Hiển thị các bài đăng có nhãn tư tưởng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn tư tưởng. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 8 tháng 12, 2013

Triết Học và Nhân Quyền

Photo: Triết Học và Nhân Quyền

Bộ luật Hamurabi vào thế kỷ XVIII trước CN ít nhiều đã có những quy phạm liên quan đến quyền của con người. Tuy vậy, mãi đến 4000 năm sau, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền mới chính thức ra đời, cung cấp đầy đủ những đảm bảo pháp lý để một người có điều kiện tối thiểu phát triển như một con người, ghi dấu cho sự phát triển hoàn thiện của luật nhân quyền. Luật nhân quyền với bề dày lịch sử không chỉ là công trình của khoa học pháp lý, nhưng còn mang dấu ấn sâu đậm của triết học luật pháp, đạo đức, chính trị và của tất cả những ai quan tâm đến nhân phẩm con người.

Một trong những chức năng cơ bản của nhà nước và pháp luật là đảm bảo trật tự xã hội. Trật tự ấy cần những quy phạm về quyền và nghĩa vụ của con người. Vua Hamurabi của Babylon cổ đại cũng đã sớm khẳng định mục đích của luật: “Để cho kẻ mạnh không hà hiếp kẻ yếu; để cho những người cô quả có thể nương tựa ở thành Babilon…; để cho sự tuyên án trong nước tiện việc quyết định; để cho những kẻ thiệt thòi được trình bày lẽ phải…”[1] Quyền của con người đã xuất hiện trong nhiều bộ luật, tuy vậy, chỗ đứng lí luận cho quyền ấy chỉ mới xuất hiện cùng với sự hoàn bị tư tưởng về luật tự nhiên của các triết gia như Thomas Aquinas, John Locke hay Jean Jacques Rousseau. Thật vậy, duy trì trật tự xã hội gắn liền với đảm bảo nhân quyền nhưng không phải là cội rễ của nhân quyền. Quyền con người là quyền đạo đức, quyền tự nhiên, không bị giới hạn bởi ý chí chủ quan của nhà lập pháp.

Tư tưởng về luật tự nhiên đã manh nha từ các triết gia cổ đại với quan niệm về tính phổ quát trong đạo đức của Aristotle (moral universalism). Quyền con người vì là quyền đạo đức nên mang tính phổ quát, có hiệu lực ở mọi nơi mà không phụ thuộc vào sự chấp nhận của người khác hay của nhà nước.[2] Trước khi hình thành nhà nước thì quyền ấy đã tồn tại với sự xuất hiện của con người. Lý thuyết về luật tự nhiên của Thomas Aquinas vào thời Trung Cổ tiếp tục cũng cố cho tính tối thượng của nhân quyền. “Một luật không công bằng thì không phải là luật”[3] – luật con người có hiệu lực khi hòa hợp với luật tự nhiên. Chính quy luật luân lý đem lại sức mạnh cho pháp luật nói chung và luật nhân quyền nói riêng.[4] Sau thời Phục Hưng ở Châu Âu, tư tưởng về nhân quyền được phát triển thêm bởi các triết gia chính trị. Đóng góp lớn của họ là nhìn nhận lại bản chất của nhà nước. Trước đây, nhà nước được xem như một chủ thể tối thượng nắm mọi quyền lực để chi phối xã hội, đồng thời cũng là chủ thể siêu hình khó có thể hiểu hết được. Với John Locke và Rousseau, trong khế ước giữa nhà nước và công dân, nhà nước có nghĩa vụ đưa ra hiến pháp nhằm đảm bảo quyền của con người. Đây thực là một bước tiến lớn về tư tưởng khi nhân quyền không còn loay hoay trong lãnh vực đạo đức nhưng phải được pháp chế hóa để đảm bảo cách tốt nhất.[5] Không lâu sau đó, đạo đức học của Kant cũng lên tiếng ủng hộ khi kéo luật luân lý từ Đấng tuyệt đối (bên ngoài) vào bên trong nội tại con người. Luật luân lý mời gọi mỗi người hành động sao cho mọi sự trở nên tốt đẹp nếu mọi người cùng làm như vậy. Tự do của người này không được phạm đến tự do nơi người khác.[6] Luật pháp không có lý do để chối từ nhân quyền chủ quan nhưng rất phổ quát ấy. Những người bài tôn giáo cũng không thể loại trừ một quyền không phải được ban do Đấng tuyệt đối vô hình.

