Thứ Sáu, 6 tháng 1, 2012

Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á

cuoccachmangchaua-resized.jpgAndreas Lorenz
Ba Cơ dịch

Andreas Lorenz - “Phương Đông mới” thay đổi thế giới ra sao

Lời của Nhà xuất bản: Andreas Lorenz là thông tín viên của báo Spiegel từ 1982 đến 1986 ở Moscow. Năm 1988, ông đến Bắc Kinh lần đầu tiên và ngoài những việc khác đã trải qua lần chấm dứt đẫm máu của phong trào dân chủ vào ngày 4 tháng 6 năm 1989. Con đường thông tín viên nước ngoài dẫn ông đến Warsaw năm 1991, nơi ông dõi theo sự phát triển của Ba Lan và của các quốc gia vùng Baltic sau đổi mới.
Năm 1996 ông đến Đông Nam Á và chẳng bao lâu sau đấy đã chứng kiến chính quyền Suharto sụp đổ ở Indonesia và lực lượng Khmer Đỏ từ bỏ cuộc đấu tranh của họ ở Campuchia. Từ năm 1999 ông trở lại sống ở Bắc Kinh và viết cho tờ Spiegel về lần khởi dậy đầy thu hút của Trung Quốc và những mâu thuẫn của nó cho tới cuối 2010.
Trong quyển sách này, với kiến thức sâu sắc của mình, ông mô tả những phát triển hết sức nhanh chóng ở Viễn Đông và phác họa nhân vật có nhiều quyền lực nhất: Trung Quốc. Nhưng ông cũng phân tích với tầm nhìn xa những yếu tố nào có thể cản trở sự vươn lên của châu Á: chế độ độc tài, xung đột lãnh thổ và ô nhiễm môi trường.









andreas-lorenz.jpg

Lời của người dịch: Tại sao lại có bản dịch này? Đơn giản là mình tình cờ đọc được quyển sách này, thấy có nhiều điều thú vị nên muốn trích dịch vài chương chia sẻ với mọi người. Đơn giản thế thôi. Người dịch không hề nhận được sự giúp đỡ của bất cứ ai cả, và cũng không có một thế lực nào xúi giục đâu.
Tựa của những bài post kế tiếp theo sau đây là tựa của từng chương một trong quyển sách này. Ba Cơ mời các bạn đón đọc tại đây hay trên Facebook:http://www.facebook.com/bacothuquan. Cảm ơn sự quan tâm của các bạn.









cuoccachmangchaua-resized.jpg

Chương I: "Phương Đông Mới"

Lịch sử đã chấm dứt hay bây giờ nó mới thật sự bắt đầu?

Đó là ngày Chủ Nhật, ngày 10 tháng 3 năm 1985. Tiếng nhạc trang nghiêm vang lên trong buổi sớm mai trên đường phố của Frunse, thủ đô của nước Cộng hòa Xô viết Kyrgyzstan, được đặt theo tên của người lãnh đạo quân đội Mikhail Vasilyevich. Đó là dấu hiệu rõ rệt cho việc một quan chức cấp cao đã qua đời, hoặc là ở đây trong Trung Á hoặc là ở Moscow xa xôi, nằm cách năm giờ bay về phía Tây. Và quả thật là như vậy: người có nhiều quyền lực nhất của Liên bang Xô viết, Konstantin Ustinovich Chernenko, đã không qua khỏi một cơn bệnh phổi nặng. Người tổng bí thư của Đảng Cộng sản Liên xô chỉ giữ chức vụ có 13 tháng.
Tôi đã trải qua lần bắt đầu chấm dứt của một vương quốc rộng lớn như thế đấy. Trong lịch sử, đó không phải là một hiện tượng mới: đế quốc suy tàn, thành phố lớn chìm vào trong quên lãng. Ai mạnh vào ngày hôm qua thì lại yếu vào ngày hôm nay, ai hôm nay đang sống trong một góc nhỏ thì ngày mai lại có thể là một nhân vật quan trọng. Dịch bệnh và nạn đói, thảm họa khí hậu và khủng hoảng kinh tế, chính trị gia bất tài và tướng lĩnh điên rồ làm cho những quyền lực thoái trào, các quốc gia khác bước vào vị thế đó.
Ví dụ Trung Quốc cho thấy một vương quốc phát triển cao với trên 150 triệu dân cư, với một hệ thống kênh tưới nước tinh vi, quan lại được đào tạo tốt và với một hạm đội đã vươn đến tận Đông Phi trong thế kỷ 15 lại bất thình lình tự nguyện từ giã thế giới và còn quên cả những phát minh của chính mình như thế nào.
Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha, những kẻ đã từng kiêu hãnh thống trị thế giới – ngày nay là những quốc gia hết sức bình thường với một núi nợ. Venice, từng là tâm điểm của thương mại thế giới, chỉ còn là một nơi thu hút khách du lịch. Có ai còn nhớ đến những vương quốc hùng mạnh của châu Á, như Vương quốc Malasia Srivijaya trên Sumatra, vương quốc mà đã kiểm soát thương mại ở Eo biển Malacca trong thế kỷ thứ 8 và đã là một trong những trung tâm Phật giáo lớn nhất trong Đông Nam Á?
Vào cái ngày tháng 3 năm 1985 có nhiều hậu quả đó, một đồng nghiệp người Thụy Điển và tôi đã chuẩn bị tinh thần cho một cuộc tranh giành quyền lực kéo dài cho người kế nhiệm Chernenko. Tuy vậy, chúng tôi vẫn cẩn thận ngừng chuyến đi khảo sát Kyrgyzstan – và bị bất ngờ. Ngay trong buổi tối đó, trong lúc máy bay đỗ lại trên cảng hàng không của thành phố Ufa gần Ural, một nữ tiếp viên hàng không tóc vàng của Aeroflot rạng rỡ nói với chúng tôi: “Chúng tôi đã có một tổng bí thư mới. Ông ấy có tên như là Gorbunov hay sao ấy.”
“Gorbunov” hóa ra là Mikhail Gorbachev, một quan chức ngành nông nghiệp từ Stavropol, cho tới lúc đấy hầu như không có tiếng tăm gì. Phần còn lại là lịch sử. Mikhail Gorbachev cải tổ Liên bang Xô viết, và chẳng bao lâu sau đó những từ ngữ mới của hy vọng, perestroika và glasnost, cải tổ và minh bạch, lan truyền đi khắp nước, những từ ngữ mà cũng trở thành những từ chắp cánh ở nước ngoài. Tôi không thể nào quên được khoảng khắc khi nhà vật lý nguyên tử và cũng là người bất đồng chính kiến Andrei Sakharov bước ra khỏi con tàu hỏa trên sân nhà ga Kazansky ở Moscow như một người tự do vào sáng sớm ngày 19 tháng 12 năm 1986. Không ai khác hơn là chính tổng bí thư của Đảng Cộng sản Liên xô đã gọi điện và mời ông quay trở lại – Liên bang Xô viết đã trở thành một đất nước khác.
Vài tháng trước đó, lò phản ứng hạt nhân ở Tchernobyl đã nổ tung. Thảm họa đấy được xem như biểu tượng cho tính dễ vỡ của đất nước này và cho tính bất lực không thể phản ứng nhanh chóng được của nó. Lời đe dọa của người Mỹ, chạy đua vũ trang với những kế hoạch chiến tranh trong vũ trụ để đẩy người Xô viết vào tình trạng phá sản, xói mòn lòng tự tin của họ. Cuộc chiến ở Afganistan làm cho họ kiệt quệ, tham nhũng làm cho họ yếu đi. Cường quốc thế giới tan rã.
Ngày nay, nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Xô viết Kyrgyzstan có tên là Kyrgyzstan. Thủ đô không còn mang tên Frunse mà là Bishkek. Đất nước tuy lao đao trong khủng hoảng nhưng độc lập, công dân của nó được phép đi bầu – một nền dân chủ còn trong trứng nước. Người Mỹ cũng có ở đây nữa, với một căn cứ không quân ở cảng hàng không quốc tế Manas.
Bức màn sắt rơi xuống, những nhà Xã hội chủ nghĩa Thống nhất của CHDC Đức biến mất cùng với An ninh Quốc gia và những món ăn phụ cốt làm cho no. Nhà độc tài Romania cuồng vĩ Nicolae Ceauşescu và Elena vợ của ông ấy đã kết liễu trong vũng bùn trên sân của một trại lính vào Giáng Sinh 1989 – bị những người cầm quyền mới bắn chết. Cuộc Chiến tranh Lạnh chấm dứt.
Đối với nhà chính trị học người Mỹ Francis Fukuyana, điều đấy giống như “Chấm dứt lịch sử”, như ông đã gọi quyển sách xuất bản năm 1992 của ông như vậy. Sự tan rã của Liên bang Xô viết, ông lý luận, đã chứng tỏ rằng mô hình của nền dân chủ tự do phương Tây không có cạnh tranh trên khắp thế giới.[1]
Hai mươi năm sau đấy, tình hình không còn rõ ràng như thế nữa. Dường như là lịch sử lại bắt đầu mới. Vì ở Viễn Đông có một quyền lực đang lớn lên, một quyền lực mà trong những phần rộng lớn là phi dân chủ nhưng mặc dù vậy sẽ quyết định cuộc sống của chúng ta. Đó là một quyền lực đầy quyến rũ và đồng thời cũng không lường trước được: châu Á.
“Một ngày nào đó, châu Á sẽ đảo lộn thế giới, không một thứ gì sẽ còn như nó đang là. Hàng tỉ người bước vào hiện đại, hàng trăm triệu người sẽ được giải thoát khỏi móng vuốt của sự nghèo đói”, Kishore Mahbubani tiên đoán, trước đây là Permanent Secretary của Bộ Ngoại giao Singapore. Quá trình này đi cùng với “sự giải phóng tư tưởng con người”. Thế giới không phải đã đi đến ‘chấm dứt lịch sử’, như Fukuyama tiên đoán, mà là đến ‘chấm dứt kỷ nguyên thống trị của phương Tây trong lịch sử thế giới”.[2]
Châu Á năng động, người sống ở đây nhiều không thể tưởng được, nó có nhiều tiền tới mức ảnh hưởng của nó tăng liên tục – ở châu Phi, châu Mỹ La tinh hay ở châu Âu, trong những ủy ban quốc tế như Quỹ Tiền tệ Quốc tế hay Liên Hiệp Quốc.
Nhưng: cùng với sự lớn mạnh của châu lục đã hình thành những mối bất an mới, thế giới không hòa bình hơn. Có những mối nguy hiểm đang đe dọa từ châu Á vì
- Đã bắt đầu một cuộc chạy đua vì nguyên liệu, những nguyên liệu phải nuôi dưỡng cho sự thăng tiến của châu Á;
- thay vì giải quyết mâu thuẫn ở bên cạnh bàn thương lượng, những chính phủ có tinh thần chủ nghĩa dân tộc đã cổ vũ cho những cuộc tranh chấp về đường hàng hải, đảo và biên giới mà có thể dẫn đến một cuộc chiến tranh;
- quân đội nhiều nước châu Á đang tăng cường vũ trang mạnh;
- những kẻ thống trị không lường trước được ở Triều Tiên đang ngồi trên quả bom nguyên tử;
- thống trị ở Trung Quốc, đất nước mạnh nhất châu Á, là một đảng mà không biết được rằng liệu đảng này có khả năng giải quyết một cách hòa bình các xung đột xã hội đang tăng lên hay không;
- môi trường châu Á bị ô nhiễm nhiều đến mức có thể là hàng trăm nghìn người sẽ lên đường đi tìm nước sạch và không khí sạch mà trong lúc đó không hề quan tâm đến đường biên giới quốc gia;
- ngày càng có nhiều người chen chúc nhau quanh những nguồn nước ngày càng ít đi. Khi các con sông băng của Himalaja tan chảy, mạch sống của hàng triệu người có nguy cơ bị khô cạn.
(còn tiếp)
______________________
[1] Francis Fukuyama: “The End of History and the Last Man”, Free Press, New York, 1992
[2] Kishore Mahbubani: The New Asian Hemisphere”, Public Affairs, New York, 2008


-Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á --Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 2)

Andreas Lorenz
Ba Cơ dịch

Ngôi sao mới trên bầu trời

Con lắc đang dao động từ phương Tây về phương Đông mà không thể ngăn lại được. Sau khi khối Đông Âu tan rã đã xảy ra một sự việc khủng khiếp. Tổ chức khủng bố al-Qaida tấn công hai chiếc tháp của World Trade Center ở New York và Ngũ Giác Đài ở Washington vào ngày 11 tháng 9 năm 2001, gần 3000 người chết. Chính phủ Mỹ trả lời bằng những cuộc không kích Afghanistan và cuộc chiến tranh chống Saddam Hussein ở Iraq.
Kể từ lúc đấy, USA, kẻ chiến thắng trong cuộc chạy đua quân sự và ý thức hệ với Liên bang Xô viết, trong mắt của nhiều người ở châu Á và phần còn lại của thế giới, đã đánh mất chức năng gương mẫu như là đất nước của tự do và dân chủ. Trước đó, họ đã thường hành xử không được lịch sự cho lắm. Nhân danh tự do, họ đã tàn phá nhiều phần rộng lớn của Việt Nam hay cùng kích động một cuộc đảo chính ở Chile năm 1973 để lật đổ tổng thống cánh tả lúc đó là Salvador Allende.
Thật ra thì những lỗi lầm của quá khứ không cần phải được lập lại, nhưng sau 9/11 cường quốc thế giới giận quá mất khôn. Nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Colin Powell trình ra cho Hội đồng Bảo an LHQ những bằng chứng cho sự tồn tại của vũ khí hủy diệt hàng loạt trong Iraq – những cái sau này lộ ra là giả. Và mặc dù không có bằng chứng cho việc Iraq là căn cứ của al-Qaida, quân đội Mỹ vẫn tấn công đất nước này.
Washington sau đó đứng trên thế giới như là một kẻ nói dối, giải thích khác đi mục đích của hành động quân sự: nền dân chủ cần phải được thiết lập ở Iraq. Nhưng vì mục tiêu của họ, xuất khẩu những giá trị của “phương Tây”, mà người Mỹ lại triệt tiêu chính những giá trị đó: họ tra tấn tù nhân trong trại giam Abu Ghraib ở Bagdad và ở những nơi khác. Với vùng đất Guantánamo lọt giữa Cuba, họ đã tạo nên một nơi mà trong đó luật pháp không còn có giá trị gì nữa. CIA thiết lập, ngoài những nơi khác là ở Ba Lan, những nhà tù bí mật mà trong đó họ đã ép cung những người bị họ bắt cóc.
Tiếp theo thảm họa chính trị của một cường quốc là thảm họa về kinh tế: ngân hàng Mỹ với chính sách cho vay mang nhiều rủi ro và những sản phẩm đầu tư đáng ngờ đã gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính trên khắp thế giới. Nhiều công ty tài chính Mỹ như Lehman Brothers và hãng bảo hiểm AIG khánh kiệt, gã khổng lồ về ô tô General Motors tuyên bố phá sản. Gần mười hai nghìn tỉ USD đã tan biến vào trong không khí, theo ước tính của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF). Người đóng thuế khắp nơi trên thế giới đã phải vào cuộc để cứu các công ty tài chính đang suy yếu và ngăn chận không cho nền kinh tế thế giới suy sụp hoàn toàn.
Đồng thời, một ngôi sao mới đã mọc lên ở phương Đông: châu Á. Cuộc khủng hoảng đã không gây thiệt hại nhiều cho Trung Quốc, Ấn Độ và những quốc gia châu Á khác – còn ngược lại: sức mạnh kinh tế của họ cứ tăng lên và tăng lên. Năm 2008 và cuộc khủng hoảng tài chính dường như đã xác nhận tất cả các tiên đoán, rằng chẳng bao lâu nữa thế giới sẽ là một thế giới khác.
Thời gian vừa qua, người ta ngày càng nhận thức rằng USA sẽ không còn là cường quốc dẫn đầu đơn độc nữa. “Cuộc khủng hoảng kinh tế là một biểu tượng cho sự dịch chuyển của trung tâm trọng trường thế giới từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương”, cựu bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Henry Kissinger nói. Ông ấy thêm vào đó, nửa đùa cợt: Ấn Độ và Trung Quốc có thể giúp Mỹ đang suy yếu về kinh tế với một kế hoạch Marshall – như USA đã vực châu Âu bị tàn phá dậy sau Đệ nhị Thế chiến.[3]
Nhiều người châu Âu dần dần hiểu ra rằng châu lục cổ xưa của họ sẽ không còn đóng vai trò nào lớn lao trong tương lai nữa. Giấc mơ về “thế kỷ châu Âu” dường như đã kết thúc trước khi nó thật sự bắt đầu. Ngay từ bây giờ đã lan truyền những kịch bản, rằng đến một ngày nào đó châu Âu sẽ biến thành một viện bảo tàng to lớn – với những phong cảnh đẹp và những ngôi nhà thời Trung cổ. Châu Âu, như nhà chính trị học người Bulgaria Ivan Krastev nói, giống như “một thế lực đã về hưu” – thông thái, nhưng thụ động, thịnh vượng, nhưng nhân nhượng. EU tránh né rủi ro, là “một thế lực chẳng ở đây mà cũng không ở kia”, người Bulgaria nói. Phát triển nhân khẩu góp thêm phần của nó vào trong đấy: châu Âu ngày một già đi.[4]
Với những thành công về mặt kinh tế của mình, châu Á cũng phát triển lực thu hút về mặt chính trị. Ví dụ như sau cuộc Cách mạng Hoa lài ở Bắc Phi và Cận Đông năm 2011, người Ai Cập nhìn về Indonesia, nước cũng chịu nhiều ảnh hưởng của Islam và đã thành công trong việc dân chủ hóa sau khi lật đổ nhà độc tài Haji Mohamed Suharto. Viễn Đông có thể là gương mẫu cho Bắc Phi hay không?
Ở châu Âu và USA lại có những nhà chính trị và giám đốc nào đó liếc mắt ưa thích các hệ thống độc tài của những quốc gia châu Á như Trung Quốc hay Singapore. Ở đấy, họ nói, tất cả đều hoạt động tốt hơn và có hiệu quả hơn là trong châu Âu xưa cũ. Nước Cộng hòa Nhân dân có phải là mô hình có hiệu quả hơn không?
Trung Quốc – và Nga – có thể là mô hình đối trọng với những nền dân chủ tự do hay không, những nền dân chủ được nhiều chính phủ cảm nhận là quá gia trưởng? Giáo sư chính trị người Israel Azar Gat cho rằng chiến thắng của nền dân chủ trên thế giới hoàn toàn không phải là một việc chắc chắn: “Ngày nay, Trung Quốc tư bản phi dân chủ đưa ra không những một chính sách không can thiệp mà cả một chính sách của hỗ trợ quyền độc lập quốc gia, của những giá trị của một nhóm và của sự đa nguyên ý thức hệ trong hệ thống quốc tế. Điều đấy là một điều thu hút không những cho các chính phủ mà cả cho người dân nữa, vì nó là một sự lựa chọn khác với USA và sự thống trị của phương Tây, cũng như là một lực đối chọi lại với những thế lực toàn cầu hóa mù quáng, quét sạch đi tất cả.” “Chiến thắng cuối cùng của dân chủ”, Gat lo ngại, “hoàn toàn không phải là điều đã được định trước.”[5]
Đồng thời, đối với nhiều người trong châu Âu và châu Mỹ, Viễn Đông là một cái gì đó đáng sợ. Họ lo sợ những gã khổng lồ châu Á mới với một lực lượng lao động rẻ tiền dường như là vô tận, với những tập đoàn có va li đầy tiền mà họ dùng chúng để tài trợ cho tiêu dùng ở Mỹ. Họ lo sợ về việc làm của họ, về tính ổn định, về sự an toàn của họ.
Hiện giờ Trung Quốc đang cố gắng tự củng cố lấy chính mình với một sự tự tin mới. Trung Quốc tuyên bố muốn cải tổ hệ thống tài chính quốc tế, và ngày càng hay chơi lá bài quyền lực chính trị của mình. Như khách quốc gia được nhắc nhở trước, rằng đừng nên đề cập đến nhân quyền nếu như họ muốn tiếp tục có quan hệ tốt đẹp. Thông qua “Tổ chức Hợp tác Thượng hải” (SCO) ngay từ bây giờ Bắc Kinh đã phổ biến sự thông hiểu riêng của mình về đúng và sai trong số hàng triệu người ở Trung Á.
Nhà chính trị học người Anh Martin Jacques trong quyển sách “When China Rules the World” của ông ấy cho rằng sự vươn lên của Trung Quốc chỉ riêng vì độ lớn của nó thôi là đã không thể nào ngăn cản được. Lực hút của nó “trong tương lai sẽ tăng theo hàm mũ. Khối đồ sộ Trung Quốc sẽ bắt buộc phần còn lại của thế giới thích nghi với cách Trung Quốc để cho mọi việc diễn ra.”[6] Ví dụ như với thặng dư ngoại tệ của mình, đất nước này mua công trái nhà nước và qua đó lấp đầy những lỗ hổng trong ngân sách của các nước châu Âu. Chính phủ nào sẽ chống cự lại với Đảng Cộng sản khi sự sung túc hay thiếu hụt tài chính của họ phụ thuộc vào nó một phần lớn?
Thế giới được tạo ra sau Đệ nhị Thế chiến là thế giới của ngày hôm qua. Nhưng con người cần phải phản ứng trước “phương Đông Mới” như thế nào? Người ta cần phải đối xử với một gã khổng lồ như Trung Quốc ra sao? Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton trong một cuộc trao đổi với nguyên thủ tướng Úc Kevin Rudd đã tóm gọn điều đấy bằng một câu hỏi: “Anh nói không úp mở với ngân hàng của anh như thế nào?”[7] Bà muốn ám chỉ rằng Bắc Kinh là người mua tín phiếu và công trái Mỹ nhiều nhất – và qua đó mà tài trợ cho thâm hụt Mỹ. Và anh không nên chọc giận kẻ đang ngồi trên quỹ tiền của anh. Cộng đồng quốc tế sẽ ra sao khi Trung Quốc hay Ấn Độ quyết định các điều luật? Các chế độ chuyên quyền và giả dân chủ ở châu Á, trước hết là Trung Quốc, có thật sự là mô hình cho những quốc gia khác hay không?
Quyển sách này muốn góp phần mang nét thu hút của châu Á cũng như những mặt tối của nó lại gần hơn. Một phần lớn tập trung vào Trung Quốc, vì Trung Quốc là động cơ của sự thăng tiến châu Á.
Nó không xem xét đến những nước của Cận và Trung Đông như Israel hay Iran, cũng không xem xét đến các quốc gia ở Thái Bình Dương như Úc và New Zealand. Tôi tập trung vào một vài ví dụ và những phát triển mới ở Nam Á, Đông Nam Á và Đông Á.
Tôi đã sống trên châu lục đầy quyến rũ này từ lâu. Kinh nghiệm và trải nghiệm trong nhiều nước ở đấy được mang vào trong quyển sách này. Cộng thêm vào đó, sách, nhật báo, tạp chí và những nghiên cứu cũng là nguồn. Thêm nữa là các trao đổi với đồng nghiệp, chuyên gia và chính khách – và với người dân châu Á.
[1] Francis Fukuyama: “The End of History and the Last Man”, Free Press, New York, 1992
[2] Kishore Mahbubani: The New Asian Hemisphere”, Public Affairs, New York, 2008
[3] Trong truyền hình Ấn Độ NDTV, 19/11/2008 http://www.youtube.com/watch?v=YBW4BwikJOk
[4] Ivan Krastev: “A retired Power”, The American Interest, July-August 2010
[5] Azar Gat, David Deudney, G. John Ikenberg, Ronald Inglehart, Christian Welzel: “Which Way is History Marching? Debating the Authoritarian Revival”, Foreign Affairs, July-August 2009
[6] Martin Jackes: “When China Rules the World”, Allen Lane, Penguin Group, London 2009
[7] Wikileaks, 28/03/2009, tài liệu của Bộ Ngoại giao Mỹ, “Secretary of State:(u), Secretary Clinton, March 24, 2009

Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 3)


