Sài Gòn Tiếp Thị khi vụ việc bắt đầu được điều tra tại Mỹ, tổng thanh tra chính phủ Trần Văn Truyền cho biết, không chỉ có vụ việc này mà cả nghi án một công ty tại Úc hối lộ cho người của công ty CFTD (để giành hợp đồng in tiền cho Việt Nam), “Chính phủ đã có chỉ đạo giao cho các cơ quan liên quan xem xét, tìm hiểu, như giao cho Bộ Ngoại Giao liên hệ, làm việc với cơ quan chức năng của Mỹ để lấy tư liệu, xác minh đúng sai”.
Tờ SGTT đặt câu hỏi rằng “các cơ quan được nêu trong bản cáo trạng của tòa án Mỹ đều cho rằng không liên quan. Nếu quả đúng như các cơ quan khẳng định như vậy thì phải chăng, những người bị buộc tội hối lộ, rửa tiền của công ty Nexus Technologies đã khai khống?”
- Lộ thêm tên 6 người ăn hối lộ Nexus “Mr. Tran Dinh Nam, Director of the Purchasing Department” của sân bay Vũng Tàu. Một loạt danh tánh nhưng không rõ là viên chức ở đâu: Le Minh Son, Nguyen Duc Nam, Mr Tuan, Nguyen Van Tam, Duong Quoc Ha, Nguyen Van Tan (blog Vũ Quý Hạo Nhiên).
Việt Nam bất hợp tác điều tra vụ ‘Việt kiều hối lộ quan chức VN’
Phía công tố nói với tòa rằng họ đã không nhận được sự hợp tác từ phía Việt Nam. Trong một đoạn tranh cãi, luật sư của bị cáo yêu cầu bãi nại vì họ không thể biết được thân chủ của họ đang bị tố cáo đã hối lộ cho ai.
- Trịnh Hội: Tìm hiểu thêm vụ Nexus hối lộ ở VN — (BBC). Bản tiếng Anh tài liệu bổ sung liên quan tới vụ nầy cho biết số tiền hối lộ là 689.000 đô, lớn hơn báo chí đưa rất nhiều (250.000 đô): Government Sentencing Memorandum. Thêm tình tiết mới về công ty Nexus
Theo tài liệu này thì tổng số tiền công ty Nexus đưa hối lộ cho các quan chức VN trong 9 năm (từ 1999-2007) hơn $689.000, nhiều hơn số tiền mà tin tức đưa ra ban đầu ($250.000). Số tiền hối lộ các quan chức VN trong vụ án này nhiều hơn số tiền Huỳnh Ngọc Sĩ bị truy tố nhận hối lộ trong vụ PCI ($262.000). Xin liệt kê từng năm như sau (xem trang 6-7 trong tài liệu đính kèm):
| Năm | Số tiền | Năm | Số tiền |
| 19992000 2001 2002 2003 Tổng cộng | 1.428,5732.490,49 72.703.37 56.120,07 126.488,92 | 20042005 2006 2007 | 75.573,9797.996,92 135.663,46 90.650,27 689.116,04 |
Xem tài liệu gốc (bằng tiếng Anh)
Nguồn: Ngọc Thu gửi tới Đàn Chim Việt
– Thêm tên hai quan chức Việt Nam trong vụ Nexus — (Người Việt)
Thêm tên hai quan chức Việt Nam trong vụ Nexus
Trong vụ án này, tên tuổi những người nhận tiền hối lộ bên phía Việt Nam, dù là chứng cớ cần thiết để buộc tội các bị cáo Việt kiều, là điều khó biết nhất, lý do đơn giản là các bị cáo đã nhận tội. 24.09.2010
PHILADELPHIA (NV) – Trong một vụ án liên quan đến việc hối lộ quan chức Việt Nam, như vụ án 3 anh em nhà họ Nguyễn của hãng Nexus Technologies Inc., vừa bị tòa tuyên án tuần qua, điều ai cũng muốn biết là tên và chức vụ của những quan chức Việt Nam liên quan.
Nhưng trong vụ án này, tên tuổi những người nhận tiền hối lộ bên phía Việt Nam, dù là chứng cớ cần thiết để buộc tội các bị cáo Việt kiều, là điều khó biết nhất, lý do đơn giản là các bị cáo đã nhận tội.
Theo đúng luật của Hoa Kỳ, thì khi các bị cáo bị đưa ra tòa xử trong một phiên tòa có thẩm phán, có bồi thẩm đòan, công tố viên và hai bên luật sư thì tất cả những hồ sơ liên quan đến phiên tòa đó phải được bạch hóa. Và muốn tìm tên của những quan chức Việt Nam đã nhận tiền hối lộ, người ta chỉ cần xem hồ sơ phiên xử là xong.

Nexus đã làm ăn với Xí Nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Việt-Xô (Vietsovpetro Joint Venture) từ năm 2000.
Trong khi đó, nếu các bị cáo đã nhận tội, thì công chúng chỉ được xem những hồ sơ và tài liệu mà bộ Tư Pháp muốn công bố, và trong trường hợp này, không hiểu tại sao danh tánh của các quan chức Việt Nam không được phổ biến.
Phải duyệt qua biết bao nhiêu tài liệu, đến tài liệu số 133, nộp ngày 9 tháng 12, 2009, liên quan đến việc bị cáo khiếu nại với tòa là danh sách các quan chức Việt Nam do bên công tố đưa ra không rõ ràng, chúng tôi đã tìm thấy được thêm tên của hai quan chức Việt Nam nữa.
Ðó là một người họ Lương, và một người tên Nguyen Van Tam, cả hai cùng làm việc cho Xí Nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Việt-Xô (Vietsovpetro Joint Venture).
Trước một tình trạng tìm thông tin khó khăn như vậy, câu hỏi không thể không đặt ra là lý do tại sao mà danh tánh các quan chức Việt Nam chưa được tiết lộ?
Khi chúng tôi liên lạc với bà Laura Sweeney, phát ngôn viên của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ, qua email, thì được bà trả lời là: “Rất tiếc chúng tôi không thể thảo luận gì thêm ngoài những tài liệu mà tòa đã công bố.”
Bà Laura Sweeney cũng thẳng thừng từ chối yêu cầu xin được phỏng vấn.
Như vậy, thì theo những tài liệu do Bộ Tư Pháp phổ biến, người ta có thể tìm hiểu được gì về tổ chức của hãng Nexus Technologies?
Theo tài liệu của tòa án, ông Nguyễn Quốc Nam, chủ tịch và chủ nhân công ty Nexus, có bằng BS và Master ngành kỹ sư điện tử tại Ðại Học Drexel University, làm kỹ sư thiết kế cho hãng AT & T hơn 15 năm và xin nghỉ hưu non. Là người chủ mưu, và điều khiển công ty, ông Nguyễn Quốc Nam, sinh sống ở Việt Nam, phụ trách thương thảo hợp đồng, móc nối và thỏa thuận các món tiền hối lộ cho các quan chức Việt Nam.
Bà Kim Anh Nguyễn, sống ở Mỹ, phụ trách vấn đề tài chánh, và liên lạc với các nguồn hàng ở Hoa Kỳ.
Ông Nguyễn Quốc An, sống ở Mỹ, phụ trách việc liên lạc và thương lượng với các nguồn hàng tại Hoa Kỳ và lo vận chuyển hàng về Việt Nam.
Chứng cớ của chính phủ Hoa Kỳ hùng hồn như thế nào mà đã khiến cho ba anh em nhà họ Nguyễn phải nhận tội?
Tài liệu tuyên án của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ đưa ra một danh sách dài lê thê liệt kê emails qua lại giữa ba anh em và những số tiền được chuyển từ Hoa Kỳ, qua Hồng Kông, vào Việt Nam.
Cũng theo tài liệu của Bộ Tư Pháp, công ty Nexus đã làm ăn với Xí Nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Việt-Xô (Vietsovpetro Joint Venture) từ 2000.
Ngày 13 tháng 12 năm 2000, ông Nguyễn Quốc Nam viết email báo cho Joseph Lukas, (một bị cáo khác cũng dính dáng đến vụ án, và là nhân viên cũ của Nexus) báo rằng “Tôi đã thỏa thuận được với hãng Vietsovpetro ngày hôm nay. Với 15% tiền hoa hồng (hối lộ), chúng ta bảo đảm được là nguồn hàng của họ.”
Ngày 15 tháng 4, năm 2002, ông Nguyễn Quốc Nam viết email cho Lukas giục giã là phải trả tiền hoa hồng cho hãng VSP một cách cẩn thận và nhanh chóng. Ông viết: “Tôi muốn mọi người ở đây (VSP) phải được vui, điều này sẽ mang lợi đến cho chúng ta.”
Số tiền chuyển cho hãng Vietsovpetro có khi lên đến hơn 40 ngàn đô la một lần.
Những số tiền chuyển đi như vậy thường được ghi vào sổ là training, hoa hồng, hay có khi tiền vận chuyển.
Chứng cớ cũng cho thấy Nexus cũng đã giao dịch với công ty trách nhiệm hữu hạn T & T Co. Ltd. từ năm 2005.
Ngày 10 tháng 5, ông Nguyễn Quốc Nam gửi email cho bà Kim Anh Nguyễn báo rằng hãng T&T là bộ phận mua sắm (procurement entity) của chính phủ, và sẽ mua những máy móc liên quan đến an ninh.
Từ cuối tháng 5, 2005 cho đến cuối năm 2006, tiền khoảng từ 20 đến 30 ngàn được liên tục gửi qua Hong Kong, rồi chuyển về cho tài khoản của ông Nguyen Van Tan, giám đốc của T & T, ở ngân hàng Asia Commercial Bank tại Việt Nam.
Vụ án 3 anh em nhà họ Nguyễn, thuộc hãng Nexus hối lộ quan chức Việt Nam là một trong những nỗ lực của chính phủ trong việc tăng cường kiểm soát việc hối lộ nước ngoài, và là kết quả của cuộc điều tra chung giữa FBI và Bộ Thương Mại Hoa Kỳ, Văn phòng Kiểm Soát Xuất Khẩu.
Không ai rõ có sự hợp tác hay thông tin giữa hai quốc gia Hoa Kỳ và Việt Nam trong những vụ điều tra các công ty vi phạm luật FCPA (Foreign Corrupt Practices Act).
- Tên 3 cá nhân ăn hối lộ Nexus “Nguyen Van Tan (hình như là Nguyễn Văn Tấn), giám đốc công ty T&T Co. Ltd., được miêu tả là “procurement arm” phụ trách mua công cụ cho Bộ Công An; * Một quan chức tên “Mr. Lương” ở Vietsovpetro. * Một quan chức nữa tên “Nguyen Van Tam” cũng ở Việt Xô” (blog Vũ Quý Hạo Nhiên).
- Liên quan vụ Công ty Nexus bên Mỹ (nghi) hối lộ quan chức VN: Một độc giả ruột của BS vừa gởi những tài liệu quý giá hầu giúp các quan thanh tra phăn ra thủ phạm trong nước, trong đó cho thấy số tiền hối lộ cao hơn số hiện được loan tin rất nhiều:
Theo tài liệu này thì tổng số tiền công ty Nexus đưa hối lộ cho các quan chức VN trong 9 năm (từ 1999-2007) hơn $689.000, nhiều hơn số tiền mà tin tức đưa ra ban đầu ($250.000).
Tìm hiểu thêm vụ Nexus hối lộ ở VN BBC
LS Trịnh Hội ngạc nhiên trước tin rằng nhiều công ty thuộc các bộ ngành ở Việt Nam bác bỏ liên quan đến vụ Nexus đưa hối lộ.
Cận cảnh vụ Việt kiều hối lộ quan chức VN: Khi luật pháp Mỹ bị thách thức!
VIỆT NAM – Tin tức liên quan đến vụ ba anh em gốc Việt, sống tại Mỹ, hối lộ quan chức Việt Nam, bị chính phủ Hoa Kỳ kết tội vi phạm luật “Chống Hành Vi Tham Nhũng ở Ngoại Quốc” khiến dư luận báo chí nước ngoài đặc biệt quan tâm, nhưng lại gần như không được đưa tin bên trong Việt Nam.
Ba anh em người Mỹ gốc Việt này là đồng chủ nhân và giám đốc công ty Nexus Technologies, Inc., bị tòa án liên bang Hoa Kỳ kết án hôm Thứ Tư vừa qua, vì tội hối lộ các viên chức nhà cầm quyền Hà Nội, và qua đó vi phạm luật FCPA (Foreign Corrupt Practices Act).
Ông Nguyễn Quốc Nam, chủ tịch và chủ nhân công ty Nexus Technologies Inc., người được xem là chủ mưu, bị kết án 16 tháng tù cùng 2 năm quản chế.
Tài liệu do Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ công bố, ghi rõ tên những công ty đối tác làm ăn với Nexus Technologies, gồm có Tổng Công Ty Khí (PV Gas), thuộc Tập Ðoàn Dầu Khí Quốc Gia Việt Nam (PetroVietnam – PVN), Tổng Công Ty Hàng Không Việt Nam (trực thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải), Xí nghiệp Liên Doanh Dầu Khí Việt-Xô, Trung Tâm Quản Lý Bay miền Nam (thuộc cục Hàng Không Dân Dụng), và công ty trách nhiệm hữu hạn T&T, một khách hàng của Nexus Technologies, Inc., chuyên về hoạt động an ninh biên giới, thuộc bộ phận mua sắm (procurement division) của Bộ Công An Việt Nam (Vietnamese Ministry of Public Security).
Báo Tuổi Trẻ của Việt Nam nói rằng, đại diện các cơ quan bị nêu tên, khi trả lời báo chí, đều khẳng định: “không liên quan gì đến vụ việc,” “không liên quan đến công ty Nexus Techonogies,” hoặc từ trước đến nay chưa ký bất cứ hợp đồng nào về mua sắm thiết bị với công ty này.
Thách thức chính quyền Hoa Kỳ
Bị truy tố từ tháng 9, 2008, ba anh em họ Nguyễn không nhận tội ngay, mà thay vào đó, thuê luật sư bào chữa. Mới tháng 9 năm ngoái, họ còn yêu cầu tòa bãi nại, vì cho rằng tòa không đủ chứng cớ buộc họ tội hối lộ viên chức nước ngoài.