Trên cơ sở vững chắc của các tư tưởng triết học, những bản luật đầu tiên và chính thức về quyền con người ra đời. Hiến chương Magna Carta của Anh vào thế kỷ XIII bắt đầu để ý đến nghĩa vụ của nhà nước trong việc bảo vệ quyền cơ bản của công dân như quyền sở hữu, thừa kế; quyền tự do buôn bán và không bị đánh thuế quá mức, quyền tái hôn của phụ nữ góa chồng, quyền được xét xử đúng đắn và bình đẳng trước pháp luật. Trong đó, nhà nước cũng phải tiết chế quyền lực của mình trong quy phạm về luật bảo thân (habeas corpus – mọi trường hợp tử hình đều phải qua xét xử) và quy phạm về tôn trọng quyền hợp pháp của công dân (due process of law). Quyền cưỡng chế của nhà nước vẫn bị giới hạn trong việc đảm bảo quyền con người. Đến thế kỷ XVIII, thuật ngữ “quyền con người” chính thức xuất hiện trong hai bản tuyên ngôn độc lập của Mỹ và Pháp. “Mọi người sinh ra đều bình đẳng. Tạo hóa ban cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền đó có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” (Tuyên ngôn độc lập của 13 thuộc địa Bắc Mỹ 1776) “Người ta sinh ra và sống tự do và bình đẳng về các quyền…” (Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp 1789). Hai văn bản pháp lý ấy tiếp tục gợi hứng cho các nhà lập pháp Châu Âu pháp chế hóa nhân quyền vào hệ thống pháp luật và mở đầu cho thời kỳ phát triển rực rỡ của quyền con người. Chỉ trong vòng 35 năm (từ 1795 đến 1830), hơn 70 bản hiến pháp mang dấu ấn của những luận điểm trong hai bản tuyên ngôn trên đã được thông qua ở Châu Âu.[7] Đến thế kỷ XX, sau đại họa gây ra bởi hai cuộc chiến tranh thế giới, quyền con người vươn ra khỏi biên giới quốc gia để tìm chỗ đứng thích hợp cho mình trong môi trường quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948 và hai công ước quốc tế về Quyền dân sự chính trị và Quyền kinh tế, xã hội, văn hóa 1966 như một dấu chứng vững chắc cho nhận thức mang tính hoàn thiện về quyền con người. Quyền con người là quyền tự nhiên, quyền đạo đức nhưng cần được đảm bảo bởi pháp luật. Quyền tối thiểu để một người được xứng đáng được gọi là con người mang tính quốc tế, phổ quát cho mọi người, ở mọi thời, và mọi nơi trên thế giới.

Như vậy, sau hơn 2000 năm, hạt nhân tư tưởng về nhân quyền được thai nghén nơi các triết gia Hy Lạp cổ đại, cũng cố nơi lý thuyết về luật tự nhiên của các triết gia trung cổ, phát triển bởi học thuyết về nhà nước của các triết gia cận đại và nên hình nên dạng khi đi vào pháp luật hiện đại của quốc gia và quốc tế. Bề dày lịch sử của luật nhân quyền ghi nhận đóng góp của nhiều ngành khoa học, trong đó, vai trò định hướng của tư tưởng triết học rất đáng lưu ý. Trên tư tưởng, nhà lập pháp và chính trị gia có cơ sở để xây dựng luật nhân quyền; cũng trên tư tưởng, công dân có cơ sở để yêu cầu nhà nước bảo vệ quyền cơ bản và tối thiểu của mình. Lịch sử nhân loại trải qua nhiều cuộc đấu tranh, chứng kiến sự ra đời của nhiều kiểu nhà nước với những bộ luật đi kèm; tuy vậy, luật nhân quyền chỉ cất tiếng khi nó được xây dựng trên cách hiểu đúng đắn về bản chất quyền con người. Nhân quyền không xuất phát bởi luật nhưng cần được đảm bảo bằng luật. Cái nhìn hậu cảnh và toàn diện của triết học đưa nhân quyền pháp lý về với đạo đức, liên kết với chính trị để giúp luật pháp thực thi đúng vai trò của mình trong việc đảm bảo quyền con người. Ngày nay nhiều quốc gia đang trăn trở trước yêu cầu hợp pháp hóa hôn nhân đồng tính. Nhân quyền dường như đang tiếp tục mở rộng biên giới của mình. Tuy vậy, để luật bảo vệ người đồng tính ra đời không trở thành một đứa trẻ sinh non yếu ớt, thiết nghĩ luật ấy cần trở về với nền tảng tư tưởng đạo đức của vấn đề, đồng thời xem xét cẩn trọng trong tương quan với tâm lý, xã hội, văn hóa, tôn giáo. Tư tưởng và góc nhìn triết học vẫn luôn đóng góp phần quyết định cho pháp luật.