Andreas Lorenz
Ba Cơ dịch

Chương II: Về đạo Khổng và tham nhũng, dân chủ và trịch thượng

Bí quyết thành công của châu Á

Quảng trường Thiên An Môn có một sức thu hút đặc biệt đối với tôi – cũng như đối với hàng triệu khách du lịch Trung Quốc mà cái diện tích rộng lớn đó trong trung tâm của Bắc Kinh đã thuộc vào trong chương trình nhất định phải tham quan: nó là trái tim tượng trưng của Trung Quốc. Thế nhưng đạn đã bay rít trên đầu tôi ở đấy vào chiều tối ngày 3 tháng 6 năm 1989. Cùng với hàng chục người biểu tình, tôi tìm nơi ẩn nấp ở phía sau của một trong số những con sư tử đá trước lực lượng quân đội đang bắn gục phong trào dân chủ của Trung Quốc. Một hàng giậu cháy bừng bừng ngay bên cạnh chúng tôi. Tài xế xích lô chở những người bị thương đang la hét vào các bệnh viện ở gần đấy.
Tôi còn nhớ là vào cuối những năm 80, Đảng đã đặt một bức ảnh của người thành lập nền cộng hòa, Tôn Dật Tiên, trên quảng trường vào những ngày lễ, bên cạnh ảnh của Mao Trạch Đông, Karl Marx, Friedrich Engels – và còn cả của Josef Stalin nữa. Ngày nay, Tôn Dật Tiên vẫn còn xuất hiện. Mao Trạch Đông vẫn còn được tiếp tục treo trên cổng vào Cấm Thành. Các ngài khác hiện đã ở lại trong hầm. Năm 2011 một nhân vật quan trọng nữa được thêm vào: Trước Viện bảo tàng Quốc gia là tượng của triết gia Trung Quốc Khổng Tử, người đã sống từ 551 đến 479 TCN.
Tháng 4 năm 2011, công nhân mang nó vào trong sân của Viện bảo tàng, nơi nó không còn đập ngay vào mắt nữa. Thế nào đi nữa: Khổng Tử vẫn còn ở gần Mao. Nhưng không phải là chính người này đã khởi động một chiến dịch “phê bình Khổng Tử” trong những năm 70 và đã lên án ông ấy như là một nhà tư tưởng phong kiến để xua đuổi vĩnh viễn các tác phẩm của ông ấy ra khỏi đầu của người dân hay sao? Những việc này làm sao mà hợp với nhau được?
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã lôi Khổng Tử ra khỏi sự chìm đắm, như hình ảnh tượng trưng cho một triết học nhà nước của quốc gia mà họ dựa vào đấy để củng cố cho tính hợp pháp của sự thống trị của họ. Nhà nước là hài hòa và ổn định, Khổng Tử nói, khi giới tinh hoa của nó ứng xử hợp với luân thường đạo lý và có đạo đức, là gương mẫu và chú ý đến những nguyên tắc ứng xử nhất định. “Phẩm hạnh của người cai trị là phẩm hạnh của ngọn gió, phẩm hạnh của người dân là phẩm hạnh của ngọn cỏ, khi gió thổi thì ngọn cỏ uốn cong mình”, Khổng Tử cho là như vậy.
Ngày nay, khi các nhà cai trị ở Bắc Kinh giải thích thành công của Trung Quốc, họ dẫn ra chính sự pha trộn đặc biệt này từ đạo Khổng, Marx, thị trường và Mao. Lần vươn lên của đất nước, họ lý luận như vậy, không chỉ dựa trên thành công về kinh tế mà còn trên một thực tế cộng đồng được họ gọi là “Chủ nghĩa Xã hội mang đặc sắc Trung Quốc”.
Trong những cuộc trao đổi của tôi với các quan chức và người dân bình thường của Trung Quốc về hệ thống chính trị của đất nước họ, hầu như lúc nào rồi cũng đi đến một điểm mà họ thở dài: “Ôi, Trung Quốc rộng lớn lắm.” Rồi tiếp theo sau đó thường là một liệt kê của tất cả các vấn đề làm cho Trung Quốc khác với những nước khác: có quá nhiều người sống trong một không gian chật chội, nhiều người trong số đó ít học. Vì thế mà điều quan trọng là mang lại cho tất cả mọi người một mái nhà che mưa nắng và bát cơm hàng ngày, hơn là cho phép có một hệ thống dân chủ. Những cải tổ dân chủ, họ đều nói giống nhau, là nguy hiểm: chúng có thể gây ra hỗn loạn, một làn sóng khổng lồ của những người tị nạn có thể rồi sẽ tràn qua các quốc gia láng giềng và gây nguy hại đến thịnh vượng.
Kết luận: chiếc chìa khóa dẫn đến thịnh vượng và sự thăng tiến hòa bình của Trung Quốc, đến hài hòa và ổn định, vì thế không phải là tam quyền phân lập, tự do báo chí hay một nền tư pháp độc lập, mà là sự thống trị của ĐCS.
Sự thăng tiến về kinh tế của Trung Quốc bắt đầu từ cuối những năm 70, khi ĐCS từ giã mô hình của những hợp tác xã nhân dân, kinh tế kế hoạch tuyệt đối, của cuộc đấu tranh giai cấp liên tục và, chậm chạp nhưng liên tục, lại cho phép có kinh doanh tư nhân. Qua đó, hàng triệu người nông dân đã có thể dùng chính bàn tay của mình để tự giải phóng họ ra khỏi sự nghèo khổ, các nhà máy quốc doanh đã từng hư nát được tư nhân hóa một phần và bắt đầu hoạt động có lãi. Trong những năm 80 và 90, nhiều tỉnh đã thành lập những vùng kinh tế đặc biệt mà trong đó doanh nghiệp nước ngoài được phép sản xuất hàng hóa của họ một cách rẻ tiền và được hưởng ưu đãi về thuế, không có sự kiểm tra của công đoàn và thường là với đối tác Trung Quốc. Chỉ riêng trong năm 2010, doanh nghiệp nước ngoài đã đầu tư tròn 106 tỉ dollar, nhiều hơn năm trước đó 17%.[1]
Uốn mình như ngọn tre trước gió không chỉ là nhân dân mà cả ĐCS nữa. Đảng đã quẳng đi những phần quan trọng trong ý thức hệ của họ và chẳng bao lâu sau đó xuất hiện một cách hoàn toàn khác với những gì mà người Âu và người Mỹ đã quen thuộc từ giới cán bộ ù lì của khối Đông Âu cũ: cởi mở với thế giới và hiện đại, trong bộ com lê Armani hay bộ quần áo Chanel. Thế hệ mới của giới quan chức ĐCS đã học tại những trường đại học danh tiếng của Mỹ, Anh hay Đức và đi họp đảng bằng xe Audi hay Mercedes. Chủ nghĩa Cộng sản, những người lãnh đạo của họ nói, không phải đã bị bỏ đi. Đến một lúc nào đó nó sẽ được thực hiện, chỉ là không phải bây giờ.
Tuy vậy, ở phía sau sắc mạo của sự cởi mở với thế giới, các nguyên tắc Lê nin xưa cũ vẫn còn có hiệu lực: không được phép tiết lộ chuyện nội bộ của Đảng ra ngoài và ĐCS kiểm soát nhân lực của Công ty cổ phần Trung Quốc.
Câu chuyện thành công của Trung Quốc làm cho thế giới bối rối. Nó đặt dấu hỏi lên niềm tin của người Mỹ và người Âu, những người kết nối tiến bộ kinh tế với những hình thức chính phủ dân chủ. Cuộc khủng hoảng kinh tế năm 2008 để cho lời biện bạch dựa trên “văn hóa Khổng Tử” của những chính phủ độc tài có khả năng tiếp tục được phô diễn. Lực thu hút của một hệ thống mà trong đó giới tinh hoa dựa trên đạo đức truyền thống để lo lắng cho người dân giống như một người cha nghiêm khắc dường như không hề bị gián đoạn. Nước Mỹ thì ngược lại, đất nước đang vất vả với những cải cách, ví dụ như cải cách hệ thống y tế, và sống bằng vay mượn, đã đánh mất chức năng dẫn đầu của mình.

Cuộc đấu tranh của các tư tưởng

Chậm nhất là kể từ cuộc khủng hoảng tài chính 2008, chính khách và khoa học gia bắt đầu thảo luận về cái được gọi là Đồng thuận Bắc Kinh và Đồng thuận Washington. Trung Quốc đã phát triển một hệ thống có thể “thịnh vượng mà không cần đến những giá trị và chuẩn mực của Chủ nghĩa Tự do phương Tây”, như giáo sư người Mỹ Stefan Halper đã nói, người hết sức quan tâm đến cuộc tranh luận này. “Đồng thuận Bắc Kinh” đã gây ra một cuộc cạnh tranh ý thức hệ trên toàn thế giới. “Sức thu hút đang tăng lên của mô hình chính phủ Trung Quốc làm giảm đi sức thu hút đấy của phương Tây”, Halper suy luận, nó khiến cho “ý tưởng của chúng ta về xã hội và chính phủ kém quan trọng đi”.[2] Halper nhìn thấy một “cuộc đấu tranh của các tư tưởng” trên toàn thế giới, cái cũng hiện diện trong chính sách ngoại giao. Tức là: Trung Quốc quan hệ theo một chính sách thuần túy vì lợi ích và giao dịch với những nước khác mà không cần có điều kiện tiên quyết.
Cái được gọi là Đồng thuận Washington đứng ngược lại. Nó phản ánh ngoài những nơi khác là qua chính sách của những tổ chức do USA và châu Âu chiếm ưu thế như Ngân hàng thế giới và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), những tổ chức liên kết các chương trình giúp đỡ và tài trợ của họ với những điều kiện chính trị nhất định. Ngân hàng thế giới yêu cầu các chính phủ hỏi vay phải minh bạch, đấu thầu công khai và quản lý tiền bạc một cách hợp lý. Trong những chương trình cứu trợ, IMF lại yêu cầu phải tiết kiệm nhiều hơn, cải tổ hệ thống thuế và chi nhiều tiền hơn nữa cho đào tạo và y tế.
Thuộc bài bản của các quốc gia phương Tây trong những năm vừa qua đặc biệt là trừng phạt các chính phủ độc tài, như ở Triều Tiên, Zimbabwe hay Myanmar. Tuy vậy, họ lại đặt ra hai thước đo: tại các quốc gia quan trọng về mặt chiến lược như Ả Rập Saudi, Ai Cập, Jordan hay Pakistan, người Mỹ cũng như người Âu đều nhắm mắt trước những vi phạm nhân quyền rõ rệt và trước một giới lãnh đạo vô cùng phi dân chủ. Vì thế mà đúng là họ phải gánh chịu lời lên án về một đạo đức nước đôi. Các thước đo được đặt xuống một cách hoàn toàn khác nhau này được quan sát chăm chú ở châu Á và nhiều lần đã được đánh giá như là bằng chứng cho việc rằng các yêu cầu phải coi trọng nhân quyền và lời kêu gọi tôn trọng các giá trị chung chỉ là một vũ khí trong cuộc tranh giành thị trường và quyền thống trị.
“Các anh đến đây trên những con ngựa cao của các anh như những người hiệp sĩ da trắng, phi ngựa, phi ngựa, và tin là phải giải phóng các dân tộc nghèo khổ ra khỏi những người lãnh đạo xấu xa của họ. Thật ra thì dưới lớp vỏ bọc dân chủ và nhân quyền, các anh chỉ theo đuổi những lợi ích ích kỷ của các anh mà thôi. Chúng tôi nhìn thấu được đạo đức nước đôi của các anh”, người trước đây là Permanent Secretary của Bộ Ngoại giao Singapore, Kishore Mahbubani, khiển trách.[3]
Niềm mong muốn được tôn trọng và công nhận nhiều hơn, không có những lời giảng dạy về ưu thế của hệ thống riêng của mình, phổ biến rộng khắp ở châu Á. Người dân của nó phản ứng rất nhạy trước sự kiêu ngạo và thái độ thầy giáo của phương Tây. Một nhà môi giới đầu tư người Trung Quốc, học trung học ở Anh Quốc, đại học ở USA, mô tả cảm tính đấy qua một ví dụ: ông ấy tường thuật về số phận của mẹ ông, sinh ra ở Malaysia, được một chiếc tàu của Mỹ cứu thoát khi thuyền của bà chìm, nhưng vì là người châu Á – khác với những người Âu và Mỹ cùng cảnh ngộ – nên những người cứu bà đã không cho phép bà xuống dưới boong tàu vào trong phòng. Điều đấy, ông ấy nói, không bao giờ được phép tái diễn với người châu Á nữa.[4]

Trung Quốc chinh phục châu Phi và giới tỷ phú

Trong những năm vừa qua, sức mạnh kinh tế mới đã mang lại cho Trung Quốc nhiều sự tôn trọng và thanh thế hơn: trước hết là ở châu Phi và châu Mỹ La tinh, Trung Quốc đã thành công trong việc gắn kết những mối quan hệ chặt chẽ. Công ty nhà nước và ngân hàng Trung Quốc chào mời những điều kiện kinh doanh tốt mà không cần đáp trả đáng kể. Thuộc vào trong số đó là xóa nợ, cho vay thuận lợi, thời hạn dài. Ngân hàng Xuất Nhập khẩu thuộc nhà nước Trung Quốc hứa hẹn cho người Phi vay trong năm 2007 tổng cộng là 20 tỉ dollar cho ba năm – bằng tất cả những người cho vay khác cộng lại. Năm 2009 và 2010, Bắc Kinh cho các nước đang phát triển vay ít nhất là 110 tỉ dollar – và qua đó đã bắt kịp Ngân hàng Thế giới.[5]
Không một ai mô tả sự phát triển này sinh động hơn tổng thống Senegal, Abdoulaye Wade. “Châu lục của chúng tôi đang cần kíp phải xây hạ tầng cơ sở, bảo đảm năng lượng giá rẻ và đào tạo con người của chúng tôi. Trong nhiều quốc gia châu Phi, giới lãnh đạo đang cố gắng củng cố tăng trưởng kinh tế vững chắc theo một phương cách bền vững … Phương cách Trung Quốc tiếp cận với các nhu cầu của chúng tôi đơn giản là phù hợp tốt hơn phương pháp chậm chạp và đôi khi mang tính khinh rẻ hậu thực dân của các nhà đầu tư, tổ chức cho vay và tổ chức phi chính phủ châu Âu. Mô hình Trung Quốc, thúc đẩy một phát triển kinh tế nhanh chóng, dạy cho châu Phi rất nhiều điều.”
Wade tiếp tục công kích: “Tôi đã nhận ra rằng một hiệp định, cái mà với Ngân hàng Thế giới phải cần đến năm năm cho thảo luận, thương lượng và chữ ký, thì chỉ cần có ba tháng khi chúng tôi làm việc với các cơ quan Trung Quốc. Tôi tin tưởng vững chắc vào những hình thức chính phủ tốt và sự thống trị của luật pháp. Nhưng khi quan liêu và tệ nạn giấy tờ vô lý giới hạn khả năng hành động của chúng tôi – và khi cái nghèo vẫn tiếp tục tồn tại, trong khi các quan chức quốc tế cứ tiếp tục đạp phanh –, thì các nhà lãnh đạo châu Phi có trách nhiệm phải quyết định chọn những giải pháp đơn giản hơn.”
Wade ca ngợi một cuộc gặp gỡ với người đứng đầu nhà nước và Đảng Trung Quốc Hồ Cẩm Đào ở Đức năm 2007: “Tại lần trao đổi kéo dài một giờ đồng hồ của tôi với chủ tịch Hồ Cẩm Đào trong một phòng làm việc ở khách sạn của tôi trong Berlin vào lúc … Hội nghị thượng đỉnh G-8 ở Heiligendamm, tôi đã đạt được nhiều điều hơn là trong toàn bộ lần gặp gỡ có tổ chức của những người lãnh đạo thế giới trong Hội nghị thượng đỉnh …”
Và ngoài ra thì người châu Á cũng “linh động hơn” – và rẻ tiền hơn. Với giá tiền của một chiếc ô tô châu Âu, người ta có thể có được hai chiếc ô tô Trung Quốc. “Giá cả và chất lượng của hàng hóa từ châu Á không để cho các chính phủ châu Phi có sự lựa chọn nào khác hơn là mua các sản phẩm Trung Quốc, Ấn Độ và Malasia”, theo Wade.[6]
Ủng hộ cho mô hình Trung Quốc là sự thất bại của thế giới phương Tây ở châu Phi: mặc dù hàng tỉ dollar và euro đã chảy vào lục địa châu Phi trong những năm qua, tình hình ở đấy không được cải thiện nhiều cho lắm. “Chính sách phát triển của chúng ta thế nào đi chăng nữa thì cũng không dẫn đến việc những con hổ tự lập thành hình ở đấy như ở Đông Nam Á.” Rupert Neudeck nói, người thành lập huyền thoại của tổ chức cứu trợ Cap Anamur. “Người Trung Quốc làm đúng cái mà chúng ta đã không thành công trong 50 năm qua: họ góp phần làm tăng sức mạnh kinh tế của châu lục. Và điều đó bằng cách là họ chỉ kinh doanh đơn thuần mà thôi.”[7]
Không chỉ chính khách châu Phi có ấn tượng về người Trung Quốc. Tỷ phú Mỹ George Soros, người với tài sản của mình đã đầu cơ đẩy cả nhiều nước đến bờ vực của sự phá sản và bây giờ trợ giúp cho nền dân chủ ở khắp nơi trên thế giới như người làm việc thiện, còn đi đến mức tuyên bố rằng Trung Quốc không những có “một nền kinh tế sống động hơn mà còn có cả một hệ thống chính trị hoạt động tốt hơn là Hoa Kỳ”. Vì thế mà có “một sự chuyển đổi nhanh chóng lạ thường về quyền lực và ảnh hưởng từ USA sang Trung Quốc”.[8]
Thành công của Trung Quốc có thể quyến rũ tới mức nào, điều đấy bộc lộ qua việc ngay đến cả những người của Đảng Dân chủ cũng bất chợt long lanh mắt khi họ nói về Trung Quốc của ngày hôm nay. Nhà báo nổi tiếng của Mỹ Thomas L. Friedman, nổi nóng về những cuộc tranh cãi kéo dài về cải cách y tế và biến đổi khí hậu trong Quốc hội Mỹ, đã đi đến kết luận: “Chỉ có một việc tệ hại hơn chuyên quyền độc đảng, và đó là dân chủ độc đảng, cái mà chúng ta đang có ở Mỹ”. Một chế độ chuyên quyền độc đảng chắc chắn là có những nhược điểm của nó, ông ấy thừa nhận. “Nhưng khi nó được lãnh đạo bởi một nhóm người minh mẫn thích đáng, như ngày nay ở Trung Quốc, thì nó cũng có thể có những ưu thế lớn.”[9]
Liệu giới lãnh đạo Trung Quốc có thật sự “thích đáng” và “minh mẫn” hay không, như Friedman nói, thì còn phải làm cho rõ. Chỉ chắc chắn là, ngay cả người Nga, những người đã thất bại một cách hoành tráng với mô hình cộng sản của họ, cũng bất thình lình tìm thấy điều tốt ở những người nguyên là địch thủ ý thức hệ của họ. Mặc dù họ đã du nhập chủ nghĩa tư bản, họ còn xa mới thành công được như người Trung Quốc. Năm 2009, trong khi nền kinh tế Trung Quốc leo cao thêm 9,2 phần trăm thì nền kinh tế của nước Nga đã sụt mất 7,9 phần trăm. Một chỉ thị khác cho tình trạng bất ổn của Nga là việc người dân ở Trung Quốc ngày càng thọ hơn, người Nga thì ngược lại càng chết sớm hơn. Đàn ông Nga chỉ có tuổi thọ trung bình là tròn 60. Các nhà y học người Nga và người Anh cho rằng nguyên nhân đặc biệt là do uống quá nhiều rượu.
Vì thế mà Thủ tướng Nga Vladimir Putin và những người bạn của ông ấy nhìn sang láng giềng. “Chúng tôi quan tâm đến kinh nghiệm của cấu trúc đảng và chính phủ ở Trung Quốc”, Vladimir Matkhanov, nghị sĩ của Duma Nga, giải thích tại một hội nghị chuyên gia Nga và Trung Quốc vào đầu tháng 10 năm 2009 ở Suifenhe gần biên giới Nga.[10]
Đến những người đại diện cho doanh nghiệp Đức cũng ca ngợi nước Trung Quốc do ĐCS cầm quyền. “Tôi thán phục ví dụ như các tầm nhìn dài hạn trong chính sách của Trung Quốc, chúng ta cũng có thể học được cái gì đấy từ điều này”, sếp Siemens Peter Löscher nói, người đồng thời cũng là người đứng đầu của Ủy ban châu Á-Thái Bình Dương của doanh nghiệp Đức.[11]
Löscher còn bị đồng nghiệp của ông trong cùng ủy ban đấy, doanh nhân Jürgen Heraeus, qua mặt: “Tôi tin rằng một nền dân chủ ở Trung Quốc sẽ thất bại trong ngày hôm nay. Chúng ta đã nhìn thấy ngay trong nước Đức, rằng vì con số đảng phái đang tăng lên
mà chính phủ chúng ta đã dần dần không còn có thể hoạt động được nữa trong một vài tiểu bang và ở liên bang thì cũng đã thế về cơ bản rồi. Chúng ta nhìn thấy Ấn Độ với nền dân chủ của nó còn xa mới thành công được như người Trung Quốc, mang người dân ra khỏi sự nghèo khổ trong quy mô rộng lớn và tiếp tục phát triển.”[12]
[1] China aily, 18/01/2011
[2] Stefan Halper: “The Bejing Consensus”, Basic Books, New York, 2010
[3] “Schluss mit den Belehrungen” ["Hãy chấm dứt những lời giảng dạy"], Der Spiegel, 21/2008
[4] Andreas Lorenz, Jutta Lietsch: “Das andere China” ["Trung Quốc kia"], nhà xuất bản wjs, Berlin, 2007
[5] Reuters, 18.01.2011
[6] Abdoulaye Wade: Time for the west to practise what it preaches”, Financial Times, 23/01/2008
[7] “China macht es in Africa besser als wir” ["Trung Quốc làm ở châu Phi tốt hơn là chúng ta"], Stuttgarter Zeitung, 05/08/2009
[8] Moneynews, “Soros, Murdoch praise China”, 17/11/2010
[9] Thomas L. Friedman: “Our One-Party Democracy”, New York Times, 09/09/2009
[10] “In Chinese Communist Party, Russia’a Rulers See a Role Model for Governing”, New York Times, 18/10/2009
[11] Dpa, trích dẫn theo bild.de, 11/12/2010
[12] CIHD-Magazin Chinesischer Industrie- & Handelsverband e.V. in Deutschland, [tạp chí CIHD của Liên hiệp Công nghiệp và Thương mại Trung Quốc ở Đức], số ra ngày 5 tháng 8 năm 2008


-Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 4)

Ý tưởng của một nhà nước mạnh

Điều đấy không phải là mới. Ý tưởng về một con đường đặc biệt của châu Á đã phổ biến ở Viễn Đông trước khi Trung Quốc bước lên sân khấu thế giới như là một cường quốc kinh tế. Khi cái được gọi là “những con hổ châu Á” – Singapore, Hongkong, Đài Loan và Hàn Quốc – đạt đến những tỷ lệ tăng trưởng cao, các chính trị gia đã đưa ra lời giải thích riêng của họ.
Đặc biệt là nguyên thủ tướng Malasia Mahathir Mohamad và đồng nhiệm của ông từ Singarpore, Lý Quang Diệu, đã giải thích thành công của đất nước của họ với “những giá trị Á châu”. Các chính trị gia thản nhiên đáp trả những người phê bình chỉ trích về đàn áp chính trị và những điều kiện làm việc khắt nghiệt trong các nhà máy và vùng kinh tế đặc biệt của họ, những nơi sản xuất rẻ tiền để xuất khẩu sang châu Âu và châu Mỹ và đã trở thành gương mẫu cho nhà cải cách kinh tế Trung Quốc Đặng Tiểu Bình: làm việc cực nhọc và kỷ luật quan trọng hơn là có phần và thảo luận.
Mahathir, một bác sĩ đã qua đại học, tiếp đồng nghiệp tôi, Erich Follath, và tôi vào một buổi sáng trời mưa trong tháng 10 năm 1997, ngay giữa cuộc khùng hoảng tài chính châu Á. Ông ấy ngồi trong một gian phòng tối tăm ở sau một bàn làm việc to trong áo đồng phục của viên chức Malasia, một cái bảng tên màu đen trước ngực: Mahathir.
Ông có một vài cái máy tính xách tay kiểu mới nhất xung quanh mình. Ông ấy nói với một giọng nói nhẹ nhàng: “Các phương án phương Tây về dân chủ mà trong đó cá nhân chiếm ưu thế đang đe dọa thống lĩnh Malasia.” Và: “Phương Tây ép buộc chúng tôi theo những ý tưởng của nó. Ở chỗ các ông thì gia đình không còn có nghĩa là vợ và chồng và con cái của họ nữa. Đồng tính luyến ái được phép kết hôn, diễu hành trên đường phố. Người ta chạy truồng đó đây. Chúng tôi không muốn điều đó. Trước sau gì thì chúng tôi cũng tin vào gia đình, vào sức mạnh của nguồn gốc văn hóa chúng tôi.”[1]
Sau thời gian đảm nhiệm chức vụ, Lý Quang Diệu đã tạo cho mình một chức vụ có một không hai, lúc đầu là Senior Minister, rồi sau đó là Minister Mentor, người ta cũng có thể gọi là Giáo chủ Tóc bạc. Cũng như Mahathir, ông không phải là một nhà dân chủ. Trong những hồi ký của mình, ông say sưa với việc Tòa thánh Vatican bổ nhiệm các Hồng y của mình như thế nào. Và ông đã tổ chức People’s Action Party của mình theo gương mẫu đó.[2]
Ông làm việc trong một gian phòng khiêm nhường ở góc của một dinh thự chính phủ từ thời thuộc địa, được canh gác bởi những người lính Gurkha trong áo đồng phục màu xanh và nón có vành rộng màu xám, ngay giữa một công viên lớn ở Singapore. Tôi đã gặp ông ấy ở đó hai lần. Là Senior Minister, ông tiếp khách trong một chiếc áo len đan và thích giảng giải về mục tiêu lý tưởng của ông ấy cho một chính phủ châu Á: “Đối với một người Mỹ, có thể đó là được sự tự do không giới hạn để phát triển bản thân mình. Đối với tôi là một người châu Á, người dẫn một đất nước ra khỏi nghèo khổ, thì điều đấy có nghĩa là: tạo cho người dân có một căn hộ thoải mái, lo về một nền y tế tốt và công việc làm, cũng như lo cho con cái của họ được đào tạo và có một tương lai đàng hoàng.”[3]
Tất cả những phân tích này đều có một hạn chế nặng ký: chúng được đưa ra bởi những chính khách lãnh đạo thần dân của họ với một bàn tay cứng rắn. Các “giá trị châu Á” phục vụ họ như một lời biện bạch cho những cách xử sự độc tài. Cả hai người, Lý ở Singapore và Mahathir ở Malasia, đều tống khứ những người chỉ trích họ đi bằng cách để cho những người này – theo một “Luật Nội an” được giữ lại từ thời thực dân Anh – biến mất ở phía sau song sắt mà không cần đến phán xét của tòa án. Mahathir loại trừ Phó Thủ tướng và Bộ trưởng Bộ Tài chính của ông ấy, Anwar Ibrahim, người dấn đến quyền lực, bằng cách ném người cha của sáu đứa con ấy vào tù với lời buộc tội lạm quyền và đồng tính luyến ái.
Lý người Singapore và đồng nghiệp của ông đã hại các địch thủ chính trị như luật sư và chính trị gia đối lập Joshua Benjamin Jeyaretnam với những lời buộc tội làm hại đến thanh danh và yêu cầu bồi thường khổng lồ. Một nhóm tinh hoa nhỏ điều khiển quốc đảo Singapore, lãnh đạo chính phủ hiện giờ là một người con trai của Lý, Hiển Long. Vợ của ông ấy một thời gian dài đã lãnh đạo công ty đầu tư nhà nước Temasek với hơn 100 tỉ euro.
Thế nhưng cuộc khủng hoảng tài chính thứ nhất đã ập đến vào năm 1997. Nó bắt đầu ở Thái Lan, nơi chính phủ phải bất lực đứng nhìn những kẻ đầu cơ tống khứ đi hàng triệu baht, sau khi họ đã đánh cược chống lại tiền tệ của Thái Lan. Các nhà đầu tư ngoại quốc rút bạc tỉ ra khỏi nước này. Ngân hàng Trung ương Thái Lan thả nổi tự do tỷ giá hối đoái, cái cho tới lúc đó được gắn vào dollar, đồng baht rơi xuống đến tận đáy.
Malaysia, Singapore, Indonesia, Hàn Quốc bị rơi vào dòng xoáy. Ở Bangkok, tôi đã tận mắt nhìn thấy các nhân viên ngân hàng từng giàu sụ đã tắt đèn và máy điều hòa nhiệt độ và kéo cửa chớp ngân hàng của họ xuống vĩnh viễn như thế nào. Trong thủ đô Thái Lan, cần cẩu đứng yên, doanh nhân còn bán cả trang sức của họ, chiếc Porsche của họ và rượu vang Pháp đắt tiền của họ trên cái được gọi là “Chợ trời của những người giàu trước kia”. Ở Seol, người dân hiến kim cương để giúp nhà nước thoát khỏi khó khăn, ở Indonesia hàng triệu người bất thình lình không biết được là mình lấy bữa ăn kế tiếp ở đâu ra. Hàng nghìn trẻ em bỏ học vì các em phải đi tìm cái gì đấy để ăn.
IMF ban hành những chương trình tiết kiệm nghiêm ngặt. Trong lúc đó có một cảnh gây ấn tượng mà nhiều người châu Á cho tới ngày nay vẫn còn cảm nhận như là một sỉ nhục nặng nề: Sau một thời gian dài chống lại, Tổng thống Suharto ký kết hợp đồng vay tiền với IMF. Đứng bên cạnh ông, khoanh tay bình thản và hài lòng nhìn xuống, là sếp IMF thời đấy Michel Camdessus. Chẳng bao lâu sau đấy, Suharto bị lật đổ.
Cùng với cuộc khủng hoảng, bài hát ca ngợi các giá trị “châu Á” cũng câm lặng đi. “Cũng như tiền tệ, chúng đã bị giảm giá”, nhà khoa học người Singapore Simon Tay phán xét.[4]
Nhưng cho tới ngày hôm nay, chính trị gia và khoa học gia vẫn giải thích cách thức hoạt động quốc gia của họ với ảnh hưởng to lớn của những đặc tính châu Á. Han Sung Joo, trước đây là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Hàn Quốc, người đã nghiên cứu tỉ mỉ về các nền tảng của sự thành công, tin rằng những đặc tính như vậy trước sau vẫn ăn sâu không chỉ ở Trung Quốc, Malasia hay Singapore, mà cũng cả trong nhiều quốc gia châu Á khác. Han hiểu điều đấy như “một nhà nước gia trưởng, một chính phủ điều khiển, doanh nghiệp tư nhân” cũng như sự nhấn mạnh đến “trật tự xã hội, hài hòa và kỷ luật” – ngược với “minh bạch, có thể đoán trước được, khả năng cạnh tranh toàn cầu và trọng lượng của sáng kiến tư nhân”, những cái nói chung là được mang vào trong mối quan hệ với những giá trị phương Tây.
Chúng ta hãy nhìn Nhật Bản: đất nước này là một xã hội châu Á mà trong đó tìm kiếm một đồng thuận có ảnh hưởng đến cách cư xử mạnh hơn là đương đầu công khai và phê bình. Sau thảm họa thiên nhiên và nguyên tử 2011, theo cách nhìn của giới tinh hoa Nhật, thủ tướng Naoto Kan đã bước ra khỏi vai trò của mình khi ông lớn tiếng phê bình các giám đốc bất lực của tập đoàn năng lượng Tepco vì họ đã không kiểm soát được các lò phản ứng của họ ở nhà máy điện nguyên tử Fukushima.[5]
Thành công kinh tế trước đây của Nhật Bản, Han nói, nằm trong hoài bão của giới tinh hoa nước này, muốn trở thành một đất nước giàu có và hùng mạnh về quân sự.
Ở Hàn Quốc, các ý tưởng truyền thống và đạo Khổng hợp thành một hệ thống giá trị, cái đặt trọng tâm lên đào tạo, kỷ luật lao động, định hướng đến kết quả và vai trò dẫn đầu của chính phủ. Thêm vào đó, vì xung đột với Triều Tiên, là một “văn hóa quân đội”, và sự pha trộn này đã dẫn đến một “sự lệ thuộc quá mức vào quan hệ cá nhân, đến một hệ thống của những doanh nghiệp gia đình, đến câu kết giữa chính phủ và kinh doanh, thiếu minh bạch … và quan liêu đầy dẫy”.
Sự vươn lên của châu Á có thật sự là nhờ vào một mô hình đặc biệt hay không, một mô hình mà cần phải tìm chiếc chìa khóa cho sự thành công của nó ở xa những cái được gọi là giá trị của phương Tây?