Thế nhưng, chỉ sáu tháng sau đó, vào tháng 3 năm nay, ba anh em này đã nhận tội, và đồng ý đóng cửa Nexus Technologies, Inc., vì công ty này chỉ hiện hữu qua những phương cách phi pháp.
Tại sao?
Theo phân tích của Luật Sư Richard L Cassin, thuộc tổ hợp luật Cassin, chuyên nghiên cứu luật FCPA, chiến thuật của anh em nhà Nguyễn lúc đó là “thách thức chính quyền (Hoa Kỳ) về định nghĩa của những chữ “Government Officials” (viên chức nhà cầm quyền).
Hai tuần sau khi các bị can nộp đơn xin bãi nại, tòa án liên bang khước từ yêu cầu của họ, và đáp trả bằng một cáo trạng dài hơn, tăng tội trạng từ 5 đến 28 tội.
Tiếp xúc với Trịnh Hội qua email, Luật Sư Michael J. Engle (bào chữa cho bà Nguyễn Kim Anh, một trong ba anh em bị buộc tội), cho biết ông là “luật sư thứ ba” của bà, và lý do thân chủ ông nhận tội là vì “chính quyền đã nắm được trong tay quá nhiều chứng cớ,” nếu phải ra tòa, cơ hội bị kết tội rất cao, vì thế “thú tội là sự lựa chọn tốt nhất” cho thân chủ ông.
“Trách nhiệm của tôi là làm sao cho thân chủ khỏi bị tù, và chúng tôi theo đuổi chiến thuật đó.” Luật Sư Engle nói.
Theo tài liệu tuyên án (Government Sentencing Memorandum) của Bộ Tư Pháp, công bố ngày 8 tháng 9, 2010, ông Nguyễn Quốc Nam nhận tội “hối lộ tiền cho viên chức nhà cầm quyền Việt Nam” là ông Nguyen Van Tan, tổng giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn T&T (T&T Co. Ltd.) để lấy được hợp đồng cho công ty Nexus.
Người của Bộ Công An
Một đoạn trong tài liệu tuyên án viết: “Ông Nam Nguyễn thừa nhận rằng, trong vai trò tổng giám đốc của công ty trách nhiệm hữu hạn T&T (T&T Co. Ltd.), ông Nguyễn Van Tan, người có tên trong cáo trạng tòa án, là viên chức của nhà cầm quyền Việt Nam. Và trước đó, trong một cuộc phỏng vấn với FBI hồi tháng 5, 2008, công ty T&T chính là một bộ phận của Bộ Công An Việt Nam.”
Vậy, “Nguyen Van Tan” là ai?
Vẫn theo tài liệu tuyên án của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ: “Một cách cụ thể, các bị cáo đã trả tiền hối lộ cho ông Nguyen Van Tan, tổng giám đốc của công ty T&T Co. Ltd. Công ty T&T là cơ quan phụ trách mua sắm (procurement) của Bộ Công An Việt Nam. Giấy tờ và tài liệu tịch thu được từ các bị cáo cho thấy rất rõ, bị cáo Nguyễn Quốc Nam lúc đó hiểu rằng ông Nguyen Van Tan nắm quyền quyết định cho tất cả việc mua sắm, thiết bị cho công ty T&T, và điều hành việc mua sắm cho các cơ quan an ninh của Việt Nam, chẳng hạn như quyết định mua hệ thống dò bom, và hệ thống điều khiển giao thông.”
Tiền hối lộ được trả như thế nào? Trong bản cáo trạng công bố ngày 29 tháng 10, 2009, Bộ Tư Pháp đưa ra nhiều dẫn chứng cụ thể, dẫn giải tiến trình chuyển tiền, có thể tóm gọn như sau: Tất cả giá cả hãng Nexus chào hàng cho các công ty đối tác đều rất đắt, “đắt hơn có thể mua được từ những nguồn khác,” sự sai biệt là tiền “hoa hồng” phải trả cho các “viên chức nhà nước.” Tiền hoa hồng thường được chuyển qua một công ty ở Hồng Kông do chính công ty Nexus lập ra, rồi từ đó được chuyển vào Việt Nam.
Tài liệu của Bộ Tư Pháp cho biết, trong vòng 9 năm, từ 1999 đến 2007, số tiền hối lộ mà Nexus trả cho các đối tác Việt Nam lên đến $689 ngàn, chưa kể những món chi trả chưa thể tính được.
“Việt Nam là một nước rất nghèo đang tìm cách đối phó với một sự khủng hoảng kinh tế một phần bị tạo ra bởi nạn tham những nặng nề. Sự tham lam của ông Nguyễn Quốc Nam và các đồng bị cáo bóc lột tài nguyên của Việt Nam và cướp đi cơ hội của những công ty làm ăn hợp pháp. ‘Luật Chống Hành vi Tham Nhũng ở Nước ngoài’ được đặt ra để ngăn chặn và trừng phạt những trường hợp này.” Tài liệu tuyên án của Bộ Tư Pháp ghi rõ.
Trong bài viết tới, chúng tôi tường trình về cơ cấu tổ chức của công ty Nexus và những việc chuyển tiền cũng như diễn tiến vụ kiện theo những tài liệu và thông tin có được qua nói chuyện với đại diện Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ. Tại sao danh tánh quan chức Việt Nam đã không bị tiết lộ?
Vụ Việt kiều Mỹ hối lộ quan chức VN: Công an cần 3 ngày, điều tra xong? (NV 22-9-10)
Thứ nhất, theo kết quả điều tra của chính phủ Mỹ, tổng cộng số tiền “huê hồng” dùng để hối lộ các quan chức Việt Nam lên đến trên $250,000.
Thứ hai, chính phủ Mỹ có đầy đủ chứng cớ cho thấy trong 10 năm vừa qua số tiền này đã được chuyển đi đâu, bao nhiêu mỗi lần, cho những ai, và họ có cả tên, số tài khoản ngân hàng, lẫn email và nội dung email qua lại giữa hai bên hối lộ và nhận hối lộ.
Thứ ba, một trong những công ty được nêu đích danh trực thuộc… Bộ Công An Việt Nam.
Và thứ tư, quan trọng hơn cả: sau hơn một năm bị chính thức buộc tội với tất cả các bằng chứng mà chính phủ Mỹ đưa ra, cả 3 anh em nhà họ Nguyễn là Nam Nguyễn, An Nguyễn và Kim Nguyễn quyết định nhận tội để được hưởng mức xử phạt nhẹ hơn nhiều so với mức tối đa mà tòa án có thể áp dụng. Ðó là 30 cho đến 35 năm tù giam cho mỗi người và $27 triệu đối với công ty Nexus.
– Bài trên báo Tuổi Trẻ: Vụ ba Việt kiều Mỹ đưa hối lộ doanh nghiệp VN: Phía VN chưa có tài liệu (TT 21-9-10) ◄
Vụ ba Việt kiều Mỹ đưa hối lộ doanh nghiệp VN: Phía VN chưa có tài liệu
Bản tin dưới đây đăng trên báo Tuổi trẻ nhắc chúng ta nhớ đến cách xử lý của Việt Nam đối với vụ PCI.
Ngày 4/8/2008, bốn người của PCI bao gồm chủ tịch và giám đốc điều hành bị bắt vì cáo buộc đưa hối lộ. Suốt hai tuần báo chí Việt Nam vẫn lặng phắt trong khi truyền thông Nhật rầm rộ đưa tin. Năm tháng sau đó, ông Huỳnh Ngọc Sĩ, người bị nêu đích danh dính líu đến vụ hối lộ này vẫn tại vị. Để “khách quan”, người ta còn yêu cầu chính Ban Quản lý dự án xây dựng Đại lộ Đông – Tây TPHCM, mà người đứng đầu lại chính ông Huỳnh Ngọc Sĩ, báo cáo sự việc và tất nhiên Ban này khẳng định “không có hành vi tiêu cực như báo chí đã đưa”! Thậm chí, Phó Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân TP. HCM Nguyễn Thành Tài, còn tuyên bố: “Tôi đã trình bày quan điểm của lãnh đạo thành phố và đã được Thủ Tướng chấp thuận về cách giải quyết. Chỉ cần khi nào phía bạn đưa ra chứng cứ thì sẽ cho tiến hành xử lý. Còn nếu cần hỗ trợ, các cơ quan chức năng tại thành phố sẵn sàng hợp tác tốt nhất cho phía bạn tìm chứng cứ.” Cứ như thể Việt Nam giúp Nhật Bản bài trừ hối lộ, chứ không phải đó là vấn đề của chính mình! Mọi việc chỉ chuyển động nhanh chóng sau ngày 4/12/2008 khi Nhật tuyên bố ngưng viện trợ ODA, đóng băng khoản 700 triệu đô la đã cấp cho năm 2008. Năm ngày sau, vụ án chính thức được Việt Nam khởi tố.
Vụ hối lộ của Công ty Nexus Technologies có vẻ theo một kịch bản tương tự. Ba người Mỹ gốc Việt của công ty này đã bị Mỹ truy tố ngay từ tháng 10 năm ngoái. Cáo trạng của vụ án này được phía Mỹ đưa công khai lên mạng của Bộ Tư pháp. Báo chí Việt Nam đưa tin rất dè dặt, chắc còn hãi chuyện hai nhà báo phải vào tù vì vụ PMU 18 – một thứ “ngục văn tự” thời hiện đại. Còn các cơ quan có trách nhiệm không ai thấy cần thiết phải tiến hành điều tra. Cho đến nay, một năm sau, mà người lãnh đạo Bộ Công an vẫn nói là “mới nghe vụ việc nhưng chưa thấy cơ quan điều tra báo cáo.” Người ta cũng ra lệnh cho các đơn vị bị cáo buộc nhận hối lộ phải giải trình và, tất nhiên, cũng nhận được phản hồi là “không liên quan đến hành vi hối lộ của Công ty Nexus Technologies”.
Chỉ thiếu một điều nữa là hoàn toàn trùng khớp: không biết lần này ông thứ trưởng Bộ Ngoại giao Hồ Xuân Sơn có đề nghị phía Mỹ trong khi vụ việc đang được điều tra, chưa có kết luận cuối cùng thì các cơ quan truyền thông đại chúng của Mỹ không nên đưa tin, bài, như đã từng làm cách đây hai năm trong vụ PCI, hay không?
Có thật chúng ta quyết tâm chống tham nhũng hay không?
Anh Hoàng
TT – Ngày 20-9, trả lời Tuổi Trẻ về việc các cơ quan bảo vệ pháp luật đã có động thái nào xác minh đối với năm đơn vị của VN có liên quan đến hành vi đưa hối lộ của ba Việt kiều Mỹ tại Công ty Nexus Technologies (Tuổi Trẻ ngày 18 và 19-9), lãnh đạo các cơ quan này đều cho biết chưa có tài liệu về vụ việc.
Phó viện trưởng Viện KSND tối cao Hoàng Nghĩa Mai nói chỉ mới nghe thông tin vụ việc được đăng tải trên báo chí, viện chưa có tài liệu nào, các cơ quan nước ngoài cũng chưa có đề nghị hay chuyển bất cứ tài liệu nào về vụ việc cho viện. Thượng tướng Lê Thế Tiệm – thứ trưởng Bộ Công an – nói ông mới nghe vụ việc nhưng chưa thấy cơ quan điều tra báo cáo.
Cùng ngày, trao đổi với Tuổi Trẻ về thông tin Tòa án Philadelphia (Mỹ) mới đây kết tội một số cá nhân của Công ty Nexus Technologies Inc (có trụ sở tại Philadelphia) đưa hối lộ cho năm công ty VN, trong đó có nêu tên hai đơn vị của Tập đoàn Dầu khí quốc gia VN (PVN) là Tổng công ty Khí (PVGas) và Xí nghiệp liên doanh dầu khí Việt – Xô (Vietsovpetro), ông Đinh La Thăng – chủ tịch hội đồng thành viên của PVN – khẳng định những sai phạm của ba Việt kiều Mỹ không liên quan đến các doanh nghiệp thuộc PVN.
Ông Đinh La Thăng cho biết PVN nhận được thông tin từ Bộ Công an và đã chỉ đạo kiểm tra cũng như tham gia xác minh cùng Bộ Công an. Tuy nhiên sau khi xác minh, đến nay có thể khẳng định các thông tin được đưa ra liên quan đến PVGas và Vietsovpetro là chưa chính xác. PVGas và Vietsovpetro không liên quan đến hành vi hối lộ của Công ty Nexus Technologies.
Liên quan đến cáo buộc Công ty Nexus Technologies đưa hối lộ cho Trung tâm quản lý bay miền Nam, ngày 20-9 Cục Hàng không VN cho biết đã chỉ đạo trung tâm báo cáo giải trình bằng văn bản lên thanh tra Bộ GTVT.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo của thanh tra Bộ GTVT nói trong văn bản giải trình, Trung tâm quản lý bay miền Nam khẳng định không liên quan tới Công ty Nexus Technologies và từ trước tới nay không ký bất cứ hợp đồng mua bán trao đổi thiết bị gì với Nexus Technologies.
NHÓM PV TUỔI TRẺ
- Vụ ba người Mỹ gốc Việt bị buộc tội đưa hối lộ: Khai khống để vào tù? (SGTT)- Chống tiêu cực – Cho nghỉ hưu non (Dân Việt).
Làm rõ nghi án công ty nước ngoài hối lộ lãnh đạo một số DN Việt Nam Thanhnien Online
Cáo trạng ngày 29-10-2009 về vụ công ty Nexus Technologies đưa hối lộ cho các quan chức VN
Bản này thay thế cho cáo trạng ngày 04-09-2008 vì có nhiều chi tiết mới, như cáo trạng mới cáo buộc 28 tội, trong khi cáo trạng cũ chỉ có 5 tội (bản dịch cáo trạng ngày 04-09-2010 tôi đã công bố đầu năm nay).
Đây là phần bên công tố đưa ra buộc tội 4 người trong công ty Nexus, riêng phần luật sư của 4 người này gỡ tội như thế nào, vì sao họ nhận được bản án thấp hơn, có lẽ phải chờ vài tháng sau, phía Bộ Tư pháp Mỹ đưa ra bản cáo trạng trong phiên toà xử giữa tháng 9 vừa qua thì mới có thêm chi tiết.