Trong thế giới ngày nay, nền tảng luật tự nhiên của nhân quyền đang tiếp tục được tranh luận bởi các triết gia hiện đại như John Rawls (1921- 2002), Richard Rorty (1931-2007) hay Ronald Dworkin (1931-2013). Tính phổ quát (universal) của nhân quyền gặp phải sự chống đối của các triết gia đạo đức theo chủ nghĩa tương đối (moral relativism); nền tảng nhân quyền không chỉ thuần lý nhưng còn được thúc đẩy bởi cảm xúc, lòng nhân đạo của con người[8]… Tất cả những tranh luận triết học đó không cản trở việc đảm bảo nhân quyền cho bằng cố gắng đưa ra cơ sở phong phú để nhân quyền được bảo vệ cách hiệu quả và linh động trong các quốc gia có nền văn hóa, địa – chính trị, pháp lý khác nhau.

Tư tưởng đóng vai trò quyết định trong việc định hướng cho luật học về nhân quyền. Tuy vậy, triết học không bao giờ bị giới hạn bởi tư tưởng nhưng phải dẫn tới hành động. Việc nhìn và hiểu rõ hậu trường nhằm hướng đến những hành động đúng đắn.[9] Bên cạnh các nhà tư tưởng, lịch sử phát triển của nhân quyền cần ghi nhận đóng góp của những nhà hoạt động – những người sống và chết cho nhân quyền. Đóng góp của họ có khi mang hình ảnh của một Socrates, sẵn sàng chết vì quyền tự do tư tưởng; có khi là cả một dân tộc với bao thế hệ hy sinh trong cuộc đấu tranh đòi hòa bình độc lập; có khi là một Teresa Calcutta dấn thân phục vụ người nghèo để cho họ cảm giác mình vẫn là người; hay đôi khi ngay cả những “phạm nhân” bị các nhà nước kết án là phản động, gây rối vì đấu tranh cho nhân quyền… Các “triết gia” ấy không nổi bật vì tư tưởng lớn nhưng họ là những chứng nhân sống động cho sự hiện diện của quyền con người. Nếu tư tưởng triết học đóng vai trò nền tảng và định hướng thì chính thái độ chiêm nghiệm và thực hành tư tưởng của họ là chất xúc tác để dẫn đến những thay đổi cụ thể trong việc xây dựng luật nhân quyền. Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền 1789 ra đời sau cách mạng tư sản Pháp, Mỹ; Liên hợp quốc thông qua Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền 1948 sau thảm họa của hai cuộc chiến tranh thế giới. Thêm nữa, pháp luật chỉ là đạo đức tối thiểu. Pháp luật được ví như hai bờ giữ cho dòng chảy phong phú của cuộc sống được liên tục. Thế nên, nhân quyền sống động nhất nơi thái độ triết học – hiểu, tôn trọng và sống quyền con người. Pháp luật vốn cứng nhắc và giới hạn trước thực tế phong phú của đời sống. Người hiểu và sống các nguyên tắc đạo đức của luật nhân quyền vẫn là người tuân hành luật cách tốt nhất. Ngay cả khi đứng trước tình huống mới mẻ của cuộc sống mà pháp luật chưa kịp điều chỉnh, những nguyên tắc của nhân quyền vẫn được ứng dụng để họ hành xử đúng đắn với tinh thần của pháp luật.

Tóm lại, những con chữ khô cứng của luật nhân quyền được xây dựng trên nền tảng tư tưởng dày lịch sử của các triết gia và sống động nơi thái độ tôn trọng phẩm giá con người của bao con người. Thực tế đáng buồn ngày nay là luật nhân quyền tồn tại nhưng thế giới vẫn còn hỗn độn với nhiều vi phạm về nhân quyền. Nếu triết học đã góp công lớn cho những nhà lập pháp và chính trị làm nên luật thì nó vẫn tiếp tục góp sức để luật ấy đi vào đời sống của mỗi thường dân. “Hàng triệu người sinh ra rồi chết đi mà không hề biết rằng mình là chủ nhân của các quyền con người.”[10] Yếu tố quan trọng đóng góp cho nhân quyền ngày hôm nay là giáo dục – một thứ triết học được bình dân hoá. Giáo dục giúp con người biết, phản tư và thực thi nhân quyền. Có khi chúng ta có quyền nói, không phải chế độ hay luật pháp nhưng dân trí mới thay đổi nhân quyền!