Những nền dân chủ không có nhà dân chủ

Các nhà tư tưởng hiện đại của châu Á như Han hoài nghi việc đấy. Vì các giá trị “châu Á” mang một hạn chế to lớn cùng với nó: chúng đặt quan hệ cá nhân, chính phủ gia trưởng và khiển trách đạo đức lên trên minh bạch, trách nhiệm đối với công cộng, sáng kiến cá nhân và quy định theo luật pháp và tạo nhiều chỗ hơn nữa cho kinh tế móc ngoặc, quan liêu và tham nhũng – theo Han “một hiện tượng phổ biến trong tất cả các nước châu Á ngoại trừ một ít trường hợp ngoại lệ”.
Thêm vào đó, những truyền thống như thế hoàn toàn không bắt buộc phải đứng cản đường dân chủ. “Trong những thập niên vừa qua chúng ta đã nhìn thấy nhiều nước châu Á đã biến đổi trở thành những nền dân chủ chính trị, bao gồm Nhật Bản, Indonesia, Hàn Quốc, Đài Loan và Philippines. Ấn Độ đã là một nền dân chủ kể từ khi độc lập sau Đệ nhị thế chiến. Tất cả đều có những lần bầu cử có ý nghĩa và quy củ, tạo nên các chính phủ được bầu. Họ hưởng quyền tự do hội họp, tự do ngôn luận và các tổ chức chính trị … Những nước khác như Thái Lan, Mông Cổ và Malaysia đang kiên định bước đi theo hướng dân chủ tuy thỉnh thoảng còn bị giật lùi.”[6]
Ở đây thì Han rất lạc quan. Vì phần lớn các quốc gia châu Á cho tới nay là “những nền dân chủ không có nhà dân chủ”, theo như nhà chính trị học người Indonesia Fadjroel Rachman, thường bị thống trị bởi những gia đình giàu có, chính trị gia tham nhũng và giới quân đội, trong trường hợp tồi tệ nhất là bởi cả ba nhóm.
Hàng năm tổ chức New York Freedom House đo tình trạng tự do chính trị, kết quả cho châu Á năm 2010 không được tốt. Trong số 29 nước được khảo sát ở châu Á và Thái Bình Dương có 16 nước “tự do”, 15 “tự do một phần” và 8 “không tự do”.[7]
Triều Tiên là một trường hợp như thế – một hệ thống độc tài đóng kín. Láng giềng Trung Quốc to lớn của nó ngược lại không thỏa mãn các tiêu chuẩn thông thường của một chế độ độc tài như chúng ta đã biết từ Liên bang Xô Viết hay Romania. Bắc Kinh cho phép phần lớn công dân có những quyền tự do cá nhân và kinh tế, như tự do làm giàu, tự do ra nước ngoài, tự do lựa chọn nghề nghiệp. Và tuy vậy, ĐCS kiểm tra chặt chẽ báo chí và tư pháp.
Nếu như người ta đưa bầu cử quốc hội ra làm thước đo duy nhất cho một nền dân chủ, thì ngay cả Myanmar, Campuchia hay Singapore cũng dân chủ. Sự thật là những nước này ngược lại: cả ba quốc gia bị thống trị bởi hoặc một phe cánh quân đội, chính khách độc tài hay một nhóm tinh hoa nhỏ, những người tuy để cho bầu cử nhưng đe dọa, bỏ tù, giết chết hay đẩy những địch thủ của họ đến tình trạng phá sản và không cho người nào nắm lấy quyền lực mà không có sự ưng thuận và thiện cảm của họ.
Ấn Độ được xem là nền dân chủ lớn nhất thế giới. Thật sự là giới truyền thông liên tục vạch trần các chính khách tham nhũng, nền tư pháp hoạt động độc lập, trên 700 triệu người có quyền bầu cử trong 28 tiểu bang thường xuyên được phép bỏ phiếu. Bang Uttar Pradesh ở Bắc Ấn còn được lãnh đạo bởi một nữ thủ hiến từ đẳng cấp Dalit thấp nhất, “tiện dân”. Bà có tên là Mayawati và đã tự cao cho dựng lên nhiều tượng riêng của mình. Ở đó và cũng ở những nơi khác, đảng “tiện dân” của bà giành được sự yêu mến của người dân và ảnh hưởng. Đảng Cộng sản Ấn Độ (Mác-xít) chiếm ưu thế trong bang Tây Bengal.
Và tuy vậy: tham nhũng và bảo hộ [patronage] đầy dẫy. Chính trị ở Ấn Độ trong nhiều phần lớn đã suy thoái trở thành một hoạt động gia đình. Indira Gandhi đã là nữ thủ tướng 15 năm và đã nhanh chóng bãi bỏ nền dân chủ từ 1975 đến 1977, lãnh đạo bằng chỉ thị và cho bắt giam giới đối lập. Sau khi bà bị giết chết, người con trai Rajiv, một phi công không có kinh nghiệm về chính trị, trở thành người đứng đầu chính phủ.
Từ khi ông bị một kẻ ám sát người Tamil giết chết năm 1991, người vợ góa Sonia của ông, một phụ nữ gốc Ý, nắm quyền trong Đảng Quốc Đại. Dường như không làm được điều gì mà không có bà ấy. Áp phích với ảnh của bà và người chồng đã qua đời được treo trên đường phố Mumbai trong tháng 4 năm 2001: “Chúng tôi cảm ơn”, chúng tuyên bố, rằng Sonia Gandhi đã bổ nhiệm chính trị gia B. K. Hariprasad vào chức vụ CWC & Gen Secretary AICC, một chức vụ cao trong đảng. Gia đình này hẳn sẽ tiếp tục đóng một vai trò trong tương lai của Ấn Độ: Rahul con trai của Sonia cũng là một chính khách.
Nhiều nghị sĩ và bộ trưởng trên bình diện liên bang và tỉnh hiện giờ cũng là những người “kế thừa”: con trai, con gái, con dâu và con rể đạt những chức vụ quan trọng, trên con đường đi đến đó, nhiều tiền bạc đã được rót ra, nhiều quà cáp đã được mang tặng.[8]
Một xã hội dân sự sống động đặt dấu ấn lên đời sống chính trị và xã hội của Philippines. Sau chế độ độc tài kéo dài 21 năm của Ferdinand Marcos, từ năm 1986 báo chí được tự do và mang tính phê bình, các cuộc bầu cử là dân chủ, nếu như các đảng phái không lại cố gắng lén mang phiếu bầu cho ứng cử viên của mình vào thùng phiếu và đồng thời đánh cắp phiếu của địch thủ với mánh khóe được gọi là “dagdag-bawas”. Tuy vậy, các cấu trúc phong kiến vẫn không đổi từ nhiều năm nay: từ trước tới nay, thống trị Philippines vẫn là những gia đình có nhiều ảnh hưởng, có quân đội riêng và – khi cần thiết với bạo lực – lo sao cho quyền lực của họ không bị xâm phạm. Năm nào cũng có nhà báo, những người đụng đến các đề tài gây khó chịu, bị kẻ lạ bắn chết.
Trong thời gian tranh cử tổng thống năm 1998, tôi đã đến thăm đồn điền rộng 100 ha “Balbina” của nhà đại công nghiệp giàu sụ Eduardo Cojuangco, người ủng hộ diễn viên Joseph Estrada tranh cử. Người hầu gái trong áo váy hoa dùng những cây quạt sặc sỡ đuổi ruồi ra khỏi bàn tiệc búp phê nhiều giờ liền, trên sân hiên cạnh bể bơi có người hầu mời kem. Cạnh đó, Cojuangco đã cho người dựng một sân chọi gà cho công nhân của ông ấy. Trong vườn có một nhà cầu nguyện mà Cojuangco đã xây cho Gretchen vợ của ông nhân dịp kỷ niệm ngày cưới.
Bà ấy gốc Đức – “Ông cố của tôi ở Dresden” – và chào mừng khách một cách lão luyện trong lúc Estrada còn chưa đến. Thượng nghị sĩ, nghị sĩ và những người muốn trở thành như thế uống nước cam lạnh trong phòng khách. Cuối cùng, Estrada được bầu nhờ vào sự giúp đỡ của giới đại địa chủ – và sau đó đã vào tù vì tham nhũng.
Cho đến nay, chính trị gia Philippines không thành công – hay không muốn – xóa bỏ nạn nghèo đói cùng cực. Hàng triệu người, một phần được đào tạo tay nghề tốt, phải để cho người khác bóc lột mình ở nước ngoài như là người giúp việc trong gia đình, trước hết là ở Hongkong, vì thị trường lao động trong nước không cho họ có được một cơ hội. Hiện giới chính khách đang thảo luận liệu chuyển đổi từ tổng thống chế sang hệ thống quốc hội có mang lại cải tiến hay không.
Người Thái đi bầu thường xuyên, nhưng bầu cử mang dấu ấn của mua phiếu và lừa đảo. Họ gọi đêm trước ngày bầu cử là “đêm của những con chó tru”. Do chó sủa vang vì có nhiều người lạ trà trộn vào làng để dùng tiền mà thuyết phục người dân đặt cái dấu chéo vào đúng chỗ.
Ngự ở trên tất cả là nhà vua đau bệnh Bhumibol, người thể theo Hiến pháp không có nhiều quyền hành nhưng lại có ảnh hưởng lớn và được người dân tôn sùng. Nhằm không để cho hình ảnh và kinh doanh của hoàng gia bị soi xét quá tỉ mỉ, người ta cấm lăng mạ nhà vua, một đạo luật mà theo đó tất cả mọi nhận xét mang tính chỉ trích về gia đình cao cả đấy đều có thể bị phạt. Trong quá khứ, giới quân đội đã thường đảo chính, từ 1932 là 18 lần. Với lần đảo chính cho tới nay là cuối cùng của họ, quân đội đã hạ bệ một thủ tướng tinh ranh nhưng được bầu lên một cách dân chủ là Thaksin Shinawatra. Thaksin, nguyên là cảnh sát, người trở nên giàu có trong kinh doanh viễn thông, đã dùng bạc tỉ của mình để mua một đảng và đã lôi kéo đặc biệt là những người đi bầu trong vùng nông thôn về phía mình bằng những chương trình được lòng dân như chăm sóc y tế rẻ tiền hơn.
Năm 2010, Bangkok bị đe dọa sẽ chìm vào trong hỗn loạn, khi những người thuộc phe Thaksin, được gọi lả “Áo Đỏ”, đã làm tê liệt Bangkok nhiều ngày. Quân lính nổ súng vào những người đi biểu tình, nhà cháy, 91 người chết. Trước đấy, những người “Áo Vàng”, địch thủ của Thaksin, đã chiếm cảng hàng không mới. Thế nhưng vào tù cho tới nay chỉ là những người thuộc phe của nhà tỉ phú – việc tạo bất an lớn trong giới công cộng mang nhiều tính phê bình của Thái Lan.[9] Trong tháng 7 năm 2011, Thaksin, người trong thời gian vừa rồi bị kết án tham nhũng, từ nơi lưu vong đã thành công trong việc mang quyền lực đến cho Yingluck em gái của ông ấy – một phụ nữ kinh doanh hoàn toàn không có kinh nghiệm trong chính trị thế nhưng lại thắng lớn trong những lần bầu cử.
Nhật Bản, đất nước trước thảm họa động đất và sóng thần trong tháng 3 năm 2011 là nước châu Á mạnh thứ nhì về kinh tế, là một nền dân chủ đại nghị, dựa vào mô hình Anglo-Saxon. Thế nhưng nhiều thập niên liền chỉ có Đảng Dân chủ Tự do là đứng đầu mà chính trị được tiến hành trong những hậu phòng của nó và trong đó thủ tướng được thương lượng theo nguyên tắc người bảo hộ [patronage]. Hậu quả là chính trị và kinh tế quan hệ chặt chẽ, quan liêu mạnh. Nhân viên các bộ có ảnh hưởng đến những quyết định của chính phủ nhiều hơn là trong những nước khác.[10]
Indonesia, với gần 238 triệu dân là đất nước Islam lớn nhất thế giới, năm 1998 đã vứt bỏ chế độ độc tài của nhóm Suharto và “Trật tự Mới” của ông ấy, cái giao cho giới quân đội một vai trò mạnh. Trong lần bầu cử Quốc Hội năm 2009 có 38 đảng ra tranh cử, tuy vậy, cuộc tranh cử giằng co về chính sách chính trị thì ít mà nhiều hơn là về nhân sự. Quân đội, dưới thời Suharto đã cùng quản lý đất nước, mất ảnh hưởng, thế nhưng giới tinh hoa cũ trước sau vẫn còn ngồi ở những vị trí quan trọng và ngăn cản không cho những vi phạm quyền con người từ thời Suharto được mang ra xét xử.
Vẫn còn chưa được chuộc lỗi là lần bắt cóc và giết chết những người đối lập, trong số họ có nhiều sinh viên, vào cuối những năm 90 bởi đơn vị đặc nhiệm “Kopassus” của quân đội. Đơn vị này được lãnh đạo bởi một người con rể của Suharto, Prabowo Subianto.
“Người nhà Suharo sống không tệ đâu”, Franz Magnis-Suseno nói với tôi, một linh mục Dòng Tên có gốc Đức với tóc bạc trắng và tính thích áo in hoa. Nhà triết học 74 tuổi và chuyên gia cho đạo đức học Java giảng dạy tại trường Driyarkara của Dòng Tên về triết học ở Jakarta. Ông ấy là một người khách mời nổi tiếng trong các seminar và talk-show, cố gắng thuyết phục người dân Indonesia và qua đó củng cố nền dân chủ. Ông ấy lên án tổng thống đã nói dối. Chỉ khi thành công trong việc ngăn chặn tham nhũng, Magnis-Suseno nói, thì Indonesia mới có cơ hội trở nên dân chủ thật sự.
Đó là một con đường khó khăn, như người ta thấy và một cái nhìn vào trong tạp chí chính trị nổi tiếng “Tempo”, trong bản tiếng Anh của số ra tháng 2 năm 2011, cho thấy rõ. Trong đấy là về thuế quan của Jakarta, bộ phận đã cho phép buôn lậu điện thoại Blackberry và rượu mạnh. Tiếp theo sau đấy một trang là biểu đồ với hơn 147 tỉnh trưởng và quận trưởng, những người hoặc đã bị tòa phán xử hoặc bị tố cáo vì tội hối lộ hay tham ô tiền công. Và cuối cùng, “Tempo” tường thuật về “Ủy ban triệt tiêu tham nhũng”, ủy ban mà đã bắt 24 nghị sĩ quốc hội. Ủy ban này tố cáo họ đã nhận tiền của một chính trị gia, người muốn trở thành phó giám đốc Ngân hàng Trung ương Indonesia với sự giúp đỡ của họ.
Theo cách nhìn của phương Tây có hai nước châu Á là câu chuyện thành công về dân chủ: Hàn Quốc và Đài Loan. Ở đấy, những người từng là đối lập được bầu vào vị trí lãnh đạo nhà nước, những người mà trong thời độc tài hoặc đã ngồi trong tù hoặc là nằm trong danh sách chết của tay sai chính phủ: ở Hàn Quốc là Kim Dae Jung và Đài Loan là Chen Shui-bian.
Mặc dù vậy, Chen hiện lại ngồi tù – lần này không phải là vì phê bình mà là vì tham nhũng. Cả vợ và con trai cũng bị án. Vào cuối nhiệm kỳ thứ hai của mình, ông đã bị đưa ra tòa – tuy đấy là một vụ gây tranh cãi nhưng hầu như không một ai ở Đài Loan lại tin rằng những lời buộc tội là hoàn toàn vô căn cứ.
Đồng thuận Washington, Đồng thuận Bắc Kinh, đạo Khổng và tham nhũng. Châu Á vươn lên đến tầm to lớn mới giữa những cực đó. Nhưng động cơ quan trọng nhất cho sự tăng trưởng là Trung Quốc. Muốn hiểu được lần phục hưng của châu Á, người ta phải tiến đến gần con rồng Trung Quốc.
Hết chương “Về đạo Khổng …”, mời các bạn đón đọc chương kế tiếp: “Máu xanh và bài ca đỏ”
______________
[1] “Wir umarmen den Teufel nicht” ["Chúng tôi không ôm lấy quỷ"], Der Spiegel 44/1977
[2] Lý Quang Diệu: The Singapore Story: Memoirs of Lee Kuan Yew”, Prentice Hall, Singapore, 1999
[3] “Ein schrecklicher Taifun” ["Một cơn bão đáng sợ"], Der Spiegel 15/1998
[4] Simon S. C. Tay: “Asia Alone”, John Wiley & Sons, Singapore 2010
[5] Xem Wieland Wagner: “Der Zornige” ["Người giận dữ"], Der Spiegel 14/2011
[6] Han Sung Joo: “Keynote-Speech, Lauch of the Center for the Study of Governance”, Workshop, Jakarta, 2008
[8] Xem Patrick French: “India – A Portrait”, Penguin Books, London 2011
[9] Cung cấp một cái nhìn tốt vào hậu trường của chính trị Thái Lan là quyển sách bị cấm ở Thái của Paul M. Handley: “The King never smiles”, Yale University Press, New Haven and London, 2006
[10] Xem Francis Fukuyama, người trong “The End of History and The Last Man” đã mô tả nền chính trị thỏa thuận của Nhận Bản; Wolfgang Merkel trong “Demokratie in Asien” ["Dân chủ ở châu Á"] đã cố gắng xem xét các hình thức chính phủ của từng nước một theo những giá trị dân chủ của họ.

Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 5)

Chương III: Máu xanh và nhạc đỏ

Những ông chủ mới của Trung Quốc và nỗi sợ hãi trước mùi hương của hoa lài

Phù điêu bằng kim loại với nhà chọc trời và cần cẩu trang trí cho các bức tường của Sảnh Thượng Hải trong Đại hội đường Nhân dân. Được khắc là các biểu tượng của Chủ nghĩa Tư bản: dấu hiệu của đồng Dollar, Yen và Euro. Tụ họp ở đấy là 72 đại biểu của thành phố cảng Thượng Hải, những người đã đến đây nhân dịp Đại hội Đảng lần thứ 17 của những người Cộng sản Trung Quốc.
Vào ngày 19 tháng 10 năm 2007 họ tranh luận về bản báo cáo của tổng bí thư Hồ Cẩm Đào, và họ làm điều đó theo thứ bậc nghiêm ngặt: các cán bộ quan trọng ngồi ở hàng đầu trong những chiếc ghế bành rộng. Ở hàng thứ nhì là những chiếc ghế bành hẹp hơn cho các đồng chí ít quan trọng hơn. Tất cả đều mang cặp da đen có hình búa liềm. Người phục vụ trong bộ quần áo màu tím châm thêm nước nóng.
Đại hội Đảng là một sự kiện chính trị quan trọng ở Trung Quốc. Chúng xác định đường hướng cho năm năm kế tiếp và thay đổi nhân sự ở cấp cao. Đại hội Đảng lần thứ 17 mang lại cho nhà báo Trung Quốc và nước ngoài một cái gì đó mới mẻ. Chúng tôi được phép cùng tham dự một vài cuộc họp của các đoàn đại biểu tỉnh trong các gian sảnh được đặt theo tên của các tỉnh. Nhân viên giữ trật tự trong bộ com lê đen chỉ đường đi. Tôi bước trên những tấm thảm màu đỏ rượu vang qua những hành lang trống rỗng, qua một bức tranh treo tường khổng lồ với một mặt trời đang cháy rực để nắm bắt lấy cơ hội hiếm có, quan sát các cán bộ ở khoảng cách gần, những người ngoài ra lại e ngại giới công chúng – như người lãnh đạo Đảng tại Thượng Hải thời bấy giờ là Tập Cận Bình. Chính trị gia này đang trên con đường thăng tiến. Trong mùa xuân năm 2008 ông trở thành Phó Chủ tịch nước và được xem là người kế thừa của nhà lãnh đạo Nhà nước và Đảng Hồ Cẩm Đào.
Các cuộc thảo luận trong Sảnh Thượng Hải diễn ra theo sơ đồ cố định: đầu tiên, những người phát biểu ca ngợi bài diễn văn “chỉ đạo” của tổng bí thư và cố đưa vào càng nhiều khẩu hiệu chính trị càng tốt: “Lý thuyết Đặng Tiểu Bình”, “tư tưởng quan trọng của Ba Đại Diện” và “phương án phát triển trên cơ sở nhận thức khoa học” – những công thức mà ĐCS dùng chúng để biện hộ cho sự thay đổi ý thức hệ của họ. Ví dụ như ẩn phía sau “Lý thuyết Đặng Tiểu Bình” là sự rời bỏ đấu tranh giai cấp và các cải cách kinh tế, sau “Ba Đại Diện” ngoài những điều khác là sự thu nhận doanh nhân, tư nhân vào Đảng.
Rồi họ trình bày công việc của họ, ví dụ như “những tiến bộ trong chuẩn bị cho Expo 2010 ở Thượng Hải”.
Cứ như thế hai giờ đồng hồ. Không một ai ngắt lời, không một ai phản đối, không một ai tra hỏi, không một ai vỗ tay. Sự kiện dai nhách như câu khẩu hiệu của Đại hội Đảng: “Giương cao ngọn cờ vĩ đại của Chủ nghĩa Xã hội mang đặc sắc Trung Quốc và đấu tranh cho chiến thắng mới trong công cuộc xây dựng to lớn một xã hội thịnh vượng căn cơ”.
Tập, người tròn trịa và rất, rất trầm tĩnh, không lắng nghe các đồng chí của ông ấy, những người ca ngợi bản báo cáo của tổng bí thư Đảng hết lần này đến lần khác. Trong lúc đó ông ấy lật xem trong một quyển sách nhỏ. Thế nào đi nữa thì ông ấy cũng biết người của mình đang nói gì, có lẽ là ông ấy còn thông qua chúng trước đó nữa.
Sau hai giờ, nhà báo chúng tôi được phép đặt câu hỏi. Với một giọng nói trầm và oanh oanh, Tập nói về đầu tư, tổng sản phẩm nội địa, lương đang tăng lên. Ngôn ngữ cử chỉ của ông ấy là ngôn ngữ của một đài tưởng niệm, ông ấy chắp tay nghiêm – một ác mộng cho tất cả các nhiếp ảnh gia.
Bên Sảnh Liêu Ninh cũng giống như ở chỗ của những người Thượng Hải. Người ta nhìn thấy Lý Khắc Cường ở đấy, thời đấy là bí thư của vùng công nghiệp Đông Bắc này. Mùa Xuân năm 2013, ông sẽ được phép trở thành thủ tướng.
Lý trông giống như một phiên bản trẻ hơn của người lãnh đạo Đảng họ Hồ, mang một cái kính to và ngồi như đã đóng băng lại trong chiếc ghế bành của ông ấy. Khác với Tập, ông ấy trông có vẻ quan tâm và ghi chép lại khi đồng chí của ông ấy lại trình ra thêm một con số thắng lợi.