Bauxite Việt Nam
TÒA ÁN QUẬN HẠT ĐÔNG PENNSYLVANIA – HOA KỲ
Ngày 29-10-2009
| HIỆP CHỦNG QUỐC HOA KỲChống lạiNGUYỄN QUỐC NAM JOSEPH T. LUKAS NGUYỄN KIM ANH NGUYỄN QUỐC AN NEXUS TECHNOLOGIES, INC.
| Vi phạmĐiều 18, khoản 371 (1 tội) Điều 15, khoản 78dd-2(a) (9 tội) Điều 18, khoản 1952(a)(3) (9 tội) Điều 18, khoản 1956(a)(2)(A) (9 tội) Điều 18, khoản 2 (giúp và tiếp tay) |
BẢN CÁO TRẠNG THAY THẾ
TỘI THỨ NHẤT
(Âm mưu vi phạm Đạo luật Chống tham nhũng Nước ngoài Đạo luật Đi lại, và rửa tiền)
ĐẠI BỒI THẨM ĐOÀN CÁO BUỘC RẰNG:
DIỄN BIẾN
1. Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài năm 1977 (“FCPA”), được sửa đổi, điều 15, khoản 78dd-1, et seq., Bộ luật Hoa Kỳ do Quốc hội ban hành với mục đích, ngoài những khoản khác, , thì không hợp pháp đối với trường hợp các cá nhân hay tổ chức có hành động hối lộ để có được thêm lời đề nghị giúp đỡ, hứa hẹn, ủy quyền, hoặc thanh toán tiền hoặc bất cứ thứ gì có giá trị liên quan đến hồ sơ 02:08-cr-00.522-TJS, tài liệu 106 đệ trình ngày 29-10-2009, trang 1 của 31 -2 – cho quan chức của chính phủ nước ngoài với mục đích giành bất kỳ lợi thế sai trái, hoặc hỗ trợ để có được, hoặc giữ lại công việc kinh doanh, hoặc chỉ đạo việc làm ăn cho bất kỳ người nào.
2. Đạo Luật Du lịch, điều 18, mục 1952, Bộ luật Hoa Kỳ, đã được Quốc hội ban hành, với mục đích được xem là bất hợp pháp với bất kỳ người nào đi lại hoặc làm người khác đi lại xuyên bang hoặc ra nước ngoài, hoặc sử dụng các phương tiện trong nước hoặc nước ngoài , với mục đích tham gia vào các hành vi vi phạm nhất định của tiểu bang hay luật hình sự liên bang, gồm cả hối lộ.
A. Các bị cáo
3. Công ty bị cáo buộc Nexus Technologies, INC (“Nexus Technologies”) là một công ty tại Delaware với các văn phòng tại New Jersey và Pennsylvania, và do đó có “sự dính líu tới trong nước” theo ý nghĩa của đạo luật FCPA, điều 15, khoản 78dd-2 (h) (1) (B), Bộ luật Hoa Kỳ, và cũng duy trì một văn phòng tại nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam (“Việt Nam”).
Nexus Technologies mua các mặt hàng từ các nhà cung cấp Hoa Kỳ cho các khách hàng tại Việt Nam. Khách hàng của Nexus Technologies ở Việt Nam bao gồm nhiều cơ quan chính phủ Việt Nam, chẳng hạn như việc mua sắm vũ khí của Quân đội Việt Nam, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Công nghiệp, Bộ Công an. Nexus Technologies mua và sau đó xuất khẩu nhiều loại thiết bị và công nghệ cho khách hàng ở Việt Nam, bao gồm, nhưng không giới hạn, các thiết bị lập bản đồ dưới nước, thiết bị tháo gỡ bom, phụ tùng máy bay trực thăng, máy phát hiện hóa chất, các bộ phận vệ tinh viễn thông, và các hệ thống kiểm soát không lưu.
4. Bị Cáo NGUYỄN QUỐC NAM là một công dân Hoa Kỳ và vì thế có sự “dính líu tới trong nước” theo ý nghĩa của đạo luật FCPA, điều 15 khoản 78dd-2 (h) (1) (A), Bộ luật Hoa Kỳ. Bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM là người sáng lập và là Chủ tịch của NEXUS TECHNOLOGIES. Ông ta cư trú tại Việt Nam và chịu trách nhiệm kinh doanh phía Việt Nam cho công ty, chịu trách nhiệm chủ yếu trong việc kiếm công việc làm ăn và đàm phán hợp đồng với các khách hàng tiềm năng tại Việt Nam.
5. Bị cáo NGUYỄN KIM ANH là một công dân của Hoa Kỳ và vì thế có sự “dính líu tới trong nước” theo ý nghĩa của đạo luật FCPA, điều 15 khoản 78dd-2 (h) (1) (A), Bộ luật Hoa Kỳ. Bị cáo NGUYỄN KIM ANH làm việc tại Nexus Technologies ở Hoa Kỳ, và do đó cũng là nhân viên được quan tâm trong nước. Nhiệm vụ của cô bao gồm nhận diện và đàm phán với các nhà cung cấp tiềm năng ở Hoa Kỳ, và xử lý tài chính cho công ty Nexus Technologies, bao gồm cả việc chuyển tiền.
6. Bị cáo NGUYỄN QUỐC AN, còn có tên “Andrew Nguyễn,” hoặc “Ethan Roberts,” là công dân Hoa Kỳ và vì thế có sự “dính líu tới trong nước” theo ý nghĩa của đạo luật FCPA, điều 15, khoản 78dd -2 (h) (1) (A), Bộ luật Hoa Kỳ. Bị cáo Nguyễn Quốc An làm việc ở Nexus Technologies tại Hoa Kỳ, và do đó cũng là nhân viên được quan tâm trong nước. Nhiệm vụ của ông ta bao gồm xác định và đàm phán với các nhà cung cấp tiềm năng ở Hoa Kỳ, và thu xếp việc chuyển hàng hóa từ nhà cung cấp tới hãng vận chuyển và khách hàng.
B. Các cá nhân và tổ chức khác
7. Công ty bay Dịch vụ Miền Nam (“SSFC”), một khách hàng của Nexus Technologies, là một hãng hàng không được sở hữu và điều hành bởi Quân đội Nhân dân Việt Nam, có trụ sở tại Sân bay Vũng Tàu (“VTA”) ở Việt Nam, trong đó có các hoạt động liên quan tới việc quản lý hàng không dân dụng và hàng không quân sự của Chính phủ Việt Nam tại VTA. VTA là đại diên và là một cơ quan của Cục Hàng không Việt Nam. Trung tâm Quản lý bay Miền Nam (“SFMC”), cũng là một khách hàng của Nexus Technologies, có các hoạt động liên quan đến quản lý hàng không dân dụng của Chính phủ Việt Nam tại VTA và là cơ quan và phương tiện của Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam. Như vậy, SSFC, SFMC, và VTA là các cơ quan và phương tiện của Chính phủ Việt Nam theo ý nghĩa của FCPA, điều 15, khoản 78dd-2 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ.
8. Công ty liên doanh Vietsov Petro (“VSP”), một khách hàng của Nexus Technologies, là một liên doanh thuộc sở hữu toàn bộ và kiểm soát của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Liên bang Nga (“Russia”), tham gia vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Theo đó, nó là một cơ quan và phương tiện của Chính phủ Việt Nam và Nga theo ý nghĩa của FCPA, điều 15, khoản 78dd-2 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ.
9. Công ty Petro Gas Việt Nam (“PVGC”), một chi nhánh của PetroVietnam, là một khách hàng của Nexus Technologies, do Chính phủ Việt Nam sở hữu và kiểm soát hoàn toàn và tham gia vào việc khai thác tài nguyên thiên nhiên của Việt Nam. Theo đó, PVGC là một cơ quan và phương tiện của Chính phủ Việt Nam theo ý nghĩa của FCPA, điều 15, khoản 78dd-2 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ.
10. Công ty TNHH T & T (“T & T”), một khách hàng của Nexus Technologies, tham gia vào các hoạt động liên quan đến an ninh biên giới và mua sắm vũ khí của Bộ Công an Việt Nam. Theo đó, T & T là một cơ quan và phương tiện của Chính phủ Việt Nam theo ý nghĩa của FCPA, điều 15, khoản 78dd-1 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ.
11. Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài định nghĩa thuật ngữ “viên chức nước ngoài” bao gồm bất kỳ viên chức hoặc nhân viên của một chính phủ nước ngoài hoặc bất kỳ Bộ, cơ quan, ban ngành hoặc bất kỳ người nào hành động với tư các là viên chức cho hoặc thay mặt cho chính phủ hoặc bất kỳ bộ, cơ quan, ban ngành theo điều 15, khoản 78dd-2 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ, do đó, bất kỳ nhân viên của VTA, SSFC, SFMC, VSP, PVGC, hay T & T là một “viên chức nước ngoài” theo Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài.
12. “Viên chức A,” một người Việt, là một nhân viên của T & T và viên chức nước ngoài theo ý nghĩa của FCPA, điều 15, khoản 78dd-2 (h) (2) (A), Bộ luật Hoa Kỳ.
13. Một công ty được đại bồi thẩm đoàn biết đến, toạ lạc tại Hồng Kông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa và Việt Nam (“HKC 1″), duy trì một tài khoản ngân hàng ở Hong Kong, là một công ty vỏ bọc được NEXUS TECHNOLOGIES sử dụng để tạo điều kiện thanh toán tiền hối lộ cho quyền lợi của các quan chức chính phủ Việt Nam.
14. “VN 1″ một người Việt, được đại bồi thẩm đoàn biết đến, là chủ công ty HKC1 và là cư dân của Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
15. Một công ty được đại bồi thẩm đoàn biết đến, cũng toạ lạc tại Hồng Kông, Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (“HKC 2″), duy trì một tài khoản ngân hàng ở Hong Kong, là một công ty vỏ bọc do Nexus Technologies kiểm soát và sử dụng để tạo thuận lợi trong việc thanh toán hối lộ cho và vì lợi ích của các quan chức chính phủ Việt Nam.
vỏ bọc
16. “VN 2″ một người Việt, được đại bồi thẩm đoàn biết đến, là nhân viên của một công ty vỏ bọc do Nexus Technologies kiểm soát, và là cư dân của Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam.
17. Joseph T. Lukas là một công dân Hoa Kỳ tham gia liên doanh với Nexus Technologies ở Hoa Kỳ cho tới ít nhất là khoảng tháng 10 năm 2005. Nhiệm vụ của ông bao gồm giám sát văn phòng New Jersey của Nexus Technologies, xác định và đàm phán với các nhà cung cấp tiềm năng ở Hoa Kỳ.
18. (Bỏ phần này vì không quan trọng).
19. Một phần của âm mưu là:
a. Bị Cáo NGUYỄN QUỐC NAM giành được các hợp đồng béo bở cho Nexus Technologies từ các công ty và các cơ quan chính phủ Việt Nam bằng cách đồng ý trả tiền hối lộ, thường được mô tả là “tiền hoa hồng”, cho các cá nhân làm việc cho các cơ quan và các công ty đó, hối lộ tổng cộng hơn $200.000 đô la.
b. Bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, và NGUYỄN QUỐC AN và Joseph T. Lukas thiết lập quan hệ với các quan chức chính phủ Việt Nam, các nhân viên của khách hàng, thông thường được mô tả là “những người ủng hộ”, những người đổi lấy các khoản hối lộ để hỗ trợ Nexus Technologies có được công việc kinh doanh bằng cách cung cấp thông tin bí mật, đấu thầu lừa đảo, và các hoạt động khác.
c. Bị cáo KIM ANH NGUYỄN và NGUYỄN QUỐC AN và Joseph T. Lukas trả tiền và tạo ra việc trả tiền hối lộ cho các quan chức chính phủ Việt Nam, các nhân viên của khách hàng theo chỉ dẫn của bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM.
d. Bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, và NGUYỄN QUỐC AN và Joseph T. Lukas đã trả tiền và tạo ra để được trả tiền vào HKC 1, giúp thực hiện âm mưu hối lộ.
e. Theo hướng dẫn của bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, HKC1 lúc đó đã đổ tiền hối lộ vào Việt Nam và chuyển tới các quan chức chính phủ Việt Nam và nhân viên của khách hàng thay mặt cho Nexus Technologies, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, và NGUYỄN QUỐC AN.
f. Bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, và NGUYỄN QUỐC AN và Joseph T. Lukas nhiều lần đã mô tả sai và che giấu việc chuyển ngân quỹ tới HKC 1 và các khoản thanh toán hối lộ trong sổ sách và hồ sơ của NEXUS TECHNOLOGIES để ngăn chặn phát hiện.
Các hành động công khai
Để thực hiện âm mưu, Nexus Technologies, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, và NGUYỄN QUỐC AN, và những người khác mà đại bồi thẩm đoàn biết hoặc chưa biết đến, đã thực hiện các hành vi công khai sau đây, trong số những hành vi khác, ở quận Đông của Pennsylvania, và ở nơi khác:
A. Giao dịch hối lộ với các quan chức Công ty bay Dịch vụ miền Nam (“SSFC”) và Trung tâm Quản lý bay Miền Nam (“SFMC”) tại sân bay Vũng Tàu (“VTA”)
1. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 24 tháng 10 năm 2001, bị cáo JOSEPH T. LUKAS gửi email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM liên quan tới việc phân tích các chi phí trên một hợp đồng cụ thể với VTA, hỏi có bao nhiêu tiền “hoa hồng” sẽ được trả trên hợp đồng này.
2. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 25 tháng 10 năm 2001, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo JOSEPH T. LUKAS nói rằng, một quan chức ở VTA đã “đòi tiền hoa hồng” cho tất cả vụ mua bán.
3. Khoảng tháng 2 năm 2004, công ty NEXUS TECHNOLOGIES thương lượng một hợp đồng có giá trị hơn $ 14,000 để bán các máy vi tính cho SFMC.
4. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 29 tháng 6 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH và JOSEPH T. LUKAS yêu cầu cho biết khi nào họ trả tiền trên hợp đồng để trả tiền “hoa hồng”.
5. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 11 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, nói rằng, “SFMC có thể mua lại thiết bị…này từ một đại lý địa phương với giá rẻ hơn giá của chúng ta. Nhưng họ đã đồng ý mua của chúng ta, nếu như chúng ta có thể. . . đồng ý cho họ nâng giá một số tiền lớn trong hợp đồng để bỏ túi riêng”.
6. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi một email khác cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, chỉ đạo cô chuyển “tiền hoa hồng” thanh toán cho HKC 1, và xác nhận rằng HKC giải ngân đúng tên quan chức nước ngoài.
7. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN KIM ANH đã gửi một email lại cho NGUYỄN QUỐC NAM, yêu cầu nêu rõ việc tính toán các khoản “tiền hoa hồng” còn nợ một quan chức SFMC là kết quả của hợp đồng bán máy tính.
8. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi một email lại cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, xác nhận rằng “tiền hoa hồng” nên được chuyển tới HKC1.
9. Trong khoảng tháng 11 năm 2004, Joseph T. Lukas ký hợp đồng với VTA về việc bán thiết bị hệ thống kiểm soát không lưu.
10. Khoảng mùa hè năm 2005, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH liên quan tới hợp đồng với SSFC (cáo trạng cũ là VTA), chỉ thị cho cô chuyển số tiền 10% trị giá hợp đồng đến HKC1, để HKC1 có thể trả “tiền hoa hồng” trên hợp đồng, số tiền khoảng $18.854 đô la.
11. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 04 tháng 8 năm 2005, bị cáo NGUYỄN KIM ANH đã chuyển số tiền khoảng $18.854 bằng chuyển khoản quốc tế từ ngân hàng của NEXUS TECHNOLOGIES tại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản HKC1 ở Hồng Kông.
12. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 26 tháng 4 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH và nói rằng, một quan chức SSFC (cáo trạng cũ là VTA) muốn thanh toán khoản tiền hoa hồng liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
13. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 14 tháng 5 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, ra lệnh cho cô chuyển tiền vào HKC 1 để thanh toán tiền nợ quan chức SSFC (cáo trạng cũ là VTA) liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
14. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 23 tháng 5 năm 2006, bị cáo NGUYỄN KIM ANH đã chuyển khoảng $63.360 đô la bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng của NEXUS TECHNOLOGIES tại Philadelphia, Pennsylvania, tới HKC 1 tại Hồng Kông, số tiền được sử dụng để trả tiền hối lộ liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
15. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 05 tháng 6 năm 2006, HKC 1 chuyển khoảng $63.360 vào một tài khoản ngân hàng có tên của VN 1 tại Việt Nam.
16. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 11 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH viết rằng, “Chúng ta cần [HKC 1] phát hành các hoá đơn cho chúng ta về tất cả các giao dịch chuyển tiền mà chúng ta đã chuyển, để chúng ta ghi đúng các giao dịch trong sổ sách. Đừng lo về ngày tháng và mô tả chi tiết bởi vì tôi đã bịa ra”. Danh sách mà các hoá đơn đã được yêu cầu gồm có “VTA ATS thanh toán lần đầu / / Date: 16-05-06 / / Mô tả: Các dịch vụ Kỹ thuật và Thiết kế Hệ thống Kiểm soát Không lưu / / Số tiền: $ 63.360″.
17. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 22 tháng 12 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, ra lệnh cho cô chuyển $14.200 đô la vào HKC 1 để “thanh toán tiền hoa hồng lần 2” cho một quan chức của SSFC (cáo trạng cũ ghi VTA).
18. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 22 tháng 12 năm 2006, bị cáo NGUYỄN KIM ANH chuyển khoảng $14.200 đô la bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng của NEXUS TECHNOLOGIES tại Philadelphia, Pennsylvania, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong, số tiền này được sử dụng để thanh toán thêm một lần nữa cho một quan chức của SSFC (cáo trạng cũ là VTA) liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
19. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 1 tháng 2 năm 2007, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho VN 1 để xác định lý do tại sao ông ta đã không nhận được tiền thanh toán hoa hồng lần thứ hai tại Việt Nam, nêu rõ: “Làm ơn hãy hiểu cho vị trí của tôi. Trông tôi thật là tệ khi hứa hẹn khách hàng của mình 10 ngày trước và không thể nói với họ khi nào họ có thể nhận được tiền. Tôi tin rằng mình đã rất kiên nhẫn. Từ bây giờ, ngay khi ông nhận được tiền từ HK, xin làm ơn chuyển cho tôi tại Việt Nam ngay lập tức“.
20. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 01 tháng 2 2007, HKC 1 chuyển khoảng $14.180 vào một tài khoản ngân hàng với tên của VN 1 ở Việt Nam.
B. Giao dịch hối lộ với các quan chức thuộc Công ty Petro Gas Việt Nam (“PVGC”)
21. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 17 tháng 10 năm 2000, JOSEPH T. LUKAS gửi email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM liên quan tới một đề nghị trả cho một “người ủng hộ” của công ty NEXUS TECHNOLOGIES ở PVGC số “tiền hoa hồng”, với tuyên bố, “Tốt. Làm đi. Có thư tín dụng xác nhận chúng ta không thể mất”.
22. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 18 tháng 10 năm 2001, JOSEPH T. LUKAS gửi email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM lưu ý rằng NEXUS TECHNOLOGIES đã nhận được một khoản thanh toán từ PVGC thấp hơn dự kiến, và đề nghị rằng khoản chênh lệch đó đã được lấy ra như là tiền “hoa hồng”.
23. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 27 tháng 1 năm 2003, JOSEPH T. LUKAS gửi email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM lưu ý rằng ông ta đã thay đổi “tiền hoa hồng” thành “phí hợp đồng” trong sổ sách và hồ sơ của công ty NEXUS TECHNOLOGIES.
24. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 05 tháng 8 năm 2004, một nhân viên của Nexus Technologies email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM yêu cầu xem lại “cách tính tiền hoa hồng cho PVGC” của anh ta trên một hợp đồng về phụ tùng. “Tiền hoa hồng” cho PVGC được liệt kê là $9.798,40.
25. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 06 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM chuyển một email ghi ngày 5 tháng 8 cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, bảo cô xem lại email và sau đó chuyển tiền.
26. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 8 năm 2004, liên quan tới hợp đồng cung cấp đồ phụ tùng thay thế cho công ty PVGC, bị cáo NGUYỄN KIM ANH email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM và hỏi liệu các khoản “chi hoa hồng” có cần phải chuyển qua HKC 1 hay không.
27. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 8 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM trả lời bị cáo NGUYỄN KIM ANH bằng một email đánh dấu “KHẨN,” chỉ đạo bị cáo NGUYỄN KIM ANH chuyển một tới HKC 1 khoản “chi hoa hồng” là $9,798.40 đô la cho một quan chức ở PVGC để đổi lấy hợp đồng mua bán đồ phụ tùng với PVGC “HÔM NAY”.
28. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 14 tháng 8 năm 2004, Nexus Technologies đã chuyển khoảng $ 9.798,47 bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania, tới tài khoản HKC 1 tại Hong Kong, số tiền được sử dụng thực hiện thanh toán cho một quan chức PVGC cho hợp đồng phụ tùng.
29. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 18 tháng 8 năm 2004, HKC 1 chuyển khoảng $9.596 vào một tài khoản ngân hàng có tên của VN 1 tại Việt Nam.
30. Vào ngày hoặc khoảng ngày 20 tháng 10 2006, Nexus Technologies chuyển khoảng 21.597 $ bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania, vào tài khoản ngân hàng của HKC 1 ở Hong Kong, số tiền được sử dụng để thanh toán cho một quan chức PVGC trong giao dịch “Nhà cung cấp”.
31. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 23 tháng 10 năm 2006, HKC 1 chuyển khoảng $21.500 vào tài khoản có tên của VN 1 tại Việt Nam.
32. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 11 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH (Đạo Luật Công khai 16), cho thấy cần các hoá đơn từ HKC 1, và nói, “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả bởi vì tôi bịa ra nó”. Danh sách hoá đơn đã được yêu cầu gồm: “VanLang Carrier / / Ngày: 14-09-06 / / Mô tả: hợp đồng phụ máy lạnh: dịch vụ tiếp nhận, lắp đặt và hoa hồng / / Số tiền: $21.597″.
33. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 11 tháng 5 năm 2007, bị cáo NGUYỄN KIM ANH email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM yêu cầu xác nhận rằng việc “giải quyết” số tiền giao dịch cho “Carrier” là $ 21.841,21.
34. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 28 tháng 5 năm 2007, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM nhận được một email từ một công ty tại Việt Nam viết rằng số tiền $22.403 là nợ như tiền hoa hồng về việc bán một hệ thống điều hòa nhiệt độ (máy lạnh) cho PVGC.
35. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 30 tháng 5 năm 2007, bị cáo NGUYỄN KIM ANH email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM số tiền mà cô ta tính trong việc giải quyết nợ trên hợp đồng “Carrier”, ghi rõ là $ 21.838,21.
36. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 6 Năm 2007, bị cáo NGUYỄN KIM ANH chuyển khoảng $22.403 qua chuyển khoản quốc tế từ các tài khoản ngân hàng của Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania, vào tài khoản ngân hàng của HKC 1 tại Hong Kong, số tiền được sử dụng để thanh toán cho một quan chức PVGC trong hợp đồng Nhà Cung cấp.
37. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 05 tháng 7 năm 2007, HKC 1 chuyển khoảng $22.000 vào một tài khoản ngân hàng của VN 2 ở Vietcombank tại TP Hồ Chí Minh.
38. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 09 tháng 7 năm 2007, VN2 email cho NGUYỄN QUỐC NAM, nói rằng đã được nhận được $21.961,91 từ HKC 1 và do đó thiếu $441,09.
39. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 10 tháng 7 năm 2007, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM trả lời VN 2 rằng $441,09 2% chi phí hoa hồng chuyển khoản trả cho HKC 1.
C. Giao dịch tham nhũng với các quan chức Công ty liên doanh Vietsov Petro (“VSP”)
40. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 11 tháng 12 năm 2000, JOSEPH T. LUKAS email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, yêu cầu cho biết chính xác một số “tiền hoa hồng” trả cho VSP để ông có thể ghi vào sổ sách của công ty NEXUS TECHNOLOGIES.
41. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 13 tháng 12 năm 2000, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho JOSEPH T. LUKAS, nêu rõ: “Tôi đã cố gắng để kiếm hợp đồng với mấy người thuộc bộ phận kỹ thuật [VPS] hôm nay. Với khoản tiền hoa hồng 15%, chúng ta được BẢO ĐẢM là nhà cung cấp”.
42. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 4 năm 2002, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho JOSEPH T. LUKAS, nêu rõ: “Chúng ta cần phải lo các khoản tiền hoa hồng cho. . . ở VSP. Tôi muốn bảo đảm tất cả mọi người ở đây hài lòng. Điều đó sẽ tốt cho tình hình (tài chính) của chúng ta”.
43. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 02 tháng 5 năm 2003, Joseph T. Lukas đã ký một hợp đồng trị giá hơn $500.000 đô la với VSP, về việc [VSP] mua một hệ thống nâng thủy lực.
44. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 27 tháng 2 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi một email đến một nhân viên Nexus liên quan đến việc phân tích về “Thỏa thuận Tường lửa GenPac”, nói rằng vẫn còn nợ quan chức $43.340 tiền hoa hồng trong thỏa thuận, và hướng dẫn nhân viên Nexus chuyển số tiền thích hợp vào tài khoản HKC 1 thông qua HKC 2.
45. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 27 tháng 2 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho HKC 1 để nói với họ những khoản tiền đang đến và hướng dẫn họ chuyển tiền.
46. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 27 tháng 2 năm 2004, Nexus Technologies, ở Philadelphia, Pennsylvania, gửi các hướng dẫn chuyển khoản để HKC 2 tại Hồng Kông yêu cầu chuyển $43.306,42 tới HKC 1 cho “Thỏa thuận Tường lửa GenPac”.
47. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 04 tháng 3 năm 2004, HKC 2 chuyển khoảng $43.306,42 vào tài khoản của HKC 1.
48. Vào ngày hoặc khoảng ngày 04 tháng 3 năm 2004, một nhân viên Nexus email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, hỏi một hóa đơn từ HKC 1 để giúp việc chuyển tiền.
49. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 10 tháng 3 năm 2004, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho VN 1, yêu cầu họ phải phải làm xong hóa đơn. VN 1 email lại hỏi cần ghi những gì hóa đơn. Một hóa đơn, ghi lùi ngày là ngày 28 tháng 2 năm 2004 được cung cấp, nêu rõ hoá đơn là “các dịch vụ đào tạo và hoa hồng”.
50. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 3 năm 2004, HKC 1 chuyển khoảng $42.440,29 vào Ngân hàng Thương mại Á Châu tại Việt Nam.
51. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 16 tháng 1 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho nhiều nhân viên của NEXUS TECHNOLOGIES, trong đó có các bị cáo NGUYỄN KIM ANH và NGUYỄN QUỐC AN, liên quan tới một hợp đồng trong tương lai, bán cho VSP một máy bắn làm sạch bề mặt sơn? (wheel shot blast), từ chối thảo luận về khoản tiền “hoa hồng” qua email, đề nghị đưa vấn đề ra thảo luận qua điện thoại internet.
52. Khoảng tháng 3 năm 2006, NEXUS TECHNOLOGIES thương lượng hợp đồng bán máy bắn làm sạch bề mặt sơn cho VSP.
53. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 16 tháng 3 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH, nói rằng ông ta đã “gian lận thỏa thuận” về hợp đồng máy bắn làm sạch bề mặt sơn, sắp xếp cho hai công ty khác chào giá cho VSP cao hơn và NEXUS TECHNOLOGIES thắng hợp đồng.
54. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 26 tháng 10 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH liên quan tới một hợp đồng khác với VSP, nêu rõ “VSP nói rằng chúng ta đã được thanh toán cho hợp đồng này rồi. Vui lòng xác nhận để có thể chi trả tiền hoa hồng “.
55. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 17 tháng 9 năm 2007, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho một nhân viên của NEXUS TECHNOLOGIES ở Việt Nam, thảo luận về tiền “hoa hồng” nợ các quan chức thuộc các công ty khác nhau gồm có VSP, và nêu rõ: “Mang tiền tới nhà tôi vào cuối ngày làm việc. PS: Xin lưu ý các khoản chi trả tiền hoa hồng được ghi là thanh toán chi phí lắp đặt trong sổ sách kế toán của ông”.