Đaminh Lê Văn Luận, S.J.
Triết sinh năm Dự bị – Học viện Thánh Giuse – Dòng Tên Việt Nam

 

Bibliography:

ARISTOTLE, Nicomachean ethics, translated by W.D.Ross, book VI, chapter V, http://classics.mit.edu/Aristotle/nicomachaen.6.vi.html (accessed November 10, 2013).

AUGUSTINE, On free choice of the will, Book 1, § 5.

BENEDEK, Wolfgang, Understanding human rights, 3rd ed., Belgium: Intersentia, 2012.

FAGAN, Andrew, “Human rights”, Internet Encyclopedia of Philosophy, http://www.iep.utm.edu/hum-rts/ (accessed November 10, 2013).

HAMMURABI’S, Code of Laws, prologue, translated by L. W. King, http://www.thenagain.info/webchron/middleeast/hammurabicode.html (accessed November 10, 2013).

HIMMA, Kenneth Einar, “Philosophy of law”, Internet Encyclopedia of Philosophy, http://www.iep.utm.edu/law-phil/ (accessed November 10, 2013).

SƠN, Bùi Văn Nam, “Tư tưởng đổi thay số phận”, Trò chuyện triết học, Sài Gòn: NXB Tri thức, 2012.

STUMPF, Samuel Enoch, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn dịch, Hà Nội: Lao Động, 2004.

TALBOTT, W., Which rights should be universal, Oxford: Oxford University Press, 2005.

Lịch sử phát triển của tư tưởng về Quyền con người, http://reds.vn/index.php/tri-thuc/triet-hoc/4152-lich-su-phat-trien-cua-tu-tuong-ve-quyen-con-nguoi (accessed November 10, 2013).

 

[1] Hammurabi’s code of laws (circa 1780 B.C.), prologue, translated by L. W. King, http://www.thenagain.info/webchron/middleeast/hammurabicode.html (accessed November 10, 2013).

[2] Aristotle, Nicomachean ethics, translated by W.D.Ross, book VI, chapter V, http://classics.mit.edu/Aristotle/nicomachaen.6.vi.html (accessed November 10, 2013).

[3] Augustine, On free choice of the will, Book 1, § 5.

[4] Kenneth Einar Himma, “Philosophy of law”, Internet Encyclopedia of Philosophy, http://www.iep.utm.edu/law-phil/ (accessed November 10, 2013)

[5] Andrew Fagan, “Human rights”, Internet Encyclopedia of Philosophy, http://www.iep.utm.edu/hum-rts/ (accessed November 10, 2013).

[6] Samuel Enoch Stumpf, Lịch sử triết học và các luận đề, Đỗ Văn Thuấn dịch, Hà Nội: Lao Động, 2004, p. 524-528.

[7] Lịch sử phát triển của tư tưởng về Quyền con người, http://reds.vn/index.php/tri-thuc/triet-hoc/4152-lich-su-phat-trien-cua-tu-tuong-ve-quyen-con-nguoi (accessed November 10, 2013).

[8] W. Talbott, Which rights should be universal, Oxford: Oxford University Press, 2005, p. 39-42.

[9] Bùi Văn Nam Sơn, “Tư tưởng đổi thay số phận”, Trò chuyện triết học, Sài Gòn: NXB Tri thức, 2012, p. 13.

[10] Wolfgang Benedek, Understanding human rights, 3rd edition, Belgium: Intersentia, 2012, p. 26.-Son Tran 
Triết Học và Nhân Quyền
Bộ luật Hamurabi vào thế kỷ XVIII trước CN ít nhiều đã có những quy phạm liên quan đến quyền của con người. Tuy vậy, mãi đến 4000 năm sau, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền mới chính thức ra đời, cung cấp đầy đủ những đảm bảo pháp lý để một người có điều kiện tối thiểu phát triển như một con người, ghi dấu cho sự phát triển hoàn thiện của luật nhân quyền. Luật nhân quyền với bề dày lịch sử không chỉ là công trình của khoa học pháp lý, nhưng còn mang dấu ấn sâu đậm của triết học luật pháp, đạo đức, chính trị và của tất cả những ai quan tâm đến nhân phẩm con người.

Thứ Hai, 14 tháng 1, 2013

Gene Sharp: The Machiavelli of non-violence

-Bài nên đọc về lý thuyết gia của các cuộc Cách Mạng Màu: Gene Sharp: The Machiavelli of non-violence (New Statesman 3-1-13)

-In a long life of scholarship and dissent, Gene Sharp has been imprisoned and persecuted, but never silenced. His ideas continue to inspire resistance movements across the world.


Gene Sharp.