Thế hệ thứ 5

Năm 2012 lại sẽ có thêm một Đại hội Đảng nữa, lần thứ 18 trong lịch sử của ĐCS. Đến lúc đấy, một phần lớn lãnh đạo cấp cao sẽ được thay thế. Người đàn ông có lẽ sẽ là người nắm quyền lực của Trung Quốc là một cán bộ mà bạn bè gọi là “cực kỳ tham vọng”: Tập Cận Bình, người mà chúng ta đã gặp trong Sảnh Thượng Hải, hiện giờ là Phó Chủ tịch nước và là Phó Chủ tịch Quân ủy Trung ương. Ông là con trai của người cựu du kích quân cộng sản và sau này là phó thủ tướng Tập Trọng Huân và do đó là một hoàng tử. Tập lớn lên trong vòng che chở của giới lãnh đạo cao nhất. Tuy vậy, khi còn trẻ, ông ấy đã trải qua những vực sâu của “Cuộc Cách mạng Văn hóa Vô sản Vĩ đại”, cái mà người thành lập nhà nước Mao Trạch Đông đã khởi động để trừ khử địch thủ trong hàng ngũ Đảng.
Cha của Tập vào tù, người con trai, mới 15 tuổi, phải về nông thôn làm ruộng trong tỉnh Thiểm Tây. “Nhiều ý tưởng thực dụng của tôi có gốc rễ của nó trong thời gian này. Nó luôn luôn ảnh hưởng đến tôi”, ông nói sau này.[1]
Vào đầu những năm 70, nhiều hoàng tử đã có thể bỏ lại cuộc sống nông dân cực nhọc ở lại sau lưng mình và quay trở về Bắc Kinh, Tập cũng vậy. Nhưng trong khi có những thanh thiếu niên nào đó không còn muốn biết gì về chính trị nữa thì ông chọn một con đường khác. “Ông ấy quyết định sống sót bằng cách trở thành đỏ hơn đỏ”, một người quen tường thuật lại cho các nhà ngoại giao Mỹ.[2]
Mặc dù Đảng đã quẳng cha của mình vào tù, Tập trở thành đảng viên của ĐCS. Trong khi bạn bè của ông ngốn ngấu văn học phương Tây, Tập học đại học về Marx và tham gia một Ủy ban Cách mạng Công Nông Binh. Trong số những hoàng tử thời đấy có một bí mật mở là Tập nhận bằng đại học đầu tiên về “Chủ nghĩa Marx” nhờ vào phòng đọc sách thì ít mà nhiều hơn là nhờ vào thực tiễn.
Năm 1979, Tập học đại học thật sự – tại Đại học Thanh Hoa nổi tiếng ở Bắc Kinh. Ông ghi danh học Hóa và Chủ nghĩa Marx, sau đấy điều kỳ lạ là ông ấy có bằng tiến sĩ luật. Sau khi học đại học, Tập trở thành người lính, ông phục vụ như là thư ký trong văn phòng của Ủy ban Quân ủy Trung ương ở Bắc Kinh, ở cấp bậc nào vẫn còn là điều bí mật. Sau đấy, ông sẽ tiếp nhận những nhiệm vụ quân sự như là một cán bộ tỉnh.
Về mặt đời tư, Tập không có nhiều may mắn như thế, cuộc hôn nhân đầu tiên của ông với Kha Hiểu Minh, người con gái có học và thanh lịch của một nhà ngoại giao, đã nhanh chóng tan vỡ. Họ sống trong căn hộ của cha mẹ ông trong khu phố quan chức Nam Sa Câu ở phía tây của Bắc Kinh và “cãi nhau gần như mỗi ngày”, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ biết được. Cuối cùng, Kha trở về Anh quốc, nơi bà đã sống một thời gian dài với bố mẹ. Tập ở lại Bắc Kinh. Sau đấy, ông kết hôn với nữ ca sĩ nổi tiếng Bành Lệ Viên, người thăng tiến lên đến thiếu tướng. Bà ấy chỉ huy đội văn công của quân đội. Một người con gái hiện đang học đại học ở Harvard dưới một tên khác.
Chỉ có thể thăng tiến lên cao, Tập nhận ra như thế trong những năm đầu, khi ông ấy dứt ra khỏi nhóm có quyền lực ở Bắc Kinh một thời gian và thu thập kinh nghiệm ở tỉnh. Ông làm việc và thăng tiến trong các tỉnh Hà Bắc, Phúc Kiến và Chiết Giang. Phúc Kiến nằm đối diện với Đài Loan, và thuộc vào trong số những nhiệm vụ của Tập là tranh thủ các nhà đầu tư từ đảo này, điều mà ông đã hoàn thành một cách thành công. Trong vòng 17 năm, ông phục vụ trong bảy thành phố của tỉnh. Hai cán bộ được ông ấy nâng đỡ sau này bị kết án tham những, cái rõ ràng là không gây hại cho ông về chính trị.[3]
Ở Đông Trung Quốc, Tập bị thu hút bởi Đạo Phật, khí công và võ thuật truyền thống Trung Quốc. Rõ ràng là ông tin rằng qua đấy có thể củng cố được sức khỏe và cảm thấy dễ chịu. Người ta cho rằng trong gian đoạn này của cuộc đời mình, ông còn tin vào những lực siêu tự nhiên nữa.
Năm 2007 ông trở thành bí thư Đảng Thượng Hải, một bước to lớn trên con đường sự nghiệp. ĐCS ở đó đã rối loạn sau một xì căng đan tham nhũng. Tập thay Trần Lương Vũ, người đã chống lại các chỉ thị từ Bắc Kinh và bị cho là phải chịu trách nhiệm cho việc hơn 40 triệu Euro từ quỹ tiền hưu của Thượng Hải đã được chi ra không đúng mục đích. Trần hiện đã bị kết án 18 năm tù.
Cái được gọi là “Băng nhóm Thượng Hải” dưới quyền của cựu tổng bí thư Đảng Giang Trạch Dân, thời đấy vẫn còn nhiều ảnh hưởng, đã gọi Tập về Thượng Hải. Vì ông ấy được xem là không tham nhũng và được trang bị cho đủ quyền lực để trừ khử những đồng chí tinh ranh ra khỏi nội bộ. Thế nhưng ông ở lại thành phố cảng và tài chính của Trung Quốc chỉ bảy tháng, sau đấy giới lãnh đạo gọi ông về Bắc Kinh. Cuối cùng thì kế hoạch công danh của Tập cũng thành công. “Ông ấy để mắt đến lần thăng tiến vào Trung Ương ngay từ ngày đầu tiên”, các nhà ngoại giao Hoa Kỳ trích dẫn nguồn của họ.
Tập không phải là một người bay bổng về mặt trí thức, nhưng “tính toán, tự tin và tập trung”, theo một bản báo cáo của Đại sứ quán Hoa Kỳ ở Bắc Kinh – một “người thực tế” và “thực dụng”, người luôn luôn che dấu bài của mình và rồi “lạnh lùng” chơi đúng lá bài vào đúng thời điểm. Đồng thời ông ấy cũng là một con ngươi thân thiện, một người “lúc nào cũng quan tâm đến bạn”. Trong thời thanh niên, ông không bao giờ nói về giới tính kia hay về phim. Rượu và gái, cách tiêu khiển của nhiều cán bộ, không phải là việc của ông. Phụ nữ cho ông ấy là tẻ nhạt, điều này thì ông chia sẻ với cấp trên cứng nhắc của ông là Hồ Cẩm Đào.
Chỉ duy nhất một lần là Tập gây sự chú ý với một cơn nổi giận ở nơi công cộng – khi ông phàn nàn trước các doanh nhân Trung Quốc ở Mexico trong năm 2009 về “vài người ngoại quốc bụng bự chẳng làm gì khác ngoài việc chỉ tay vào đất nước của chúng ta”. Ông thêm vào đấy: “Thứ nhất, Trung Quốc không xuất khẩu cách mạng; thứ nhì Trung Quốc không xuất khẩu nghèo đói; và thứ ba, Trung Quốc không làm những việc phi lý …”[4]
Cho tới nay, ông không nổi bật với ý tưởng chính trị hay sáng kiến, điều đấy thì trước sau cũng không nên trong hệ thống công danh của ĐCS. Các tướng lĩnh của Quân đội Giải phóng Nhân dân đánh giá cao ông chỉ riêng vì người cha cách mạng của ông và tình bạn của ông ấy với nhà cải tổ qua đời năm 1997 Đặng Tiểu Bình. Không có gì cho thấy là Tập Cận Bình có thể sẽ trở thành một Gorbachev Trung Quốc. Ông không coi trọng các cải cách dân chủ, ông ghét cay ghét đắng việc chỉ chạy theo tiền bạc và giàu sang của nhiều người đồng hương. Dường như ông ao ước có lại thời gian ngày xưa. Khi là Hiệu trưởng Trường Đảng Trung ương, như nhiều học viên thuật lại, ông thích trích dẫn Mao. Trong lúc tiến hành tổ chức Đảng, giới lãnh đạo Đảng phải “học tập dự án xây dựng Đảng vĩ đại, cái về cốt lõi đã được tiến hành dưới sự lãnh đạo của Thế hệ Thứ nhất với đồng chí Mao Trạch Đông”, ông giảng dạy.[5]
Nổi bật là thiện cảm của ông ấy dành cho những người “anh hùng của quần chúng” của ngày hôm qua, được tuyên truyền ca ngợi dưới thời Mao, như “người sắt” của mỏ dầu Đại Khánh hay người lính can đảm Lôi Phong. Ông tin rằng chỉ một nhóm tinh hoa nhỏ của Trung Quốc là có thể duy trì sự ổn định xã hội và dẫn dắt đất nước đến tầm vóc to lớn. Các hoàng tử là “những người thừa kế chính thống” của cuộc Cách mạng Trung Quốc, ông ấy nói.[6]
Lúc ban đầu, người đứng đầu nhà nước và Đảng Hồ Cẩm Đào đã không chọn ông làm người kế nghiệp. Người được Hồ ưa thích là Lý Khắc Cường, người mà cũng như ông ấy đã bắt đầu sự nghiệp trong Đoàn Thanh niên Cộng sản. Thế nhưng một nhóm đồng chí cao niên, ngoài những người khác là cựu bí thư ĐCS Giang Trạch Dân, đã phản đối. Lý “không có đủ kinh nghiệm”, họ nhận xét. Người đứng đầu Đảng nhân nhượng, thay vào đó Lý sẽ là người kế nghiệp của thủ tướng Ôn Gia Bảo.

Một cán bộ ở bước ngoặt

Cuối năm 2010, Lý đã tập hợp nhiều quyền lực vào tay của mình. Ông ấy đồng thời là Phó Thủ tướng, Phó Chủ tịch Ủy ban Năng lượng nhà nước và là sếp của Cơ quan kiểm tra về thực phẩm. Thêm vào đó, ông ngồi trong nhóm lãnh đạo của ĐCS về tài chính và kinh tế, trong Bộ Chính trị ông chịu trách nhiệm về môi trường và y tế. Ông soạn thảo một hệ thống bảo hiểm xã hội cho cả nước và phát triển những chương trình chống thất nghiệp. Trong thời gian còn là cán bộ ở tỉnh, ông đã lo xây dựng nhà xã hội, đồng nghiệp của ông tường thuật.[7] Sau thời gian là cán bộ trong Đoàn Thanh niên Cộng sản, ông điều hành tỉnh Hà Nam còn mang nét nông thôn từ 1998 đến 2004 như là chủ tịch tỉnh trẻ tuổi nhất thời đấy. Sau đó ông là bí thư tỉnh Liêu Ninh. Nhiều nhà máy quốc doanh của nền công nghiệp nặng ngày xưa đã đóng cửa ở đây. Khác với thành viên của thế hệ lãnh đạo già hơn, cái bao gồm phần nhiều là kỹ sư, nhà địa chất học và những nhà kỹ trị khác, Lý đã học đại học tại khoa Luật của Đại học Bắc Kinh và viết một luận án tiến sĩ. Khi còn là sinh viên, như bạn học nhớ lại, ông ấy đã cổ vũ cải cách chính trị.[8] Khi sinh viên nổi dậy trên Quảng trường Thiên An Môn năm 1989, ông ấy là một cán bộ cao cấp trong Đoàn Thanh niên, người xem cuộc chóng đối đấy là “yêu nước” – và không phải như giới lãnh đạo là “phản cách mạng” – và qua đó đã đứng về phía của họ.[9]
“Chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử”, ông ấy tuyên bố vào đầu năm 2010 trên Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos: “Chúng ta phải rời bỏ con đường cũ của tăng trưởng không hiệu quả và thay đổi mô hình phát triển hiện nay, cái dựa quá mức trên đầu tư và xuất khẩu.”[10]
Thế nhưng con đường công danh của ông không trơn tru, tên của ông gắn liền với xì căng đan AIDS ở Hà Nam đã được dấu nhẹm một thời gian dài. Cuối năm 2010, giám đốc thời đấy đã mang bệnh không chữa khỏi của Viện Giáo dục Y tế, Chen Bingzhong, bước ra giới công cộng và yêu cầu Lý phải xin lỗi vì những lỗi lầm của ông ấy trong cách xử sự với những bệnh nhân AIDS. Người ta đã không nghe ông.

Hoàng tử yêu Mao

Một cán bộ khác đã khiến cho người ta bàn đến mình trong những năm vừa rồi: Bạc Hy Lai, thành viên của Bộ Chính trị và từ cuối năm 2007 là bí thư Đảng của Trùng Khánh, một thành phố lớn và sống động ở cạnh Trường Giang, trực thuộc trung ương. Ống ấy là người bí ẩn nhất trong tất cả họ, cũng là một hoàng tử. Cha của ông ấy là một trong số những người được gọi là “Tám người bất tử” của Đảng, một lãnh đạo huyền thoại của du kích quân thời chiến tranh chống Nhật trong những năm 30 và 40 của thế kỷ trước và đầu những năm 50 là Bộ trưởng Bộ Tài chính và sếp kế hoạch. Vào dịp Quốc hội họp hàng năm, khi người con trai bước lên những bậc thang của Nhân dân Đại hội đường, phóng viên và đội quay phim Trung Quốc hào hứng quay quanh ông ấy – một ngôi sao Pop - chính trị Trung Quốc.
Bạc học tại khoa Sử của trường Đại học Bắc Kinh và sau đó làm việc tại Học viện Khoa học Xã hội Trung Quốc. Là thị trưởng của thành phố cảng Đại Liên ở miền Đông Bắc, ông đã nhận được điểm tốt, thành phố đã trở thành một thành phố hiện đại, dễ nhìn. Sau đó, ông đến Liêu Ninh như là bí thư Đảng, rồi bước lên thành Bộ trưởng Bộ Thương mại. Ở Bắc Kinh phải xảy ra một cái gì đó ngoài dự định, vì Bạc không được bổ nhiệm làm Phó Thủ tướng như ông đã hy vọng. Thay vì vậy, ông lại được cử về tỉnh.
Ở Trùng Khánh, cách Bắc Kinh tròn 2000 km, rõ ràng là Bạc cần phải chứng minh rằng thành phố ở giữa Trung Quốc cũng có thể vươn lên như những thành phố lớn cạnh biển như Thượng Hải hay Quảng Châu. Vì để cho nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng, chính phủ Bắc Kinh phải công nghiệp hóa các vùng đất nội địa, Trùng Khánh phục vụ như điểm khởi đầu cho chính sách “Phát triển miền Tây”. Bạc tự chứng tỏ mình là một bí thư Đảng được ưa thích. Ông ấy để cho xây nhà ở rẻ tiền, thương lượng với những người lái taxi đình công. Ông ấy coi trọng an ninh. Ông tuyên bố sẽ cho lắp đặt 500.000 camera giám sát trong thành phố, hệ thống này được cho là đã tiêu tốn mất 2,6 tỉ dollar.[11] Bạc đặc biệt chơi lá bài Mao, mặc dù cha của ông đã ngồi tù trong thời gian Cách mạng Văn hóa và mẹ của ông được cho là còn bị Hồng Vệ Binh đánh chết nữa. Năm 2009 ông khởi động một “Chiến dịch văn hóa đỏ”: tại nhiều sự kiện, hàng nghìn người đã hát những bài ca từ thời Mao và trích dẫn từ những tác phẩm của Mao. Thêm vào đó, Bạc kêu gọi người dân gửi “thông điệp đỏ” qua điện thoại di động của họ, những thông điệp ca ngợi đất nước hay thành phố. Người ta cho rằng đã có 120 triệu tin nhắn như thế đã được gửi đi. Như Mao ngày xưa, ông chỉ thị cho nhà văn những gì mà họ cần phải viết: “Tác giả có một nhiệm vụ quan trọng, và họ phải tạo ra những tác phẩm sâu sắc hơn và cảm động hơn cho kỷ nguyên này, để khuyến khích thế hệ kế tiếp. Chỉ như thế mới có hy vọng cho con người chúng ta.”[12]
Với một chiến dịch chống mafa, ông đã để lại nhiều ấn tượng hơn là với lần cổ vũ cho nghệ thuật xã hội chủ nghĩa. Hội Tam Hoàng kiểm soát ngoài những cái khác là các doanh nghiệp xe buýt và bất động sản. Ai đứng cản đường họ đều bị nguy hiểm đến tính mạng. Trên 3400 người đã vào tù dưới thời Bạc, người đã mang sếp cảnh sát riêng của ông ấy từ Bắc Kinh về, trong số đó có những trùm băng đảng và cán bộ đã trở thành triệu phú như cựu Phó Cảnh sát và sếp của Tư pháp, Wen Qiang. Chín người bị kết án tử hình, tuy vậy các luật sư hoài nghi rằng mọi việc đều hợp pháp tại những phiên tòa đóng kịch này.
Trong tháng 12 năm 2010, Bạc ở Trùng Khánh tiếp đón chuyến đến thăm của một hoàng tử khác: Tập, người được chỉ định làm tổng bí thư. Có một liên minh cho tương lai được tạo ra ở đó hay đấy chỉ là một cuộc thanh tra thường kỳ? Thế nào đi nữa thì Tập cũng ban phép lành cho chính sách của người đồng chí của ông ấy: “Đảng bộ Trùng Khánh đã chiến thắng lớn trong công cuộc bảo đảm những quyền cơ bản và lợi ích của quần chúng”, ông ấy nhận xét. “Chiến dịch Chống Hội Tam Hoàng được người dân yêu thích và đã mang lại nhiều niềm vui cho trái tim của con người”.
Và: “Hát những bài ca đỏ, nghiên cứu các tác phẩm của Mao … và phổ biến ngôn từ (Mao) – điều đấy đã lắng sâu vào trong trái tim của con người và rất đáng để được khen ngợi.”[13]

Luật sư biến mất

Hai hoàng tử yêu thích Mao và một nhà kỹ trị siêng năng – họ đại diện cho một nhóm tinh hoa mới, sẽ dẫn Trung Quốc đi vào tương lai. Dường như cả ba đều không đáng giá cao việc tự do hóa nền chính trị. Nhưng có lẽ vẫn còn một nhà cải cách nữa đang chờ đợi ở hậu trường? Ngay cả khi không phải là một người triệt để như Gorbachev, có lẽ là một người ít nhất là thử nghiệm một cách can đảm hơn những đổi mới về chính trị? Trong những cuộc nói chuyện của tôi với các chuyên gia ở châu Á, tôi thường hay nghe được quan điểm này vào đầu 2011: “Cuộc cách mạng Hoa Lài ở Bắc Phi cho thấy rằng không có gì là không thể cả, cả ở châu Á và ngay cả ở Trung Quốc cũng không.”
Vì thế mà chúng ta hãy chìm vào bầu không khí đang thống trị ở Trung Quốc cho tới mùa Xuân 2011. Các lãnh tụ cũ và mới bị thúc đẩy bởi ý muốn mang đất nước trở lại tầm vóc to lớn xưa cũ. Họ, và cả nhiều người dân nữa, cảm nhận lịch sử của Trung Quốc như là một lịch sử của sự sỉ nhục. Trong sách giáo khoa, phim truyền hình nhiều tập và viện bảo tàng của họ, lúc nào họ cũng được gợi nhớ rằng trong thế kỷ 19 các thế lực thuộc địa đã chiến thắng Trung Quốc trong Chiến tranh Thuốc phiện và đã thâm nhập vào sâu trong lục địa của vương quốc thời đấy. Sau Đệ nhất thế chiến, năm 1919 ở Versailles phe chiến thắng đã giao một phần của tỉnh Sơn Đông không phải về cho người Trung Quốc mà là cho người Nhật. Bắt đầu từ 1931 người Nhật chiếm nhiều phần rộng lớn của Trung Quốc.
ĐCS tăng cường mặc cảm nạn nhân này. Họ cần nó cho sự hợp pháp hóa riêng của họ. Chỉ họ, họ giải thích cho thần dân của họ, mới có thể dẫn đất nước đến sức mạnh và niềm tự tin và đặt nó vào trong một tình trạng mà nó không còn bị đẩy qua đẩy lại như một thằng bé yếu ớt trên sân trường. “Không có Đảng thì đã không có Trung Quốc mới”, ngay từ nhỏ người Trung Quốc đã hát như thế rồi.
Thế nhưng có một mâu thuẫn kỳ lạ lộ ra: các chính trị gia của ĐCS xuất hiện ra bên ngoài càng tự tin thì ở bên trong họ lại càng lo lắng. Một dấu hiệu rõ ràng cho việc này là cung cách đối xử cứng rắn với những người có suy nghĩ khác. Danh sách của các luật sư, các nhà hoạt động vì quyền công dân, nhà báo và nhà bảo vệ môi trường đã biến mất ngày một dài ra. Những người kiến nghị và những người làm cho họ khó chịu đều không có phán xét của tòa án mà rơi vào trong những cái được gọi là “nhà tù đen” do cảnh sát và cán bộ dựng lên bất hợp pháp, vào trại cải tạo hay trong nhà thương điên. Luật phát là vũ khí của nhà nước nhiều hơn là sự bảo vệ trước sự độc đoán của nó. Năm 2001 luật sư Cao Trí Thịnh tường thuật lại cho các nhà báo rằng cảnh sát đã tra tấn ông trong nhà giam. Cho tới mùa xuân 2001 ông biến mất không để lại một dấu tích.
Người thân thuộc, những người muốn kiểm tra xem tại sao lại có nhiều trường học đổ sập xuống như thế trong trận động đất ở Tứ Xuyên năm 2008, hoặc đi tìm những kẻ chịu trách nhiệm cho vụ sữa bột nhiễm độc hóa chất melamin, cũng đều chịu rủi ro tù đày. Lời lên án trong những trường hợp như thế là “xúi giục chống phá nhà nước” hay “gây nguy hại cho hòa bình xã hội”
Số phận của tác giả và triết gia Lưu Hiểu Ba đã gây chấn động khắp thế giới, người năm 2010 đã nhận Giải Nobel Hòa bình. Cuối năm 2009 Tòa án Nhân dân Trung thẩm Thứ nhất ở Bắc Kinh đã kết án ông 11 năm tù. “Tội phạm” của ông: ông đã viết chín bài luận văn “với mục đích gian trá”, nhưng đặc biệt là đã cùng thảo Hiến chương 08, cái lan truyền đi trong Internet và nhanh chóng được tròn 10.000 người ký tên.
Rằng tự do ngôn luận đã được bảo đảm trong Hiến pháp Trung Quốc, các thẩm phán phục vụ cho ĐCS không quan tâm đến điều đó, các tác phẩm của Lưu đã “vượt qua” tất cả các ranh giới, họ nhận xét. “Không ai có thể ngăn chận niềm mong muốn có được tự do”, Lưu đã kiên định đáp lại trong bài phát biểu bảo vệ mà ông đã không được phép đọc nhưng được bạn bè công bố sau đấy trong Internet.
Hiến chương 08 không yêu cầu quyết phải lật đổ ĐCS, nhưng yêu cầu một nền “dân chủ dựa trên luật pháp”. Các tác giả ủng hộ một biến đổi thận trọng và “một chính phủ hiện đại mà trong đó tam quyền phân lập được bảo đảm. Thuộc vào trong đó là tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tụ họp, tự do thành lập hiệp hội, tự do chọn nơi cư ngụ, tự do đình công, biểu tình và phản đối …”
Tin tức về Giải Nobel Hòa bình lúc đầu bị dẹp yên trong báo chí và rồi phải được đưa ra như một bằng chứng cho thái độ chống Trung Quốc của nước ngoài. Vợ của người nhận giải biến mất vào trong quản thúc tại gia.
Các nhà kiểm duyệt ở Bắc Kinh và ở các tỉnh giám sát ngày đêm báo chí, truyền thanh, truyền hình và Internet, để các thông tin không ưa thích đừng lan truyền đi. 350 triệu “thông tin có hại” – bao gồm bài viết, hình ảnh và video – đã bị xóa cho đến tháng 11″, trưởng phòng thông tin của hội đồng nhà nước đã báo cáo trong tháng 12 năm 2011. Thuộc trong số đó tất nhiên không chỉ là nội dung chính trị mà còn cả nội dung khiêu dâm.[14]

Một thỏa thuận không được viết ra

Trung Quốc tạo cực. Chính khách, khoa học gia và nhà báo nước ngoài thường được xếp vào một trong hai phe: những cái được gọi là Panda-Hugger hay China-Basher (những kẻ ôm gấu trúc và những người căm thù Trung Quốc). Đặc trưng của bên này: họ luôn luôn thổ lộ sự thông hiểu cho chính sách của chính phủ, nhấn mạnh đến những tiến bộ trong các thập niên vừa qua, khám phá ở ĐCS ý chí muốn cải cách chính trị, chỉ đến lịch sử lâu đời và nền văn minh đáng khâm phục của đất nước này và thích giải thích cách cư xử kỳ lạ của các chính trị gia với những đặc tính về văn hóa. Thế giới phải cố gắng hiểu Trung Quốc hơn nữa, những người ôm gấu trúc yêu cầu. Đặc biệt là phải làm tất cả mọi việc để người Trung Quốc đừng bị mất mặt.
Người căm thù Trung Quốc ngược lại cho rằng ĐCS là một liên minh bí mật, tương tự như mafia, tổ chức chẳng hề nghĩ gì khi giam cầm những người mang tư tưởng phê phán và đánh cắp ý tưởng của đối tác kinh doanh nước ngoài để rồi lại đẩy họ ra khỏi nước. Quân đội tăng cường vũ trang, điều theo quan điểm của họ chứng minh rằng những câu kể lể về “vươn lên trong hòa bình” chỉ là tuyên truyền nhảm nhí mà thôi.
Sự thật nằm ở đâu đó giữa những cực này và thỉnh thoảng là ở các tận cùng của chúng. Thêm vào đó, những người đầy quyền lực của ĐCS không chỉ tự thể hiện mình như những người đại diện cho đảng của họ mà là còn cho toàn quốc gia Trung Quốc nữa. Những ai hoài nghi chính sách của họ phải dự tính rằng mình sẽ bị công kích là chống Trung Quốc, chống yêu nước hay còn là muốn lật đổ nữa.
Giới trung lưu mới của Trung Quốc đến một lúc nào đó sẽ yêu cầu quyền cùng quyết định nhiều hơn nữa, nhiều kiểm tra hơn và một nền báo chí tự do hơn, người ta cho là như thế, ĐCS sẽ không thể tránh né được việc một ngày nào đó phải nới lỏng chế độ của họ và chấp nhận cho người dân có được những quyền cơ bản của dân chủ. “Biến đổi thông qua tiếp cận” hay “Biến đổi thông qua thương mại” là câu khẩu hiệu của chính khách và doanh nhân Đức. Phương án này đã hoạt động thành công trong Liên bang Xô viết.
Không thể được, những người bi quan phản đối, và chắc là họ đúng: Trung Quốc khác với Liên bang Xô viết. Cấu trúc cơ bản của một xã hội dân sự là cần thiết cho một biến đổi ở Trung Quốc, những cấu trúc mà hiện giờ ĐCS đang cố bóp chết chúng từ trong trứng nước. Trong mùa xuân 2011, dường như những thế lực đã thắng thế, những thế lực muốn ngăn chận bằng mọi giá sự tự do hóa, như việc bắt giam nghệ nhân nổi tiếng Ải Vị Vị cho thấy.