D. Giao dịch hối lộ cho các quan chức Công ty TNHH T & T (“T & T”)
56. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 10 tháng 5 năm 2005, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM gửi email cho NGUYỄN KIM ANH, nói rằng T&T là công ty mua vũ khí của “tổ chức (phi thương mại) của chính phủ” và sẽ nhập khẩu thiết bị liên quan đến một hợp đồng thiết bị an toàn.
57. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 23 tháng 5 năm 2005, Nexus Technologies đã chuyển số tiền khoảng $22.325 bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng NEXUS TECHNOLOGIES tại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong.
58. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 30 tháng 5 năm 2005, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho Quan chức A rằng NEXUS TECHNOLOGIES đã chuyển $22.325 đô la vào HKC 1, và rằng HKC 1 sẽ chuyển $21.872 đô la vào tài khoản của quan chức đó sau khi trừ chi phí ngân hàng và phí dịch vụ.
59. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 30 tháng 5 năm 2005, HKC 1 chuyển khoảng $21.872 đô la vào tài khoản của Quan chức A tại Ngân hàng Thương mại Á châu tại Việt Nam, mô tả việc chuyển tiền như một “món quà” trên hướng dẫn chuyển khoản.
60. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 9 tháng 6 năm 2005, Nexus Technologies đã chuyển khoảng $29.987 bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng của Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania, vào tài khoản ngân hàng của HKC 1 tại Hong Kong.
61. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 23 tháng 6 năm 2005, HKC 1 chuyển khoảng $29.380 vào tài khoản của Quan chức A ở Ngân hàng Thương mại Á châu tại Việt Nam, mô tả việc chuyển tiền như một “món quà” trên hướng dẫn chuyển khoản.
62. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 01 tháng 8 năm 2005, Nexus Technologies chuyển khoảng $15.653 bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng của Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản ngân hàng của HKC 1 tại Hong Kong.
63. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 8 năm 2005, HKC 1 chuyển khoảng $15.333 vào tài khoản của Quan chức A ở Ngân hàng Thương mại Á châu tại Việt Nam.
64. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 27 tháng 10 năm 2006, bị cáo Nguyễn Quốc An gửi email cho một công ty vận tải hàng hóa liên quan đến lô hàng của Viisage reader cho T & T.
65. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 15 tháng 11 năm 2006, bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM email cho bị cáo NGUYỄN KIM ANH (Đạo Luật Công khai 16), cho biết cần các hoá đơn từ HKC 1, và viết, “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả bởi vì tôi đã bịa ra chúng”. Trong danh sách các hoá đơn yêu cầu gồm “T & T” (Viisage reader) / / Mô tả: Tài liệu lắp đặt hệ thống và dịch vụ hoa hồng / / Số tiền: $7.812,64″.
66. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 25 tháng 11 năm 2006, HKC 1 email cho bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM, yêu cầu xác nhận số tiền để chuyển cho Quan chức A là $7.673,70. Bị cáo NGUYỄN QUỐC NAM trả lời cùng ngày, xác nhận rằng $ 7.790,56 phải được chuyển cho “T & T.”
67. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 25 tháng 11 năm 2006, bị cáo Nexus Technologies chuyển khoảng $7.790,56 bằng chuyển khoản quốc tế từ tài khoản ngân hàng Nexus Technologies ở Philadelphia, Pennsylvania, vào tài khoản ngân hàng của HKC 1 tại Hong Kong, được sẽ được sử dụng để thanh toán cho Quan chức A cho hợp đồng Viisage reader.
68. Vào ngày hoặc trong khoảng ngày 30 tháng 11 năm 2006, HKC 1 chuyển khoảng $7,673.70 vào tài khoản ngân hàng của VN 1 ở Hồng Kông.
Tất cả vi phạm điều 18, khoản 371, Bộ luật Hoa Kỳ.
TỘI THỨ HAI TỚI THỨ MƯỜI
(Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài)
ĐẠI BỒI THẨM ĐOÀN BUỘC TỘI RẰNG:
(Bỏ đoạn này)
Tội thứ 2. Ngày 23-05-2005, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES: chuyển khoảng $22.325 đô la từ tài khoản của NEXUS TECHNOLOGIES ở Ngân hàng Thương mại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong và Ngân hàng Thượng Hải, Hongkong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài ở công ty T&T.
Tội thứ 3. Ngày 09-06-2005, NGUYEN QUOC NAM, NEXUS TECHNOLOGIES. Chuyển khoản $29.987 từ tài khoản NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong và Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài tại T&T.
Tội thứ 4. Ngày 01-08-2005, NGUYEN QUOC NAM, NEXUS TECHNOLOGIES. Chuyển khoảng $15.653 từ tài khoảng NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong and Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong. Người thụ hưởng: viên chức nước ngoài T&T.
Tội thứ 5. Ngày 04-08-2005, NGUYỄN QUỐC NAM và NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES: đã chuyển $18.854 từ tài khoản công ty NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản HKC 1 tại Hongkong và Ngân hàng Thượng Hải, Hongkong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài ở công ty SSFC.
Tội thứ 6. Ngày 23-05-2006 – NGUYỄN QUỐC NAM và NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES: đã chuyển khoảng $63.360 từ tài khoản công ty NEXUS TECHNOLOGIES ở Ngân hàng Thương mại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản của HKC 1 tại Hongkong và Ngân hàng Thượng Hải, Hongkong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài thuộc công ty SSFC.
Tội thứ 7. Ngày 20-10-2006, NGUYEN QUOC NAM và NGUYEN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES. Đã chuyển khoảng $21.597 từ tài khoản NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong and Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài at PVGC.
Tội thứ 8. Ngày 25-11-2006, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, NGUYỄN QUỐC AN: NEXUS TECHNOLOGIES. Đã chuyển khoảng $7.790,56 từ tài khoản NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 tại Hongkong and Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài tại at T&T.
Tội thứ 9. Ngày 22-12-2006 – NGUYỄN QUỐC NAM và NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES: đã chuyển $14.200 từ tài khoản công ty NEXUS TECHNOLOGIES ở Ngân hàng Thương mại Philadelphia, Pennsylvania vào tài khoản của HKC 1 tại Hongkong và Ngân hàng Thượng Hải, Hongkong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài tại công ty SSFC (cáo trạng cũ làVTA).
Tội thứ 10. Ngày 13-06-2007, NGUYỄN QUỐC NAM và NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHONOLOGIES. Đã chuyển khoảng $22.403 từ tài khoảng của NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong and Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong. Người thụ hưởng: quan chức nước ngoài tại PVGC.
TỘI THỨ MƯỜI MỘT TỚI TỘI THỨ MƯỜI CHÍN
(Đạo luật Đi lại)
ĐẠI BỒI THẨM ĐÀO BUỘC TỘI RẰNG:
Tội thứ 11. Ngày 23-05-2005, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES. Chuyển khoản quốc tế từ Philadelphia, PA, tới Hong Kong.
(Các tội từ 12-19 đều tương tự, lấy từ tội thứ 3-10)
TỘI THỨ HAI MƯƠI ĐẾN HAI MƯƠI TÁM
(Rửa tiền)
ĐẠI BỒI THẨM ĐOÀN BUỘC TỘI RẰNG:
Tội thứ 20. Ngày 23-05-2005, NGUYỄN QUỐC NAM, NGUYỄN KIM ANH, NEXUS TECHNOLOGIES. Chuyển số tiền khoảng $22.325 từ tài khoản của NEXUS TECHNOLOGIES tại Ngân hàng Thương mại ở Philadelphia, PA, vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong and Ngân hàng Thượng Hải, Hong Kong.
(Tội thứ 21-28 liên quan đến tội từ 3-10)
MICHAEL LEVY
Luật sư Hoa Kỳ
STEVEN A. TYRRELL
Chief, Fraud Section
Bộ phận Hình sự, Hoa Kỳ
Sở Tư pháp
————————————————–
Ngọc Thu dịch từ
http://www.justice.gov/criminal/fraud/fcpa/cases/docs/nguyen-supersed-indict.pdf
Người dịch gửi trực tiếp cho BVN
Tham nhũng: Cựu lãnh đạo công ty Mỹ bị kết án tù vì hối lộ giới chức VN (VOA 17-9-10)–Bốn người lãnh án vì hối lộ quan chức VN — (BBC). Duy nhất tại VN 18/9: Tuyên án Công ty Nexus về tội hối lộ ở Việt Nam. Ngoài ra, chưa thấy báo trong nước nào đưa. Có thêm19/8: -Tuyên án Công ty Nexus về tội hối lộ ở Việt Nam TT – Chủ tịch của Công ty công nghệ Nexus (Nexus Technologies Inc) tại Philadelphia (Mỹ) cùng hai người em và một đối tác vừa bị tuyên án tù vì tội hối lộ để có được hợp đồng cung ứng thiết bị cho một số công ty tại Việt Nam.
Phán quyết vụ đưa hối lộ của công ty Nexus DCVOnline – Tin UPI
![]() |
| Vụ án Nexus Technologies Inc. Nguồn: DoJ (USA) |
Nguồn:
(1) Sentences handed down in bribery case, UPI.com, 16 September 2010.
Hối lộ quan chức CSVN, 3 anh em Việt kiều Mỹ bị kết án tù
PHILADELPHIA, Penn. (TH) – Ba anh em người Mỹ gốc Việt là chủ công ty Nexus Technologies, Inc. và một người Mỹ hùn vốn trong công ty, vừa bị tòa án liên bang ở phía Ðông tiểu bang Pennsylvania kết án tù vì đã hối lộ viên chức nhà cầm quyền Hà Nội.
Ðây là trang web của Nexus Technologies Inc., tìm thấy trên Internet. Số điện thoại, địa chỉ điện thư đều không liên lạc được vì đã bị cắt, nên không biết có phải là công ty của anh em ông Nguyễn Quốc Nam hay không. Một trang trong số 4 trang web giới thiệu công ty là trang “Giới Thiệu Khách Hàng” thấy có những dữ kiện giống với các hành động buôn bán với phía Việt Nam bị chính phủ liên bang Hoa Kỳ truy tố. (Hình: Internet)
Công ty Nexus Technologies Inc., có trụ sở chính ở Philadelphia tiểu bang Pennsylvania và có chi nhánh ở Newark, New Jersey và Houston, Texas. Họ cũng có một chi nhánh đặt tại Sài Gòn.
Trong phiên tòa diễn ra ở Philadelphia ngày 15 tháng 9, 2010, ông Nguyễn Quốc Nam, 54 tuổi, trong vai trò chủ tịch và chủ nhân công ty Nexus Technologies Inc. đã bị kết án 16 tháng tù và 2 năm quản chế. Nguyễn Quốc An, 34 tuổi (em trai Nam) bị kết án 9 tháng tù giam và 3 năm quản chế. Nguyễn Kim Anh, 41 tuổi (em gái Nam) bị kết án 2 năm tù treo và phải phạt $20,000.
Joseph Lukas, một cựu thành viên trong ban giám đốc Nexus Technologies Inc., chỉ bị kết án 2 năm tù treo và $1,000 tiền phạt.
Những người nói trên đã bị bắt giam đầu tháng 9, 2009 do hậu quả của các cuộc điều tra, theo dõi suốt một thời gian dài của viên chức liên bang.
Cuộc điều tra của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ những năm trước cho thấy công ty nói trên đã hối lộ cho quan chức nhà nước ở Việt Nam thuộc nhiều bộ phận khác nhau để dành được hợp đồng cung cấp trang bị kỹ thuật cho một đơn vị Không Quân ở Vũng Tàu, một đơn vị Biên Phòng, liên doanh khai thác dầu khí Vietsovpetro, Tổng công ty Ðiện lực Quốc doanh, Tổng công ty Hàng không Quốc doanh.
Trong số những món hàng bán cho Việt Nam, người ta thấy có cả trang bị đo đạc dưới nước, chống bom, phụ tùng máy bay trực thăng, thiết bị dò hóa chất, phụ tùng vệ tinh và hệ thống dò tìm hàng không (air traffic tracking system).
Không thấy nêu ra tổng số tiền trị giá của các hợp đồng nhưng bản cáo trạng truy tố ngày 29 tháng 10, 2009 của công tố liên bang nói số tiền hối lộ quan chức CSVN lên hơn $250,000 núp dưới hình thức “hoa hồng” lên đến 15% của từng hợp đồng đã được công ty Nexus Technologies thanh toán bằng cách chuyển khoản (wired transfer) từ ngân hàng ở Philadelphia sang ngân hàng HKC 1 và 2 trung gian ở Hongkong gọi là “hoa hồng.” Nhưng khi chuyển từ ngân hàng HKC 1 hay 2 về ngân hàng Asia Commercial Bank hoặc VietCom Bank ở Việt Nam, số tiền lại được gọi là “quà tặng” bỏ vào trương mục người nào đó ở đây (không thấy cáo trạng nêu tên).
Ông Nam, đã nhận tội trong phiên xử sơ khởi ngày 16 tháng 3, 2010 về các cáo buộc hối lộ, rửa tiền, vi phạm luật lệ thương mại liên bang đã diễn ra từ 1999 đến 2008.
Bản thông cáo báo chí ngày 16 tháng 9, 2010 của Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ về vụ việc cho hay: “Những người họ Nguyễn nhìn nhận rằng từ năm 1999 đến 2008 họ đã thỏa thuận trả, và biết rõ là đã trả, hối lộ cho các viên chức cầm quyền Việt Nam để đạt được hợp đồng với các cơ quan và công ty (quốc doanh) mà những người được hối lộ là viên chức. Các khoản tiền hối lộ đã ngụy trang là ‘tiền cò’ ghi trên hồ sơ kế toán của công ty.”
Bản thông cáo báo chí nói thêm rằng “cùng với sự nhận tội, công ty Nexus cũng nhìn nhận đã hoạt động chính yếu qua các phương cách phi pháp nên đồng ý sẽ ngừng hoạt động.”
Vẫn theo cáo trạng, phần lớn thời gian ở Việt Nam, ông Nam tiếp xúc với các đối tác còn bà Kim thì điều khiển các hoạt động ở bên Mỹ cũng như quản lý tiền bạc.