Chủ Nhật, 15 tháng 4, 2012

NGÔN NGỮ TRÍ TUỆ CỦA ĐỨC ĐẠT LAI LẠT MA

-Cảm ơn bác Trần Sơn mách bài này - 

Thứ Ba, 10 tháng 4, 2012

Walter Russell Mead: The Myth of America's Decline


Mafiovi: The international chattering class has a label for these changes: American decline?
- Shut up you all!
Yes!
The American world vision isn’t powerful because it is American; it is powerful because it is, for all its limits and faults, the best way forward.
And America together with its allies and friends will create It: The network of relationships and institutional linkages, I vow guys.


-Walter Russell Mead: The Myth of America's Decline
Washington now has added China, India, Brazil and Turkey to its speed-dial, along with Europe and Japan. But it will remain the chairman of a larger board.

Thứ Bảy, 7 tháng 4, 2012

Chế độ công hữu và chủ nghĩa xã hội, thứ gì quý hơn?

- Trần Minh Thảo
Đối lập với sỡ hữu tư nhân – là yếu tính của chủ nghĩa tự do tư sản – là sở hữu toàn dân, sở hữu công, sở hữu nhà nước… Nói theo cách bình dân về sở hữu công (công hữu) thì thành ngữ sau đây diễn tả được bản chất của chế độ công hữu: “đất của vua, chùa của Phật”. Thực nghĩa của thành ngữ ấy phải được hiểu: chùa hay Phật cũng là của vua vì đất là của vua rồi. Nâng “đất” thành “lãnh thổ” thì quả thật trời, đất, rừng, biển, thánh, thần, Phật, Chúa, người dân, trường học, bệnh viện, cầu đường… trên đất của vua là tài sản của vua và tập đoàn cai trị (chẳng hạn chế độ quân chủ Nho trị ở Á đông ngày trước). Đảng cộng sản cai trị, lãnh đạo đất nước thì có gì trên lãnh thổ Việt nam không phải là của đảng? Người dân được học hành, chữa bệnh, đi lại, ăn ngủ… là được hưởng ân huệ của vua, của đảng. Người dân đòi quyền làm chủ đất đai (rộng ra là lãnh thổ), là làm đảo lộn chế độ sở hữu, tất yếu là phản động, chống đảng (chống vua)!
1/Nền tảng của chế độ XHCN là công hữu?

Thứ Bảy, 31 tháng 3, 2012

"Vòng tròn nhỏ" trong "vòng tròn lớn"

- -Theo:Tương Lai: "Vòng tròn nhỏ" trong "vòng tròn lớn" (viet-studies 30-3-12) -- Bài phát biểu tại Hội thảo về giáo dục và đào tạo ngày 29.3.2012. Bài đặc biệt quan trọng.  PHẢI ĐỌC!◄◄◄
Đứng trước những bậc đàn anh thâm niên trong ngày giáo dục, tôi rất xấu hổ là mình đã chuyển nghề từ dạy học sang Viện nghiên cứu, cho dù thỉnh thoảng có đến giảng bài theo chuyên đề ở một vài trường Đại học, cho nên hôm nay, tôi không dám phát biểu thẳng vào giáo dục mà phải đi đường vòng.
Đúng hơn, là từ cái "vòng tròn lớn" để nói về cái "vòng tròn nhỏ" nằm trong cái "vòng tròn lớn" đó. Bởi lẽ, sẽ không thể nào hiểu, không thể nào tìm giải pháp chiến lược cho hệ thống giáo dục và đào tạo khi không đặt nó vào trong hệ thống lớn hơn mà giáo dục đào tạo là một bộ phận của cái toàn thể ấy.

Thứ Bảy, 17 tháng 3, 2012

Xã hội Tiếp theo

-Xã hội Tiếp theo
Peter Drucker
Ngày mai là gần hơn bạn tưởng. giải thích nó sẽ khác hôm nay thế nào, và cần phải làm gì để chuẩn bị cho nó
NỀN kinh tế mới có thể thành hay không thành hiện thực, nhưng không nghi ngờ gì rằng xã hội tiếp theo sẽ đến với chúng ta nhanh chóng. Trong thế giới phát triển, và có lẽ cả ở các nước mới nổi nữa, xã hội mới này sẽ quan trọng hơn nền kinh tế mới (nếu có) rất nhiều. Nó sẽ khá khác xã hội của cuối thế kỷ 20, và cũng khác cái đa số người kỳ vọng. Phần lớn của nó sẽ là chưa từng có tiền lệ. Và phần lớn của nó đã ở đây rồi, hay đang nổi lên nhanh chóng.