Trung Quốc trong tương lai sẽ ra sao? Ba kịch bản:

Kịch bản lạc quan: Đất nước này trở thành một nền dân chủ ổn định. Vì giới trung lưu tăng lên, ngày càng có nhiều nông dân bỏ nông thôn đi vào thành thị. Chẳng bao lâu nữa mỗi một người Trung Quốc sẽ thu nhập trên 6000 dollar một năm. Con số của các phong trào tự phát tư nhân và những nhóm quyền lợi có tổ chức độc lập (những cái được gọi là tổ chức phi chính phủ) tăng lên, vì không có họ thì chính phủ không còn có thể giải quyết hết tất cả các vấn đề xã hội đa dạng. Một ngày nào đó ĐCS sẽ không còn có khả năng che dấu sự bất đồng trong nội bộ của họ dưới sự lãnh đạo tập thể được nữa. Phe phái hình thành như thế – và cuối cùng là đảng.
Kịch bản đen tối: người nghèo càng nghèo hơn, người giàu giàu hơn. Ngày càng có nhiều người cảm nhận họ là những người thua cuộc trong những cải cách. ĐCS không còn kiểm soát tham những được nữa, cái càng làm cho người dân thêm tức giận. Thêm vào đó, chính phủ không có khả năng giải quyết nạn thất nghiệp đang tăng lên. Trong một tương lai không quá xa, tròn 955 triệu người sẽ ở trong độ tuổi lao động (năm 1995 là 732 triệu), tất cả họ đều hy vọng có được một công việc làm tốt. Các vấn đề môi trường ngày càng trầm trọng thêm. Hàng triệu người, bị xua đuổi đi bởi hạn hán và ngập lụt, kéo nhau đi khắp nước tìm nước sạch, không khí sạch và lương thực thực phẩm sạch. Giới lãnh đạo của ĐCS, cán bộ của cái được gọi là thế hệ thứ sáu, không có đủ khả năng. Hỗn loạn xẩy ra, những cuộc nổi dậy làm rung chuyển đất nước, tỉnh ly khai, một dòng người tỵ nạn chảy qua châu Á.
Kịch bản trung hòa: tất cả sẽ cứ như hiện nay. Trung Quốc vẫn tiếp tục được dẫn dắt bởi một nhóm tinh hoa, những người thành công trong việc nhanh chóng phản ứng với những tình huống mới – nếu cần thì với sức mạnh của những nòng súng. Không có một lựa chọn khác với ĐCS. Giới trung lưu không quan tâm đến tam quyền phân lập mà quan tâm đến việc giữ nguyên tình trạng hiện nay, cho tới chừng nào mà họ vẫn còn có cơ hội gửi con cái họ đi học trường tốt, đi nghỉ mát mỗi năm một lần, mua cho mình một căn hộ. Họ tiếp tục thỏa hiệp với giai cấp chính khách đang thống trị để chống lại những yêu cầu và mong muốn của người dân nghèo chiếm đa số, muốn có một phần lớn hơn nữa trong chiếc bánh của sự thịnh vượng. Họ muốn ngăn chận không cho Trung Quốc lại rơi vào những hỗn loạn của cuộc Cách mạng Văn hóa, hay lại còn bị điều khiển bởi công nhân và nông dân như ngày xưa dưới thời Mao Trạch Đông.
Trở lại hiện tại: nhân danh “ổn định” và “xã hội hài hòa”, ĐCS đang đi trên một con đường nhiều rủi ro: họ trấn áp những tranh luận quan trọng và trấn áp quan niệm của người dân về tương lai của đất nước họ. Tại những cuộc xung đột sắc tộc, họ đỗ lỗi cho nước ngoài về những vấn đề mà thật sự là do trong nước gây ra.
Ví dụ Tây Tạng và Tân Cương: những người lãnh đạo ĐCS không cho phép người dân sống ở đấy tranh luận công khai về những khó khăn của họ, về cuộc đi tìm sự nhận dạng của họ và những tưởng tượng của họ về cuộc sống của họ trong xã hội Trung Quốc. Trong bầu không khí đấy, những vấn đề bình thường trở thành hết sức là chính trị. Phê phán chính sách giáo dục cho các sắc tộc thiểu số, một chính sách giáo dục bị tranh cãi, là không thể. Ai mặc dù vậy vẫn mở miệng đều bị nguy hiểm sẽ vào tù như người có chủ trương ly khai hay còn là kẻ khủng bố nữa. Qua đó, chính trị gia Trung Quốc đã gieo mầm cho những cuộc nổi loạn mới, có lẽ còn dữ dội hơn nữa.

Công thức ảo thuật 70/30

Trung Quốc đang phải chịu đựng một chỗ yếu khác – cách xử sự với quá khứ. Người đàn ông mà chân dung của ông ấy được treo từ nhiều thập niên nay ở cổng Thiên An Môn và nhiều tấn bi kịch đã diễn ra nhân danh ông ấy vẫn còn được tôn sùng xưa cũng như nay: Mao Trạch Đông. Lý thuyết của ông ấy có tầm cỡ hiến pháp, chân dung của ông ấy đập vào mắt trên tất cả các tờ tiền giấy từ một nhân dân tệ cho tới 100 nhân dân tệ.
Từ những năm 50, hàng triệu người trong nước Cộng hòa Nhân dân đã trở thành nạn nhân của những cuộc đấu tranh ý thức hệ và của những dự án điên rồ. Chịu trách nhiệm cho việc đấy là đảng mà ngày nay đang dẫn dắt vận mệnh của đất nước này. Chỉ 30 phần trăm các việc làm của Mao là sai, Đặng Tiểu Bình tuyên bố sau cái chết của Mao năm 1976 – phần còn lại được xem là o.k. Ai hoài nghi sự phán xét này, nói quá to về diễn biến của thời đấy, nghiên cứu quá tỉ mỉ về các nguyên nhân, hỏi xoáy quá sâu vào trách nhiệm, người đấy đặt dấu hỏi về quyền lực của ĐCS và trong trường hợp xấu nhất thì làm nguy hại đến tự do của mình.
Nhưng một xã hội có thể tiến bước vào tương lai khi nó nhắm mắt hoàn toàn trước những đoạn đen tối trong lịch sử của nó hay không? Tôi cho là không. Một ngày nào đó nó sẽ bị những con ma của quá khứ bắt kịp.
Sau lần nhìn vào nội bộ bây giờ chúng ta hãy quan sát xem Trung Quốc đối xử với thế giới bên ngoài ra sao. Trung Quốc tác động ra bên ngoài như thế nào – nhẹ nhàng hay hung hăn? Nó muốn đạt đến những gì, ngăn chận những gì? Chắc chắn một điều: từ 2009 Trung Quốc xuất hiện ngày càng tự tin hơn – và đôi khi đã làm cho láng giềng gần xa lo sợ. Chương kế tiếp bàn về chính sách đối ngoại của Bắc Kinh.
______________________
[1] Wong, Ansfield: “In China, Hu’s successor is being quietly groomed”, New York Times, 23/01/2011
[2] “Roter als rot” ["Đỏ hơn đỏ"], trong “Die enthüllte Supermacht – Amerikas Geheim-Depeschen” ["Siêu cường quốc bị lột trần – Những điện tín bí mật của Mỹ"] SPIEGEL Special Số 1, Tháng 12 năm 2010.
[3] Wong, Ansfield: “In China …” New Yourk Times, 23/01/2011
[4] Như trên.
[5] Xinhua 8 tháng 9 năm 2010. Nhân dân Nhật báo, 10/09/2010
[6] “Roter als rot” ["Đỏ hơn đỏ"], trong “Die enthüllte Supermacht – Amerikas Geheim-Depeschen” ["Siêu cường quốc bị lột trần – Những điện tín bí mật của Mỹ"] SPIEGEL Special Số 1, Tháng 12 năm 2010
[7] Chen Li: “China’s Team of Rivals”, Foreign Policy, March/April 2009
[8] Xem “Die enthüllte Supermacht – Amerikas Geheim-Depeschen” ["Siêu cường quốc bị lột trần – Những điện tín bí mật của Mỹ"] SPIEGEL Special Số 1, Tháng 12 năm 2010
[9] Richard Spencer: “Tiananmen Generation could not rule China”, The Telegraph, 11/10/2007
[10] “Chinese Leader Offers a Glimpse of the Future”, New York Times, 28/01/2010
[11] “Chongqing-SW China mega-city building huge security system”, AFP 08/03/2011
[12] Zhang Wen, http://chinageeks.org
[13] Willy Lam: “Heir apparent showing his stripes”, Asia Times, 22/12/2010,http://www.atimes.com/atimes/China/LL22Ad01.html
[14] Kathrin Hille: “Chinese Intenet censors boast of good year”, Financial Times, 30/10/2010

Chương IV: "Ảnh hưởng to lớn hơn"

Trung Quốc thay đổi chính sách ngoại giao

Ở cạnh đường vành đai thứ hai của Bắc Kinh có một ngôi nhà to màu xám, phồng ra bên ngoài như một pháo đài. Cảnh sát của Quân đội Giải phóng Nhân dân đứng gác ở phía ngoài, những người nữ hầu bàn trong bộ quần áo đỏ và đen phục vụ trà cho khách ở bên trong, chúng tôi đang ở trong Bộ Ngoại giao của nước Cộng hòa Nhân dân Trung hoa.
Trong phòng làm việc của họ, các nhà ngoại giao Trung Quốc tường thuật, tất cả đều giản dị: thiếu nhân sự. Trong Phòng Báo chí, chịu trách nhiệm cho nhà báo nước ngoài, không có nữ thư ký và cũng không có người đưa thư. Vì thế mà các cán bộ phải tự gửi fax và sao chụp và nhiều nhất là chỉ có thể những giao việc đấy về cho lớp cán bộ trẻ.
Sau thời gian học tập này, các nhà ngoại giao Trung Quốc không được gửi ra nước ngoài mà là về làng mạc và thành phố Trung Quốc. Ở đấy, như là phó chủ tịch hay phó bí thư, họ cần phải thu thập kinh nghiệm trong cuộc sống thường ngày của đất nước mà rồi sau này họ phải đại diện cho nó một cách đáng tin cậy ở bên ngoài.
Diêm Học Thông thuộc vào trong số các nhà khoa học và chuyên gia về chính sách ngoại giao nổi tiếng nhất. Ông là nơi đến cho nhân viên các đại sứ quán và nhà báo nước ngoài, những người để cho ông giải thích về chính sách của Bắc Kinh. Ông nói tiếng Anh tốt, ngồi trên một chiếc ghế màu tím trong một phòng tiếp khách của Đại học Thanh Hoa ở Đông-Bắc của Bắc Kinh và trình bày về tương lai của châu Á vào một ngày mùa đông lạnh lẽo.
Ông không muốn nói về một châu lục đang vươn lên trong ý nghĩa của một sức mạnh chung. Không, ông nói, nhiều nước châu Á tuy tăng trưởng về kinh tế nhưng người ta không thể nào nhìn châu lục này như một cái gì đó thuần nhất, cái dịch chuyển trọng lượng của thế giới. Đó là Trung Quốc thì nhiều hơn, nước kéo châu Á lên cùng với nó. Trong vòng 20 năm tới đây, ông ấy nói, thế giới sẽ trở nên đa cực, tức là sẽ không còn chỉ một quyền lực, USA, là quyết định sự việc xảy ra. Chỉ Trung Quốc là có một cơ hội đến gần được với siêu cường Mỹ – “nước Nga không, Ấn Độ không, Brazil không”.
Diêm Học Thông được xem như là tiếng nói của những người mà ngay từ bây giờ đã yêu cầu chính phủ hãy xuất hiện tích cực hơn nữa ra bên ngoài. Quyền lực kinh tế và sự hiện diện của đất nước trên thế giới phải hòa hợp với nhau, ông ấy nói. Hơn 30 năm nay, các nhà ngoại giao Trung Quốc đã tuân theo những câu châm ngôn cho chính sách ngoại giao Trung Quốc của trưởng lão ĐCS qua đời năm 1997 Đặng Tiểu Bình, “điềm tỉnh, điềm tỉnh, điềm tỉnh cúi đầu xuống và làm xong việc riêng của chúng ta.”
Có ba nguyên tắc dẫn dắt ngoại giao Trung Quốc, những nguyên tắc mà Wu Jianming, cựu đại sứ và bây giờ là giáo sư tại Đại học Ngoại giao, trường đại học riêng của bộ, mô tả như sau: “không bành trướng, không bá quyền và không liên minh”. Trung Quốc sẽ không bước theo dấu chân của các thế lực thực dân, không hướng đến sự thống trị, vì những thế lực như thế trong quá khứ đã thất bại và liên minh có thể khiến cho một cuộc Chiến tranh Lạnh mới xẩy ra.[1]
Hai năm sau đó, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dương Khiết Trì đã quả quyết ở Hội nghị An ninh München năm 2010 trước những thính giả đang nghi ngại rằng “một Trung Quốc phát triển” không cần phải làm cho họ lo ngại, đó “không phải là một mối đe dọa, mà là một cơ hội”. Đối với các nước khác, Trung Quốc sẽ “tiếp tục đối xử bình đẳng. Trung Quốc sẽ không bao giờ ép buộc ý muốn riêng của mình lên các nước khác. Thời gian mà một hay hai nước quyết định cho cả thế giới đã qua từ lâu rồi. Chúng tôi luôn luôn ủng hộ cho việc tất cả các nước, dù lớn hay nhỏ, mạnh hay yếu, giàu hay nghèo, đều là thành viên bình đẳng của cộng đồng quốc tế.”[2]
Tám tháng sau đó trong hội nghị ASEAN ở Hà Nội, Dương không còn muốn biết gì về những lời nói nhẹ nhàng của mình nữa: trong một thảo luận về những vùng lãnh thổ đang bị tranh cãi trong Biển Đông, ông lưu ý các láng giềng: “Các anh hãy nhớ rằng sự thịnh vượng của các anh phụ thuộc vào chúng tôi cho đến đâu.” Và: “Trung Quốc là một nước lớn, và các nước khác là nước nhỏ, và đó là một sự thật.” Trong các thủ đô ở Đông Nam Á, lời nói bóng gió này đã được chú ý ghi nhận.[3]

“Chúng ta cần một Vạn Lý Trường Thành”

Nhà ngoại giao và nhân viên ngân hàng Trung Quốc bây giờ cùng ngồi cạnh bàn hội nghị của các tổ chức tài chính quốc tế – trong Ngân hàng Thế giới hay trong IMF ở Washington –, và họ có một mục đích: các tổ chức được tạo ra sau Đệ nhị thế chiến này cần phải bước ra khỏi con đường mòn của chúng. Vì hệ thống tài chính thông thường, Trung Quốc cho là như thế – và cả Ấn Độ nữa – ưu tiên cho các quốc gia công nghiệp và gây bất lợi cho “các nước năng động sắp trở thành nước công nghiệp” và họ tự xếp họ vào trong đó. Thêm vào đó, trong thời gian của cuộc khủng hoảng châu Á 1997 IMF đã tạo nhiều đau khổ cho các nạn nhân của cuộc khủng hoảng.
Điều đấy không phải là đơn giản. Nhờ sức mạnh kinh tế mà USA vẫn còn chiếm tỷ lệ phiếu 17,77% trong IMF mà với nó họ có thể ngăn chận tất cả các quyết định quan trọng. Nhưng Trung Quốc hiện nay, theo một nghị quyết của các nước G-20 năm 2010, đã nhích lên đến vị trí thứ ba, bây giờ nước này gửi một nhân viên cao cấp của Ngân hàng Trung ương vào nhóm đứng đầu của IMF.[4]
“Chúng tôi có ý định sẽ bảo vệ tỷ lệ phiếu của những nước nghèo nhất”, sếp Ngân hàng Trung Ương Bắc Kinh Châu Tiểu Xuyên nói. Ngoài ra, Bắc Kinh muốn chấm dứt những cuộc thỏa thuận ngầm về nhân sự của các nước công nghiệp phương Tây. Nằm trong tầm nhìn trước hết là người Mỹ, những người đang thống trị IMF. Châu: “Ban giám đốc của Quỹ cần phải được bầu chọn qua một quá trình cởi mở, minh bạch và dựa trên công lao cống hiến”.[5]
Một nước cờ đẹp của một đảng mà luôn luôn giải quyết chuyện nhân sự riêng của mình ở phía sau những cánh cửa đóng kín. Chính phủ Trung Quốc kêu gọi IMF không chỉ xem xét tỉ mỉ ngân sách của những nước nghèo như một nhà kiểm toán khó tính mà cả ngân sách của các quốc gia công nghiệp nữa. Cuối cùng thì những nước này với “chính sách về ngân sách, tiền tệ và tài chính không thích đáng đã gây thiệt hại trong tăng trưởng kinh tế, trong tỷ lệ người có việc làm, ở thương mại và ở hệ thống tiền tệ quốc tế nhiều hơn” là các nước khác, chuyên gia tài chính Trung Quốc nói: “Sự kiểm soát phải công bằng và như nhau. Các quy định phải được viết mới lại.”
Tuy vậy, khi sếp IMF Dominique Strauss-Kahn phải từ chức trong tháng 5 năm 2011 do bị lên án vì áp phe tình dục ở New York, các nước châu Á đã không nắm cơ hội này mà đưa ra một ứng cử viên riêng – hay cùng nhau ủng hộ một ứng cử viên. Ít ra thì người nữ kế nghiệp Strauss-Kahn, nữ Bộ trưởng Bộ Tài chính Pháp Christine Lagarde, đã không còn có thể phớt lờ những người châu Á được nữa: trong thời gian kêu gọi ủng hộ cho lần ứng cử của mình, bà đã sang New Delhi và Bắc Kinh – và cuối cùng thì những người của Ngân hàng Trung ương Bắc Kinh cũng đã ưng thuận.
Ngân hàng thế giới, có nhiệm vụ chống nghèo trước hết là bằng cách cho vay, bây giờ được một người Trung Quốc cùng dẫn dắt: Lâm Nghị Phu, một nhà kinh tế Mác xít, người học đại học ở Đài Loan và Chicago và ngoài ra thì cũng đã có một lý lịch hấp dẫn. Trong tháng 5 năm 1979, người nguyên là đại úy của quân đội Đài Loan đã bơi từ đảo Kim Môn (Quemoy) vượt biển sang Hạ Môn vào nước Cộng hòa Nhân dân. Người đào ngũ để lại vợ và con gái. Theo như ông ấy giải thích sau này, ông muốn trở về với “nước mẹ Trung Hoa”.
Là Phó Tổng giám đốc và là kinh tế gia trưởng của Ngân hàng Thế giới, ông ấy muốn giật lấy mái chèo. Bắt đầu từ bây giờ, các quốc gia có hạ tầng cơ sở yếu kém không còn phải bị ép buộc thực hiện những cải cách tân tự do chủ nghĩa theo kiểu “Chúng tôi có giải pháp cho vấn đề của bạn” nữa. Ông ấy đã đưa ra một phương án, cái mà ông ấy gọi là “Kinh tế học cấu trúc mới” (NSE). Diễn đạt một cách đơn giản, nó nói rằng: khi các nước muốn giải phóng mình ra khỏi sự nghèo khổ thì họ cần phải đi theo con đường của Trung Quốc sau năm 1978, dùng “lợi thế của sự tụt hậu” và hướng đến những kinh nghiệm và chiến lược của những quốc gia thành công, những quốc gia mà vào lúc ban đầu cũng có những điều kiện tương tự như chính họ. Các chính phủ đấy phải hỗ trợ cho những “doanh nghiệp tiên phong” có nhiều hứa hẹn bằng cách ưu đãi thuế và cho vay. Thêm vào đấy, Lâm khuyến khích những nước có hạ tầng cơ sở yếu kém hãy xây dựng những vùng kinh tế đặc biệt – mà Trung Quốc cũng đã thành công với chúng.
Năm 2009, Trung Quốc tham gia Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng và Ủy ban Ổn định Tài chính. Cả hai ủy ban đều cần phải giám sát giám đốc của các ngân hàng và quỹ phòng vệ, để họ đừng lại tạo ra những gói tài chính đáng ngờ đã chịu một phần trách nhiệm cho cuộc khủng hoảng tài chính khắp thế giới năm 2008. “Chúng ta cần một Vạn Lý Trường Thành để giữ an toàn cho chúng ta”, Lưu Minh Khang nói, sếp cơ quan điều tiết ngân hàng của Trung Quốc. Vì thế mà ông ấy đưa ra một hiệp định quốc tế, để cải tiến “hệ thống điều tiết không hoạt động”.[6]
Hẳn là dưới áp lực của Trung Quốc mà IMF đã giảm nhẹ các quy định nghiêm ngặt của mình: “Chúng ta đã dịch chuyển theo hướng của những điều kiện ít khắt khe hơn”, phó IMF John Lipsky nói. “Chúng ta chỉ tập trung vào các biện pháp cốt lõi, những biện pháp không thể thiếu được cho ổn định, tăng trưởng và chống nghèo. Các khoản cho vay của chúng ta không còn bao gồm những quy định bắt buộc cho những biện pháp về cấu trúc mà có một tính mềm dẽo lớn hơn…”[7]
Thế nhưng các tổ chức phi chính phủ châu Á lại nghi ngại: mặc dù IMF quả quyết rằng các nước có thể nhận được tiền dễ dàng hơn ngày xưa, nhưng nhân viên của Ngân hàng vẫn tiếp tục đặt ra những điều kiện mà theo quan điểm của Bhumika Muchhala của Third World Network ở Malaysia là khó mà đáp ứng được: “Các khoản cho vay chống khủng hoảng của Quỹ vẫn còn bao gồm những điều kiện cũ, cắt giảm bớt chi tiêu công, giảm thâm hụt và tăng lãi suất – việc hoàn toàn ngược lại với chính sách kích thích mở rộng của các nước G-20.”[8]
Các nhà kinh tế nhà nước của Trung Quốc còn nhắm đến một mục đích nữa: đến một ngày nào đó họ muốn thay thế đồng dollar như tiền tệ dự trữ quốc tế. Nó không còn hợp thời nữa, họ nói. Sếp Ngân hàng Trung ương Châu kêu gọi ủng hộ cho một tiển tệ nhân tạo: quyền rút vốn đặc biệt của IMF, cái dựa trên một giỏ tiền tệ.
Chúng ta hãy tạm thời quay lưng lại với thế giới của nhân hàng và thị trường chứng khoán, của các thị trường tài chính và quỹ đầu tư và hãy nhìn xem các nhà ngoại giao Trung Quốc làm gì ở những nơi khác. Ví dụ như họ đã đưa ra sáng kiến của một tổ chức đa phương – Tổ chức Hợp tác Thượng Hải (SOZ). Để giải quyết cuộc tranh cãi về chương trình hạt nhân của Triều Tiên, từ tháng 8 năm 2003 họ tổ chức những cuộc đàm thoại sáu bên trong nhà khách quốc gia ở phía Tây của Bắc Kinh với Triều Tiên và Hàn Quốc, Nhật, Nga và USA. Mục đích: một bán đảo Triều Tiên không có vũ khí nguyên tử. Cho đến nay chúng không thành công. Vào thời gian chuyển tiếp 2010/2011, các vòng đàm thoại đã đi đến chỗ bế tắc.
Không thể không nhìn thấy: các nhà ngoại giao, giới quân đội và đại diện của các công ty ngoại thương nhà nước của Trung Quốc hiện xuất hiện khắp nơi trên thế giới, đặc biệt như là những người cùng cạnh tranh trong cuộc chạy đua vì nguyên liệu và thị trường. Bắt đầu từ khi nhậm chức năm 2003, sếp nhà nước và Đảng Hồ đã đi qua tất cả các châu lục, cho tới nay không một lãnh tụ Trung Quốc nào mà đi lại trên thế giới nhiều như ông ấy.
Từ 2008 hải quân gửi tàu chiến vào Vịnh Aden, có nhiệm vụ bảo vệ tàu chở hàng trước hải tặc Somalia. Đầu năm 2011, khu trục hạm “Xuzhou” đã đến Lybia để sơ tán hàng nghìn công nhân Trung Quốc. Đã từ lâu, Trung Quốc gửi đi nhiều lính mũ xanh hơn là USA, Liên hiệp Anh và Nga cộng lại, ngoài những nơi khác là đến Sudan, Congo, Libanon, Liberia và Haiti.[9]
Tuy nhiên, gần đây các nhà ngoại giao Trung Quốc đã phớt lờ nguyên tắc ngoại giao “không can thiệp” của họ, như ví dụ Lybia cho thấy. Trong Hội đồng Bảo an LHQ, vào tháng 3 năm 2001, Bắc Kinh đã không bỏ phiếu chống Nghị quyết 1973, cái trao quyền cho NATO được phép bắn hạ chiến đấu cơ của Lybia trong lúc hoạt động chống lại lực lượng nỗi dậy – Bắc Kinh bỏ phiếu trắng. Và cuối cùng Bắc Kinh còn tiếp túc trực tiếp với những người đối đầu với chính phủ của đại tá Muammar Gaddhafi.
Rõ ràng là có ba điều khiến cho người Trung Quốc phải quẳng đi những nguyên tắc của họ: họ lo sợ cho các dự án có giá trị trên 18 tỉ dollar của họ, những dự án mà họ đã hứa hẹn với người Lybia, họ không muốn chọc giận Liên đoàn Ả Rập và muốn thanh toán một món nợ với Gaddhafi. Đại tá lập dị này đã chọc giận người Bắc Kinh: ví dụ như năm 2006 ông ấy đã mời tổng thống Đài Loan thời đấy, Trần Thủy Biển, sang thăm Lybia. Thêm vào đấy ông ấy chưa từng thấy cần thiết phải viếng thăm Trung Quốc.