Vụ án ‘Nexus’ không phải là vụ án lớn và cũng không được chính phủ Hoa Kỳ phổ biến tin tức nhiều nên không mấy được dư luận chú ý. Nhà cầm quyền Hà Nội hoàn toàn nín lặng về chuyện này vì không thấy quan chức nào của nhà nước bị nêu tên.
Trong khi đó, hai vụ án đang được dư luận khắp nơi chú ý lại vẫn còn đang nhì nhằng. Huỳnh Ngọc Sĩ, phó giám đốc Sở Giao Thông Vận Tải kiêm tổng giám đốc Ban Quản Lý dự án Ðại Lộ Ðông Tây kiêm Môi Trường Nước ở Sài Gòn, sắp sửa bị ra tòa lần nữa vì tội nhận hối lộ của nhà thầu Nhật Bản. Vụ án dây dưa từ năm 2008 đến nay vì nhà cầm quyền Hà Nội tìm cách khỏa lấp trong khi chính phủ Nhật áp lực đòi trị tội tham nhũng. Số tiền ăn hối lộ của toàn dự án có thể lên nhiều chục triệu đô la nhưng ông Sĩ chỉ bị truy tố nhận có $262,000.
Vụ án quan chức ngân hàng nhà nước ăn hối lộ để in tiền giấy nhựa polymer xuyên qua công ty bình phong Công ty Phát Triển Công Nghệ (CFTD) mà Lương Ngọc Anh làm tổng giám đốc nhận tiền “hoa hồng” khoảng $10 triệu Úc kim, hiện vẫn còn chưa biết đi đến đâu vì chính phủ Úc vẫn đang điều tra. (TN)
Lãnh đạo công ty Hoa Kỳ thừa nhận hối lộ các giới chức Việt Nam VOA
Ba anh em này đã nhận tội tại Tòa án liên bang quận hạt ở thành phố Philadelphia, thuộc bang Pennsyvania. Ông Nam Nguyễn, người sở hữu và chủ tịch công ty công nghệ Nexus, cùng với hai người anh em Kim Nguyễn và An Nguyễn hôm qua (16/3) đã nhận tội âm mưu hối lộ các giới chức chính phủ Việt Nam để đổi lấy các hợp đồng công nghệ và thiết bị béo bở. Hãng tin AFP dẫn tin từ Bộ Tư Pháp Hoa Kỳ cho hay, ba người anh em này đã nhận tội tại Tòa án liên bang quận hạt ở thành phố Philadelphia, thuộc bang Pennsyvania, nơi công ty xuất khẩu của họ đặt trụ sở.
Ba anh em này bị truy tố hồi tháng 10 năm ngoái vì âm mưu hối lộ, vi phạm Đạo luận chống tham nhũng ở nước ngoài (FCPA) và các tội trạng khác.
Theo hãng tin AP, một cựu đối tác của Nexus là Joseph Lukas đã nhận tội âm mưu hối lộ và vi phạm FCPA hồi tháng Sáu năm 2009.
Theo AFP, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ cho biết rằng công ty Nexus và các anh em họ Nguyễn đã thừa nhận hối lộ tổng cộng hơn 250 nghìn đôla cho các giới chức chính phủ Việt Nam từ năm 1999 tới năm 2008 để nhận được các hợp đồng mua các thiết bị và công nghệ đo đạc dưới nước, chống bom, phụ tùng máy bay trực thăng, thiết bị dò hóa chất, phụ tùng vệ tinh và hệ thống dò tìm hàng không.
Dự kiến, tòa sẽ tuyên án vào ngày 13/7. Bị cáo Nam và An mỗi người có thể bị kết án tối đa là 35 năm tù giam, trong khi Kim đối mặt với bản án 30 năm tù giam.
Nguồn: AFP, AP
RFA 03-5-10
Nexus Technologies đã “làm ăn” với những nơi nào và như thế nào tại Việt Nam?
Ngọc Trân, thông tín viên RFA 2010-05-03
Trước đây, chúng tôi đã trình bày về vụ một số thành viên của công ty Nexus Technologies ở Hoa Kỳ bị truy tố vì hối lộ tại Việt Nam và cũng đã lược thuật cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ. Mới đây, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ tiếp tục đưa ra một cáo trạng khác, thay thế cáo trạng năm 2008, theo đó, có nhiều dữ liệu và tình tiết mới. Thông tín viên Ngọc Trân trình bày thêm….
Vì sao từ 5 tội thành 28 tội?
Cáo trạng mới của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ về vụ án Nexus Technologies, ghi ngày 29 tháng 10 năm 2009, thay thế cáo trạng năm 2008.
Vào thời điểm này, do một trong bốn người liên quan tới vụ án Nexus là ông Joseph Lukas đã nhận tội, nên chỉ còn ba bị cáo là ba anh em Nguyễn Quốc Nam, Nguyễn Kim Anh và Nguyễn Quốc An.
Theo cáo trạng mới, cả ba bị cáo buộc vi phạm 28 tội, tăng 23 so với cáo trạng cũ. Trong đó có 1 tội do âm mưu vi phạm các đạo luật, 9 tội do vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” (FCPA), 9 tội do vi phạm “Đạo luật Đi lại” (Travel Act) và 9 tội liên quan đến rửa tiền.
Khác với luật hình sự Việt Nam (mỗi hành vi chỉ bị truy tố một tội), tại Hoa Kỳ, một hành vi có thể bị cáo buộc vi phạm nhiều tội. Chẳng hạn như, dù chỉ chuyển khoảng 22.000 đô la cho một quan chức Việt Nam vào ngày 23 tháng 5 năm 2005, hai bị cáo Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Kim Anh bị buộc ba tội: tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”, tội vi phạm “Đạo luật Đi lại” và tội rửa tiền.
Theo cáo trạng mới, dù chỉ chuyển tiền cho các quan chức nước ngoài 9 lần nhưng các bị cáo bị buộc 27 tội, do vi phạm các điều khoản khác nhau của Bộ luật Hoa Kỳ (USC).
Để thính giả dễ hiểu, có lẽ phải nhắc qua về “Đạo luật Đi lại”. Đây là đạo luật cấm đi lại trong nước hoặc nước ngoài, hoặc sử dụng email, điện thoại hay các phương tiện khác nhằm thực hiện hoạt động bất hợp pháp. Dù có tên là “Đạo luật Đi lại” nhưng các bị cáo không nhất thiết phải “đi lại”, vẫn có thể bị cáo buộc vi phạm đạo luật này khi sử dụng các phương tiện viễn liên như: điện thoại, fax, email để thực hiện các hoạt động phi pháp.
Do vậy, dù hai bị cáo Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Kim Anh chỉ ngồi tại công ty để thực hiện hành vi chuyển tiền vẫn bị cáo buộc vi phạm “Đạo luật Đi lại”.
“Nexus” làm ăn với ai?
Ngoài các doanh nghiệp thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công thương), Bộ Công an đã được nêu tên trong cáo trạng cũ, trong cáo trạng mới, có thêm Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam, thuộc Tổng Công ty Bay Dịch vụ Việt Nam.
Theo cáo trạng mới, Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam (SSFC: Southern Services Flight Company) là một doanh nghiệp quân đội hoạt động trong lĩnh vực hàng không, địa bàn hoạt động chính là Sân bay Vũng Tàu. Cũng vì vậy, nó liên quan cả đến Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.
Cáo trạng mới còn có sự thay đổi về tên của một doanh nghiệp. Cáo trạng cũ đề cập đến sự dính líu của Công ty Du lịch và Thương Mại T&T (tên tiếng Anh là Tourism and Trading Company), trong cáo trạng mới, T&T là Công ty TNHH T&T (Tên tiếng Anh: T&T Co. Ltd.), gọi tắt là T&T. Theo cáo trạng mới, T&T là doanh nghiệp tham gia vào các hoạt động liên quan đến an ninh biên giới và mua sắm vũ khí của Bộ Công an Việt Nam.
Cáo trạng mới cũng đề cập cả đến việc Quân đội Nhân dân Việt Nam mua sắm vũ khí từ Nexus.
Một số cá nhân và công ty khác cũng đã xuất hiện trong cáo trạng mới. Chẳng hạn như một quan chức Việt Nam làm việc tại công ty T&T, được gọi là “Quan chức A”.
Hoặc một công ty toạ lạc tại Hongkong, do một người Việt làm chủ, được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “HKC 1″. Người Việt đó đã được đại bồi thẩm đoàn nhận diện và gọi là “VN 1”.
“VN 1” được xác định là cư dân TP.HCM và công ty “HKC 1” do “VN 1” làm chủ đã được Nexus sử dụng như một “vỏ bọc”, giúp thanh toán tiền hối lộ cho các quan chức Việt Nam.
Một công ty khác được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “HKC 2”. “HKC 2” cũng toạ lạc tại Hồng Kông, cũng do một người Việt Nam làm chủ và người này được đại bồi thẩm đoàn đặt tên là “VN 2”. “VN 2” cũng là cư dân TP.HCM và “HKC 2” là một “vỏ bọc” khác trong chuyện thanh toán tiền hối lộ để giành hợp đồng.
Nexus “làm ăn” thế nào?
Theo cáo trạng mới, sở dĩ ông Nguyễn Quốc Nam giành được các hợp đồng béo bở cho Nexus từ các cơ quan Nhà nước và các doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam là vì ông ta đồng ý trả tiền hối lộ, thường được mô tả là “hoa hồng”, cho những cá nhân làm việc ở các cơ quan và những công ty đó.
Cả bốn người trong công ty Nexus liên quan đến vụ án này đều đã thiết lập nhiều mối quan hệ với các quan chức chính phủ Việt Nam, được cáo trạng mô tả là “những người ủng hộ”. “Những người ủng hộ” giúp Nexus có được các hợp đồng bằng cách cung cấp thông tin thuộc loại bị cấm tiết lộ, lừa đảo trong đấu thầu và các hình thức hỗ trợ khác.
Đổi lại, Nexus trả “hoa hồng” cho họ bằng cách chuyển tiền cho công ty HKC 1 ở Hongkong, để HKC 1 tiếp tục chuyển số tiền ấy cho “những người ủng hộ”.
Cũng theo cáo trạng, đôi khi công ty HKC 2 chuyển tiền cho HKC 1, để HKC 1 chuyển vào tài khoản của các quan chức Việt Nam.
Để tránh bị giới hữu trách Hoa Kỳ phát hiện, bốn bị cáo đã gian lận sổ sách nhằm che giấu việc chuyển tiền giữa Nexus, công ty HKC 1, HKC 2 vào các tài khoản của các quan chức ở Việt Nam.
Đó là những điểm chính trong cáo trạng mới về vụ Nexus. Lần tới chúng tôi sẽ giới thiệu chi tiết về quan hệ của Nexus với một số doanh nghiệp nhà nước ở Việt Nam
Những ai ở Công ty Bay Dịch vụ miền Nam đã nhận 96.000 đô la?
Công ty Bay Dịch vụ miền Nam chỉ mới xuất hiện trong vụ Nexus sau khi Bộ Tư pháp Hoa Kỳ lập cáo trạng mới.
Đây là một doanh nghiệp quân đội hoạt động trong lĩnh vực hàng không, địa bàn hoạt động chính là Sân bay Vũng Tàu. Cũng vì vậy nó liên quan cả đến Cục Hàng không Dân dụng Việt Nam.
Trước đây, cáo trạng mà Bộ Tư pháp Hoa Kỳ lập năm 2008 chỉ đề cập đến giao dịch giữa Nexus với Sân bay Vũng Tàu, song cáo trạng mới có một số giao dịch đã xác định lại đối tượng của Nexus là Công ty Bay Dịch vụ miền Nam.
Theo cáo trạng, mùa hè năm 2005, ông Nguyễn Quốc Nam gửi cho cô Nguyễn Kim Anh một email, đề cập đến một hợp đồng với Công ty Bay Dịch vụ miền Nam. Trong đó, ông Nam yêu cầu cô Kim Anh chuyển khoản tiền trị giá 10% của hợp đồng này đến công ty HKC 1, để HKC 1 trả tiền hối lộ cho các quan chức liên quan đến hợp đồng đó, với số tiền khoảng $19.000 đô la.
Ngày 26 tháng 4 năm 2006, ông Nam gửi một email khác thông báo cho cô Kim Anh rằng, một quan chức ở Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam muốn Nexus thanh toán khoản tiền hối lộ liên quan đến hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
Sau đó, ông Nam có một email khác, ra lệnh cho cô Kim Anh chuyển tiền vào HKC 1 và ngày 23 tháng 5 năm 2006, cô Kim Anh đã chuyển khoảng $63.000 đô la vào tài khoản HKC 1 ở Hongkong. Đến ngày 5 tháng 6, HKC 1 đã chuyển số tiền này vào một tài khoản được cáo trạng chuyển sang tình trạng ẩn danh là “VN 1” tại Việt Nam, để thanh toán cho quan chức đó.
Hồi giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Kim Anh. Email viết: “Chúng ta cần HKC 1 lập các các hoá đơn liên quan đến tất cả những lần chuyển tiền để chúng ta ghi đúng các giao dịch này trong sổ sách. Đừng lo về ngày tháng và mô tả chi tiết bởi vì tôi bịa ra chúng“.
Trong số các hoá đơn Nexus yêu cầu HKC 1 lập, có một hóa đơn với số tiền khoảng 63.000 đô la.
Hoặc cuối tháng 12 năm 2006, ông Nam gửi email ra lệnh cho cô Kim Anh chuyển 14.200 đô la cho HKC 1 để thanh toán khoản hối lộ lần 2 cho một quan chức ở Công ty Bay Dịch vụ miền Nam vì đã “hỗ trợ” Nexus trong hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu. Số tiền này đã được cô Kim Anh chuyển trong cùng ngày từ tài khoản của Nexus vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong và HKC 1 đã chuyển để thanh toán cho quan chức mà người ta đang chờ xác định là ai.
Theo cáo trạng mới, Nexus đã có 3 lần chuyển tiền cho quan chức của Công ty Bay Dịch vụ Miền Nam với tổng số tiền khoảng 96.000 đô la.
Một số giao dịch còn lại đối với Trung tâm Quản lý Bay miền Nam và Sân bay Vũng Tàu trong cáo trạng này vẫn không thay đổi.
Những ai ở Công ty T&T đã nhận 76.000 đô la?