Thứ Ba, 6 tháng 3, 2012

Thời đại Biến đổi Xã hội

- -Theo:Thời đại Biến đổi Xã hội (VHNA). TS Nguyễn Quang A dịch từ bài: The Age of Social Transformation Peter F. Drucker(The Atlantic).
Một tổng quan về kỷ nguyên bắt đầu vào đầu thế kỷ này, và một phân tích về những biểu thị gần đây nhất của nó: một trật tự kinh tế trong đó tri thức, chứ không phải lao động hay nguyên liệu thô hay vốn, là nguồn lực then chốt; một trật tự xã hội trong đó sự bất bình đẳng dựa trên tri thức là một thách thức lớn; và một chính thể trong đó chính phủ không thể được mong đợi để giải quyết các vấn đề xã hội và kinh tế.
Không thế kỷ nào trong lịch sử thành văn lại trải qua nhiều biến đổi xã hội và những biến đổi triệt để đến vậy như thế kỷ thứ hai mươi. Chúng, tôi gợi ý, có thể hóa ra là những sự kiện quan trọng nhất của thế kỷ này của chúng ta và di sản lâu dài của nó. Trong các nước thị trường-tự do đã phát triển – chiếm ít hơn một phần năm dân số thế giới nhưng là một mô hình cho phần còn lại – lao động và lực lượng lao động, xã hội và chính thể, tất cả, trong thập niên cuối của thế kỷ này, về mặt số lượng và chất lượng là khác không chỉ với cái đã là trong các năm đầu của thế kỷ này mà cũng khác với cái đã tồn tại ở bất cứ thời kỳ nào khác trong lịch sử: về các cấu hình của chúng, về các quá trình của chúng, về các vấn đề của chúng, và về cấu trúc của chúng.

Thứ Ba, 28 tháng 2, 2012

GIỚI THIỆU SÁCH - “MAKING SENSE OF MARX” (LÀM RÕ MARX) CỦA JON ELSTER

-Nguồn:--GIỚI THIỆU SÁCH - “MAKING SENSE OF MARX” (LÀM RÕ MARX) CỦA JON ELSTER

Lề Trái trích dịch và giới thiệu
Lời người dịch:
Đây là chương cuối cũng là chương kết luận cuốn “Making Sense of Marx” (Làm rõ Marx) của Jon Elster. Sự xuất hiện của bài dịch có nhiều lý do, tôi nêu những lý do chính:

Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

Lữ Phương: Ai xây "chủ nghĩa tư bản man rợ" ở VN?

- Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Ông Lữ PhươngNhà nghiên cứu chủ nghĩa Marx Lữ Phương chuyên tâm nghiên cứu độc lập và so sánh chủ nghĩa Marx đích thực với thực tiễn Việt Nam trong hàng chục năm qua.
Lý luận gia Marxist và nhà nghiên cứu chính trị về đảng Cộng sản Việt Nam từ trong nước, ông Lữ Phương cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay không hề "liên quan" gì tới Chủ nghĩa Marx, mà chỉ đang "lợi dụng" chủ thuyết này trong việc xây dựng một thứ "chủ nghĩa tư bản man rợ, rừng rú."

Thứ Năm, 19 tháng 1, 2012

Chiến tranh và hoà bình theo quan điểm của Phật giáo

-Chiến tranh và hoà bình theo quan điểm của Phật giáo Peter Harvey

Đỗ kim Thêm dịch

Nguyên bản Anh ngử của bản dịch là War and Peace, chương VI trong tác phẩm An Introduction to Buddhist Ethics: Foundations, Values and Issues của Peter Harvey do nhà xuất bản Cambridge University Press ấn hành năm 2000, từ trang 239-285. Peter Harvey là giáo sư Phật học tại đại học Sunderland, Anh quốc. Ông là giáo sư đầu tiên chuyên trách phân khoa Phật học và là người đồng sáng lập Hiệp hội nghiên cứu Phật học của nước Anh. Ông cũng phụ trách biên tập cho hai tạp chí Journal of Buddhist Ethics và Contemporary Studies in Buddhism.

Người dịch cám ơn sự hợp tác của cư sĩ Nguyên Giác Phan Tấn Hải (USA) và thi sĩ Lê Cao Bằng (Canada) trong phần thuật ngữ Thiền tông. Các trích dẫn kinh điển và thư mục trong nguyên tác đuợc người dịch đưa chung vào cuối bản dịch. (Người dịch). 