Lôi gậy ra khỏi bị

Người Mỹ và người Âu chờ đợi ở Trung Quốc nhiều nổ lực hơn nữa, như trong cuộc đấu tranh chống sự nóng ấm lên của khí hậu và họ yêu cầu Bắc Kinh giúp đỡ mạnh mẽ hơn nữa trong cuộc đấu tranh chống Taliban ở Afghanistan. Cuối cùng thì Trung Quốc có nhiều lợi ích kinh tế ở Hindu Kush, họ lập luận. Như một công ty nhà nước đã thắng cuộc đấu thầu khai thác mỏ đồng Aynak và đã đầu tư 2,8 tỉ dollar vào đấy.[10]
Cựu Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ và sau đấy là giám đốc Ngân hàng Thế giới, Robert Zoellick, yêu cầu Trung Quốc, cần phải là “một người chung phần có trách nhiệm”. Những điều như thế nghe giống như đạo đức giả không chỉ ở tai của người Trung Quốc. Không phải chính là USA hay sao, kẻ trong quá khứ với bộ tịch cường quốc của họ đã không xuất hiện như “một người chung phần có trách nhiệm”? Chính người Mỹ đã đòi hỏi cho mình quyền bảo vệ bằng mọi phương tiện “việc tự do tiếp cận những thị trường chìa khóa, nguồn năng lượng và nguồn tài nguyên chiến lược” – nếu cần thì với GIs.[11]
Chính là kẻ gây ô nhiễm môi trường USA, kẻ quả quyết rằng mình không thể tham gia Nghị định thư Kyoto, nghị định thư mà nhiều quốc gia muốn qua đó để làm giảm chất độc hại trong không khí. Và: USA hỗ trợ ở Ả Rập một thể chế quốc gia cực kỳ phi dân chủ. Thêm vào đó, USA đã từ chối không công nhận Tòa án Quốc tế ở Den Haag.
Về mặt khác, các nhà phê bình Trung Quốc cũng đúng khi lên án các chính khách Trung Quốc hưởng lợi từ những thể chế và quy định mà các quốc gia công nghiệp truyền thống đã tạo ra cho thương mại thế giới và cuộc chung sống của các quốc gia – và chẳng cần phải làm gì cho việc đấy cả. Mặc cho sức mạnh kinh tế của mình, Bắc Kinh không thuộc vào trong số những người chi tiền nhiều nhất của Liên Hiệp Quốc. “Trung Quốc tiếp tục đi trên con đường tự do của mình và chỉ đóng góp vào cho sự lãnh đạo toàn cầu nhiều như là cần thiết để giảm nhẹ phê phán của phương Tây”, chuyên gia Trung Quốc người Mỹ David Shambaugh.[12]
Để hiểu được tốt hơn sự phẫn nộ hướng về phía Trung Quốc, chúng ta phải quay trở về chính sách tiền tệ, là một điểm tranh cãi lớn. Bắc Kinh giữ tỷ giá đồng nhân dân tệ thấp nhân tạo để có thể bán rẻ hàng hóa Trung Quốc ra nước ngoài, đó là lời buộc tội người Trung Quốc của nhiều nước. Điều đấy làm cho nước Mỹ mất tròn 1,4 triệu việc làm, người Mỹ nhận Giải Nobel về Kinh tế, Paul Krugman tính toán trong năm 2009.[13]
Trung Quốc làm điều đấy như thế này. Ngân hàng Trung ương thu lại tiền dollar mà các công ty kiếm được qua bán ra nước ngoài với một tỷ giá cố định và chuyển cho họ thay vào đấy là nhân dân tệ – vừa mới được in ra. Vì thế mà ngân hàng này đã thâu thập được một núi ngoại tệ dự trữ khổng lồ. Cuối tháng 3 năm 2011 là 3,04 nghìn tỷ dollar. Với tiền này, người Trung Quốc mua ngoài những thứ khác là trái phiếu quốc gia của Mỹ – và qua đó là cho người Mỹ vay. Cho tới cuối năm 2010, Trung Quốc đã đầu tư tròn 1160 tỷ dollar vào trái phiếu của Mỹ.
Nếu như nhân dân tệ có thể được trao đổi tự do thì hệ thống hoạt động như sau: các nhà máy Trung Quốc kiếm được dollar và đổi chúng lấy nhân dân tệ theo tỷ giá tương ứng ở ngân hàng. Họ hỏi mua nhân dân tệ càng nhiều thì nó lại càng đắt, theo những quy luật của thị trường. Hậu quả: một nhà nhập khẩu hàng dệt may của Mỹ phải dùng nhiều dollar hơn để trả tiền cho hóa đơn của ông ấy ở Trung Quốc, giá cả của hàng hóa Trung Quốc sẽ tăng lên ở nước ngoài.
Mọi thứ còn tệ hại hơn thế nhiều, Krugman nói, người mà phán xét của ông ấy được nhiều chính khách tán thành, ngoài những người khác là Bộ trưởng Bộ Tài chính Mỹ Timothy Geithner. Toàn bộ nền kinh tế thế giới có thể tăng trưởng thêm 1,5% nếu như Trung Quốc không chất đống thặng dư thương mại và thặng dư ngoại tệ một cách điên rồ như thế và thay vào đó lại bơm tiền này vào chu trình kinh tế.[14] Vì thế mà người Mỹ cũng như người Âu đều thúc dục người trung Quốc nâng giá nhân dân tệ. trong đó, họ lưu ý đến những hiệp định đang có hiệu lực: khi trở thành thành viên của IMF, Bắc Kinh đã hứa sẽ “tránh không thao túng tiền tệ” và không “can thiệp về lâu dài, một mặt và trong quy mô lớn” để làm giảm giá đồng tiền của mình.[15]
Chuyên gia người Mỹ tính toán rằng chỉ cần nhân dân tệ tăng tỷ giá 1% trong những năm sắp tới đây thì thặng dư thương mại của Trung Quốc sẽ giảm đi 15 đến 25 tỷ dollar, thâm hụt toàn cầu của Mỹ giảm cho tới sáu tỷ. Nếu tăng tỷ giá tới 20% thì số cộng sẽ teo lại còn 350 đến 500 tỷ dollar và số âm của Mỹ có lẽ sẽ bớt đi 120 tỷ dollar. Tròn 500.000 việc làm có thể sẽ được tạo thêm ở USA.[16]
Người Trung Quốc phản bác lại. Họ không để cho người khác xen vào chính sách tiền tệ của họ, họ nói như thế, điều đó thuộc “chủ quyền quốc gia”. Thêm vào đó, họ đưa ra để cân nhắc rằng nhân dân tệ đã đắt thêm một phần năm trong những năm vừa qua – và lần tăng tỷ giá chỉ bị làm gián đoạn bởi cuộc khủng hoảng 2008 do USA gây ra. Nếu tỷ giá hối đoái hoàn toàn tự do thì sẽ có vô số tiền đầu cơ chảy vào Trung Quốc và nền kinh tế Trung Quốc sẽ thiệt hại lớn. Hậu quả là thất nghiệp nhiều hơn, sự ổn định chính trị bị đe dọa. Không ai trên thế giới thích như thế, họ nói, người Mỹ cũng không.
Và nói chung: ai hưởng lợi nhiều nhất từ Trung Quốc? Doanh nghiệp nước ngoài vào Trung Quốc, tàn phá môi trường, phung phí tài nguyên và thu lợi không biết bao nhiêu là tiền vì đồng lương thấp, như giáo sư tài chính người Hongkong Lang Xianping nói. Ví dụ như một món đồ chơi sản xuất ở Trung Quốc mang lại cho công ty Mỹ Mattel 3,60 dollar lợi nhuận, các nhà sản xuất Trung Quốc nhận được từ đấy nhiều lắm là 1,5 cent – vì “giá nguyên liệu bị kiểm soát bởi Wall Street và giá các sản phẩm cuối bởi những doanh nghiệp như Mattel”.[17] Nhưng trong lời lên án của mình, Lang đã không nhìn thấy một khía cạnh: không có các đầu tư của người nước ngoài, không có công nghệ của họ thì người dân của ông ấy chắc hẳn là đã không đến được nơi họ đang ở đấy ngày hôm nay.
Lời buộc tội, Trung Quốc với tính ngoan cố và ích kỷ của mình đã làm đảo lộn cơ cấu kinh tế của thế giới, hoàn toàn không phải là được chia sẻ ở khắp nơi trong phương Tây. Cả lời yêu cầu của Krugman có nhiều ảnh hưởng, phải làm áp lực nhiều hơn với người Trung Quốc, và, như ông thường hay diễn đạt, “đánh với cây gậy khúc côn cầu”, cũng không được tiếp nhận tốt – ví dụ như ở nhà kinh tế học có nhiều kinh nghiệm và chuyên gia châu Á Stephen Roach, người làm việc cho ngân hàng đầu tư Morgan Stanley.
Thật ra thì người ta nên dùng cây gậy đấy đánh người bạn Krugman của ông, ông ấy cho là như thế. Vì nguyên nhân của vấn đề nằm ở bên phía của người Mỹ. Họ cần phải tiêu ít tiền hơn và tiết kiệm nhiều hơn. Rồi họ sẽ có thể tự giải quyết lấy những khó khăn của họ mà không cần phải đổ lỗi cho người khác.[18]
Nhà sử học người Anh Paul Kennedy cho rằng lời kêu gọi nâng tỷ giá nhân dân tệ chỉ là “đánh nhau với cối xay gió”: vì khi tiền trung Quốc lên giá thì đồng dollar giảm – và “rồi những người mua bán tiền tệ – và, quan trọng hơn, các chính phủ châu Á, châu Phi và châu Mỹ La tinh – […] sẽ tách dự trữ ngoại tệ của họ ra khỏi đồng dollar ngày càng rủi ro nhiều hơn”. Nhưng một quốc gia mà không có tiền tệ có giá trị thì sẽ mất quyền lực và ảnh hưởng trên thế giới.[19]

Những thùng đạn ở trong cát

Chúng ta hãy rời chính sách tiền tệ và nhìn đến châu Phi. Ở đấy, sự hiện diện của Bắc Kinh đã gây bất an cho người Âu và người Mỹ, đặc biệt là cách thức mà các chính trị gia, nhà ngoại giao, nhà ngoại thương nhà nước và nhân viên kỹ thuật của nó xuất hiện. Bắc Kinh cho nhiều nước vay một cách thuận lợi, xóa nợ, xây đường xá, sân vận động, cầu, nhà máy thủy điện, bệnh viện và cảng, làm mới đường sắt – và qua đó mở rộng ảnh hưởng chính trị của mình. Khi Ngân hàng Thế giới, như năm 2008 ở Tchad, rút lại một khoản tiền cho vay vì nước này không giữ đúng cam kết, hay, như ở Angola, các thương lượng với IMF về giúp đỡ tài chính có nguy cơ thất bại, người trung Quốc nhảy vào thay thế.
Malawi sở hữu Uranium và một vài loại đất hiếm – nguyên liệu cần thiết để sản xuất linh kiện điện tử. Ở đấy, doanh nghiệp Trung Quốc xây ngôi nhà quốc hội, một khách sạn và một trung tâm hội nghị cũng như một sân vận động. Ngân hàng Xuất Nhập khẩu nhà nước của Trung Quốc cho nước Mozambique giàu than đá vay hai tỷ dollar để xây một đập thủy điện khổng lồ; cảng hàng không và sân vận động quốc gia được sửa chữa bằng tiền Trung Quốc. Doanh nghiệp Trung Quốc hứa hẹn với đất nước này những cuộc kinh doanh có giá trị 13 tỉ dollar cho tới năm 2020.[20] Tuy vậy, giới cạnh tranh không phải là đã ngủ quên: doanh nghiệp Ấn Độ, Malaysia, Hàn Quốc và Brazil cũng đang gắng sức về kinh doanh và giấy phép.
Việc Trung Quốc tiến vào châu Phi tự nó không phải là đồi bại. Nhưng nó dẫn đến việc ảnh hưởng của Mỹ và châu Âu biến mất dần. Đồng thuận Bắc Kinh – ngoại giao không có điều kiện tiên quyết – xói mòn “khả năng của các chính trị gia Mỹ, lập nên chương trình nghị sự quốc tế, và khả năng của các thể chế tài chính phương Tây, yêu cầu những hình thức chính phủ tốt hơn từ thế giới không phải là phương Tây”, nhà khoa học người Mỹ Stefan Halper nói.[21]
Trung Quốc hợp tác với tất cả các quốc gia mà có thể bán vũ khí và những sản phẩm khác cho các quốc gia đó và mua lại nguyên liệu. Và Trung Quốc biết đền đáp. Bắc Kinh ngăn chận các nghị quyết của LHQ chống lại chính phủ ở Khartoum, chính phủ mà bị buộc tội diệt chủng ở Sudan, cho đến khi áp lực quốc tế quá lớn ngay trước Thế Vận Hội 2008. Các nhà ngoại giao Bắc Kinh trả lời các phê phán về sự gần gũi của họ với chế độ giết người đó bằng lời lưu ý rằng ngoại giao im lặng giúp được nhiều hơn là sự ồn ào ở công cộng. Sau này mới biết rằng doanh nghiệp Trung Quốc rõ ràng là đã không tuân thủ việc cấm vận vũ khí với Sudan. Phóng viên BBC đã tìm thấy những thùng đạn với chữ Trung Quốc sau những cuộc đọ súng với lực lượng nổi dậy trong Nam Sudan.
Bắc Kinh cũng chống lại những biện pháp trừng phạt Iran, nước mà nhiều quốc gia, trong số đó có Cộng hòa Liên bang [Đức], muốn can ngăn ý định chế tạo bom nguyên tử. “Đối thoại và thương lượng” là con đường tốt hơn là tẩy chay, các nhà ngoại giao của nước này nói. Đầu năm 2010, Bắc Kinh chỉ gửi một quan chức cấp thấp vào vòng Iran của Liên hiệp Anh, Pháp, Nga, Đức và USA ở New York. Người này tuyên bố đơn giản rằng đây không phải là “thời gian” cho cấm vận, chấm dứt tranh luận.[22]
Sau đấy, người Trung Quốc bác bỏ các hoạt động chống “Cảnh vệ Cách mạng Hồi giáo”, những người cũng kiểm soát chương trình nguyên tử của Iran. Theo ý muốn của LHQ, chuyển khoản và những chuyến đi của họ cần phải được ngăn chận. Các nhà ngoại giao đã thành công trong việc làm giảm nhẹ các hoạt động [trừng phạt]. Phong tỏa, họ lý luận, không được phép làm hại đến người dân bình thường và thương mại bình thường.
Nghe có lý, nếu như không có một vài trở ngại. Về một mặt, China hoạt động kinh tế với nhiều tỉ dollar trong Iran, tức là nó có thể bị mất cơ hội kinh doanh khi tham gia các hoạt động trừng phạt của những quốc gia khác. Ví dụ như Trung Quốc muốn cùng với một doanh nghiệp trong nước xây con đập nước lớn nhất thế giới có giá hai tỷ dollar ở sông Bakhtiari trong miền Đông Nam. Người Trung Quốc đã xây tàu điện ngầm ở Teheran, sau khi họ chào giá thấp hơn nhiều so với cạnh tranh, ngoài những công ty khác là Siemens.
Tuy các quan chức Bắc Kinh thường hay quả quyết rằng họ rất quan tâm đến việc không được mua bán những loại vật liệu mà người ta cần để sản xuất vũ khí nguyên tử. Nhưng rõ ràng là Iran có thể mua những vật liệu như thế trong nước Cộng hòa Nhân dân, những thứ cần cho các thiết bị mà lại có thể sản xuất được Uran có khả năng được sử dụng cho vũ khí: bơm chân không đặc biệt, Kevlar, sợi cácbon và thép được tôi đặc biệt. “Trung Quốc không thực hiện và thông qua kiểm soát thương mại và luật trừng phạt một cách thích đáng. Thường xuyên có người Iran sang đấy và mua vật liệu”, khoa học gia hạt nhân David Albright của Woodrow Wilson International Center for Scolars in Washington cảnh báo.[23]
Và Trung Quốc cũng không muốn thông qua cả những trừng phạt chống Zimbabwe, một đất nước giàu platin và những nguyên liệu khác. Tổng thống Robert Mugabe, người đàn áp giới đối lập và tàn phá nền kinh tế của đất nước ông ấy, thay vào đấy đã nhận danh hiệu giáo sư danh dự của Đại học thuộc Bộ Ngoại giao Bắc Kinh, Trung Quốc xây dựng ở Zimbabwe một trung tầm đào tạo cho mật vụ, “Robert Mugabe National School of Inteligence”.[24]
Trong những vùng khác của thế giới, chính phủ Trung Quốc cũng ngoảnh mặt đi khi họ không muốn gây hại đến lợi ích kinh tế và chiến lược. Một vụ thảm sát ở thành phố Andishan của Uzbekistan trong tháng 5 năm 2005, khi lực lượng an ninh bắn chết hàng trăm thường dân dài tình trạng quản thúc tại gia của người đối lập đã được trả tự do Aung San Suu Kyi thì điều đấy theo quan điểm của Bắc King là một hành động của “chủ quyền tư pháp” và không xứng đáng để phê phán.
Bắc Kinh bảo vệ quan điểm của mình với “nguyên tắc không can thiệp vào nội bộ của các quốc gia khác”. Và Bắc Kinh chờ đợi người khác đáp lễ cho việc đó – về kinh tế cũng như về chính trị. Các doanh nghiệp muốn khai thác đồng, thiếc, dầu hay khí đốt. Các quan chức chính phủ thì lại yêu cầu một tuyên bố rõ ràng về chính sách một Trung Quốc: những ai thiết lập quan hệ ngoại giao với Đài Loan sẽ nhanh chóng đánh mất thiện cảm và hợp đồng, những ai săn đón Đạt Lai Lạt Ma cũng sẽ thế.
Mới đây, các nhà ngoại giao Bắc Kinh nói về một “vạch đỏ” mà theo quan điểm của họ là không được phép vượt qua. Năm 2009 Nam Phi dưới áp lực của Bắc Kinh đã hủy bỏ lời mời Đạt Lai Lạt Ma. Sau khi nữ thủ tướng Angela Merkel tiếp vị lãnh tụ tôn giáo Tây Tạng trong phủ thủ tướng năm 2007, người Trung Quốc đã đóng băng các quan hệ hơn nửa năm. Mới đây, hai nhà kinh tế học của Đại học Göttingen đã chứng minh trong một nghiên cứu, rằng sau một cuộc gặp gỡ với Đạt Lai Lạt Ma, các doanh nghiệp của những nước đó đã bán sang Trung Quốc máy móc, tàu thủy hay máy bay ít hơn chừng 8% trong một khoảng thời gian nhất định.[25]
Ở Na Uy sự việc đã trở nên dữ dội ngay trước khi nhà bất đồng chính kiến Lưu Hiểu Ba được trao vắng mặt giải Nobel Hòa bình. Trong một lá thư gửi các cơ quan đại diện ở nước ngoài tại Oslo, Bắc Kinh đe dọa sẽ có hậu quả nếu như các đại sứ của họ ngồi vào chỗ trong sảnh làm lễ: “Chúng tôi rất hy vọng rằng nước của các ngài … không tham dự vào các hoạt động chống lại Trung Quốc”, như trong đó viết.
Nhà báo và tác giả người Hongkong của “South China Morning Post”, Frank Ching, đã gọi lời đe dọa đấy là “thái độ trẻ con”. Thế giới sẽ rút ra những kết luận của nó từ cách đối xử trong tương lai của Trung Quốc như là một cường quốc. Bây giờ đã đến lúc Trung Quốc “trưởng thành […], đừng nhỏ nhen và phí công sức trong những việc không có hy vọng và không thông minh.”[26]
Tuy vậy, lời cảnh cáo của Trung Quốc ở Oslo đã thành công. Bên cạnh những quốc gia như Nga, nước trước sau gì thì cũng không coi trọng Giải Nobel Hòa bình, những nước như Afghanistan, Serbia hay Philippines cũng đã vắng mặt.
Cũng thiếu cả Nepal. Quốc gia nhỏ bé ở Himalaja lâu nay đã cảm nhận được áp lực của các nhà ngoại giao Trung Quốc. Họ cảm thấy khó chịu trước nhất là bởi những cuộc biểu tình của người Tây Tạng trên đường phố của Kathmandu. Bây giờ chính phủ đã cấm những cuộc biểu tình như thế. Đầu năm 2011, các nhà hoạt động người Tây Tạng buộc tội cảnh sát Nepal đã gửi trả người tỵ nạn về Trung Quốc và qua đó đã rời bỏ thông lệ ngầm mang lén họ sang Ấn Độ với sự giúp đỡ của Cao ủy Tỵ nạn LHQ.
Những lần vuốt ve của Trung Quốc trong thế giới thứ ba hiện đã mang lại thành quả. Điều đấy có thể cảm nhận trước hết là trong LHQ, và EU là nạn nhân. Trong khoảng thời gian từ 2007 đến 2008, các nhà ngoại giao của họ đã phải chấp nhận nhiều thất bại hơn là thông thường trong những lần bỏ phiếu, đặc biệt là về nhân quyền. Họ đã mất đi sự hỗ trợ của tròn một phần tư của tất cả các thành viên LHQ. Những nước này, ngược lại với trước đây, bỏ phiếu trong Đại Hội đồng LHQ, trong Hội đồng Bảo an và trong Hội đồng Nhân quyền ở Genève thường là với Trung Quốc – và với Nga. Chỉ riêng ở Genève, EU đã mất hơn nửa số phiếu. “Quyền lực quyết định luật chơi đang mất dần”, một nghiên cứu ở London chẩn đoán. “LHQ ngày càng được tạo hình bởi Trung Quốc, Nga và đồng minh của họ.”[27]

Hai người quyết định thế giới

“Trong thế kỷ 21″, lãnh đạo nhà nước và Đảng Hồ Cẩm Đào nói, “quan hệ giữa Trung Quốc và USA thuộc trong số những quan hệ quan trọng nhất”. “Không có Trung Quốc thì không làm gì được cả”, Tổng thống Mỹ Barack Obama nói.
Trung Quốc và Mỹ. Đó là những đối thủ mà không thể sống thiếu kẻ kia và số phận của thế giới phụ thuộc vào quan hệ của họ. Với lời phát biểu của mình, Tổng thống Mỹ cho thấy rằng ông đã nhận ra được tình trạng đã thay đổi của thế giới. “Các quan hệ giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc sẽ đặt dấu ấn lên thế kỷ 21″, ông nói. Chỉ khi cả hai quốc gia hòa hợp với nhau thì người Mỹ và người Trung mới đạt đến những mục đích quan trọng – dù đó là ở câu hỏi của biến đổi khí hậu, khắc phục khủng hoảng kinh tế hay không phổi biến vũ khí nguyên tử.
Nhìn từ phía châu Á thì Obama, người đã sống ở Indonesia nhiều năm trong thời niên thiếu, là vị tổng thống “Thái Bình Dương” đầu tiên của Mỹ, khác với những người tiền nhiệm hướng sang châu Âu nhiều hơn nhiều. Cố vấn an ninh Mỹ trước đây Zbigniew Brzezinski đã nhìn thấy một dịch chuyển địa chính trị từ Đại Tây Dương sang Thái Bình Dương. Ông nói về Trung Quốc và USA như “nhóm hai người có thể làm thay đổi thế giới”. Người ta đã còn nói về “Chimerica” nữa. Nhà chính trị học người Anh Niall Ferguson đã đặt ra khái niệm này, vì Trung Quốc và Mỹ đã gắn kết chặt chẽ với nhau đến mức họ đã tạo thành “một đơn vị kinh tế” từ lâu.[28]
Sức mạnh mới của Trung Quốc là một cú sốc cho nhiều người Mỹ. Đối với doanh nghiệp và chính khách đấy là một cảm giác khác thường, rằng đất nước của mình phụ thuộc vào những quyết định do nhà cầm quyền cộng sản đưa ra trong Vương Quốc Ở Giữa xa xôi. Nước Cộng hòa Nhân dân không những đã vượt qua mặt USA như là mục tiêu số 1 cho đầu tư nước ngoài. Doanh nghiệp Trung Quốc còn mua cả công ty Mỹ, như đã xảy ra tại gã khổng lồ về máy tính IBM.
Vì thế mà Thứ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ James Steinberg đã phát minh ra công thức “Tái bảo hiểm chiến lược” cho quan hệ với Trung Quốc. Ý tưởng ở đằng sau đó: Khi Washington và đồng minh của nó chào mừng người Trung Quốc như là “thế lực thịnh vượng và thành công” trên sân khấu quốc tế, thì ngược lại Bắc Kinh phải chứng minh cho thế giới thấy rằng “vai trò trên toàn cầu đang tăng lên [của Bắc Kinh] không phải được trả giá bởi an ninh và thịnh vượng của những nước khác”.[29]
“Chúng ta cạnh tranh ảnh hưởng với Trung Quốc. Bạn hãy gạt sang một bên khía cạnh nhân đạo Chúng-ta-làm-cái-mà-chúng-ta-tin. Chúng ta hãy nói về chính trị thực tế. Chúng ta cạnh tranh với Trung Quốc”, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Mỹ Hillary Clinton nói rõ trong Thượng viện Mỹ đầu tháng 3 năm 2011, sau khi đa số thuộc về Đảng Cộng hòa đe dọa cắt giảm viện trợ cho thế giới thứ ba trong Thái Bình Dương. “Trung Quốc đang cố gắng bước vào ở sau chúng ta và ở dưới chúng ta”. Ví dụ như nước này đã mời tất cả các nhà lãnh đạo của những quốc gia nhỏ ở Thái Bình Dương và đã đãi đằng họ một cách hào phóng.
Clinton tiếp tục: “Chúng ta có rất nhiều ủng hộ trong Thái Bình Dương. Nhiều nước nhỏ bé này đã bỏ phiếu cùng với chúng ta trong Liên Hiệp Quốc, họ là đồng minh vững chắc của Mỹ, họ đấu tranh cho những giá trị của chúng ta.” Nhưng, theo Clinton, viện trợ phát triển không chỉ quan trọng từ những lý do nhân đạo và đạo đức, mà còn nhằm để bảo đảm ảnh hưởng của Mỹ trên thế giới”. Nếu như có ai đó nghĩ rằng sự rút lui của chúng ta (ra khỏi viện trợ phát triển, ghi chú của tác giả) không đóng vai trò nào trong vai trò lãnh đạo của chúng ta trong một thế giới mà chúng ta đang cạnh tranh với Trung Quốc và Iran, thì người đấy sai lầm.”[30]
Các quan chức Trung Quốc về phần mình lại nghi ngờ rằng người Mỹ chỉ muốn một điều: ngăn cản Trung Quốc “vươn lên trong hòa bình” và muốn ép buộc họ những giá trị của Phương Tây như dân chủ. Tất cả những gì đến từ USA vì thế bị Bắc Kinh khám xét tỉ mỉ xem liệu nó có phục vụ cho mục đích “giữ cho Trung Quốc nhỏ bé” hay không. Yêu cầu của Washington, nâng giá nhân dân tệ, là một bằng chứng rõ ràng cho Bắc Kinh. “Cốt lõi của chiến lược mới của Mỹ (ở châu Á) là làm giảm ảnh hưởng của Trung Quốc ở trong vùng và bảo vệ cho các liên minh của Mỹ ở trong vùng”, Liu Ming của Viện Nghiên cứu châu Á và Thái Bình Dương ở Thượng Hải viết.[31]