Một đối tác khác đã nhận hối lộ để “hỗ trợ” Nexus là Công ty TNHH T&T (T&T Co. Ltd.).
Theo cáo trạng, T&T là một doanh nghiệp thuộc Bộ Công an, chuyên tham gia vào các hoạt động liên quan đến an ninh biên giới và mua sắm vũ khí cho bộ này.
Vào ngày 10 tháng 5 năm 2005, ông Nam gửi cho cô Kim Anh một email giới thiệu T&T là công ty thuộc chính phủ Việt Nam chuyên mua vũ khí và các thiết bị an toàn.
Ngày 23 tháng 5 năm 2005, Nexus đã chuyển số tiền khoảng 22.325 đô la vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong
Một tuần sau, ông Nam gửi email cho nhân vật – mà cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển vào tình trạng ẩn danh, rồi đặt tên là “Quan chức A” thuộc công ty T&T – thông báo rằng, Nexus đã chuyển số tiền đó cho HKC 1 và HKC 1 sẽ chuyển chúng vào tài khoản của quan chức này. Sau khi trừ các chi phí dịch vụ, “Quan chức A” sẽ nhận được $21.872 đô la.
Cùng ngày, HKC 1 đã chuyển đúng khoản tiền ấy vào tài khoản của “Quan chức A”, được mở tại Ngân hàng Thương mại Á châu ở Việt Nam. Trên hướng dẫn chuyển khoản, phần mô tả được ghi là “quà cáp”.
Vào ngày 9 tháng 6 năm 2005, một giao dịch tương tự đã được thực hiện: Nexus chuyển $29.987 đô la từ tài khoản của Nexus vào tài khoản của HKC 1 tại Hong Kong. Hai tuần sau, HKC 1 chuyển khoản tiền này vào tài khoản của “Quan chức A”, được mở tại Ngân hàng Thương mại Á châu ở Việt Nam. Khoản tiền đó cũng được ghi là “quà cáp” trên hướng dẫn chuyển khoản.
Đầu tháng 8 năm 2005, Nexus chuyển tiếp 15.653 đô la vào tài khoản của công ty HKC 1 tại Hong Kong. Giữa tháng 8 năm 2005, HKC 1 chuyển khoản này sang tài khoản của “Quan chức A”.
Giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi một email cho cô Kim Anh, cho biết, ông cần các hoá đơn từ HKC 1, trong email ông trấn an: “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả bởi vì tôi đã bịa ra chúng“. Trong các hoá đơn ông Nam yêu cầu, có hóa đơn chuyển số tiền gần 8.000 đô la cho công ty T&T.
Ngày 25 tháng 11 năm 2006, HKC 1 gửi email cho ông Nam, yêu cầu xác nhận lại khoản tiền cần chuyển cho “Quan chức A”, trong cùng ngày, ông Nam trả lời email này, xác nhận rằng, số tiền 7.790 đô la phải được chuyển cho Công ty T&T. Trong cùng ngày, Nexus đã chuyển đúng số tiền vừa kể từ tài khoản của mình vào tài khoản của HKC 1 ở Hongkong để thanh toán cho “Quan chức A”.
Ít nhất, Nexus đã chuyển cho “Quan chức A” của công ty T&T khoảng 76.000 đô la qua bốn lần chuyển tiền.
Ngoài Công ty Bay Dịch vụ miền Nam và Công ty T&T, Nexus còn có những đối tác nào tại Việt Nam? Đó sẽ là nội dung bài kỳ tới, mời quý vị đón xem.
Vietsovpetro đã dàn dựng gì?
Vietsovpetro là một liên doanh giữa Việt Nam và Liên bang Nga để thăm dò, khai thác dầu khí tại biển Đông.
Theo cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, ngày 11 tháng 12 năm 2000, ông Joseph Lukas gửi email cho ông Nguyễn Quốc Nam, yêu cầu cho biết chính xác khoản hối lộ cần trả cho Vietsovpetro để ông Lukas làm sổ sách.
Hai ngày sau, ông Nam gửi cho ông Lukas một email. Email viết: “Hôm nay, tôi đã cố gắng để kiếm hợp đồng từ vài người thuộc bộ phận kỹ thuật của Vietsovpetro. Với khoản tiền hoa hồng 15%, chúng ta đã được hứa sẽ là nhà cung cấp”.
Trong một email khác mà ông Nam gửi ông Lukas hồi giữa tháng 4 năm 2002, ông Nam viết: “Chúng ta cần phải lo các khoản hoa hồng cho… ở Vietsovpetro. Tôi muốn chắc chắn là tất cả mọi người ở đây hài lòng. Điều đó sẽ tốt cho tình hình tài chính của chúng ta”.
Khoảng đầu tháng tháng 5 năm 2003, Vietsovpetro ký hợp đồng với ông Lukas, mua hệ thống máy nâng thủy lực, trị giá khoảng 500.000 đô la.
Ngày 27 tháng 2 năm 2004, ông Nam gửi email cho một nhân viên Nexus, trao đổi về thỏa thuận liên quan đến “Tường lửa GenPac”. Email này cho biết, Nexus vẫn còn nợ một quan chức Vietsovpetro khoản hối lộ là 43.340 đô la. Do đó, ông Nam yêu cầu nhân viên đó chuyển khoản tiền tương đương từ tài khoản HKC 2 vào tài khoản HKC 1. Trong cùng ngày, ông Nam gửi email cho HKC 1, cho biết tiền sẽ đến và hướng dẫn cần chuyển tiền cho ai.
Ngày 04 tháng 3 năm 2004, khoản tiền 43.306 đô la đã được HKC 2 chuyển vào tài khoản của HKC 1.
Ngày 10 tháng 3 năm 2004, ông Nam gửi email cho nhân vật điều hành HKC 1 - đối tượng đã được cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển vào tình trạng ẩn danh với tên “VN 1”, yêu cầu “VN 1” phải làm xong hóa đơn.
“VN 1” gửi email hỏi ông Nam cần ghi gì vào hóa đơn đó. Sau đó, HKC 1 xuất ra một hóa đơn cho Nexus, thời hạn xuất hoá đơn được kéo lùi lại một tháng.
Đến giữa tháng 3 năm 2004, HKC 1 chuyển 42.440 đô la vào tài khoản của quan chức Vietsovpetro, mở tại Ngân hàng Thương mại Á Châu ở Việt Nam.
Khoảng giữa tháng 1 năm 2006, ông Nam gửi email cho nhiều nhân viên của Nexus, thông báo về việc chuẩn bị ký một hợp đồng cung cấp cho Vietsovpetro máy phun làm sạch bề mặt thiết bị. Theo email này, người của Vietsovpetro từ chối thảo luận về khoản tiền hối lộ qua email và yêu cầu trao đổi qua điện thoại Internet.
Giữa tháng 3 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Kim Anh, thông báo rằng ông ta đã thực hiện thành công hành vi gian lận trong đấu thầu để thắng hợp đồng mua bán máy vừa kể: Vietsovpetro đã trợ giúp ông Nam bằng cách sắp xếp cho hai công ty khác chào giá cao hơn, nên Nexus được chọn.
Ngày 26 tháng 10 năm 2006, ông Nam gửi một email khác cho cô Kim Anh, thông báo về một hợp đồng khác với Vietsovpetro. Email viết: “Vietsovpetro bảo rằng, chúng ta đã được thanh toán cho hợp đồng này rồi. Làm ơn xác nhận để có thể chi trả tiền hoa hồng”.
Vào ngày 17 tháng 9 năm 2007, ông Nam gửi email cho một nhân viên của Nexus ở Việt Nam, thảo luận về số tiền hối lộ đang nợ các quan chức thuộc nhiều công ty khác nhau, trong đó có Vietsovpetro.
Petro Gas Việt Nam cũng không kém
Trong cáo trạng mới, Bộ Tư pháp Hoa Kỳ còn đề cập đến hoạt động đưa – nhận hối lộ giữa Nexus và Công ty Petro Gas Việt Nam.
Ngày 17 tháng 10 năm 2000, ông Joseph Lukas gửi email cho ông Nam để bàn về “hoa hồng” cho “người ủng hộ” ở Petro Gas Việt Nam, kèm tuyên bố: “Tốt! Làm đi! Có thư tín dụng xác nhận chúng ta không thể mất”.
Một năm sau, qua một email khác, ông Lukas thông báo với ông Nam rằng, khoản tiền mà Petro Gas Việt Nam thanh toán thấp hơn dự kiến. Sở dĩ có sự sai biệt đó là vì phải trả tiền hối lộ cho quan chức của Petro Gas Vietnam.
Cáo trạng mới của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ không cho biết, hai email này liên quan tới hợp đồng nào giữa Nexus và Petro Gas Việt Nam.
Khoảng đầu tháng 8 năm 2004, một nhân viên của Nexus gửi email cho ông Nam, yêu cầu xem lại cách anh ta tính tiền trả cho Petro Gas Việt Nam trong một hợp đồng mua bán phụ tùng. Ông Nam đã chuyển email này cho cô Nguyễn Kim Anh, yêu cầu cô xem lại để chuyển số tiền khoảng 10.000 đô la.
Ngày 13 tháng 8, cô Kim Anh gửi email hỏi ông Nam xem số tiền phải trả cho Petro Gas Việt Nam có cần phải chuyển qua công ty HKC 1 hay không. Ông Nam hồi đáp với chú thích “khẩn cấp”, chỉ đạo cho cô chuyển tiền ngay, để đổi lấy sự hỗ trợ của một quan chức có liên quan đến một hợp đồng sẽ ký hôm đó. Ba ngày sau, khoản tiền này được chuyển về Việt Nam.
Vào ngày 20 tháng 10 năm 2006, Nexus còn chuyển 21.597 đô la cho HKC 1 để thanh toán tiền hối lộ cho một quan chức của Petro Gas Việt Nam trong một hợp đồng khác. Liên quan đến hợp đồng này, giữa tháng 11 năm 2006, ông Nam gửi email cho cô Nguyễn Kim Anh báo rằng, ông cần các hóa đơn từ HKC 1. Ông tiếp tục viết: “Đừng lo lắng về ngày tháng và mô tả chi tiết bởi vì tôi bịa ra chúng“. Trong số các hoá đơn mà ông yêu cầu, có một hóa đơn với số tiền 21.597 đô la. Ngày 11 tháng 5 năm 2007, cô Kim Anh yêu cầu ông Nam xác nhận việc “giải quyết” số tiền 21.841 đô la, liên quan tới hợp đồng “Carrier” với Petro Gas Việt Nam.
Vào ngày 28 tháng 5 năm 2007, ông Nam nhận được email từ Việt Nam, cho biết Nexus nợ 22.403 đô la do liên quan tới việc bán máy lạnh cho Petro Gas Việt Nam. Ngày 13 tháng 6 năm 2007, cô Kim Anh chuyển 22.403 đô la vào tài khoản HKC 1 tại Hong Kong, để chuyển về Việt Nam thanh toán cho quan chức của Petro Gas Việt Nam.
Ngày 5 tháng 7 năm 2007, HKC 1 chuyển số tiền khoảng $22,000 vào tài khoản của nhân vật đứng đầu HKC 2 đã được Bộ Tư pháp Hoa Kỳ chuyển qua tình trạng ẩn danh là “VN 2”, sống tại TP.HCM. Hai hôm sau, “VN 2” gửi email cho ông Nam, thông báo đã nhận được tiền nhưng thiếu 441 đô la. Ông Nam trả lời “VN 2” rằng, khoản thiếu hụt là chi phí chuyển tiền.
Vụ Nexus chắc chắn chưa ngừng ở đây. Chúng tôi sẽ tiếp tục theo dõi và tường trình khi có thông tin mới.
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nexus-technologies-case-nt-05032010132908.html
http://www.rfa.org/vietnamese/in_depth/nexus-technologies-case-Ntran-05032010152849.html
— Vụ Nexus: Nexus Technologies đã “làm ăn” với những nơi nào và như thế nào tại Việt Nam? (RFA 3-5-10)
http://www.viet-studies.info/kinhte/NexusLamAnVoiAi.htm
——————–
RFA 1 & 7-4-10
Các quan chức nào đã nhận hối lộ từ Nexus?
Ngọc Trân, thông tín viên RFA 2010-04-01
Thời gian qua, dư luận xôn xao về các vụ án ở nước ngoài có liên quan đến việc hối lộ các quan chức chính phủ Việt Nam. Ngoài vụ PCI, vụ tiền Polymer, dư luận còn quan tâm đến việc công ty Nexus Technologies đã hối lộ các quan chức, thuộc các công ty chính phủ Việt Nam.
Nexus Technologies Inc.
Theo tin từ trang web của công ty, Nexus Technologies Inc., do ông Nguyễn Quốc Nam thành lập vào năm 1989. Công ty có trụ sở chính ở Hoa Kỳ với các văn phòng ở các tiểu bang như Delaware, New Jersey, Philadelphia và có ít nhất một văn phòng tại Việt Nam.
Nexus là công ty về xuất khẩu, chuyên cung cấp trang thiết bị và dịch vụ cho các ngành công nghệ kỹ thuật cao như: công nghiệp dầu khí, công nghiệp sản xuất và truyền tải điện năng, công nghiệp hàng không và hàng hải…
Công ty chuyên mua các thiết bị, máy móc từ các nhà sản xuất lớn ở Hoa Kỳ và các nước khác để xuất sang Việt Nam cho khách hàng của họ, trong đó có các công ty chính phủ trực thuộc Bộ Công nghiệp (tức Bộ Công thương), Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công an.
Nexus từng là một trong những nhà cung cấp hàng đầu các thiết bị và dịch vụ công nghệ của Mỹ ở Việt Nam. Theo tin từ báo Việt Nam Net, năm 2007, Nexus là một trong năm công ty nhận được “Giải thưởng Thành tựu về Thương mại” của Bộ Thương mại Hoa Kỳ. Giải thưởng này nhằm vinh danh các công ty đóng góp vào hoạt động xuất khẩu hàng hóa của Hoa Kỳ vào Việt Nam.