Nguyễn Gia Kiểng: Khi chủ nghĩa thực tiễn phá sản

Nguồn:-Khi chủ nghĩa thực tiễn phá sản  

Nguyễn Gia Kiểng 

“…Chúng tôi biết rõ phải làm gì nhưng nếu làm như thế thì không có gì bảo đảm là chúng tôi sẽ còn cầm quyền sau cuộc bầu cử sắp tới…”


Tháng 12-1991, trên báo Thông Luận số 44, tôi có viết bài "Quỹ đạo của chó" (xin xem phụ lục 1), dùng tên một bài toán động học để chứng minh sự sai trái của chủ nghĩa thực tiễn và trọng lượng của nó trong văn hóa chính trị Việt Nam. Lúc đó không ai có thể ngờ rằng một năm sau, Bill Clinton, một thanh niên trốn lính với kinh nghiện chính trị sơ sài, có thể đánh bại George H. W. Bush, một anh hùng và một tổng thống tài ba, nhờ lập trường chính trị thực tiễn một cách cực đoan "chỉ làm kinh tế !" (Economy, stupid !).

Thứ Tư, 18 tháng 1, 2012

Tom G. Palmer - Hai mươi ngộ nhận về thị trường

-Nguồn:Thử bàn về kinh tế thị trường 
John Kay
Báo Financial Times đang tranh luận về chủ nghĩa tư bản, nhưng thực ra báo này đang bàn về tương lai của kinh tế thị trường.
Karl Marx chưa bao giờ dùng từ “chủ nghĩa tư bản”. Nhưng sau khi Das Kapital (Tư Bản) được xuất bản, thuật ngữ đó dùng để mô tả hệ thống tổ chức kinh doanh đã tạo điều kiện dẫn đến cách mạng công nghiệp. Đến giữa thế kỷ 19, hệ thống đó là trọng tâm của bối cảnh kinh tế. Werner Siemens ở Đức, Andrew Carnegie và John D. Rockefeller ở Mỹ, và hậu duệ của Richard Arkwright ở Anh. Tự thân hoặc chung sức với một số ít đối tác tích cực, họ xây dựng và vừa làm chủ các xí nghiệp và nhà máy thuê mướn tầng lớp lao động mới, vừa sở hữu máy móc trong đó.

Chủ Nhật, 15 tháng 1, 2012

Hoàng Tụy: Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống

-Nguồn: -Trương Quang ĐệCội nguồn của những khó khăn bất ổn hiện nay (viet-studies 14-1-12) -- Góp ý của một sinh viên cũ của GS Hoàng Tuỵ đối với bài Tái cấu trúc và sửa lỗi hệ thống (viet-studies 5-1-12)◄◄◄

Hơn nửa thế kỷ trước, tôi là sinh viên khoa Toán, Trường ĐHSP Hà Nội. Trong các bộ môn mà tôi theo học, có môn “Phương pháp giảng dạy Toán” do Thầy Hoàng Tụy phụ trách. Bộ môn này không hoàn toàn trừu tượng và thuần tuý lí thuyết như đa số các bộ môn khác, bởi lẽ nó có nhiều phần mang nặng tính nhân văn như lịch sử toán học, cuộc đời và sự nghiệp các nhà toán học, thăng trầm của những phát minh toán học, triết lí toán học vv. Chúng tôi rất quí mến Thầy Tụy vì tầm hiểu biết và nhân cách của Thầy. Thực ra tôi học hành không lấy gì làm xuất sắc nên cho đến nay chắc Thầy không nhớ ra tôi là ai.

Thứ Năm, 12 tháng 1, 2012

Thị trường và đạo đức

-Nguồn:-Thị trường và đạo đức (Kì 14)
Temba A. Nolutshungu

Tự do chính trị cùng với tự do kinh tế làm cho những điều kì diệu của con người sinh sôi nảy nở

Phạm Nguyên Trường dịch

Trong tiểu luận này nhà kinh tế học Nam Phi, Temba A. Nolutshungu, rút từ lịch sử gần đây của đất nước ông sự khác biệt giữa qui tắc đa số (giành được sau hàng chục năm đấu tranh chống lại sự độc chiếm quyền lực của nhóm thiểu số) với tự do và cho thấy tiềm lực giải phóng của tự do kinh tế.