Nhiều đầu bếp và một bộ trưởng yếu đuối

Chúng ta hãy đến gần ngôi nhà xám ở cạnh con đường vành đai số 2 của Bắc Kinh thêm lần nữa, Bộ Ngoại giao của Trung Quốc. Chính sách đối ngoại có thật sự thành hình ở đây hay không? Chính xác là những ai đứng ở đằng sau nó? Ai quyết định về chiến lược và chiến thuật, mưu mẹo và khéo léo, công hàm và châm chích, hiệp định và thỏa hiệp? Ai là cấp cao nhất?
Đứng đầu Bộ Ngoại giao từ năm 2007 là Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Dương Khiết Trì, một nhà ngoại giao chuyên nghiệp đã học tại London School of Economics. Thế nhưng các chuyên gia không cho ông ấy là người quyết định. Viện Nghiên cứu Hòa bình Quốc tế ở Stockholm (SIPRI) đã nghe ngóng trong giới chuyên gia về Trung Quốc và đã đi đến kết luận rằng người bộ trưởng và bộ của ông ấy “không nhất thiết phải là nhân vật quan trọng nhất trong lúc lập chính sách đối ngoại”.[32]
Đứng trên Dương là Ủy viên Quốc Vụ Viện có thẩm quyền về chính sách đối ngoại Đới Bỉnh Quốc, giống như một người trên bộ trưởng, được giao cho những nhiệm vụ đặc biệt. Ông ấy chịu trách nhiệm về Triều Tiên và EU. Có ở đấy cũng là “Phòng quốc tế của Trung Ương Đảng” và sếp của nó Vương Gia Thụy. Ông ấy lo về quan hệ với các đảng khác.
Nhưng trung tâm lãnh đạo lại là một ủy ban đầy bí mật, tác động trong hậu trường, “nhóm lãnh đạo về chính sách đối ngoại” của Đảng Cộng sản. Thuộc trong đó bên cạnh Dương và Đới và Vương là Bộ trưởng Bộ Thương mại, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng và Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia. Có một người không được phép thiếu – chủ tịch nước và sếp ĐCS Hồ Cẩm Đào.
Ông có quyền quyết định sau cùng, ví dụ như quyết định liệu Pháp có được nhận một hợp đồng chế tạo máy bay Airbus hay không. Ông ấy được cho là đã quyết định sự phản ứng về lần thử bom nguyên tử thứ hai của Triều Tiên trong tháng 5 năm 2009, vì giới ngoại giao và quân đội đã không thể thống nhất với nhau về một câu trả lời. Và câu trả lời đấy hết sức là dè dặt.
Trong thời gian vừa qua còn có những nhân vật khác xem vào trong chính sách ngoại giao, theo nhận biết của các nhà nghiên cứu hòa bình, ví dụ như Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLA). Quân đội trưng bày sức mạnh của mình ra ngoài nhiều hơn là cho tới nay và cùng đàm thoại, khi bàn về quan hệ với Ấn Độ, Nhận Bản, Triều Tiên, Pakistan, Nga và USA. Quân đoàn Pháo binh thứ hai, ngồi trên bút bấm khởi hành của tên lửa nguyên tử, và Bộ An ninh Quốc gia cũng như những nhà máy thuộc nhà nước quan trọng bây giờ cũng có ảnh hưởng đến chính sách ngoại giao.
Các nhà nghiên cứu hòa bình còn khám phá ra thêm một nhân vật khác: các dân cư trên mạng. Đó là những người dân bình thường và các nhà khoa học, những người bình luận về những quyết định trong chính sách ngoại giao trên các blog và diễn đàn Internet, có đôi lúc kích thích tinh thần chủ nghĩa quốc gia, ví dụ như chống lại Nhật, mà các quan chức Trung Quốc ngày càng phải để ý tới nhiều hơn, nếu như họ không muốn có những cuộc chống đối xảy ra.
Tình trạng lộn xộn phức tạp này thỉnh thoảng ngăn cản không cho có những phản ứng nhanh chóng. Quan điểm phải được làm cho phù hợp giữa nhiều nhân vật. Sau khi chiếc tàu hộ tống “Cheonan” của Hàn Quốc rõ ràng là bị một thủy lôi Triều Tiên đánh đắm trong tháng 3 năm 2010, Bắc Kinh cần một thời gian dài cho bản tuyên bố. Người Trung Quốc phải làm rõ câu hỏi khó, rằng họ muốn giữ khoảng cách với đồng minh của họ ở Bình Nhưỡng hay muốn ủng hộ họ. Cuối cùng thì là: không bình luận, chờ xem.
__________________________
[1] Wu Jianming, “Past, Present and Future, Chian Security, Vol. 4 Nr. 3, 2008
[2] Trang mạng của Đại sứ quán Trung Quốc ở Berlin,http://big5.fmprc.gov.cn/gate/big5/de.china-embassy.org/det/zt/Themen/
[3] Xem “China’s Aggressive New Diplomcy”, Wall Street Journal,http://online.wsj.com/article/SB10001424052748704483004575523710432896610.html
[4] Thành viên của G 20: Đức, USA, Liên hiệp Anh, Pháp, Nhật, Trung Quốc, Brazil, Nga, Ấn Độ, Úc, Nam P, Canada, Mexico, Argentina, Hàn Quốc, Indonesia, Ả Rập Saudi, THổ Nhĩ Kỳ, Liên minh châu Âu, Ý.
[5] Tuyên bố tại hội nghị lần thứ 22 của Ủy ban Tiền tệ và Tài chính Quốc tế của IMF, 09/10/2010
[6] “China proposes global finance pact”, The Wall Street Journal, 11/10/2010
[7] John Lipsky: “Realizing the Potential of Asia’s Developing Economies”, Hanoi, March 22, 2010
[8] Robert Weissmann: “A new Life for the IMF: Capitalizing on Crisis”, Toward Freedom,http://www.towardfreedom.com/globalism/1612-a-new-life-for-the-imf-capitalizing-on-crisis
[9] Xem Linda Jakobson, Dean Knox: “New Foreign Policy Actors in China”, Sipri-Policy Paper no. 26, Stockholm, 2010
[10] “China’s quiet power grab”, The Washington Post, 28/09/2010
[11] Noam Chomsky: “China Growing Independence and the New World order”, In These Times, 05/10/2010. http://www.inthesetimes.com/main/print/6499/
[12] David Shambaugh, The Washington Quarterly, 2011
[13] Paul Krugman: “Chinese New Year”, New York Times, 31/12/2009
[14] Bloomberg Businessweek, 12/03/2010
[15] C. Fred Bergsten và những tác giả khác: “China’s Rise”, peterson Institute for international Economics, Washington, 2009
[16] “The Chinese Exchange Rate”, Peterson Institute for International Economics,http://www.iie.com/research/topics/hottopic.cfm?HotTopicID=3
[17] Lang Xianping: “China’s wealth vanishes into foreign pockets”, Global Times, 26/09/2010
[18] Bloomberg Businessweek, 18/03/2010
[19] Paul Kennedy: “Don’t surrender US-Influence to Bejing”, International Herald Tribune, 30(09/2010
[20] Johan Lagerkvist: “Westward Ho: Asians March into Africa”, Yale Global Online, 16/03/2011.
[21] Stefan Halper: “The Beijing Consensus”, Basic Books, New York, 2010
[22] “Beijing blocks talks on tackling Iran Nuclear threats”, The Times, 18/01/2010
[23] “Chian Failing to Enforce Nuclear-Weapons Sanctions on Iran, Expert Says”, Blommberg, 14.01.2011
[24] “Chinese Spy Center taps Diplomat?”, The Zimbabwean, 02/03/2011
[25] “Göttinger Volkswirte: Chian reagiert auf Empfänge des Dalai Lama mit Handelsreduktionen”, Pressemitteilung der Wirtschaftswissenschaftlichen Fakultät der George-August-Universität Göttingen 234/2010
[26] Frank Ching: “China and Liu Xiaobo’s Nobel Prize: The end of ‘Peaceful Rise’?” trong Opinion Asia, http://opinionasia.com/node/834
[27] Richard Gowan, Franziska Brantner: “A Global Force for Human Rights? An Audit of European Power at the UN”, Policy Paper, European Council On Foreign Relations, London 2008.
[28] Niall Ferguson: “Not two countries, but one: Chimerica”, The Telegraph, 04/03/2007,http://www.telegraph.co.uk/comment/personal-view/3638174/Not-two-countries-but-one-Chimarica.html
[29] Xem Evan Osnos: “Strategic Reassurance”, Letter from Chian, The New Yorker, 06/10/2009
[30] Daniel Dombey: US struggling to hold role as global leader, Clinton says”, Financial Times, 02/03/2011
[31] Liu Ming: “No need to worry about Obama’s East Asia strategy”, china.org.cn, 12/11/2010
[32] Linda Jakobson, Dean Knox: “New Foreign Policy Actors in China”, Sipri-Policy Paper No. 26, Stockholm 2010


Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 7)

Chương V: "Khi gã khổng lồ ngã xuống"

Về những rủi ro và tác dụng phụ của lần bùng nổ ở châu Á

Xe phun nước rút lui về cho đến tận cuối phố, với họ là cảnh sát và binh lính. Xe buýt nhỏ với nhà báo chạy tới. Chính quyền địa phương muốn cho chúng tôi thấy những gì mà người Uyghur quá khích đã gây ra trong những ngày trước đó. Ví dụ như họ đã đốt cháy một salon ôtô lớn trong khu phố này.
Thế nhưng cuộc họp báo đã thất bại. Khi chúng tôi nói chuyện với người dân Uyghur trong những con đường phụ, có nhiều người phụ nữ la hét và khóc lóc nhanh nhóng bao quanh lấy chúng tôi, yêu cầu thông tin về số phận của những người chồng, con trai và anh em của họ. Họ đã bị những đội bắt người mang đi trong những đêm trước đó. “Đến trẻ em cũng bị họ mang đi.
Những người phụ nữ lợi dụng sự có mặt của camera nước ngoài và tụ tập lại trên con đường chính. Cảnh sát sờ vào súng, quân lính đu đưa gậy đánh người, mấy chiếc xe phun nước lại lăn đến. Cuối cùng, người ta thành công trong việc chận đứng bùng nổ, những người phụ nữ đi về nhà.
Trong tháng 7 năm 2009, thống trị trên đường phố của Ürümqi, thủ phủ của vùng Tân Cương nơi sinh sống của người Uyghur và những nhóm dân Muslim khác ở rìa Tây của Trung Quốc, là tình trạng khẩn cấp. Quân lính của “Cảnh sát Nhân dân Vũ trang”, một lực lượng của quân đội, khóa chặt cả khu phố, đóng chốt trên các ngã tư và trong các con đường hẻm. Tối tối, các chính ủy đọc những bài bình luận từ báo Đảng cho những người mang quân phục nghe. Đường dây điện thoại ra nước ngoài bị cắt đứt, tin nhắn bị chận lại, chỉ được phép vào Intenet nhiều tháng sau đó.
Lần nổi dậy bắt đầu vào ngày 5 tháng 7 sau một cuộc biểu tình của sinh viên người Uyghur, cuộc biểu tình mà đã chấm dứt một cách đẫm máu. Một đám người xuất hiện bất thình lình và tấn công người Hán. Cuối cùng, cơ quan nhà nước đếm được 197 người chết, nhiều cửa hàng và nhà bị đốt cháy. Sau đó, người Hán kéo đi tấn công người Uyghur.
Nguyên nhân của cuộc chống đối là một sự kiện cách đấy hàng nghìn kilômét về phía Đông Nam. Ở đấy, hai công nhân người Uyghur đã bị người Hán đánh chết trong một nhà máy. Các sinh viên biểu tình yêu cầu cung cấp thông tin chính xác hơn, quyền lực nhà nước phản ứng mạnh với những vụ giết người ở Ürümqi. Hàng trăm người bị bắt giam, vài người bị tuyên án tử hình, thay đổi quan chức cấp cao. Nguyên nhân thật sự của tấn bi kịch, như chúng tôi tìm thấy qua trao đổi với người Uyghur, rõ ràng không phải là những người quá khích, đấu tranh cho một “Đông Turkestan” độc lập với Trung Quốc. Mà chính là vì lòng căm phẫn đã vỡ đập, lòng căm phẫn trước sự giám hộ của Trung Quốc và trước sự tham nhũng – cũng như nỗi lo ngại bị bỏ lại trong lúc Trung Quốc vươn lên.
Những sự kiện đã xảy ra ở Ürümqi cho thấy cuộc sống bên trong của Trung Quốc đôi lúc phức tạp cho đến đâu, các căng thẳng chính trị và xã hội có thể bùng nổ nhanh cho đến đâu. Ở khắp nơi trong Ấn Độ và Đông Nam Á, tôi đã đặt ra một câu hỏi cho các chính khách cũng như nhà khoa học: Điều gì có thể ngăn cản sự vươn lên của châu Á? Câu trả lời bao giờ cũng rõ ràng và giống nhau: Bất bình đẳng xã hội quá lớn trên châu lục và sự bất ổn định trong Trung Quốc.
Tân Cương chỉ là một trong những vùng đang sôi sục của Trung Quốc. Một năm trước đó, 2008, các nhà sư đã phản đối trên đường phố của Lhasa, thủ phủ của Tây Tạng. Cả ở đây, các cuộc biểu tình đã biến thành bạo lực chống lại người Hán và những người nhập cư khác. Nhà sư và người dân trong những khu dân cư Tây Tạng của các tỉnh lân cận tỏ tình đoàn kết. Các nhà sư Tây tạng mà chúng tôi đã có thể nói chuyện với họ luôn luôn nhắc lại những lời ta thán về những quan chức can thiệp quá sâu vào trong các tu viện. Các thầy tu bị ép buộc phải quy phục về mặt chính trị. ĐCS muốn có tiếng nói cuối cùng, ngay cả khi phải tìm thấy Phật sống, tức lần đầu thai của những nhà sư đặc biệt linh thiêng. Cái mà người Tây Tạng đặc biệt oán giận chính phủ trung ương Bắc Kinh: họ từ chối không cho người đứng đầu về tôn giáo của họ, Đạt Lai Lạt Ma, trở về Tây Tạng.
Ở rìa của nước Cộng hòa Nhân dân không yên ổn, ở nội địa cũng không yên ổn. ĐCS ngày càng hay phải đối phó với những người dân không còn để cho người ta dễ dàng dọa nạt mình như trước đây nữa. Họ thường phản đối cán bộ tham nhũng, chống tịch thu đất không công bằng, chống lại những nhà máy phun ra chất độc. Lúc đấy có xe cảnh sát bốc cháy và cả trụ sở ủy ban nhân dân nữa, và đôi lúc nó trở nên dữ dội đến mức quân đội bắn vào người biểu tình. Trong năm 2008, cơ quan nhà nước đếm được trên 120.000 “vụ việc đông người”.
Đình công, biểu tình và phản đối thuộc vào trong cuộc sống bình thường của nhiều nước. Ở Trung Quốc, nơi lãnh đạo của nó thề thốt “ổn định” và “hài hòa”, chúng luôn luôn ẩn dấu mầm mống của một cuộc khủng hoảng chính trị. Và qua đó có một câu hỏi được đặt ra: Liệu đất nước này đến một lúc nào đó có bị sa lầy trong lúc đang muốn tiến tới hay không.

Doom hay Boom?

Cho tới nay, không một nước nào trên thế giới đạt được tỷ lệ tăng trưởng chín, mười, mười một phần trăm qua nhiều năm như thế. Cả ở Trung Quốc rồi cũng sẽ không tiếp tục được như thế. Ngân hàng Phát triển châu Á tiên đoán sẽ có một giai đoạn kém tăng trưởng, nếu như Bắc Kinh cứ tiếp tục chính sách của họ, đầu tư quá nhiều vào nhà máy và thiết bị thay vì nhiều hơn vào giáo dục và nghiên cứu. Nền kinh tế Trung Quốc sẽ tăng trưởng trung bình chỉ khoảng 5,5% trong thời gian từ 2010 đến 2030, so với 9,4% từ 1981 đến 2007. Lời cảnh báo đấy cũng dành cho các quốc gia châu Á còn lại.[1]
Giáo sư kinh tế người Mỹ Michael Pettis giảng dạy sinh viên Trung Quốc tại Đại học Bắc Kinh về chính sách tài chính và giúp đỡ mầm non nhạc Rock Trung Quốc trong quán “D-22″ của ông ấy. Ông cũng nhìn tương lai của Trung Quốc một cách hoài nghi nhiều hơn: “Có một câu chuyện dài về những nền kinh tế lớn, ít nhiều đều được lập kế hoạch tập trung, rất không cân bằng, do đầu tư thúc đẩy với những tỷ lệ tăng trưởng rất cao qua nhiều thập niên, những nền kinh tế mà đã tạo ra tất cả các tiên đoán cuồng dại đủ mọi loại về sự tăng trưởng trong tương lai”, ông ấy nói. Và trong mọi trường hợp, như ở Brazil, Nhật hay Liên bang Xô viết, thì “những kỳ vọng ấy không hề được thỏa mãn, đến gần đúng cũng không”, ông ấy nói với tôi.
Stephen Roach có cùng nỗi nghi ngại đấy, giáo sư tại Đại học Yale và là sếp châu Á của ngân hàng Mỹ Morgan Stanley. Vào một buổi chiều của tháng 3 năm 2011, ông đứng trên bục diễn thuyết của một sảnh lễ hội trong Grand Hyatt Hotel Bắc Kinh và kêu gọi đảo ngược chính sách kinh tế Trung Quốc trước giới doanh nhân châu Âu: “Chiếc hàng không mẫu hạm phải đổi hướng đi của nó, và nó phải làm điều đấy ngay tức khắc!”
Ông ấy có ý nói Trung Quốc với “chiếc hàng không mẫu hạm”. Cũng như nhiều quốc gia châu Á khác, Vương Quốc Ở Giữa đã để cho nền kinh tế dựa quá nhiều trên xuất khẩu – một con đường rủi ro, như chuyên gia người Mỹ nhận thấy. Vì thế giới đã trở nên “khó chịu hơn” cho Trung Quốc: châu Âu mắc nợ nhiều, USA cũng thế, giá dầu tăng và trong thời gian dài tới đây nước Nhật sẽ không hồi phục lại sau thảm họa thiên nhiên và nguyên tử khổng lồ – tất cả đều là những yếu tố dẫn đến việc hàng hóa Trung Quốc không còn được mua nhiều như trước đây nữa. Tức là Trung Quốc phải chuyển đổi nền kinh tế của mình càng nhanh càng tốt, Roach suy ra: xuất khẩu ít hơn, tiêu thụ ở trong nước nhiều hơn là câu khẩu hiệu của ông ấy. Thế nhưng người Trung Quốc lại thích tiết kiệm hơn. Vì họ cần tiền để dàng cho tuổi già, cho đào tạo con cái của họ và cho hóa đơn thanh toán của bác sĩ. Bảo hiểm xã hội của Trung Quốc chỉ mới bắt đầu.
Roach cũng suy nghĩ như thế cho toàn bộ châu lục. Giấc mơ về thế kỷ châu Á chỉ thuần túy là lãng mạn. Các chính phủ châu Á, chuyên gia tài chính nói, tuy đã học được từ những lỗi lầm của cuộc khủng hoảng tài chính trầm trọng 1997/1998: dự trữ ngoại tệ mới được gom góp lại; cán cân vãng lai, tức là cán cân của tất cả các thanh toán của một nước ra nước ngoài và vào trong nước, lại là con số cộng; con số nợ ngắn hạn từ nước ngoài được giảm xuống. Qua đó, trong tương lai châu Á có thể chống lại những kẻ đầu cơ tốt hơn.
Tuy vậy, Roach vẫn còn nhìn thấy một mối nguy hiểm lớn. Tăng trưởng kinh tế phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu. Điều đấy làm cho châu Á dễ bị ảnh hưởng bởi những cuộc khủng hoảng ở đâu đấy trên thế giới. Nếu một ngày nào đấy người Mỹ và người Âu mua ít hơn vì cuộc sống của chính họ không còn sung túc nữa thì đấy là một tai họa cho châu Á. Chỉ khi châu Á thành công trong việc xoay sự tăng trưởng của nó từ xuất khẩu sang tiêu thụ trong nước thì rủi ro này mới được làm giảm đi, Roach nói: “Một đường xoắn ốc đi xuống xuất hiện, và dường như châu Á không hề chuẩn bị trước đến mức đáng ngại.”[2]
Doom hay boom? Suy tàn hay thăng tiến? Đối với Trung Quốc, tất cả các kịch bản này đều quá bi quan, Jonathan Anderson của ngân hàng Thụy Sĩ UBS đáp trả. Để cho Trung Quốc thất bại, phải cần nhiều hơn là chỉ những con số tăng trưởng thấp, mà phải là “rối loạn lớn hay một cuộc khủng hoảng trầm trọng làm triệt tiêu tăng trưởng qua một khoảng thời gian dài – và cuộc khủng hoảng này phải đến ngay trong thời gian sắp tới đây”.[3]

Tăng trưởng đắt giá

Chính người Trung Quốc nghĩ gì? Chính khách Bắc Kinh cũng nhận biết được những rủi ro đấy và thận trọng trong những phát biểu của mình nhiều hơn là những người khách nước ngoài nào đó, những người đến trong cảng hàng không hiện đại và bước vào những khách sạn hạng nhất. Nền kinh tế ốm đau, “không ổn định, không cân bằng, không được điều phối và không bền vững”, Thủ tướng Ôn Gia Bảo cảnh báo năm 2007 trong bản báo cáo của ông ấy trước Quốc Hội.
Sếp của China Construction Bank to lớn thuộc nhà nước, Guo Shuqing, cũng yêu cầu hãy cẩn trọng trước những thành công lớn lao: “Trong khi chúng ta xây dựng không ngưng nghỉ nhà máy, đường xá, nhà ở, chúng ta lại giập sập chúng với cùng một sự sốt sắng. Và theo những phương pháp thống kê của chúng ta thì tất cả những hoạt động đấy đều được tính vào trong tổng sản phẩm nội địa”, ông ấy viết trong China Daily.[4] Và tiếp tục: “Tăng trưởng kinh tế của chúng ta có hiệu quả thấp.”
Đồng thời, ông ấy phàn nàn về sự phung phí: “đầu tư vào hạ tầng cơ sở cao cực kỳ, cho tới mức nhiều đường cao tốc và đường sắt cho tàu cao tốc được xây cùng một lúc, và là theo cùng một hướng”.
Đặc biệt là có nhiều người bị bỏ lại. Những ai đi qua nội thành Bắc Kinh với những tòa nhà hành chính bằng kính, với trung tâm truyền hình mới có những góc cạnh táo bạo và những con đường rộng rãi của nó, nhìn thấy một thành phố lớn hiện đại, một thành phố mà không cần phải ngần ngại khi so sánh với những đô thị lớn khác. Nhưng những ai đi ra ngoài thủ đô chỉ một vài kilômét thôi, những người đấy lạc vào một thế giới khác. Ở đấy có những chiếc xe ba bánh cổ lỗ chạy lạch cạch trên những con đường xấu, người dân có ít tiền, họ mặc quần áo đơn giản, sống trong những căn nhà đơn giản.
1,34 tỉ người Trung Quốc tiêu thụ chỉ bằng khoảng chừng gần 66 triệu người Pháp.[5] Một nông dân trong tỉnh Quý Châu ở miền Tây Nam thu nhập cả một năm số tiền mà một gia đình khá giả ở Bắc Kinh chi ra trong một giờ đồng hồ duy nhất ở trong một nhà hàng: tròn 200 euro. Hệ số Gini, mô tả sự bất bình đẳng trong người dân (ở 0 thì mọi người đều như nhau, tại 1 là bất bình đẳng cực cao), nằm ở 0,47 năm 2008, cùng một trị với USA. Hơn 60% các thu nhập được che dấu, tức những thu nhập có được bằng một cách ít nhiều đều bất hợp pháp, thuộc vào 10% người dân giàu có – thường là cán bộ ĐCS và gia đình của họ.[6]
Nếu lấy sự phân bố tổng sản phẩm nội địa trên đầu người làm thước đo thì Trung Quốc ở hàng 106 trên thế giới, sau Columbia và ngay trước El Salvador.
Yu Yongding, nhà kinh tế học và trước đây là một quan chức cao cấp của Ngân hàng Trung ương, cũng bi quan. Ông ấy còn có chỗ trong cơ quan tiếng Anh của ĐCS China Daily cho các tiên đoán của mình – một dấu hiệu cho thấy ông ấy đã đánh trúng cảm nghĩ của nhiều người đồng chí của ông ấy. Tương lai của nền kinh tế Trung Quốc bị đe dọa bởi căng thẳng xã hội đang tăng lên, ô nhiễm môi trường, phục vụ công cộng thấp, phụ thuộc quá nhiều vào xuất khẩu và đầu tư quá nhiều ví dụ như trong bất động sản. Yu: “Tăng trưởng nhanh của Trung Quốc đã được mua với giá cực kỳ đắt. Các thế hệ tương lai của chúng ta sẽ phải trả giá thật sự.”[7]
Nền kinh tế Trung Quốc vẫn còn thiếu sức cải mới và sáng tạo. Và không có khả năng phát minh, tạo ra cái mới thì ngay một gã khổng lồ cũng đứng trên đôi chân bằng đất sét. “Và khi gã khổng lồ ngã xuống thì sẽ có nhiều người không trốn thoát được”, Yu nói. “Một liên minh tội lỗi của những người giàu và những người có quyền lực” hưởng lợi từ lần tăng trưởng này, một hệ thống của “những kẻ liếm gót giày” và của “sự cay độc” đã thành hình, vì thế mà cải cách chính trị là cần thiết hơn bao giờ hết. “Nếu Trung Quốc không thành công trong việc giải quyết các vấn đề cơ cấu của nó thì tăng trưởng sẽ không bền vững”, nhà kinh tế học cảnh báo.
Phù hợp với lời phát biểu của ông ấy là tin tức, rằng hiện đã có nhiều tỉ phú ngồi trong Quốc Hội. 70 người giàu nhất của 2987 đại biểu sở hữu tổng cộng 52,6 tỉ euro.[8]

Già sớm hơn giàu

Thế vẫn chưa đủ. Trung Quốc đứng trước một vấn đề về nhân khẩu học. Ngược với Ấn Độ, nó có nguy cơ già đi trước khi nó giàu lên. Giữa thế kỷ này, tùy theo ước lượng, từ 350 đến 400 triệu người sẽ trên 60 tuổi. Đấy là một phần ba của tổng dân số. Trong một vài thành phố, người già còn có thể chiếm nửa số dân cư.[9] Điều này có trước hết là hai nguyên nhân: thứ nhất, người dân Trung Quốc sống lâu hơn. Cho tới giữa thế kỷ, trung bình phụ nữ có thể sống đến 81 tuổi, đàn ông đến 76, cái là một sự tiến bộ văn minh to lớn. Khi ĐCS tuyên bố thành lập nước Cộng hòa Nhân dân vào năm 1949, người Trung Quốc nhiều lắm là thọ đến 45 hay 42 tuổi. Thứ hai là gia đình Trung Quốc ngày càng sinh ít con hơn. Phụ nữ Trung Quốc sinh trung bình chỉ 1,5 đứa con. Lỗi là do chính sách một con. Ai có nhiều hơn một con có thể bị trừng phạt nặng hay bị bắt buộc phải triệt sản và phá thai. Quy định tuy đã được nới lỏng. Vợ chồng trong thành phố lớn, những người tự mình là con một. bây giờ được phép có hai con, và ở nông thôn thì hai hay cả ba con vẫn còn được cho phép, nếu đứa con đầu là con gái hay bị tật nguyền. Thế nhưng cho tới nay giới lãnh đạo vẫn không nghĩ đến việc hủy bỏ những quy định này, tròn 500.000 quan chức chỉ có công việc là giám sát để cho chúng được giữ đúng.
“Cuộc khủng hoảng nhân khẩu tới đây sẽ ảnh hưởng sâu rộng đến Trung Quốc trong thế kỷ 21″, Feng Wang nói, giám đốc của trung tâm khoa học Brookings-Tsinghua. Chẳng bao lâu nữa, số người chết sẽ vượt con số trẻ em được sinh ra đời. Năm 2025, theo tính toán của Wang, con số người Trung Quốc sẽ đạt đến đỉnh điểm của nó là 1,4 tỉ người – và rồi sẽ đi xuống dốc. Hậu quả: Trung Quốc phải chi tiền nhiều hơn cho người già – và trong nhà máy sẽ có ít công nhân trẻ và rẻ tiền đứng cạnh những cỗ máy và băng chuyền hơn. Tiền lương tăng lên, và hàng hóa đắt hơn. “Biến đổi về nhân khẩu của Trung Quốc sẽ có những hậu quả rộng khắp cho nền kinh tế thế giới, cái phụ thuộc vào Trung Quốc như là nhà máy của thế giới trong hai thập niên vừa qua và lâu hơn thế”, Feng nói.[10]
Đạo quân người già không chỉ là một hiện tượng riêng của Trung Quốc, cả châu Á sẽ già đi. Một trong những nguyên nhân tại sao nền kinh tế Nhật Bản không còn tăng trưởng đầy ấn tượng như ngày xưa nữa là độ tuổi cao của người Nhật. Nhưng: Trung Quốc không chuẩn bị tốt. Trong năm 2010, chỉ tròn 270 triệu người Trung Quốc là đã ký kết một bảo hiểm về hưu sơ đẳng. Đó là 35% của số người đang lao động, ít hơn phân nửa của con số 80% thông thường trong các quốc gia công nghiệp.
Chăm sóc y tế tồi và đắt tiền, thiếu nhà dưỡng lão. Cuối năm 2010, chỉ có 8,6 giường cho một nghìn người già – khác với trong những nước công nghiệp có trung bình từ 50 đến 70 giường cho một nghìn người già trong các nhà dưỡng lão. Đặc biệt ở làng mạc, nhiều người già phải tự lo cho mình.[11]