Bị buộc tội
Thế nhưng, tháng 9 năm 2008, Nexus cùng với 4 người trong công ty đã bị Bộ Tư pháp Hoa Kỳ truy tố về tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng ở Nước ngoài” (FCPA). Theo đạo luật này, bất kỳ người nào làm việc cho một công ty của chính phủ nước ngoài, đều được xem là quan chức nước ngoài. Và bất kỳ một cá nhân hay tổ chức có hành động chi trả tiền bạc, hoặc quà cáp có giá trị cho một quan chức nước ngoài, để được giúp đỡ, nhằm có được lợi thế trong việc kinh doanh, đều bị xem là bất hợp pháp.
Nghĩa là, mặc dù hành vi đưa hối lộ được thực hiện bên ngoài lãnh thổ Hoa Kỳ và người nhận hối lộ không phải là các viên chức Hoa Kỳ, đều bị coi là vi phạm đạo luật này.Một trong những người của công ty Nexus bị truy tố là ông Joseph Lukas, mang quốc tịch Hoa Kỳ, năm nay 61 tuổi và là người có phần hùn trong công ty cho đến tháng 10 năm 2005. Ông Lukas đã từng giữ chức giám đốc điều hành của công ty ở New Jersey.
Ba người còn lại là người Mỹ gốc Việt, có quan hệ anh, chị, em. Ông Nguyễn Quốc Nam, 54 tuổi là chủ tịch công ty; cô Nguyễn Kim Anh, 41 tuổi là phó chủ tịch và ông Nguyễn Quốc An, 34 tuổi là nhân viên công ty.
Cả bốn người đều bị bắt giam hồi tháng 9 năm 2008 sau khi bị một đại bồi thẩm đoàn truy tố 5 tội danh khác nhau, trong đó có tội âm mưu hối lộ viên chức chính phủ nước ngoài, vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” của Hoa Kỳ.Theo bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ thì, trong thời gian 9 năm, từ năm 1999 đến năm 2008, các nghi can của công ty đã âm mưu hối lộ ít nhất khoảng $150.000 đô la cho nhiều quan chức, đang làm việc cho các công ty chính phủ Việt Nam, các công ty này trực thuộc các bộ như: Bộ Công an, Bộ Giao thông Vận tải và Bộ Công nghiệp (sau là Bộ Công thương) nhằm có được các hợp đồng làm ăn với các công ty này. Cũng theo bản cáo trạng nêu trên, Nexus đã mua nhiều loại trang thiết bị và công nghệ kỹ thuật khác nhau như: máy lập bản đồ dưới nước, thiết bị tháo gỡ bom mìn, phụ tùng máy bay trực thăng, máy dò tìm hóa chất, các bộ phận vệ tinh viễn thông và hệ thống kiểm soát không lưu…để xuất sang Việt Nam, cho khách hàng của Nexus là những công ty thuộc các cơ quan nhà nước.
Hối lộ nhiều viên chức Việt Nam
Cuối tháng 6 năm ngoái, một trong những nghi can của Nexus là ông Lukas đã nhận tội vi phạm “Đạo luật Chống tham nhũng Nước ngoài”. Ông Lukas đã khai nhận rằng từ năm 1999 đến năm 2005, ông và các nhân viên khác của công ty đã đưa hối lộ cho nhiều viên chức Việt Nam để đổi lấy hợp đồng cung cấp trang thiết bị công nghệ với các công ty chính phủ. Các khoản tiền hối lộ đó đã được ghi sai lệch trong sổ sách của công ty là “tiền hoa hồng” cho các hợp đồng này.
Theo tin từ Bộ Tư pháp Hoa Kỳ đưa ra hôm thứ ba tuần trước, ba người còn lại cũng đã nhận tội. Cô Nguyễn Kim Anh đã nhận tội vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài” và tội rửa tiền. Riêng hai ông Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Quốc An, ngoài việc nhận tội rửa tiền và vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”, họ còn nhận tội vi phạm “Đạo luật Đi lại” (Travel Act), một đạo luật cấm đi lại trong nước hoặc nước ngoài, sử dụng email hoặc các phương tiện để thực hiện các hoạt động bất hợp pháp.
Trong lời nhận tội, những người này thừa nhận rằng từ năm 1999 đến năm 2008, họ đã đồng ý trả tiền hối lộ cho các quan chức chính phủ Việt Nam, với tổng số tiền là $250.000 đô la, để đổi lấy các hợp đồng từ các công ty mà những quan chức này đang làm việc. Số tiền mà họ nhận đã đưa hối lộ lần này nhiều hơn bản cáo trạng đưa ra năm 2008 là $100.000 đô la.
Các nghi can trong vụ án này cũng thừa nhận rằng hoạt động của Nexus là bất hợp pháp và đồng ý chấm dứt các hoạt động công ty, như là một điều kiện trong việc thú nhận tội.
Theo hồ sơ tòa án thì ông Nam là người phụ trách đàm phán các hợp đồng làm ăn giữa công ty với các quan chức chính phủ trong nước, cũng chính là người đóng vai trò quan trọng trong việc đưa hối lộ. Ông Nam đã nhiều lần chỉ thị cho nhân viên của mình chuyển tiền hối lộ cho các quan chức chính phủ Việt Nam.
Trong khi đó, cô Kim Anh phụ trách các hoạt động tài chính của công ty và là người đã nhiều lần chuyển tiền hối lộ cho người thụ hưởng là các quan chức ở Việt Nam theo lệnh của ông Nam. Và ông Nguyễn Quốc An phụ trách việc đàm phán với các nhà cung cấp hàng hóa ở Hoa Kỳ.
Với các tình tiết phạm tội này, Nexus có thể bị phạt số tiền lên tới $27 triệu đô la. Hai anh em ông Nguyễn Quốc Nam và Nguyễn Quốc An đang phải đối mặt với mức án tối đa là 35 năm tù giam, và cô Nguyễn Kim Anh có thể bị phạt mức án 30 năm tù nếu bồi thẩm đoàn tìm thấy có tội. Phiên tòa dự kiến sẽ tuyên án vào ngày 13 tháng 7 năm nay.
Riêng lời thú tội của ông Lukas hồi tháng 9 năm ngoái vẫn không thay đổi và ông Lukas có thể bị mức án tối đa là 10 năm tù.
Trên đây là diễn biến vụ án công ty Nexus và các nhân viên bị chính phủ Hoa Kỳ cáo buộc vi phạm “Đạo luật Chống Tham nhũng Nước ngoài”và “Đạo luật Đi lại”.
Để biết thêm chi tiết về vụ án này, chẳng hạn như nhân viên của các công ty chính phủ nào ở Việt Nam đã nhận hối lộ từ Nexus, bao nhiêu lần chuyển tiền hối lộ và số tiền đã được chuyển vào ngân hàng nào, mời quý vị đón xem chúng tôi tóm tắt bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ trong bài kế tiếp.
♦ ♦ ♦
Để biết thêm chi tiết những quan chức của các công ty chính phủ nào ở Việt Nam đã nhận hối lộ từ Nexus, và việc đưa nhận hối lộ được tiến hành ra sao, Ngọc Trân tóm lược bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ.
Theo bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, có 5 công ty của chính phủ Việt Nam, trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công nghiệp (tức Bộ Công thương) và Bộ Công an đã nhận hối lộ từ Nexus, trên danh nghĩa là “tiền hoa hồng”.
Các email trao đổi trong nội bộ công ty Nexus cũng như giữa Nexus với các các công ty ở Việt Nam cho thấy, mối quan hệ giữa công ty này với các quan chức chính phủ Việt Nam, là mối quan hệ đưa và nhận hối lộ, nhằm giúp Nexus có được các thông tin bí mật cũng như giúp công ty này đấu thầu lừa đảo để thắng các hợp đồng làm ăn từ các công ty của chính phủ Việt Nam.
Việc chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng của Nexus vào các ngân hàng Hồng Kông và Thượng Hải cùng với các email trao đổi liên quan đến các phi vụ làm ăn giữa Nexus với các quan chức Việt Nam, là một trong những bằng chứng cho việc đưa và nhận hối lộ.
Bộ Giao thông Vận tải
Cũng theo bản cáo trạng của Bộ Tư pháp Hoa Kỳ, có hai công ty thuộc Bộ Giao thông Vận tải liên quan đến việc nhận hối lộ, đó là: Sân bay Vũng Tàu và Trung tâm Quản lý bay miền Nam.
Theo hồ sơ vụ án, tháng 10 năm 2001, email trao đổi giữa ông Nguyễn Quốc Nam và ông Joseph Lukas về việc một quan chức ở Sân bay Vũng Tàu đã đòi tiền tiền hối lộ từ Nexus cho tất cả các thương vụ mua bán, mà họ gọi là “tiền hoa hồng”.
Cuối năm 2004, Nexus đã ký hợp đồng với Sân bay Vũng Tàu để bán các thiết bị về hệ thống không lưu.
Đến tháng 8 năm 2005, theo lệnh của ông Nguyễn Quốc Nam, cô Nguyễn Kim Anh đã chuyển gần $19.000 đô la, tức 10% trị giá của một hợp đồng mua bán, từ ngân hàng của Nexus ở Philadelphia vào Ngân hàng HKC, Hongkong, cho một quan chức ở Sân bay Vũng Tàu.
Cũng theo lệnh của ông Nam, năm 2006, cô Kim Anh đã 2 lần chuyển tiền vào một ngân hàng ở Hongkong, với số tiền tổng cộng trên $77.000 đô la, cho một quan chức thuộc Sân bay Vũng Tàu, liên quan tới hợp đồng mua bán hệ thống kiểm soát không lưu.
Riêng Trung tâm Quản lý bay miền Nam, năm 2004, đã đồng ý mua hàng của Nexus với điều kiện công ty này phải ghi giá bán trên hợp đồng, cao hơn nhiều so với giá trên thực tế, để quan chức của Trung tâm này hưởng khoản tiền chênh lệch đó. Trong email, ông Nam cũng đã xác nhận việc chuyển tiền hối lộ vào Ngân hàng Hongkong cho người thụ hưởng là một quan chức thuộc Trung tâm Quản lý bay miền Nam.
Bộ Công Nghiệp
Ngoài các công ty thuộc Bộ GTVT, còn có hai công ty thuộc Bộ Công nghiệp cũng là khách hàng đã từng nhận hối lộ của Nexus, đó là Liên doanh Vietsov Petro và Công ty Petro Gas Việt Nam.
Qua email trao đổi giữa ông Nam và ông Lukas hồi cuối năm 2000, Vietsov Petro đã hứa chắc chắn sẽ ký hợp đồng với Nexus với điều kiện Nexus chi 15% tiền hối lộ, mà trong sổ sách ghi là “tiền hoa hồng”.
Không biết tổng trị giá của tất cả các hợp đồng giữa Nexus với Vietsov Petro là bao nhiêu, thế nhưng có một hợp đồng đã được ký hồi tháng 5 năm 2003 trị giá nửa triệu đô la.
Tháng 3 năm 2006, trong một email, ông Nam đã viết rằng nhờ sự giúp đỡ của Vietsov Petro giúp đấu thầu gian lận, bằng cách sắp xếp cho hai công ty khác chào giá cao hơn, giúp Nexus “thắng” hợp đồng làm ăn với công ty này. Trong một email của ông Nam hồi tháng 10 năm 2006, cũng có nhắc đến chuyện thanh toán một khoản tiền hối lộ cho Vietsov Petro, trong khi một email khác hồi tháng 9 năm 2007 có nhắc đến lời của một quan chức Vietsov Petro rằng: Mang tiền tới nhà tôi vào cuối ngày làm việc. Tái bút: Xin lưu ý các khoản chi trả tiền hoa hồng được ghi là thanh toán chi phí lắp đặt trong sổ sách kế toán của ông.
Từ năm 2000 đến 2004, Nexus cũng đã nhiều lần làm ăn với Công ty Petro Gas Việt Nam và đã nhiều lần thực hiện việc chuyển tiền hối lộ cho các quan chức ở công ty này. Nội dung của một email hồi đầu năm 2003 cho thấy, quan chức của Petro Gas muốn Nexus thay đổi cách gọi số tiền hối lộ từ “tiền hoa hồng” thành “phí hợp đồng”.
Và trong khi một email khác, ông Nam đã chỉ đạo cho cô Kim Anh chuyển gần $10.000 đô la vào Ngân hàng HKC Hongkong cho một quan chức ở Petro Gas để hối lộ cho một hợp đồng mua bán đồ phụ tùng với công ty này.
Bộ Công an
Ngoài các công ty kể trên, còn có một công ty trực thuộc Bộ Công an cũng đã nhận hối lộ từ Nexus, đó là công ty Du lịch và Thương mại KTV Việt Nam, liên quan đến hợp đồng mua bán thiết bị an toàn.
Tháng 5 năm 2005, ông Nam đã chuyển số tiền hơn $22.000 đô la vào ngân hàng HKC Hongkong, để chuyển vào tài khoản của một quan chức ở công ty Du lịch và Thương mại KTV. Một tuần sau đó, ông Nam đã email báo với quan chức này rằng, tiền đã chuyển vào tài khoản của ông ta, sau khi trừ phí dịch vụ hơn $450 đô la.
Như vậy, tổng số tiền 5 công ty thuộc Bộ Giao thông Vận tải, Bộ Công thương và Bộ Công an đã nhận hối lộ từ công ty Nexus trong bản cáo trạng ngày 4 tháng 9 năm 2008 là $150.000 đô la. Thế nhưng tin tức mới nhất từ Bộ Tư pháp đưa ra giữa tháng này cho thấy, số tiền đưa hối lộ mà các bị cáo đã khai nhận là $250.000 đô la. Điều đó cho thấy, có nhiều dữ kiện mới về vụ án này mà chúng ta chưa đưa biết.
Hơn nữa, một trong các mặt hàng mà Nexus đã bán cho các công ty chính phủ Việt Nam là “phụ tùng máy bay trực thăng”. Dư luận rất quan tâm đến chi tiết này, vì nhiều người cho rằng Việt Nam hiện đang sử dụng máy bay trực thăng do Nga sản xuất, vậy ai đã mua phụ tùng máy bay trực thăng của Hoa Kỳ và mua để làm gì? Chúng tôi sẽ tiếp tục tìm hiểu thêm về vụ án này và sẽ trở lại cùng quý thính giả vào một dịp khác.
———
Các quan chức nào đã nhận hối lộ từ Nexus? (RFA 1 & 7-4-10) ◄◄