Temba A. Nolutshungu là giám đốc Quĩ thị trường tự do ở Nam Phi. Ông giảng dạy chương trình kinh tế tại nhiều trường ở Nam Phi và thường xuyên viết bài cho báo chí Nam Phi. Ông từng là ủy viên Hội đồng kiến nghị Zimbabwe, tức một loạt đề xuất về chính sách giúp phục hồi Zimbabwe sau những thảm họa do Mugabe gây ra và được đệ trình lên thủ tướng Morgan Tsvangirai. Thời trẻ Nolutshungu từng là nhà hoạt động nổi tiếng trong Phong trào giác ngộ của người da đen Nam Phi.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2012

Dân Chủ là một thứ bảo hiểm

-Nguồn:Dân Chủ là một thứ bảo hiểm
Ngô Nhân Dụng

Sau bài bình luận tuần trước một vị độc giả đã viết thư tỏ ý ông thích một lời kết luận: “Dân chủ tự do không hứa hẹn thiên đường. Nhưng sẽ giúp xã hội loài người tránh rơi xuống địa ngục.”
Ý tưởng đó chắc không mới. Nhiều người chắc đã nghĩ, đã nói từ hàng trăm năm nay rồi, vì đó cũng là một bản chất của chế độ dân chủ tự do. Tự do dân chủ không phải là một bảng lộ trình hứa hẹn ở cuối đường sẽ tới những bồng lai tiên cảnh. Ngược lại, những phong trào chống lại thể chế dân chủ tự do thì lại hay vẽ ra viễn tượng một xã hội hoàn hảo; khi biết là chúng chỉ là những lý thuyết viển vông thì đã muộn.

Thứ Ba, 3 tháng 1, 2012

Trần Hữu Dũng – Amartya Sen: Lương tâm của kinh tế

-Nguồn:Trần Hữu Dũng – Amartya Sen: Lương tâm của kinh tế 
Nhà kinh tế Amartyr Sen.

(TBKTSG) - Đa số người ngoài ngành (và cả nhiều người trong ngành) thường nghĩ đến kinh tế như một khoa học giúp hoạch định những chính sách để quản lý, để phát triển, để tăng trưởng, để bình ổn. Những người có thiên kiến này sẽ ngạc nhiên khi đọc Amartya Sen, nhà kinh tế gốc Ấn Độ, người được trao tặng giải Nobel Kinh tế năm 1998. Ông là người châu Á đầu tiên được Nobel về ngành này.

Thứ Tư, 28 tháng 12, 2011

Thị trường và đạo đức

-Nguồn:--Thị trường và đạo đức (Kì 8)
William L. Anderson
Những phẩm chất đáng quí của nền kinh tế tự do
Phạm Nguyên Trường dịch

Tôi tin là cuộc họp của Hội Mont Pelerin năm nay, 1982, tổ chức ở Tây Berlin là phù hợp vì đây là nơi mà thực tế và sự khôi hài của nền kinh tế tự do và chủ nghĩa tập thể đứng cạnh nhau như bóng tối và ánh sáng, y hệt như bức tường đán áp ô nhục bao quanh thành phố tự do này giữa lòng đại dương của chủ nghĩa toàn trị. Nếu chúng ta cần chỉ ra tính ưu việt của chủ nghĩa tư bản so với với chủ nghĩa xã hội thì đây chính là vị trí khởi đầu thuận lợi hơn bất kì chỗ nào khác.

Thứ Năm, 22 tháng 12, 2011

Thị trường và đạo đức

-Nguồn:-Thị trường và đạo đức (Kì 5) (Phạm Nguyên Trường)
Tom G. Palmer

Chữa bệnh kiếm lời và động cơ của lòng trắc ẩn

Phạm Nguyên Trường dịch

Tác giả tiểu luận này đưa ra suy nghĩ của mình, trên cơ sở trải nghiệm của chính ông trong quá trình điều trị bệnh đau lưng. Đây không phải là học thuyết xã hội, cũng không phải là đóng góp vào môn khoa học xã hội. Đây chỉ là một cố gắng nhằm làm rõ quan hệ giữa công việc kinh doanh và lòng trắc ẩn mà thôi. Chữa bệnh kiếm lời[i] chắc chắn là công việc khủng khiếp và phi đạo đức. Lúc nào tôi cũng nghe thấy người ta tấn công nó như thế. Thực vậy, tôi đang nghe thấy người ta tấn công các bệnh viện tư trên sóng của CBC (Hãng phát thanh & truyền hình Canada – ND). Khi các bác sỹ, y tá và những nhà quản lí bệnh viện chỉ nghĩ đến thu nhập thì lòng trắc ẩn sẽ được thay thế bằng tính ích kỉ nhẫn tâm, nhiều người nói như thế. Nhưng tôi vừa ngộ ra chuyện này sau khi phải đến hai bệnh viện – một bệnh viện tư nhân và cái kia là bệnh viện họat động phi lợi nhuận[ii] – để chữa bệnh đau lưng.

Tổng số lượt xem trang