Cadmium trong lúa

Nhân khẩu chỉ là một trong nhiều chỗ yếu của Trung Quốc. Người Trung Quốc đã trả giá đắt cho lần bùng nổ của những năm đầu – và họ vẫn đang làm như thế. Đã từ lâu, những thiệt hại môi trường lại ngốn mất một phần lớn của tăng trưởng. Chuyên gia dự tính chúng ở khoảng 900 tỉ nhân dân tệ năm 2008 (thời đấy tròn 1003 tỉ euro), đó là 3% của tổng sản phẩm nội địa.
Năm 2010 và 2011, người Trung Quốc đọc được trên báo của họ những tin tức khủng khiếp về thực phẩm có hại cho sức khỏe, sữa bị pha chế, ngũ cốc bị nhiễm độc. Ít nhất là 10% của thu hoạch lúa chứa những lượng không cho phép của kim loại nặng, trong số đó là cadmium.[12] Với những kế hoạch trồng cây khổng lồ, chính quyền cố gắng chận sa mạc lại, đặc biệt là ở miền Bắc. Ai từ Cảng hàng không Lanzhou, thủ phủ của tỉnh Cam Túc, đi vào thành phố đều thấy cây mới trên sườn dốc, bên cạnh đó là những tấm bảng quảng cáo của các công ty và cơ quan đã phải hiến tặng chúng.
Diện tích trồng trọt nông nghiệp của Trung Quốc teo dần, đất nước này ngày càng phải mua thực phẩm từ nước ngoài nhiều hơn. Nhập khẩu đậu nành của Trung Quốc đã chiếm một phần ba của toàn bộ mua bán thế giới về loại này. “Trong hàng nghìn năm của nền văn minh Trung Quốc, xung đột giữa con người và thiên nhiên chưa từng bao giờ trầm trọng như ngày hôm nay”, Bộ trưởng Bộ Môi trường Châu Sanh Hiền cảnh báo đầu năm 2011. Khai thác một cách tàn phá và giảm thiểu dự trữ cũng như ô nhiễm sinh thái đã có “những hậu quả trầm trọng cho sự phát triển kinh tế và xã hội của quốc gia”.[13]
Không chỉ có Trung Quốc là như thế. Ô nhiễm môi trường là một vấn đề của toàn châu Á. Không khí của nó không tốt cho sức khỏe. Có lỗi ở đây không chỉ là khí thải của những nhà máy điện dùng than và ô tô; chỉ riêng ở Bắc Kinh, tròn 750.000 xe mới đã được cấp phép lưu hành trong năm 2010. Ở nông thôn, nông dân đốt rơm, cây cối và bụi rậm, để làm phân bón hay lấy diện tích để trồng trọt. Trên Borneo, nơi doanh nghiệp đốt rừng có hệ thống để làm đồn điền, nhiều diện tích đất rộng lớn đã cháy trong năm 1997, khói dầy đặc phủ trên những vùng rộng lớn của Đông Nam Á. Máy bay không thể cất cánh và hạ cánh, con người thở khó khăn.
Trong những vùng nào đó của châu Á, ánh sáng Mặt trời ít khi xuyên qua được lớp khói sương. Phần lớn các nhà máy điện Trung Quốc đốt than và qua đó dẫn hàng tấn cácbon điôxít vào bầu khí quyển. Ngay bây giờ, thu hoạch lúa đã giảm đi vì không còn đủ ánh sáng xuyên qua lớp mây và mây ngày càng lớn hơn. Thời tiết thay đổi: có nhiều bão đi qua châu lục hơn là thông thường.[14] “Sự hình thành mây nâu trong khí quyển hẳn sẽ khiến cho giá thực phẩm càng tăng thêm nữa và là một thách thức cho sự sống còn của những người yếu đuối nhất”, chương trình môi trường LHQ cảnh báo.[15] Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước lượng con số những người châu Á chết hàng năm vì hậu quả của ô nhiễm môi trường còn đến 530.000. Gần như trong thành phố nào của châu Á cũng có hạt bụi nhỏ, ôxít nitơ hay điôxít lưu huỳnh lơ lững trong không khí nhiều hơn là WHO cho rằng có thể chấp nhận được.[16]
Các con sông của châu Á bẩn hơn là những con sông khác trên thế giới, 469 triệu người châu Á không có nước sạch, ở Trung Quốc là tròn 360 triệu người. Ở Indonesia, gần một nửa người dân phải dựa vào nước mà họ chỉ có thể hứng được ở gần những nơi đầy rác. Trong thủ đô Jakarta, trên 80% nguồn nước bị nhiễm bẩn. Gần hai tỷ người châu Á không có nhà xí hợp vệ sinh và cơ hội để tắm rửa.
Con sông Dương Tử dài tròn 6300 kilômét là sông chết trên nhiều đoạn dài. Thái Hồ ở phía Đông Trung Quốc, cung cấp nước uống cho hai triệu người, đã bị nước thải của càc nhà máy phá hủy, một lớp rêu xanh dầy phủ lên trên nhiều phần lớn của nó trong năm 2007. Nếu Trung Quốc không thành công trong việc làm sạch nước của nó, vào khoảng năm 2020 sẽ có tròn 30 triệu người tỵ nạn, Ngân hàng Thế giới tiên đoán. Cả trong những nơi khác của châu Á, con người sẽ đi tìm nước sạch, hậu quả sẽ “có ảnh hưởng to lớn đến an ninh trong toàn khu vực”, một nghiên cứu của Asia Society cảnh báo.[17]
Thảm họa lũ lụt dữ dội như thảm họa năm 2010 ở Pakistan hay đẩy con người vào cảnh cơ cực – nhưng nhìn chung thì châu Á thiếu nước. Những siêu thành phố của châu Á sẽ cần thêm tròn 40% nước cho tới năm 2020 so với cho tới nay. Ở Trung Quốc, nước đã thiếu hụt cho đến mức sản xuất bị đe dọa ở nhiều nơi.
Tình trạng nên nóc nhà của thế giới có thể sẽ còn trở nên nguy kịch nhiều hơn nữa: vì khí hậu ấm nóng lên nên các con sông băng tan chảy. Không hoàn toàn loại trừ khả năng là những con sông lớn như Ganges, Indus, Brahmaputra, Salween hay Mekong trong tương lai sẽ suy thoái thành những lạch nước nhỏ. Nhưng những con sông đấy là mạch sống của Trung Quốc, Ấn Độ, Bhutan, Nepal, Bangladesh, Myanmar, Pakistan, Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam, nơi tròn một nửa loài người sinh sống.
Người Ấn hiện đang hết sức lo ngại về kế hoạch của Bắc Kinh, bơm nước từ Brahmaputra (ở Tây Tạng có tên là Yarlung Tsangpo) lên Hoàng Hà trong dự án đổi dòng Bắc Nam của họ, dòng sông mà về phần mình cung cấp nước cho một phần lớn của miền Bắc. Do người dân và nhà máy rút đi những lượng nước khổng lồ, Hoàng Hà vào cuối những năm 90 đã không ra được đến biển nhiều ngày trong một năm. “Nước là vũ khí”, Brahma Chellaney, giáo sư về nghiên cứu chiến lược ở New Delhi, gọi kế hoạch này như thế: “Việc chuyển dòng khổng lồ này đồng nghĩa với tuyên bố một cuộc chiến tranh nước chống lại Ấn Độ và Bangladesh”.[18]
Tranh cãi biên giới, thiếu nước, môi trường dơ bẩn: tất cả những điều đấy tạo bất ổn và bất an ở châu Á. Nỗi lo sợ lớn là các mâu thuẫn trong vùng có thể tăng cao. Vì thế mà các quân đội của châu lục hiện đại hóa và tăng cường vũ trang. Đi đầu hết thảy là Trung Quốc, như chương kế tiếp trình bày.
_________________________
[1] “ADB warns on China’s long-term growth”, Financial Times, 28/10/2010
[2] Stephen Roach: “The Next Asia”, John Wiley & Sons, Hoboken, 2009
[3] Xem thảo luận “The Color of China” by Minxin Pei and Jonathan Anderson, 3/9/2009,http://www.nationalinterest.org/Article.aspx?id=20953
[4] Guo Shuqing: “Fertile Ground”, China Daily, 22/01/2010
[5] John Lee: “The End of the Charm Offensive”, Foreign Affairs, 14/10/2010
[6] Gilboy, Heginbotham: “China’s Dilemma”, Foreign Affairs, 14/10/2010
[7] Yu Yongding: “A different road forward”, China Daily, 23/12/2010
[8] “Wen Jiabao sees Billionaires in Congress as Wealth Gap Widens”, Blommberg, 04/03/2011
[9] Robert S. England: “Aging China. The Democratic Challenge to China’s Economic Prospects”, Center for Strategic and International Studies, Washington, 2005.
[10] Feng Wang: “China’s Population Destiny: The Looming Crisis”, Brookings, September 2010, http://brookings.edu/articles/2010/09_china_population _wang.aspx
[11] Wang Haitao: “China wird alt, bevor es wohlhabend wird”, China Research Center on Aging, September 2009, tại http://www.de-cn.net/dis/dem/de4961565.htm
[12] Gong Jing “Heavy metals taining China’s rice bowls”, Caixin Online 14/02/2011
[13] Jacobs: “China issues warning on climate and Growth”, New York Times, 28/02/2011
[15] “3 km Thick Cloud of Pollution hangs over Asia”, The Telegraph, 13.11.2008
[17] “Asia’s Next Challenge: Securing the Region’s Water Future. A report by the Leadership Group on Water Security in Asia. Asia Society, April 2009,http://asiasociety.org/files/pdf/WaterSecurityReport.pdf
[18] Brahma Chellaney. “China-India Clash Over Chinese Claims to Tibetan Water”, The Asia-Pacific-Journal-Japan Focus, 03/07/2007, http://www.japanfocus.org/-Brahma-Chellaney/2458

-

Andreas Lorenz - Cuộc Cách mạng châu Á (phần 8)

Chương VI: Xuyên qua bụi gai và ngạnh nhọn

“Thật sự lo lắng”

Đi trước hết thảy là Trung Quốc. Đại tá không quân Dai Xu nói, đất nước của ông còn chưa có thể bảo vệ lợi ích của đất nước ở khắp nơi trên thế giới. Quân đội Mỹ giống như chim đại bang, quân đội Nga như chim đà điểu – con chim không biết bay nhưng có thể chạy rất nhanh –, nhưng quân đội Trung Quốc “không biết bay mà cũng không thể chạy nhanh”.[1]
Họ muốn vươn lên trong thế kỷ 21 “một cách hòa bình và không có tham vọng bá quyền”, người Trung Quốc quả quyết. Một quyển Sách Trắng được công bố trong tháng 3 năm 2011 mô tả các mục đích của quân đội họ như thế này:
Bảo đảm chủ quyền quốc gia, an ninh và phát triển quốc gia, giữ gìn sự hài hòa xã hội và ổn định, tăng cường hiện đại hóa phòng vệ quốc gia và giữ gìn hòa bình thế giới.
Trong thời gian vừa qua đã có những tiếng nói hung hãn pha trộn vào trong lời quả quyết này, ngoài những người khác là từ một nhóm sỹ quan rõ ràng là đang bực tức vì chính sách của Bộ Chính trị đối với họ là quá thụ động. Trung Quốc không thể được xem như là “một quốc gia hùng mạnh”, cho tới chừng nào mà nó không “lấy lại đất đai đã bị láng giềng của nó cướp đi”, trung tướng Luo Yuan tuyên bố trước Học viện Khoa học Quân sự.[2]
Lời bình luận này rõ ràng là hướng đến Ấn Độ. Thường hơn là chống lại USA, nước mà theo quan điểm của giới quân sự Bắc Kinh đang cố gắng bao vây Trung Quốc với đồng minh cũ (Hàn Quốc) và đồng minh mới (Ấn Độ). Trước bờ biển Trung Quốc, giới quân sự lý luận, không có chỗ cho hải quân Mỹ, vì vùng biển này rõ ràng là thuộc phạm vi lợi ích của Trung Quốc. Đặc biệt là họ bực tức về kế hoạch của người Mỹ, bán 6,4 tỷ dollar vũ khí cho Đài Loan. Trung Quốc cần phải “trừng phạt” USA vì việc này, Yang Yi yêu cầu, một đề đốc đã về hưu và trước đây là sếp của Đại học Quốc phòng: “Chúng ta phải gây thiệt hại cho họ.”[3] Và tướng Liu Yuan, chính ủy của nhóm hậu cần, cho rằng “Đại Thống Nhất sẽ đến từ đâu mà không có chiến tranh? Làm thế nào đạt được sự hợp nhất của quốc gia, của chủng tộc, của văn hóa, của miền Nam và của miền Bắc mà không có bạo lực?”[4]
Giới cán bộ Bắc King say sưa với ý nghĩ không còn để cho người Mỹ tạo áp lực lên mình nữa, như năm 1996, khi hai hàng không mẫu hạm của Mỹ đã xuất hiện ở Eo biển Đài Loan sau những cuộc tập trận đe dọa chống Đài Loan. Vì thế mà mục đích chiến lược tối cao của họ là xây dựng một đối trọng với lực lượng quân sự của Mỹ ở châu Á – và giữ không cho họ can thiệp vào trong một xung đột vì Đài Loan.
Để khuất phục người Mỹ, phó chỉ huy trước đây của Đơn vị Pháo binh thứ Hai, Zhao Xijun, đã phát triển chiến lược của “Chiến tranh đe dọa ở rìa”. Bắn hỏa tiển và tên lửa hành trình đến những mục tiêu sát cạnh bên hạm đội Mỹ và qua đó làm cho người Mỹ sợ hãi đến mức họ quay ngược trở lại. Mục đích là phô diễn, “rằng chúng ta có khả năng và quyết tâm phá hủy một hạm đội có hàng không mẫu hạm”, Zhao nói.[5]
Theo hiểu biết của Bộ Quốc phòng Mỹ, Trung Quốc phát triển và thử nghiệm một loại tên lửa chống hạm, “Đông Phong”-21D, cái còn có thể đánh chìm cả hàng không mẫu hạm nữa, vì sau khi bay trở vào bầu khí quyển nó có thể nhanh nhẹn tránh né các loại đạn phòng thủ. Trong giới quân đội Mỹ người ta chỉ còn tranh cãi rằng liệu vũ khí này đã sẵn sàng để được sử sụng hay chưa.
“Cho tới nay, Hải quân Mỹ chưa phải đối đầu với tên lửa đạn đạo chính xác cao, những cái có thể bắn trúng tàu thủy đang di chuyển”, một báo cáo cho Quốc hội Mỹ cảnh báo. Chẳng bao lâu nữa thì sẽ như thế.[6]
Quân đội Trung Quốc cũng có những tiến bộ trên các lĩnh vực khác. Năm 2007, pháo binh với một tên lửa tầm trung đã bắn tan một vệ tinh thời tiết không còn hoạt động nữa, được cho là vỡ tung ra thành 35.000 mảnh – và qua đó chứng minh rằng họ muốn ngang bằng với người Mỹ trong chiến tranh của các vì sao. Tháng 11 năm 2010, Trung Quốc đưa vệ tinh thứ sáu của chương trình “Beidou-2″ vào vũ trụ. Nó phục vụ cho việc xây dựng một hệ thống hoa tiêu toàn thế giới, có nhiệm vụ để cho Trung Quốc độc lập với “Global Positioning System” (GPS) của Mỹ và cạnh tranh với hệ thống “Galileo” của châu Âu. Cho tới 2020, tổng cộng 35 vệ tinh sẽ xoay quanh Trái Đất. Qua đó, tướng Yu Guangyu trước đây nói, “thế giới không còn cần phải hỏi USA là đi đâu”.[7] Nhưng trước hết là Quân đội Giải phóng Nhân dân không còn phải dựa vào thiện ý của người Mỹ nữa, những người trong trường hợp khẩn cấp có thể sửa đổi dữ liệu địa lý và có lẽ là đã làm rồi.
Tháng 10 năm 2007, một tàu ngầm Trung Quốc đã nổi lên gần hàng không mẫu hạm Mỹ “Kitty Hawk” mà người của Hải quân Mỹ không biết trước đó. Đó là một tín hiệu rõ rệt cho Washington, rằng hãy cẩn thận với Hải quân Trung Quốc. Bây giờ họ đã thành lập một căn cứ hải quân với công sự ngầm trên đảo Hải Nam, bắt đầu từ đây hạm đội không còn cách xa Hoàng Sa và Trường Sa nữa. Căn cứ của Mỹ ở Thái Bình Dương, ví dụ như ở Guam, bị đe dọa, ngược lại với trước đây, vì thế mà các chỉ huy của hạm đội Mỹ phải suy nghĩ cẩn thận, rằng họ đến gần bờ biển Trung Quốc cho tới đâu. “Tôi không còn chỉ tò mò nữa mà thật sự lo lắng”, Tham mưu trưởng Hoa Kỳ Michael Mullen bình luận về việc Trung Quốc tăng cường vũ trang trong tháng 6 năm 2010.

Tiếng hót của chim sơn ca

Đã từ lâu, Quân đội Trung Quốc không còn chỉ là “Vạn Lý Trường Thành thép” để “bảo vệ tổ quốc”. Trong tương lai, tàu ngầm và tàu khu trục Trung Quốc muốn vượt qua “chuỗi đảo thứ nhất”, tức là những hòn đảo gần bờ biển Trung Quốc kể cả Đài Loan và Trường Sa, không bỏ mặc Thái Bình Dương cho một mình người Mỹ nữa. Dưới “hoàn cảnh lịch sử mới”, tướng Zhang Zhaoyin từ quân khu Thành Đô nói, quân đội phải từ giã học thuyết của nó, “trong thời bình tạo một quân đội có định hướng hòa bình”, và hướng đến “những nhiệm vụ cơ bản của một quân đội”: “Chuẩn bị cho chiến trường, tiến hành chiến tranh và chiến thắng những cuộc chiến”.
Trung Quốc không thể vươn lên “giữa tiếng hót của chim sơn ca và vũ điệu của chim én”, một nhà chiến lược khác, Jin Yinan, nhận xét, mà hẳn là phải “phát đường đi của nó xuyên qua bụi gai”.[8]
Trong những năm vừa qua, Hải quân Trung Quốc đã mua tàu ngầm diesel hiện đại của Nga. Thêm vào đó, họ muốn đóng tàu ngầm riêng của họ, loại có thể bắn tên lửa nguyên tử mới được phát triển. Một trong những tàu đấy hiện đang được thử nghiệm. “Các đại dương là nguồn sống của chúng ta. Khi thương mại bị cắt đứt, nền kinh tế sẽ suy sụp”, Ni Lexiong của Viện về Chiến lược Bảo vệ Quốc gia ở Thượng Hải nói. “Điều gì sẽ xảy ra với một quốc gia có nền kinh tế hướng ngoại khi chúng ta phải tiến hành chiến tranh và sẽ thua trận vì chúng ta không có chủ quyền trên biển?”. Suy luận của ông ấy là rõ ràng: “Chúng ta cần một hải quân mạnh.”[9]
Thuộc vào đấy là hàng không mẫu hạm. Chúng cần phải bảo vệ những đoàn tàu thương mại. Năm 1958 Mao Trạch Đông đã gọi chúng là “Đường sắt trên biển”. Cả một thời gian dài, các chuyên gia đã suy đoán về việc xây một gã khổng lổ như thế, và bây giờ thì kế hoạch dường như được xác nhận: qua thông tin được che đậy ở cuối của bản báo cáo thường niên dầy 570 trang của “Cơ quan Quản lý Biển Quốc gia” từ tháng 5 năm 2010. Năm 2009, ở trong đấy viết, “Trung Quốc đã có ý tưởng và kế hoạch xây hàng không mẫu hạm. Điều đấy có nghĩa là Trung Quốc đã bắt đầu kỷ nguyên lịch sử, trở thành một siêu cường quốc trên biển”. Từ 2010 đến 2020 là khoảng “thời gian quyết định” để hoàn thành nhiệm vụ chiến lược này …”[10]
Công việc chuẩn bị cho một pháo đài nổi như thế đã được tiến hành từ lâu, và chúng không thiếu hài kịch. Trung Quốc mua nhiều chiếc đã không còn được sử dụng nữa, từ người Úc chiếc “Melbourne”, từ người Nga “Minsk”, “Kiev” và cuối cùng là “Warjag”. Một công ty được cho là tư nhân đã mua chiếc này với chỉ 20 triệu dollar từ Ukraina để biến nó thành một sòng bạc nổi có không khí đặc biệt trong Macau là thuộc địa trước đây của Bồ Đào Nha.
Trên đường từ Nikolayev ở Biển Đen về Trung Quốc, suýt tí nữa thì người ta đã mất chiếc tàu dài 300 mét bị tháo gỡ toàn bộ này vào lúc có gió mạnh. Tháng 11 2001 ở biển Aegae, nó đã giật đứt dây của chiếc tàu kéo, trôi dạt 12 giờ đồng hồ hướng đến một hòn đảo và phải chật vật lắm người ta mới bắt giữ được nó lại. Trước đó, Thổ Nhĩ Kỳ đã từ chối không cho kéo chiếc “Warjag” qua Eo biển Boborus, vì việc đấy được cho là quá nguy hiểm. Mãi sau 13 tháng nó mới được phép nhổ neo – sau khi Trung Quốc hứa sẽ để cho nhiều khác du lịch Trung Quốc đến Thổ Nhĩ Kỳ và mua hàng hóa của Thổ Nhĩ Kỳ nhiều hơn.
Sau khi tạm dừng tại Macau, “Warjag” bất thình lình biến mất. Vài tuần sau đấy, nó được nhìn thấy trong những xưởng đóng tàu của thành phố Đại Liên. Rõ ràng là các kỹ sư và nhân viên kỹ thuật của Hải quân Nhân dân muốn yên tịnh mà nghiên cứu kết cấu của nó. Tình báo Mỹ phỏng đoán rằng kể từ lúc đó chiếc “Warjag” đã được sử dụng để tập luyện.[11]
Nhưng các phi công Trung Quốc còn chưa có kinh nghiệm cất cánh và hạ cánh trên một chiếc hàng không mẫu hạm, còn chưa có máy bay tương ứng. Vì thế mà nước này muốn mua máy bay tiêm kích phản lực “Su-22″ của người Nga và phát triển máy bay riêng của mình. Tất cả là một công việc hết sức tốn kém. Không chỉ việc đóng một chiếc tàu như thế là tốn kém mà cả việc bảo quản nó nữa – tốn tròn 200 triệu dollar trong một năm.
Chuyên gia vũ trang Đài Loan và là cựu Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Lin Chong-pin giải thích cho tôi về “Đại Chiến Lược” trong căn hộ của ông ấy ở ngoại ô Đài Bắc năm 2006, chiến lược mà ông ấy nhìn thấy ở những người đồng hương trên lục địa: trong khi họ tự giới thiệu mình như là những nhân vật đầy trách nhiệm trên bục sân khấu thế giới, gửi quân lính cho các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình của LHQ, thành lập Viện Khổng tử ở khắp nơi và “xuất hiện một cách mềm mỏng, họ cầm một cây gậy to ở phía sau lưng”, ông ấy nói. Trong cuộc chơi vì quyền lực và ảnh hưởng, Bắc Kinh thích chơi cờ vây hơn là cờ tướng: “Ở cờ tướng thì người ta được đối thủ báo động khi có nguy hiểm đe dọa, ở cờ vây thì bất thình lình người ta nhận ra rằng đã thua ván cờ.”
Tức là Cựu Thế Giới phải đối phó với một sức mạnh mới ở Viễn Đông – quân sự, kinh tế, chính trị. Ngày nay, châu Á có ảnh hưởng đến cuộc sống hàng ngày của người châu Âu nhiều hơn bao giờ hết, châu lục này thâm nhập vào cuộc sống của chúng ta. Câu hỏi là chúng ta có phải thích ứng với điều đấy hay không và như thế nào. Người ta phải xử sự như thế nào với một Trung Quốc ngày một mạnh hơn?
_________________________
[1] Xem Willy Lam “China’s Quasi-Superpower Diplomacy: Prospects and Pitfalls”, Jamestown Foundation, Washington, 2009
[2] Ananth krishnan: “China must recover territory ‘looted’ by neighbours, said PLA General”, The Hindu, 21/12/2010
[3] Kathrin Hille: “Beijing Smile for Gates Conceals Tensions”, Financial Times, 07/01/2011
[4] John Garnaut. “Chinese general rattles sabre”, Sidney Morning Herald, 23/05/2011
[5] Zhao Xijun (ed). “Intimidation warfare: A Comprehensive Discussion on Missile Deterrence”, National Defence University Press, Beijing, May 2005
[6] Ronald ORourke: “China Naval Modernization: Implcations for U.S. Navy Capabilities – Background and Issues for Congress”, Congressional Research Service, December 2010,http://www.fas.org/sgp/crs/row/RL.pdf
[7] “China satellite launch counters US dominance”, South China Morning Post, 02/11/2010
[8] Xem Willy Lam: “China’s Quasi-Superpower Diplomacy: Prospects and Pitfalls”, Jamestown Foundation, Washington, 2009
[9] Ni Lexiong: “Seapower and China Development”, The Liberation Daily, 17/05/2005,http://www.sciso.org/Article/Scholar/stratagem/NiLexiong/200609/217.htm
[10] “First confirmation of China’s plan to buil aircraft carriers”, South China Morning Post, 19/12/2010
[11] Reuters, 23/12/2010

Tổng số lượt xem trang